🌟 Tổng Quan Mệnh Quẻ
Phân định cát hung: Quẻ Bình
Ý nghĩa cốt lõi: Cấn nghĩa là Chỉ (ngăn bước, ngừng lại, trở ngại trùng trùng). Quẻ này thuộc về tháng 4.
🌟 Tượng Quẻ Và Lược Nghĩa
🌫️ Lời Tượng: Kiêm sơn: Cấn. Quân tử dĩ tư bất xuất kỳ vị.
📖 Lược nghĩa: Gồm cả hai trái núi là quẻ Cấn (ngăn cản). Người quân tử lấy đấy mà không ra ngoài địa vị của mình.
❖ Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chi | - | - | Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất | - | - | - | - | - | - | - |
☯ Toán Hà Lạc Giải: Được quẻ này rất tốt. Lại sinh tháng 4 là cách công danh phú quý.
Tiến hành nay Bắc với mai Đông,
Cầu lộc cầu tài việc cũng thông.
Lui tới chầu cao, sau có lối,
Nhưng là nên thủy lại nên chung.
❖ Luận Giải Chuyên Sâu Từ Các Bậc Tiền Nhân
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng giải:
📜 Lời Thoán giảng: Ngừng ở cái lưng (Cấn kỳ bối). Quẻ Cấn vốn là từ quẻ Khôn mà thành một nét dương ở trên hai nét âm ở dưới: nét dương ngưng lại ở trên, hai nét âm cũng bị chặn ở dưới, cho nên đặt tên là quẻ Cấn (ngừng). Trong thân thể người ta, đầu, cổ, tay chân thường động đậy, chỉ có lưng là thường tĩnh, đó là nghĩa ba chữ "ngừng ở lưng". Hễ tĩnh thì không bị tình dục chi phối, không làm điều ác; tĩnh thì không nghĩ tới mình, mà cũng quên cả người khác (như đi ở trước sân mà không thấy có người), tức là không phân biệt mình với người, như vậy thì không có lỗi.
📜 Thoán truyện giảng thêm: Lúc đáng ngừng thì ngừng, đáng đi thì đi (đi là biết tiến tới chỗ phải ngừng lại), động tĩnh đều hợp thời. Lại phải biết ngừng ở chỗ đáng ngừng, ví dụ cư xử với người cố đạt cho được đức nhân, đức tín, như vậy là biết ngừng ở chỗ đáng ngừng. Không phân biệt mình với người, coi nhân (người), ngã (mình) chỉ là nhất thể (cũng như quẻ nội Cấn, quẻ ngoại cũng là Cấn, cùng một thể với nhau, theo cách giải của Thoán truyện), đó là nghĩa sâu sắc của quẻ Cấn.
Đại Tượng truyện khuyên: Người quân tử chỉ nên ngừng ở chỗ làm trọn bổn phận của mình và đừng trật ra khỏi bổn phận của mình.
📊 Luận Giải Chi Tiết Từng Hào Chứng
📖 Lược nghĩa: Cấn kỳ chỉ, vô cửu, lợi vĩnh trinh. Ngưng lại ngay từ chỗ ngón chân cái (hào sơ, lúc đầu) thì không lỗi gì, lợi ích về việc giữ chính bền mãi mãi. (Hào sơ lục tương ứng với ngón chân cái, chỉ việc lúc mới phát sinh, biết dừng ngay thì tốt). Hào chỉ người cấp dưới, địa vị thấp kém.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Có đường lối giữ cho ngay thẳng.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này âm ở dưới cùng quẻ Cấn, ví như ngón chân, lúc mới bắt đầu động mà biết cẩn thận, ngưng lại thì không có lỗi. Sở dĩ khuyên như vậy vì hào 1 bất chính (âm ở vị dương). Mà phải kiên nhẫn giữ chính đạo thì mới có lợi.
✅ Mệnh Hợp Cách: Theo chính giữ phận, nên được kết quả hay. Dù không phát đạt mỹ mãn, cũng tránh được tai nguy.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Khiêm tốn giữ phận nhỏ, nên bảo vệ, giữ gìn được thân, nhà, không tai họa.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Giữ địa vị thì không thất thế gì.
🎓 Giới Sĩ: Tiến thủ lạc hậu.
👤 Người Thường: An thường thủ phận thì hơn.
Tiến thì hai chí chưa toàn,
Giữ niềm chung thủy bàn hoàn ngại lâu.
📖 Lược nghĩa: Cấn kỳ phì, bất chủng kỳ túy, kỳ tâm bất khoái. Bị ngăn ở bắp chân mình, chứ không cứu được cái dở cứ phải theo người (hào 2 âm phải theo hào 3 dương) nên lòng chẳng hả hê.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Thành tựu được ở mình, nhưng chưa được ở người.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này ở trên hào 1, như bắp chân, nó đắc trung, đắc chính, biết lúc nào nên ngưng, nhưng nó tùy thuộc hào 3 trên nó, như bắp vế ở trên bắp chân (vế cử động thì bắp chân cử động theo), mà hào 3 thì lầm lỗi không sửa được, phải theo một kẻ lầm lỗi thì lòng không vui.
Nhà chí sĩ Phan Bội Châu phụ chú: Lời hào này giống như việc thầy Mạnh với Tề Tuyên Vương. Vương nói gì thầy cũng chiều mà nói theo, như khi Vương nói Hiếu sắc, thầy cũng nói Thái vương hiếu sắc. Có phải thầy không muốn cứu Tề Vương đâu. Nhưng vì biết Tề Vương không nghe lời mà nói theo cho qua. Kết quả thầy phải bỏ nước Tề mà đi, ấy là không cứu được mà phải theo, lòng không vui.
✅ Mệnh Hợp Cách: Tài đức cao, có chí phục vụ, nhưng tiếc rằng mưu chẳng được dùng, việc bị trở ngại thuộc quyền khu vực trên, nên lòng chẳng thỏa mãn, tuy không đạt chí, cũng nêu gương tốt về sau.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tâm không nhất định, tà chính lẫn lộn, không thu xếp được việc nhà, không sửa trị được cái lầm của cha, gian nan cô lập, buồn bực quanh năm.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Không tài cứu nguy, sửa lệch.
🎓 Giới Sĩ: Không gặp dịp may.
👤 Người Thường: Lo toan chẳng được việc gì, phải sang quận khác để làm lao công vất vả, hoặc đau chân, hoặc buồn phiền nỗi nhà.
Tiến bừa làm đại chưa vui,
Sang xuân Đông Bắc gặp người tri âm.
📖 Lược nghĩa: Cấn kỳ hạn, liệt kỳ dần, lệ huân tâm. Bị ngăn ở bên hông, như bị chia xẻ ở giữa xương sống (hào 3 khó xử ở giữa trên và dưới), nguy đến cháy cả ruột. Chỉ sự bỏ lỡ thời cơ do không đoàn kết trên dưới.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Không đáng ngăn mà bị ngăn. Mất hẳn thời cơ.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này ở trên cùng quẻ nội, như ở chỗ lưng quần, nơi phân cách trên và dưới. Nó là dương cương, bất trung, tiến lên thì người trên không nghe, lui xuống cũng không được, như bị đứt ở giữa xương sống, rất nguy khốn.
✅ Mệnh Hợp Cách: Làm lớn nhưng lòng tham không đáy, để hỏng việc nước, trên dưới cách trở, khó tránh lỗi.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tích trữ vàng bạc, nhưng ương ngạnh, làm liều. Không đủ thiện duyên.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Di chuyển, sửa đổi.
🎓 Giới Sĩ: Thành danh.
👤 Người Thường: Ương ngạnh, phá tổn không yên. Số xấu thì già trẻ bị bệnh tim, mắt, lưng, hoặc mang tang phục.
Tổn thương lo xảy trong nhà,
Cầu trời đem họa đổi ra cát tường.
📖 Lược nghĩa: Cấn kỳ thân, vô cửu. Tự ngăn được thân mình, nên không lỗi (hào 4 được chính). Nhưng phải tự chế thì an toàn; buông thả gặp gian nan.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Thời nên ngừng thì ngừng. Không động càn.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này lên đến giữa thân mình, có đắc chính (âm ở vị âm), biết lúc nên ngừng thì ngừng, tuy không làm được việc gì, nhưng không có lỗi.
Nhà chí sĩ Phan Bội Châu phụ chú: Chữ "ngừng ở thân" ở đây, cũng tương tự như "ngừng ở lưng" ở Lời quẻ (xem Lời Thoán). Duy lời quẻ thì không thấy thân mình, là quên cả thân mình. Hào 4 âm thì chỉ ngừng ở thân, là còn biết có mình. Khác nhau chỉ hai chữ, mà giới hạn thánh, phàm rất xa. Đọc Dịch nên biết ý ấy.
✅ Mệnh Hợp Cách: Kín đáo tu luyện, cẩn trọng, rộng rãi, tuy không hóa thiện được thiên hạ, nhưng riêng mình vẫn giữ được điều thiện, không cứu được thời, thì cũng tránh được lầm lỗi.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Riêng mình toan tính, tự túc, hoặc làm tăng đạo.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Giữ chỗ.
🎓 Giới Sĩ: Đừng tiến đại để cầu may.
👤 Người Thường: Yên phận đừng cầu cạnh xa xôi.
Thân ngồi địa vị cao sang,
Giữ mình yên thẳng, ngoài càng thơm danh.
Lời Kinh: Cấn kỳ phu, ngôn hữu tự, hối vong.
📖 Lược nghĩa: Biết ngừng ở mép mình, nói năng có thứ tự, khỏi ăn năn gì. Là đối với nghề ngoại giao, ngôn luận, phúc lộc cao. Số xấu dễ bị vạ miệng, tai tiếng xấu, thầy dùi.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Dè dặt lời nói, nên đỡ lỗi.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này lên tới mép, đắc trung, biết thận trọng lời nói, lúc nào không đáng nói thì không nói, nên không có gì hối hận.
Nhà chí sĩ Phan Bội Châu phụ chú: Khổng Tử nói rằng: "Người có đức tất có lời nói hay, người chỉ có lời nói, không chắc người có đức". Xưa vua Cao Tôn 3 năm không nói, đến khi nói một lời thì bốn bể thảy đều tin mà hướng về. Tề Ủy Vương ba năm không gáy, đến khi gáy một tiếng, mà nước Tề kinh động. Đó chính là nói năng có thứ tự mà khỏi ăn năn như hào này vậy.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có đức, có lập ngôn, lớn thì làm ngoại giao, nhỏ thì làm giáo sư.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Thì cũng ngâm nga như Đào Tiềm, luận bàn kim cổ, được bạn bè hội tụ, sinh kế bình thường.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan chức: Hiển đạt thì ở vị cao cấp Trung ương, chưa hiển đạt thì cũng giữ chức ngôn luận.
🎓 Giới sĩ: Nhờ một lời nói trúng đại nhân mà khoa danh thành tựu.
👤 Người thường: Hợp nhân tình, mưu được toại ý, số xấu thì vạ miệng. Già trẻ khó về sinh kế.
Lời ngay cùng lẽ phải,
Nên không hối hận gì.
Đừng hiểm danh lợi muộn,
Xuân sang phúc lộc kỳ.
📖 Lược nghĩa: Đôn cấn, cát. Biết dừng ở chỗ chí thiện, tốt. Dày dặn về cách ngăn ngừa, tốt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Ngừng lại ở mức chí thiện.
✍️ Học giả Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này ở trên cùng, làm chủ quẻ dương cương, có tính đôn hậu, biết lúc nào nên ngừng, thì ngừng. Tốt.
Nhà chí sĩ Phan Bội Châu phụ chú: Đọc Dịch đến Lời quẻ Cấn là quẻ rất tốt. Đọc Lời hào quẻ Cấn đến hào Thượng 6 dương thiệt là hào rất tốt. Cấn, tượng là Núi. Núi là một giống rất trọng hậu (đức tính dày dặn, ăn ở chú trọng về sau). Người có đức trọng hậu, còn gì quý hơn?
📜 Lời Thoán: Khi động mà đúng với Thời, khi tĩnh cũng đúng với Thời, đạo Cấn ngày càng rực rỡ. Quẻ Đại Súc là quẻ có quẻ ngoại là Cấn cũng nói: Đốc thực huy quang, nhật tân kỳ đức. Đã chứa chất dày dặn (đốc thực), lại tỏa sáng (huy quang), ngày ngày càng mới (nhật tân) được đức mình (kỳ đức), đủ bấy nhiêu lời tốt, chẳng phải do trọng hậu mà được thế hay sao?
Thánh nhân sợ người ta nhận lầm người trọng hậu là người kém tài. Nhưng xưa nay những người đại tài bao nhiêu, lại là người trọng hậu bấy nhiêu. Vì có chứa chất được dày dặn, thì đến khi phát triển mới rõ ràng, duy đốc thực mới huy quang, chính là điểm tốt của Cấn. Vì vậy trong Dịch gồm có tám quẻ có quẻ ngoại là Cấn đến hào Thượng, thảy đều là Tốt (cát).
Lời tượng hào Thượng quẻ Cấn nói rằng sở dĩ tốt là Vì hậu cho đến cùng (dĩ hậu chung). Ta lại xem Lời tượng hào Thượng quẻ Bí: Ở trên mà đạt được cái chí (Thượng đắc chí dã); hào Thượng quẻ Bác: (Xe) được dân chở (Dân sở tái dã); hào Thượng quẻ Đại Súc: Đường lớn thông hành (Đại đạo hành dã); hào Thượng quẻ Cổ: Cái chí đáng làm thành phép tắc (Chí khả tắc dã); hào Thượng quẻ Di: lớn lao nhờ có phúc (đại hữu khánh dã); hào Thượng quẻ Tổn: Người lớn (đại quân tử) đạt được chí (Đại đắc chí dã); hào Thượng quẻ Mông: Lợi về sự chống giặc (lợi ngự khấu dã).
Như vậy là tất thảy các hào Thượng ở các quẻ Ngoại Cấn, Lời hào đã tốt, Lời tượng lại hết sức tán dương. Tóm lại, nạp vào hai chữ "hậu chung" (hậu cho đến cùng). Bởi vì chứa chất dày dặn (đốc thực) lại tỏa sáng (huy quang), chính là kết quả của một chữ hậu. Hậu là trái nghĩa với chữ Bạc (mỏng). Hậu, chỉ nghĩa là dày; đất sở dĩ chở được núi sông, đựng được bốn bề, nuôi được muôn vật chỉ vì có đức hậu mà thôi; nền móng dày mới dựng được nhà lớn, lực lượng dày mới cất được gánh nặng. Xưa nay chẳng thấy hạng người nào mỏng mảnh mà làm nên nghiệp lớn. Ý nghĩa của mấy chữ Đôn hậu về đạo biết ngừng đúng lúc, tốt (Đôn cấn cát), học giả chẳng đã thừa nhận hay sao. Đó là nói trong thực tế; còn trong triết học, thì mấy câu Lời Thoán ở đầu quẻ, càng nên nghiên cứu.
✅ Mệnh Hợp Cách: Phong độ cao, tiết khí vững, làm biểu tượng người của thời đại, phúc trạch sâu bền.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng thành thực, không phù hoa, ruộng vườn rộng lớn, tuổi thọ cao.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Đổi chức vụ.
🎓 Giới Sĩ: Thành danh.
👤 Người Thường: Nhà nông, buôn bán đều được lợi, nhưng chí hướng chưa được thỏa mãn.
Vốn người đôn hậu im hơi,
Bỗng nhiên vận đến, lộc ngôi đường hoàng.
Mỗi phen thành, mỗi đổi thay
Nhạn đàn phân tán, hồng bay cả cười.