🌟 Tổng Quan Mệnh Quẻ
🏷️ Tên Quẻ: Khuê là Vi, Bội (trái ngược nhau, khác nhau). Thuộc tháng 2.
🌫️ Lời Tượng: Thượng Hỏa hạ Trạch: Khuê. Quân tử dĩ đồng nhi dị.
📖 Lược Nghĩa: Trên là Lửa, dưới là Đầm, là quẻ Khuê. Người quân tử lấy đấy mà tuy cùng nhau, nhưng vẫn khác nhau. Khuê là Khác nhau, Trái ngược nhau, là Chống đối, Chia lìa.
☯ Toán Hà Lạc Giải
Được quẻ này rất tốt. Lại sinh tháng 2 là cách công danh, phú quý.
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chi | - | - | - | Sửu, Mão, Tị | - | Tị, Mùi, Dậu | - | - | - | - |
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng
Đoài (đầm, hồ, chằm) ở dưới Ly (lửa). Chằm có tính thấm xuống, lửa có tính bốc lên, trên dưới không thông với nhau, càng ngày càng xa cách nhau. Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch, ngược hẳn lại với quẻ Cách. Chỉ làm những việc nhỏ cá nhân thì họa may được tốt.
📜 Thoán truyện giảng thêm: phải biết tuỳ thời; nếu cương quá thì bớt cương đi, nếu nhu quá thì bớt nhu đi... Thoán truyện bàn về quẻ Khuê là quẻ có một ý nghĩa rất tinh thâm. Đoài là thiếu nữ, Ly là trung nữ, hai chị em ở một nhà mà xu hướng trái nhau (em hướng về cha mẹ, chị hướng về chồng), chí hướng khác nhau cho nên gọi là Khuê. Tuy nhiên Đoài có đức vui, Ly có đức sáng, thế là hoà vui mà nương tựa vào đức sáng. Lại thêm hào 5, âm nhu mà tiến lên ở ngôi cao, đắc trung mà thuận ứng với hào 2, dương cương ở dưới, cho nên bảo việc nhỏ thì tốt.
Lẻ hồng bay tít dặm ngoài,
Tiệc vui sinh ý ngược đời, xa nhau
Xét trong vũ trụ, trời đất, một ở trên cao, một ở dưới thấp, vốn là khác nhau, chia lìa nhau, vậy mà công hoá dục vạn vật là của chung trời đất. Vạn vật tuy khác nhau mà việc sinh hoá cùng theo một luật như nhau. Thế là trong chỗ trái nhau vẫn có chỗ giống nhau, tìm ra được chỗ "đồng" đó trong cái "dị" là biết được cái diệu dụng (công dụng kỳ diệu) của quẻ Khuê, của thời Khuê. Thoán truyện khuyên ta như vậy.
Đại tượng truyện ngược lại khuyên ta ở trong chỗ "đồng" có khi nên "dị". Ví dụ người quân tử bình thường hành động cũng hợp thiên lý, thuận nhân tình như mọi người (đó là đồng). Nhưng gặp thời loạn, đại chúng làm những việc trái thiên lý thì không ùa theo họ, mà tách riêng ra, cứ giữ thiên lý, dù bị chê bai, bị gian khổ cũng chịu (đó là dị). Vậy không nhất định phải đồng mới tốt, dị (chia lìa) cũng có đức tốt. Phan Bội Châu lấy ví dụ: Thời Chiến quốc, thiên hạ thảy xu phụ với Tần, mà một mình ông Lộ Trọng Liên không theo, gieo thân bể Đông mà chết, đó là người quân tử một mình biết giữa cái đồng tìm ra cái dị.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Soán truyện ở mọi quẻ chỉ tán một chữ Thời, mà ở đây lại tán chữ Dụng là cớ làm sao? Bởi vì, thời Khuê mà làm ra không khuê, mới là công dụng lớn. Xem câu: Thời Dụng của quẻ Khuê lớn vậy thay, thì biết thánh nhân ở trong thiên hạ không Thời nào là không có khả năng tận dụng, biến hóa chuyển dịch chỉ cốt ở nơi chữ Dụng. Chữ Dụng là phương pháp cứu Thời của thánh nhân, mà cũng là thủ đoạn tạo Thời của anh hùng.
Lại phụ chú: Quẻ Khuê với quẻ Đồng nhân là đối lập nhau. Thiên Hòa hai tính hợp nhau thành quẻ Đồng nhân, Tượng truyện nói rằng chia các loại giống để phân biệt các vật, nghĩa là phải tìm cho ra cái dị, mới sắp đặt được nên cái đồng. Hoả Trạch hai tính trái nhau, thì thành ra Khuê, Tượng truyện nói rằng Cùng mà khác nghĩa là lựa chọn ở trong lúc đồng mà tìm ra cái dị. Thế mới biết rằng đồng, mà không đồng, không phải là hỗn tạp, dị mà dị không phải là cuồng bạo. Thánh nhân giảng đạo lý bao giờ cũng giảng đạo lý sống, chẳng bao giờ giảng đạo lý chết, biết như thế, thì học được Dịch.
📊 Chi Tiết Các Hào
📖 Lược Nghĩa: Hối vong, táng mã vật trục, tự phục: Kiến ác nhân, vô cửu. Khỏi ăn năn nữa (gặp được hào 4 đồng đức), mất ngựa cũng đừng đuổi tìm, nó tự trở về, cứ gặp kẻ ác, không lỗi gì. Nhưng trước gian nan sau thành đạt, như người có lòng trong trắng cho nên mất lại được.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Mất ứng viện mà rồi lại được.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này có tính cương, ở địa vị dưới, trong thời chống đối nhau, thì tất ít kẻ hợp với mình, hành động sẽ bị hối hận. Nhưng may ở trên có hào 4 cũng dương cương, ứng với mình, tức như có bạn đồng chí, cứ chờ đợi rồi sẽ gặp mà bao nhiêu khó khăn, ân hận sẽ tiêu hết. Đối với kẻ ác thì tuy không ưa cũng đừng nên tỏ ra, cứ làm bộ vui vẻ giao thiệp họ, để họ khỏi thù oán.
✅ Mệnh Hợp Cách: Đức vọng làm cho người ta tin, ngay thẳng làm cho người ta hết bạo ngược. Khi nhỏ thì khó phát triển. Lớn lên sẽ thành đạt.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Gian nan chẳng gặp dịp may. Muộn, cảnh mới khá.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan được phục chức cũ, hoặc bị giáng thì được phục hồi. Giới Sĩ tiến thủ trắc trở. Người Thường trước mất sau được, trước giận sau lành. Đề phòng hao tổn lục súc và lo lắng.
Bò hai đuôi chuột miệng dài,
Gặp nhau những nhiễu, được này, mất kia.
📖 Lược Nghĩa: Ngộ chủ vu hạng, vô cửu. Gặp chủ (hào 5 ứng) ở ngõ hẻm (vì thời Khuê, xấu, không đường hoàng được), nhưng không lỗi. Gặp được cấp trên tốt dễ thăng tiến, sĩ tử đậu đạt cao, người thường kinh doanh phát đạt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Hết lòng vì chúa.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương, đắc trung, ứng với hào 5 âm nhu, đắc trung, nếu ở trong quẻ Thái (thời thông thuận) thì rất tốt. Nhưng ở trong quẻ Khuê (thời chống đối nhau) thì kém, vì hào 5 âm nhu có ý kiêng né hào hai dương cương, do đó, 2 muốn gặp 5 thì phải dùng đường tắt, rình 5 trong ngõ hẹp như tình cờ gặp nhau. Không có lỗi gì cả, vì thái độ đó chỉ là quyền biến thôi.
✍️ Phan Bội Châu phụ chú: Đạo lý ở trong thiên hạ, chỉ sợ có lẽ phải mà thôi, mà lẽ phải lại thường phải tùy thời mà thay đổi. Ông Y Doãn chờ vua Thang ba lần sính lễ mới chịu ra, đức Khổng Minh chờ Lưu Tiên Chúa (tức Lưu Bị) ba lần đến mời mới chịu ra. Nhưng Bách Lý Hề thì làm nghề chăn trâu, mà cầu tiến thân với Tần Mục Công, Nịnh Thích giả cách đi hát giữa chợ, để cầu cảm động được Tề Hoàn Công, cũng chỉ chung một đạo lý, mà cơ quyền, thủ đoạn có khác nhau. Cho nên ở vào thời Khảm (hiểm), Dịch học dạy cho giao ước qua cửa sổ (giao ước vào lúc lòng người sáng suốt, dù không chính thức, phải qua cửa sổ), xử vào thời Khuê, Dịch học dạy cho gặp chủ trong ngõ hẹp, chính là việc cầu cho được đạt cái chí tiết nghĩa của thánh hiền. Nhưng những hạng cố chấp thì bao giờ biết được nghĩa ấy. Phải người bậc tột cao mới đạt được tiết của mình, còn thứ nữa chỉ nên thủ tiết mình là được.
✅ Mệnh Hợp Cách: Người trung nghĩa, sửa được lỗi trên, đổi được tục dưới.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng hiểu được nhân tình, nhiều người giúp mình, ở nơi ngõ hẻm, chẳng quan tâm đến vinh nhục.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan gặp chủ, sẽ được thăng chuyển. Giới Sĩ được tuyển chọn và tiến lên. Người Thường kinh doanh đắc ý.
Bỏ nơi kia, đến nơi này,
Việc làm uyển chuyển, mới hay hợp thời.
📖 Lược Nghĩa: Kiến dư duệ, kỳ ngưu xiết, kỳ nhân thiên thả tị, vô sơ hữu chung. Thấy kẻ (hào 2) kéo xe mình lùi lại, con trâu (hào 4) ngăn trước. Người này (hào 3) như bị trổ mặt cắt mũi. Tuy không trước, nhưng rồi có sau (sẽ được gặp hào 6 ứng). Lúc đầu xấu, tốt về sau. Quan chức bị nghi kỵ, gièm pha, sĩ tử bị thất cơ lỡ vận, sau được minh oan được phục chức, thăng tiến. Người thường gặp khó khăn lúc đầu, sau thành đạt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Trước giận nhau, sau mới hợp.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào 3 bất chính (âm mà ở vị dương) ứng với hào trên cùng cũng bất chính (dương mà ở vị âm). Vì ứng với nhau nên cầu hợp với nhau, 3 muốn tiến lên gặp hào ứng với nó, nhưng bị hào 4 ở trên ngăn chặn, như cỗ xe đã dắt tới rồi mà con bò bị cản, không tiến được. Lại thêm bị hào 2 ở dưới níu kéo lại. Hào 3 phải chống lại 4 và 2, xô xát với chúng mà bị thương ở mặt, ở tai. Nhưng rốt cuộc là 2 và 4 vẫn không thắng được chính 3 và 3 vẫn hòa hợp được with hào trên cùng. Phan Bội Châu bình: Tóm lại ở vào thời Khuê dầu có chính ứng mà hòa hợp, cũng gay go như thế.
✅ Mệnh Hợp Cách: Tính người mẫn tiệp, trước bị người ngược đãi, sau hợp được và tính việc gì cũng thành.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Hay bị hình thương ở sau ngựa, trước xe. Trước khổ, sau mới được an vui.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan phòng kẻ xu nịnh ngăn bước. Giới Sĩ có thể bài thi bị bỏ lại, sẽ được xét lại. Người Thường trước trở ngại, sau thành. Số xấu bị hình thương.
Hợp tan, hoạ hoạn nên phòng,
Trước thì vất vả, sau cùng mới hay
📖 Lược Nghĩa: Khuê cô, ngộ nguyên phu, lệ vô cửu. Cô đơn thời Khuê (thời chống đối, chia lìa), gặp người trai tốt (hào 1 đồng đức) mà chí thành hoà hợp với nhau, thì dù gặp nguy, nhưng không lỗi. Lúc đầu bị cô đơn, sau phúc lộc thành đạt, thăng tiến.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Gặp bạn, không buồn cảnh cô đơn.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào 4 này cô lập vì là dương mà bị hai hào âm bao vây, người trai tốt đây là hào 1, cùng đức dương cương với 4. Lời Tượng: Hai người trai liên kết, không có lỗi, mà chí thì tiến lên được.
✍️ Phan Bội Châu Giảng: Hai hào dương cương kết hợp với nhau một cách chí thành, ở thời Khuê mà có bạn quân tử như thế, thì chẳng những không lỗi, mà lại phát triển được cái chí cứu thời của mình. Lời Tượng ở đây bổ túc cho ý nghĩa của Lời Hào, lời Hào chỉ nói không lỗi mà thôi.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có tài xuất chúng, giao thiệp giỏi, gặp bạn hay, giúp dẹp loạn, trị nước, chuyển giận thành hòa. Mệnh nữ có thể thành bà lớn.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng là người tự lập, trước chia ly, sau tương hợp.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan được đồng chí tiến cử, đề bạt. Giới Sĩ được người trên biết đến. Người Thường hôn nhân thành, từ nguy đến an, việc mưu tính trước nghịch, sau thuận.
Cô đơn, gặp bạn cố tri,
Đồng lòng lo tính, nạn gì cũng qua
📖 Lược Nghĩa: Hối vong, quyết tông phệ phu, vãng, hà cửu. Khỏi ăn năn nữa, cùng tôn phái nên cắn vào da (để thân nhau), tiến đi, còn lỗi gì đâu? Được người giúp đỡ, thời cơ thăng tiến, đề đạt, kinh doanh phát triển.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Dễ dàng gặp nhau, biết nhau, cứ tiến đi.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này không đắc chính (âm mà ở vị dương) ở vào thời chống đối, đáng lẽ xấu, mà nhờ có đức trung, lại có hào 2 dương cương ứng với mình, nên không xấu nữa, hối hận tiêu tan hết. Được vậy là nhờ hào 2 chịu đứng vào một phe với mình, rất thân thiết với mình, như cắn chặt vào da mình.
✍️ Phan Bội Châu phụ chú: Ở vào thời Khuê, dầu quân tử với quân tử kết hợp với nhau, cũng tất phải vừa liệu chiều, vừa khôn khéo, như 2 với 5, đều có đức trung. Vả lại chính ứng với nhau, nếu ở thời khác, thì hai người ấy kết hợp với nhau là việc dễ dàng. Song ở thời Khuê, đành phải tùy cơ làm ứng, cho nên hào 2 dương nói gặp chủ trong ngõ hẹp, đến hào 5 âm có chữ cắn vào da mình. Ngõ hẹp là không phải đi thẳng vào ngay, cắn vào da là tìm cách lựa cơ, rình thế. Mới biết rằng ở thời Khuê, thật không thể so bì với đời thái bình vậy.
✅ Mệnh Hợp Cách: Vị cao, đức lớn, được người giỏi phụ tá, lập công danh, hưởng phú quý.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Được nhờ tổ nghiệp, âm phù, không khó nhọc gì, ra ngoài cũng gặp tri kỷ. Nhưng phòng xương thịt cần dứt.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan được đền bù công lao. Giới Sĩ được lên cao. Người Thường thu lợi, hôn nhân thành, có người đề cử. Số xấu thì bạn bè oán ghét, xương thịt bị hình thương, việc quan rắc rối.
Tênh tênh hoạn nạn xa rồi,
Đến kỳ cát khánh, vui ngồi với nhau
📖 Lược Nghĩa: Khuê cô. kiến thi phụ đồ, tải quỷ nhất xa, tiền trương chi hồ, hậu thoát chi hồ, phỉ khấu hôn cầu, vãng ngộ vũ tắc cát. Ở thời Khuê, thấy cô đơn ở dưới, thấy con heo đội bùn (bẩn lắm) một xe chở quỷ (xấu lắm) trước giương cung (định bắn) sau tháo cung ra, không phải giặc đâu, đó là người muốn kết hôn, thôi đi, gặp mưa (giải nồng) là tốt. Tất cả trên là thái độ của hào 6 đối với hào 3, trước ngờ, sau hết ngờ, và hòa hợp. Dễ bị cô lập, nghi kỵ, nhầm lẫn bạn bè. Quan chức đa nghi, sĩ tử mờ ám, gian khổ lúc trẻ, về già khá hơn.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Đối với người ứng viện, trước ngờ sau hợp. Không có đức nên không giữ được ngôi lớn.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Vào thời chia lìa, người ta hay nghi kị nhau, hào cuối cùng này, dương cương ở địa vị tối cao, không tin ai ở dưới cả, cho nên cô độc. Ngay hào 3 âm, chính ứng với mình mà cũng bị mình nghi kị, vì 3 ở kẹt vào giữa 2 hào dương, cho rằng 3 vào phe 2 hào dương đó mà chống với mình. Vì nghi kị, nên thấy 3 như con heo đội bùn, như một xe chở bầy quỷ muốn hại mình. Nhưng nhờ vẫn còn chút minh mẫn (vì ở trên cùng quẻ ngoại Ly) nên sau nghĩ lại, buông cung xuống xin lỗi, nhận ra không phải là giặc (kẻ thù) muốn làm hại mình đâu, mà trái lại muốn cầu hôn với mình. Hết nghi kị rồi, hai bên hòa hợp với nhau, vui vẻ như sau khi nắng lâu gặp trận mưa rào, và cùng giúp nhau cứu đời. Văn thật là bóng bẩy, tâm lý cũng đúng. Phan Bội Châu khen là đạo lý rất tinh thâm, mà văn tự cùng ly kỳ biến hóa.
Quẻ Khuê là quẻ xấu nhất Kinh Dịch, nhưng kết quả lại không có gì xấu. Sáu hào thì có ba hào không lỗi, một hào hối hận tiêu hết, một hào hoà hợp với nhau, nhất là hào cuối lại tốt nữa. Như vậy là trong cái họa vẫn có mầm phúc.
✍️ Phan Bội Châu Cảm Khái: Chúng ta chỉ lo không người tạo thời thế, chứ đừng lo không thời thế tạo mình, có lẽ đâu Khuê hoài, Khuê mãi, mà không có một ngày thông thái ru?
✅ Mệnh Hợp Cách: Quá xét nét, đâm ngờ vực, trước khó khăn, sau dễ dàng, hoặc hôn nhân tới, hoặc việc quân sự thành công. Mưa tượng trưng cho phúc trạch, vui mừng, lợi lộc đến.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cô đơn, ô trọc, dối trá, điều tiếng, tan hợp bất thường.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan bị gièm pha, oán trách. Giới Sĩ trước u mê, sau làm được. Người Thường gặp ô nhục, bị vu oan, trước tổn, sau ích.
Sợ lo, tiếng sấm nổ vang,
Qua cơn mưa gió mây vàng trăng soi