🌟 Tổng Quan Mệnh Quẻ
🏷️ Tên Quẻ: Quy muội là đại, là bất chính thức (không cương tri tế nhị, xử sự đại đi cho xong việc, sau sẽ làm cứ hối, cần phải kiểm thảo). Thuộc tháng 7.
🌟 Lời Tượng & Lược Nghĩa
Trạch thượng hữu lôi: quy muội.
Quân tử dĩ vĩnh chung tri tệ.
Trên đầm có sấm là quẻ Quy muội (gả em gái). Người quân tử lấy đấy mà (nghĩ cho kỹ) mãi về sau, để biết cái tệ hại sẽ xảy ra.
☯ Toán Hà Lạc Giải
| Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
| Chi | Mão Tị | Sửu Ngọ | Thân Tuất |
Được quẻ này rất tốt. Lại sanh tháng 7 là cách công danh phú quý.
Về đi mé nước thơm lừng
Mận đào một đóa đợi chừng gió xuân
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng
📜 Lời Thoán: Con gái nhỏ về nhà chồng, đi thì xấu, không có gì lợi cả. Quẻ nội là Đoài (con gái nhỏ), quẻ ngoại là Chấn (con trai lớn); Chấn còn có nghĩa là động, Đoài có nghĩa là vui vẻ, thuận theo, con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là Quy Muội.
Trai gái phối hợp với nhau vốn là “cái nghĩa lớn của trời đất”; vì có vợ chồng rồi mới có gia đình, xã hội. Vậy mà Thoán từ bảo là xấu vì lẽ: Cặp trai gái này không xứng nhau: Trai lớn quá (trưởng nam), gái nhỏ quá (muội). Tình của họ không chính đáng: gái chỉ vì vui (hòa duyệt, đức của quẻ nội Đoài) mà tự động (Chấn) theo trai. Cũng có thể giảng là gái cầu trai, mà trai đã bị động theo gái; như vậy là bất chính. Sự bất chính đó còn thấy trên bốn hào ở giữa nữa, không một hào nào ở vị chính đáng.
Lại thêm hào 3 và 5 đều là âm mà cưỡi lên dương 4 và 2, có cái tượng vợ ăn hiếp chồng. Ngay từ buổi đầu, sự phối hợp đã không được chính đáng thì biết được về sau không có gì lợi cả, chỉ tệ hại thôi (Lời Đại Tượng truyện).
📊 Chi Tiết Các Hào
📖 Lược Nghĩa: Quy muội, dĩ đệ, phả năng lý, chinh, cát. Là người có địa vị thấp kém (như hào sơ), đức nhỏ, tài mọn, an phận thì hơn. Gả em gái mà cho làm phận đệ thiếp, thọt mà hay đi (hào 1 không có chính ứng) cứ đi, tốt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Có đức mà thiếu ứng viện. Cam phận vậy.
✍️ Phan Bội Châu Giảng: Theo lời quẻ thì quẻ Quy Muội là xấu, nhưng theo về lời hào thì xấu, tốt còn theo nghĩa của từng hào (ý nghĩa theo vị trí, thời và hoàn cảnh của mỗi hào). Hào 1 này dương cương, nhưng ở vị trí thấp, mà trên không chính ứng (hào 4 cũng dương), tượng người con gái (vì ở quẻ Đoài), tuy có đức hiền, nhưng phận thấp, hèn, nên phải dựa theo người, thuận theo người trên, ví như người thọt mà hay đi (vì là dương). Nhưng theo về bản phận hào sơ, thì như thế là thuận, nên lời hào bảo là cứ đi, tốt. (Lời hào nói phận lẽ mọn là theo tục xưa, ngày nay ta nên hiểu là phụ thuộc vào người).
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Chữ đi tốt đối lập với chữ đi xấu trên lời quẻ. Lời quẻ nói về người thiếu nữ hành động theo cái tà tâm riêng, nên đi thì xấu. Còn Sơ dương hành động theo thân phận và địa vị, theo đúng nghĩa thời Sơ, nên nói rằng đi tốt. Dịch lý biến hóa bất thường, theo địa vị mỗi người, mỗi thời khác nhau, không thể hiểu một chiều được.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có đức mà chẳng gặp thời, phận dưới không người giúp, chỉ được việc nhỏ.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Giữ phận nhỏ, bình thường. Đi từ khó nhọc. Hoặc tật bệnh chân, phải ngồi.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Giúp được chủ sự có tiếng.
🎓 Giới Sĩ: Đỗ khoa nhỏ.
👤 Người Thường: Đức nhỏ, được lợi nhỏ thôi, hoặc lấy thêm thiếp, hoặc vào nhà quyền thế để giải quyết cái sống.
Rèm mở chưa nhìn sáng,
Rắn bò chẳng thấy chân
Chờ nghe tiếng chạy gấp
Vườn phố đã đầy xuân
📖 Lược Nghĩa: Diêu năng thị, lợi u nhân chỉ trinh. Hào dương chỉ người con gái có đức, nhưng gặp hào đối ứng là “lục ngũ” tượng kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, nên đành giữ tiết thì hơn. Chột mà hay nhìn (hào 2 và hào 5 ứng chỉ được trung thôi, không được chính); lợi ở (sự làm như người) kín lặng mà giữ chính.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Có đức mà không gặp cấp trên biết cho.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương đắc trung, là người con gái hiền, trinh; nhưng chính ứng với hào 5 âm nhu, bất chính, tức như gặp người chồng dở, không dựng nổi cơ đồ, nên ví với người chột mắt. Cứ âm thầm giữ đức trung của mình thì tốt. Đây là hoàn cảnh một người không gặp thời.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có đủ tài đức mà không gặp người trên sáng suốt, nhưng tấm lòng vẫn không ai lay chuyển nổi.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Có học vấn mà không danh lợi, ở chốn rừng núi, tiền của đủ dùng, phúc trạch vững. Giữ thanh tĩnh, đạm bạc. Phòng tật ở mắt.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Vị khó thay đổi.
🎓 Giới Sĩ: Khó gặp dịp may.
👤 Người Thường: Yên phận, không hại gì, số xấu người u hiểm, lại mất trong cảnh tối tăm.
Một bên non được đâu xa,
Ở nơi u tĩnh thế mà lại hay
📖 Lược Nghĩa: Quy muội dĩ tu, phản quy dĩ đệ. Không người phù trợ. Gả em gái mà phải đợi, ngược lại cho về làm phận đệ, thiếp (hào 3 âm nhiều cảm tình mà không trung chính).
☯ Toán Hà Lạc Giải: Không có đức lại không có ứng nên cam phận lẽ mọn.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này ở trên cùng quẻ nội, có địa vị, đáng lẽ không phải làm vợ bé. Nhưng vì là âm nhu, bất trung bất chính, mà lại đa tình (ham vui là tính cách của quẻ nội Đoài), tính nết như thế nên ế chồng, chờ đợi mãi không ai chịu đến lấy, đành phải trở về làm vợ bé vậy. Kẻ ham công danh, phú quý, cầu cạnh người, kết quả bị người khinh coi như tôi tớ, cũng giống cô gái trong hào này.
✅ Mệnh Hợp Cách: Không gặp dịp tốt, chỉ vừa đủ làm được việc.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Chí hẹp, việc làm vất vả, cậy vào kẻ mạnh thì phúc trạch nhỏ, không cho hơn gì.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Gặp họa cách giáng.
🎓 Giới Sĩ: Khốn khổ đợi thời.
👤 Người Thường: Phải lao công chán lắm, lo buồn, tiến thoái. Nếu Nguyên đường tốt thì có tỳ thiếp đỡ đầu.
Phận đành, sau cũng nghi gia,
Bạn đưa, đưa tiễn, phong thơ chúc mừng.
📖 Lược Nghĩa: Quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thì. Thời cơ chưa đến, phải chờ thời. Gả em gái lỡ kỳ hẹn rồi, cũng còn số thời, nhưng về nhà chồng muộn vậy.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Cốt giữ đạo, chẳng tiến cẩu thả được.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương, ở quẻ ngoại là người con gái đã hiền lại sang, nhưng không có hào chính ứng với nó (vì 1 cũng là dương), nên lỡ thời, không sao, cứ đợi giá cao, chậm trễ ít lâu, rồi sẽ gặp duyên lành.
✅ Mệnh Hợp Cách: Chính đáng, đàng hoàng, nhưng giữ đạo, đợi thời, không đỗ đạt sớm, muộn tuổi thành việc lớn.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Đức lớn nhưng bị trở lực, vợ trẻ, con muộn. Muộn tuổi mới vinh hoa.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Ở ngoài đợi gọi về Trung ương.
🎓 Giới Sĩ: Đợi thời chờ bổ nhiệm.
👤 Người Thường: Đi buôn bán xa chưa về, hôn nhân chưa thành.
Gái hiền đâu sợ muộn duyên,
Thời bình chớ gặp thuyền quyên anh hùng
📖 Lược Nghĩa: Đế Ất quy muội, kỳ quân chỉ duệ, bất nhu ký đệ chỉ duệ lương, nguyệt cơ vọng cát. Như người phụ nữ có đức, không chuộng hình thức bên ngoài. Vua Để Ất cho em gái vu quy, cái tay áo của cô công chúa chẳng đẹp bằng cái tay áo của người gái theo hầu (vì công chúa là hào 5 chỉ trọng đức không trọng phục sức bề ngoài) trăng xấp xỉ rằm, tốt nhất.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Gái có đức, phong tục tốt đẹp.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu, đắc trung, có địa vị cao quý mà lại chính ứng với hào 2 dương, địa vị thấp, như nàng công chúa em vua Đế Ất (một vị vua đời Thương) mà gả cho người bình dân. Đã vậy mà khi rước dâu, y phục của nàng lại không đẹp bằng y phục của mấy cô phù dâu. Như vậy là đức hạnh rất cao, không lên mặt vì mình có địa vị cao quý, lại coi thường phục sức. Đức như vậy thật đẹp; như trăng mười bốn (trăng mười bốn tròn, đẹp mà chưa đầy hẳn).
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Lời hào ở đây cốt nói về cách xử thế của người quân tử, trọng đạo đức mà không trọng quyền vị, quý tinh thần mà không quý đến vật chất. Thế tục đời sau lấy thế vị mà đánh giá người, lấy văn hóa mà khoe khoang quần chúng, đạo đức chẳng trau, mà chỉ trau về y phục. Văn minh không ruột, mà chỉ khoe khoang ở vỏ da, xin thử đọc mấy lời hào ở đây.
✅ Mệnh Hợp Cách: Theo nếp cổ, khoan dung, độ lượng, ưa nhã nhặn, công danh đạt, phúc lộc thịnh.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Sang hèn cũng đối đãi thế, giàu không kiêu, ham muốn nhưng không tham.
📅 Xem Tuế Vận:
🎓 Quan Chức và Giới Sĩ: Thăng chuyển, đỗ đạt.
👤 Người Thường: Được toại nguyện. Lấy vợ được của hoặc làm quý khách của nước.
Hiền hòa, trung chính khiêm nhường,
Gần rằm, trăng vẫn đạo hằng, không kiêu
📖 Lược Nghĩa: Nữ thừa khuông vô thực, sĩ khuê dương vô huyết, vô du lợi. Chỉ có hào ứng, không lộc, chẳng khác gì cô gái xách giỏ không, con trai cắt tiết dê mà không có máu, lấy gì cúng tế. Gái bưng giỏ mà không có thức gì chứa (để cúng lễ không xứng đáng làm vợ) trai học trò cất tiết con dê mà không có máu (để cúng lễ, không xứng làm chồng). Không có gì ích lợi được nữa (hào 6 và hào 2 đều là âm không hợp đạo vợ chồng).
☯ Toán Hà Lạc Giải: Không có đức không có ứng, ước trước mà không hẹn sau.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Năm hào trên, các cô em gái đều về nhà chồng cả rồi, hào này là hào trên cùng, muộn nhất; mà lại không có chính ứng (hào 3 ứng với nó cũng là âm), không thành vợ chồng chính thức được, chỉ sống bậy bạ với nhau, không có gì lợi cả. Hồi xưa, khi cúng tổ tiên, bổn phận người vợ là dâng đồ cúng, người chồng dâng huyết cừu; người con gái trong hào này, xách giỏ dâng đồ cúng mà giỏ lại trống không, còn người con trai cắt cổ cừu để lấy huyết thì lại cắt giả vờ, không có huyết dâng; như vậy thì tổ tiên nào chứng giám, nên không thành vợ chồng được. Hào đẹp trong quẻ là hào 5. Việc kén dâu, kén vợ, trọng người có đức, không khoe khoang mình cao sang, giàu có, coi thường phục sức, mà khiêm tốn.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có tài mà không được dùng, có bằng cấp mà chẳng có lộc vị, có vợ mà khó có con.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cô khổ, mệt óc, nghĩ nhiều chỉ quẩn.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Chỉ hư vị.
🎓 Giới Sĩ: Hư danh.
👤 Người Thường: Kinh doanh uổng sức. Người già có tang, tế.
Cúng lễ dù giỏ trống không,
Tấm lòng thành kính, Tổ Tông cảm rồi