🌟 Tổng quan về Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế
🏷️ Tên Quẻ: Vị Tế là Thất (Mất thăng bằng, chưa thành đạt, nhưng chớ bi quan, có hy vọng). Thuộc tháng 7.
🌫️ Lời Tượng: Hỏa tại thủy thượng: Vị Tế. Quân tử dĩ thận biện vật cư phương.
📖 Lược Nghĩa: Lửa ở trên nước là quẻ Vị Tế (chưa thành đạt). Người quân tử lấy đấy mà cẩn thận phân biệt mọi vật để đặt vào cho đúng phương (đúng chỗ).
☯ Toán Hà Lạc Giải
Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chi | Dần Thìn Ngọ | Tị Mùi Dậu |
Được quẻ này rất tốt. Lại sinh tháng 7 là cách công danh, phú quý.
"Cưỡi rồng phòng thất lạc,
Đuôi ướt cứ loanh quanh,
Nếu được cao nhân giúp,
Còn gì sợ với khinh"
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng
📜 Lời Thoán: Chưa xong, chưa cùng, được hanh thông. Con chồn nhỏ sửa soạn vượt qua sông mà đã ướt cái đuôi, không qua được, không có gì lợi cả.
Quẻ này trái hẳn quẻ trên, lửa ở trên nước, nước và lửa không giao nhau, không giúp được nhau, cả 6 hào đều ở trái ngôi cả, dương ở vị âm, mà âm ở vị dương. Cho Nên Gọi Là Vị Tế (chưa xong). Vì chưa xong nên chưa cùng, chưa phải là bế tắc (chưa qua sông được chứ không phải không qua sông được), tới một lúc nào, gặp thời qua được, lúc đó sẽ hanh thông. Thời đó là thời của hào 5, có đức nhu trung, biết thận trọng mà ở quẻ Li (thời văn minh). Vả lại tuy 6 hào đều trái ngôi, nhưng ứng viện nhau, cương nhu giúp nhau mà nên việc, thêm một lẽ hanh thông nữa.
Lời Thoán khuyên đừng như con chồn con, nóng nảy, hấp tấp, mới sửa soạn qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không qua được nữa, không làm được việc gì lợi cả, không tiếp tục được đến cùng.
Đại tượng truyện khuyên: phải xem xét kỹ càng mà đặt người, vật vào đúng chỗ thích đáng, thì mới nên việc, đừng đặt lửa trên nước chẳng hạn, như quẻ này.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Lời quẻ ở Ký tế nói rằng làm cho xong những việc nhỏ thì hanh, là nói bằng việc dĩ vãng. Lời quẻ ở Vị tế nói rằng hanh, là dự đoán về phúc tương lai. Việc dĩ vãng thì hanh có hoằng, việc dĩ vãng thì hanh vô cùng. Hanh ở Ký tế, ví như con đã trưởng thành, thì mạnh hay yếu, trí hay ngu, phúc tương lai đã định. Hanh ở Vị tế, ví như con còn thơ bé, thì tương lai còn chưa biết chừng. Dịch sở dĩ quy kết bằng Vị tế, chính như xuân mà chưa đến lúc hoa nở, đêm mà chưa đến lúc trăng tròn, chắc hy vọng về tiền đồ hãy còn nhiều lắm. Ai dám bảo rằng: Vị tế mà hẳn là bất tế đâu.
Vậy Nên Lời Quẻ Nói Rằng: Vị Tế (chưa xong): hanh. Lại còn hơn là Ký Tế (đã xong): hanh tiểu (cho xong việc nhỏ thì hanh).
🔮 Hà Lạc Dự Báo
Quẻ Vị Tế chỉ thời vận không thuận lợi, không có thời cơ tốt mọi việc khó thành. Phải kiên nhẫn chờ thời may ra mới có cơ may.
🎯 Ứng Việc:
Dở dang.
Không có, buôn bán kinh doanh kém phát đạt.
Khó khăn.
Lận đận.
Dây dưa, nên hòa giải thì hơn.
Không nặng nhưng kéo dài.
Không lợi.
Tình Yêu: Dang dở, khó thành.
Tốn nhiều thời gian, phải kiên nhẫn mới thành.
📊 Phân Tích Các Hào
📖 Lược Nghĩa: Nhu kỳ vĩ, lận. Ướt cái đuôi, xấu thẹn. (Hào sơ quẻ Khảm, không lội được qua).
☯ Toán Hà Lạc Giải: Không tài, đức, lại không gặp thời. Chỉ người không biết giữ gìn tài lực để tiến hành công việc, như con cáo muốn sang sông lại để ướt đuôi. (Đuôi cáo dài nặng, để ướt không thể bơi được).
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu tài kém, ở vào đầu thời Vị tế, mà lại bước chân vào chỗ hiểm (Khảm), coi như chồn sắp qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không biết tính trước nên phải ân hận.
✅ Mệnh Hợp Cách: Dù có tài kinh bang tế thế cũng không gặp thời, nên an phận, không vinh nhục gì.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Thân nhỏ, vận yếu, mà vọng động (động càn), nên việc có đầu không đuôi, không biết tri cơ, gian nan.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Gặp hiểm trở, không lên được.
🎓 Giới Sĩ: Được chọn hoặc đỗ cuối bảng.
👤 Người Thường: Kinh doanh chẳng được như ý.
Cẩn Thận: Sông nước.
Con cáo muốn qua sông
Ướt đuôi mà uổng công,
Không qua, ngồi đó vậy,
Chờ buổi mới xuân phong
📖 Lược Nghĩa: Duệ kỳ luân, trinh cát. Kéo lết cái bánh xe (đi từ từ) giữ chính là tốt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Nên giữ phận dưới, đừng vội thân với trên. Chỉ thời hợp với sự giữ đạo không lợi cho sự manh động làm liều.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương là có tài, ở vị âm là bất chính, thấy hào 5 ở ngôi tôn, ứng với mình mà âm nhu, có ý muốn lấn lướt 5, như vậy sẽ hỏng việc, cho nên hào từ khuyên giảm bớt tính cương đi (đi từ từ, như kéo lết bánh xe, hãm bớt lại) và giữ đạo trung của mình (hào 2 đắc trung) thì tốt, vì hệ trung thì có thể chính được.
✅ Mệnh Hợp Cách: Người trung hậu, giữ được đạo trung chính, cẩn thận, trên mến dưới tin.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng là người có chí, kẻ sĩ cẩn hậu, hòa đồng với mọi người, không ham tài lộc, ăn mặc sung túc.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Vất vả vì chức vụ nên được tin yêu.
🎓 Giới Sĩ: Đi lên, cẩn thận kẻo mắc lỗi.
👤 Người Thường: Cứ an thường thì toại ý, nếu vọng động sẽ khốn.
Bánh lăn ngàn dặm tiến,
Đường phẳng dễ như chơi
Gặp khách bên sông đứng
Chớ khua trống ngọ thời
📖 Lược Nghĩa: Vị tế, chinh hung, lợi thiệp đại xuyên. Chưa thành, tiến đi thời xấu, qua sông lớn, thì có ích.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Tài không đủ, phải dựa người thì nên việc. Sông nước gian nan mới kiếm được lợi, không nên trèo núi qua đồng. Việc chưa thể làm mà cứ làm thì thất bại. Tốt nhất là phải chuẩn bị như người vượt qua sông lớn, phải có người giúp sức.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu, vô tài lại bất trung, bất chính không làm nên việc đâu, nếu cứ tiến hành thì xấu. Sao lại bảo qua sông lớn thì lợi? Mâu thuẫn chăng? Vì vậy mà có người ngờ trước chữ lợi, thiếu chữ không, vượt qua sông lớn thì không lợi, mới phải.
✍️ Cũng Có Thể Giảng Như Sau: Xét về tài đức của 3 thì không nên tiến hành, nhưng xét về thời của 3: ở cuối quẻ Khảm, là sắp có cơ thoát hiểm, hơn nữa trên có hào 6 dương cương giúp cho, thì sắp có cơ hội vượt qua sông lớn được, lúc đó sẽ có lợi.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Chúng ta để ý: Lời hào cả 6 hào quẻ Ký tế, không hào nào có tên quẻ. Đến quẻ Vị tế thì 5 hào không có tên quẻ. Duy nhất hào 3 này có hai chữ: Chưa thành (Vị tế). Chúng ta đọc lời hào 3, nên xem qua lời hào 2 dương và 4 dương. 2 và 4 thì đều có chữ Giữ chính, tốt. Mà 3 âm thì có chữ Tiến đi, xấu. Nhưng chữ Tiến đi, xấu gắn liền với chữ Chưa thành.
Ý Thánh Nhân Rằng: Ở vào thời Vị tế, chỉ nên ở lại, giữ chính thì tốt như hào 2, hào 4 kia. Huống chi 3 âm thì tài hào quá kém, ở vào thời Vị tế, mà tài như thế, đi tất phải xấu. Nhưng thánh nhân lại sợ chúng ta thấy chữ đi, xấu mà nghĩ rằng: thời Vị tế tuyệt đối không tốt.
Nên Lại Thêm Vào Câu: Qua sông lớn thì có lợi, khiến cho chúng ta biết: một khi Thời đã đến, 3 âm vẫn có thể đi tốt, duy như tài 3 âm thì mới đi xấu mà thôi. Chỉ thấy câu Tiến đi, xấu mà đổ tội tại thời Vị tế, lại xem câu qua sông lớn, có lợi mới hiểu được ý.
✅ Mệnh Hợp Cách: Tài vụng, một mình không đủ làm, phải dựa vào người để múa may, cổ vũ mới hay được.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Âm hiểm, kẻ được trước mất sau, hoặc người thủy chung bất nhất, cùng chung hoạn nạn nhưng không cùng chung hưởng thành công, khó thành sự nghiệp, một bước cũng khó tiến.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Nhờ người mà nên mỹ mãn.
🎓 Giới Sĩ: Có lo bị kẻ đùn đẩy. Chưa thành danh còn long đong vất vả.
👤 Người Thường: Thích tiến, chỉ thêm thẹn mặt, phải bôn ba nơi sông nước kiếm ăn.
Cánh buồm nghìn dặm nhẹ,
Ba đào lặng, chẳng kinh
Thuyền đi không trở ngại
Xa tít bến trường đình
📖 Lược Nghĩa: Trinh cát, hối vong; chấn dụng phạt Quỷ phương tam niên, hữu thưởng vu đại quốc. Giữ chính thì mới tốt, và khỏi ăn năn, phải dùng sức chấn động để đi đánh Quỷ phương ba năm, Sẽ được thưởng nơi nước lớn.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Cố gắng theo đạo chính, thành công trong gian nan. Giữ chính thì mới tốt. Khỏi ăn năn. Phấn chấn tinh thần, cổ vũ dũng khí mà đánh nước Quỷ Phương, lâu 3 năm, nhưng rồi được nước lớn thưởng cho.
✍️ Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào này có tài dương cương mà ở vào thời thoát khỏi hiểm (quẻ nội Khảm), tiến lên cõi sáng sủa văn minh (quẻ ngoại Li) trên có hào 5, âm, là ông vua tin cậy mình, thì đáng lẽ tốt chỉ vì hào 4 (dương ở vị âm), nên kiên nhẫn thì mới làm được việc cho xã hội, như việc đánh nước Quỷ Phương thời vua Cao Tôn (coi hào 3, quẻ Ký tế) ba năm mới thành công.
✍️ Phan Bội Châu phụ chú: Xem tất cả 64 quẻ Dịch, sự tốt xấu liên quan đến Thời của mỗi quẻ. Mỗi quẻ có 6 hào, sự tốt xấu lại liên quan đến Thời của mỗi hào. Nhìn chung, được tốt, được xấu, hoặc từ tốt quay lại xấu, hoặc từ xấu chuyển sang tốt, rất quan hệ là hào 3, hào 4. 3 dương quẻ Thái vì quá cương nên thánh nhân phải dạy cho rằng trong gian nan mà giữ lấy chính đáng. 4 dương quẻ Cách thì cương nhu gặp nhau nên tán rằng Có tin. Như 4 dương ở quẻ này, đành là có tài dương cương nhưng cũng nhờ gặp Thời. Ở vào thời Vị tế, hết Khảm tới Li, vận Bĩ trước đã qua, mà vận Thái sau gần tới, nên làm nổi việc lớn, như phạt giặc Quỷ phương 3 năm, uy danh động đến nước ngoài, ân thưởng khắp trong nước, nên Lời tượng (ở hào) tán cho rằng: thực hành được cái chí. Thật mừng cho có tài tế thế mà lại gặp thời. Xưa nay biết bao nhiêu người có chí mà không hành được, cũng vì không gặp thời như 4 dương này.
✅ Mệnh Hợp Cách: Biến chất thiên lệch để trở về trung hòa, khoa danh chậm nhưng ân sủng cũng lớn. Người kiên trì chính đạo, có công danh, phúc lộc đầy.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng thực hành cái thiện, được người hiền đề cử, nên công thành danh toại, ý chí biến thành hành động.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Vũ thì đi chinh phạt nơi ngoài, văn thì vị cao tột bậc, công lớn vẻ vang.
🎓 Giới Sĩ: Cố gắng lâu bền, phúc lộc đầy. Đỗ ưu hạng, thành danh, thành công.
👤 Người Thường: Hoạch lợi, có quý nhân đề cử, kinh doanh phát đạt.
Cứ thế, việc trên đời
Muôn hay chừa vẹn mười
Xa lâu quên chuyện quách
Người hợp, trăng tròn rồi.
📖 Lược Nghĩa: Trinh, cát vô hối, quân tử chi quang, hữu phu, cát. Chính, tốt không ăn năn gì, cái rực rỡ của người quân tử, có tin tưởng thật là tốt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Bậc nguyên thủ được phụ tá thành đức nghiệp mỹ mãn. Người lãnh đạo có đức sáng.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm ở vị dương là bất chính, nhưng vì âm nhu đắc trung (trung còn tốt hơn chính), ở vào giữa quẻ ngoại Li, là có đức văn minh rực rỡ. Lại ứng với hào 2 đắc trung, dương cương ở dưới, nên hai lần được khen là tốt: lần đầu vì có đức trung, văn minh, lần sau vì có lòng chí thành, hết lòng tin ở hào 2.
✅ Mệnh Hợp Cách: Cầu hiền để giúp việc chính trị, là người có chức vụ, địa vị cao, lại được người hiền tài giúp sức, sự nghiệp đương thời rực rỡ.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng là quang minh chính đại, có địa vị cao, nghiệp lớn giàu thịnh, phúc dày.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Vinh thăng vượt bậc.
🎓 Giới Sĩ: Văn chương xán lạn.
👤 Người Thường: Được quang hiển, vàng lụa tích nhiều, phúc lộc dồi dào.
Lòng thành cầu bậc hiền tài
Ra tay giúp nước, gặp người trung lương
📖 Lược Nghĩa: Hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu. Nhu kỳ thủ, hữu phu thất thị. Tự tin (thong dong chờ thời) như khi uống rượu, không lỗi gì. Nhưng nếu (để rượu) ướt cả đầu (đi quá trớn) thì tự tin là đánh mất lẽ phải rồi.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Thuận mệnh trời để làm hết việc người.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương ở trên cùng quẻ là cương đến cùng cực, cũng ở cuối quẻ ngoại Li là sáng đến cùng cực, đều là quá cả. Sắp hết thời Vị tế rồi, mà hào 4 và 5 đã làm được nhiều việc rồi, hào 6 này chỉ nên tự tin, an mệnh, vui thì uống rượu. Nhưng chớ đắm trong rượu chè (như con chồn ướt cái đầu), không biết tiết độ thì mất cái nghĩa, hóa bậy. Kinh dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ Hàm và Hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội, tận cùng là hai quẻ Ký tế và Vị tế, đã xong rồi lại chưa xong, như vậy là hàm cái nghĩa việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tới chung lại tiếp ngay tới thủy. Mà đạo Dịch cũng vậy không bao giờ hết. Dịch cho ta niềm hy vọng ở tương lai. Thật là một triết lý lạc quan.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Suốt từ đầu đến đuôi, chỉ một chữ Thời vừa tóm hết bộ Dịch. Nhưng chỉ nói chữ Thời thôi, té ra hoàn toàn thuộc về phần tự nhiên, nên phải thêm chữ Tiết (tiết chế, điều tiết) thay vào chữ Thời, càng thấy được đạo lý thuộc về phần đương nhiên. Vì Thời mà có việc, mà làm việc thì phải theo Thời, muốn tùy thời mà biến dịch (tùy theo thời mà chuyển dịch) cho đúng với đạo Trung, nên phải có Dịch học. Nhưng cuối cùng bộ Dịch, lại đặt quẻ Vị tế, thì chúng ta càng nên biết rằng: Thời không bao giờ cùng, Việc không bao giờ xong, mà Dịch cũng không bao giờ hết. Đông tàn thì Xuân đến, Đêm hết thì Ngày bắt đầu, Bế tắc đến cùng thì Thông suốt bắt đầu. Chúng ta tùy thời mà xử sự, chỉ cần nhất là biết điều tiết. Tiết Hạ chí tới, mà lo soạn sửa áo dày, tiết Đông chí qua mà lo sắm sửa áo mỏng, tiết lụt chưa tới, mà lo dự bị thuyền bè, tiết hạn chưa tới, mà lo dự bị đồ tát nước, trăm việc ngàn việc đều biết lo điều tiết như thế, thì có bao giờ lo thất bại đâu. Chúng ta nhận kỹ ý nghĩa chữ Vị tế, mới biết được thời vận vẫn là vô cùng. Nhận biết được mấy chữ biết điều tiết, lại biết được thiên thời cũng cần có nhân sự. Thời là tạo hóa tự nhiên, có kết thúc thì có bắt đầu, Tiết là đạo lý đương nhiên, biết thì mới năng động mà hành động, ý nghĩa Dịch dạy người sâu sắc như thế. Chúng ta khi mở quyển xem cũng như khi đóng quyển nghỉ, đều cần nhận rõ như vậy, chớ không nên đọc quẻ, xem hào mà coi là xong.
✅ Mệnh Hợp Cách: Có tài cứu vớt, đức lớn, đổi loạn thành trị, lập công, để tiếng về sau, phúc lộc lâu bền.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Người chủ quan, phóng túng làm hỏng việc lớn, không tiết chế dục vọng, trái nghĩa, dễ thành khó, làm suy sụp sự nghiệp cha ông.
📅 Xem Tuế Vận:
Quan Chức: Thăng chuyển, giữ chức trông coi tế lễ (hoặc giám sát ngày nay).
🎓 Giới Sĩ: Tiến thủ, được lựa chọn đứng đầu, thành danh, thành công nếu không chủ quan, phóng túng.
👤 Người Thường: Thoát được hiểm, người già có tiệc mừng yến lão.
🚫 Số Xấu: Thì chết đuối.
Lòng trung, mệnh nghĩa, giữ yên
Ấy là bảo vệ tự nhiên Thái hòa
Rượu ai quá độ bê tha
Mất thời, mê mẩn biết là ra sao.