La kinh Tổng hợp Tam Nguyên Tam Hợp
Đây là la kinh Thầy Ưng Khiêm dùng khi đo thực địa, vẽ lại từ 22 ảnh chụp ngày 14 tháng 10 năm 2026. Mỗi chữ trong mỗi ô được chép đúng mặt bàn, đối từng ô với ảnh thật, kèm Hán Việt và tiếng Anh. Dáng vẽ theo UK MASTER, không chép kiểu chữ và tên hiệu của nhà làm la bàn.
Chạm vào ô bất kỳ trên mặt la kinh để đọc nghĩa. Kéo thanh trượt để xoay mặt tới một hướng và đọc mọi vòng tại hướng ấy. Bên dưới, mỗi vòng có một mục giải thích vòng là gì, dựng ra sao, đọc thế nào khi đo, chỗ các phái khác nhau, kèm bảng tra đủ các ô.
Các vòng trên la kinh
- Thiên trì, kim nam châm và dây chữ thập
- Tiên Thiên bát quái
- Hoàng Tuyền
- Tọa sơn Kiếp Sát
- Địa Mẫu Phiên Quái cửu tinh
- Địa bàn Chính châm 24 sơn
- Xuyên Sơn 72 long
- 24 thiên tinh
- Nhân bàn Trung châm
- Thấu Địa 60 long
- Hai vòng phân kim 120
- Thiên bàn Phùng châm và 24 tiết khí
- 64 quẻ Huyền Không Đại Quái, năm tầng
- 384 hào và châu bảo tuyến
- Vòng 60 can kèm hành
- Vòng độ tú và nhất điểm hồng
- 28 tú
- Thước 360 độ
Thiên trì, kim nam châm và dây chữ thập
天池 · 海底線 · 天心十道Trái tim của la kinh, nơi mọi phép đo bắt đầu
Thiên trì là ô kính tròn ở chính giữa mặt bàn. Trong đó có cây kim nam châm đặt trên một mũi trụ, và dưới đáy có một vạch đỏ gọi là hải để tuyến. Đầu Bắc của vạch có hai chấm đỏ để người đo không đặt ngược. Bên ngoài, trên tấm đế vuông, căng hai sợi dây đỏ vuông góc gọi là thiên tâm thập đạo.
Đo đúng nghĩa là xoay mâm tròn cho tới khi kim nằm khít trên hải để tuyến. Lúc ấy sợi dây chạy từ lưng người đo ra phía trước chỉ đúng tọa và hướng trên mọi vòng cùng một lúc. La kinh cổ gọi đầu kim chỉ phương Nam, người học quen la bàn phương Tây hay nhầm chỗ này.
Trên trang này, mặt la kinh vẽ lại không có kim thật. Trong La Bàn Pro, cảm biến của điện thoại thay cho kim, còn sợi dây đỏ dọc giữa màn hình thay cho thiên tâm thập đạo.
Khi đo thực địa
Đứng ở cửa chính, lưng quay vào nhà, cầm la kinh ngang bụng, tránh xa sắt thép. Chờ kim đứng yên trên hải để tuyến rồi mới đọc. Đo ít nhất ba chỗ, lệch nhau quá hai độ thì tìm nguồn nhiễu.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Kim chịu ảnh hưởng của xe, cột sắt, loa và tủ lạnh. Một la kinh mới mua cần kiểm kim, kiểm hai sợi dây có thật vuông góc trước khi dùng.
Nguồn tham khảo
Tiên Thiên bát quái
先天八卦Tám cung, mỗi cung bốn mươi lăm độ
Vòng trong cùng vẽ tám quẻ đơn theo Tiên Thiên của Phục Hy. Càn ở Nam, Khôn ở Bắc, Ly ở Đông, Khảm ở Tây, Đoài Đông Nam, Chấn Đông Bắc, Tốn Tây Nam, Cấn Tây Bắc. Mỗi quẻ chiếm đúng bốn mươi lăm độ và ôm ba sơn của vòng hai mươi bốn sơn.
Phong thủy coi Tiên Thiên là thể, Hậu Thiên là dụng. Vòng này nhắc người đo rằng mọi vòng bên ngoài đều chia trên nền tám cung. Phép Long thượng bát sát, phép nạp giáp và cả vòng 64 quẻ Đại Quái đều dựng trên tám quẻ đơn này.
Khi đo thực địa
Đọc tám cung để biết hướng nhà nằm trong quẻ nào, rồi đối chiếu với các vòng chia nhỏ hơn bên ngoài.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Nhiều la kinh in Hậu Thiên bát quái ở vòng này thay vì Tiên Thiên. La kinh của Thầy in Tiên Thiên, nên Càn nằm ở phía Nam chứ không phải Tây Bắc.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Hoàng Tuyền
黃泉Bát lộ và tứ lộ, phép kiêng nước theo hướng
Hoàng Tuyền là phép xét nước chảy vào, nước chảy ra và chỗ mở cửa theo hướng nhà hay hướng mộ. Câu quyết được chép nhiều nhất là 「庚丁坤上是黃泉,乙丙須防巽水先,甲癸向中憂見艮,辛壬水路怕當乾」.
Trên la kinh của Thầy, vòng này chỉ in ở tám can và bốn duy. Mỗi can in một quẻ, ví dụ hướng Canh hay Đinh thì ô ghi Khôn. Mỗi duy in hai can, ví dụ hướng Khôn thì ô ghi Đinh Canh. Tám can thành bát lộ, bốn duy thành tứ lộ, và luật đi theo hai chiều, hướng Canh Đinh kỵ Khôn mà hướng Khôn cũng kỵ Canh Đinh.
Cách hiểu thường gặp dựa vào vòng Trường Sinh. Lập hướng vượng mà nước chảy ra ở Lâm Quan, hay lập hướng suy mà nước chảy ra ở Đế Vượng, thì gọi là sát nhân Hoàng Tuyền. Nước chảy vào ở chỗ ấy lại có khi thành cứu bần Hoàng Tuyền.
Khi đo thực địa
Xác định hướng xong, nhìn ô Hoàng Tuyền của hướng ấy. Kiểm xem ở phương ghi trong ô có dòng nước chảy ra, có cống thoát nước hay cửa mở thẳng không.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Các bản chép không thống nhất. Một bài viết dẫn bốn câu trên là của Thiên Ngọc Kinh ngoại thiên, còn La Kinh Thấu Giải của Vương Đạo Hanh mở rộng thành tám câu và đổi chữ. Đừng đọc đơn giản là cứ thấy nước là xấu, điều cần xét là nước tháo ra ở đâu. Cũng đừng lẫn với Long thượng bát sát, đó là phép xét long và sa.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Tọa sơn Kiếp Sát
坐山劫煞Phương sát tính theo sơn ngồi
Vòng này cho biết với mỗi sơn ngồi thì Kiếp Sát nằm ở sơn nào. Ca quyết là 「巽未申山癸劫藏,辛戌居丑庚馬鄉,震艮逢丁甲見丙,壬猴乾兔丙辛方,坎癸逢蛇巳午雞,丁酉逢寅坤亥乙,龍虎遇羊乙猴劫」. Ví dụ ngồi Tý hay Quý thì Kiếp Sát ở Tỵ, ngồi Nhâm thì ở Thân.
Đủ hai mươi bốn ô trên la kinh của Thầy khớp từng chữ với ca quyết trên. Phép này luôn xét theo tọa, không theo hướng.
Khi đo thực địa
Đọc ô dưới sơn ngồi, rồi nhìn ra phương ghi trong ô. Ở đó có đá vỡ, núi nghiêng lở, góc nhọn đâm tới hay công trình xấu thì là phạm Kiếp Sát. Nếu chỗ ấy là núi tròn ngay ngắn thì không kỵ.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Các bản ca quyết lưu truyền có vài chữ khác nhau, như 犁牛 và 犀牛, 未 và 末. Những hậu quả sách cũ kể về Kiếp Sát là lời truyền của nghề, nên đọc như lời cảnh báo để xem xét kỹ, không phải lời phán chắc chắn.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Địa Mẫu Phiên Quái cửu tinh
地母翻卦九星Chín sao khởi từ Khôn, dùng xét sa và núi
Khôn được xem là đất mẹ, mọi sơn đều nương vào. Lấy Khôn làm bản cung là Phụ Bật, rồi lật lần lượt từng hào sẽ ra Cấn Tham Lang, Tốn Cự Môn, Càn Lộc Tồn, Ly Văn Khúc, Chấn Liêm Trinh, Đoài Vũ Khúc, Khảm Phá Quân.
Qua nạp giáp, sao của quẻ chia cho các sơn. Khôn Ất là Phụ, Cấn Bính là Tham, Tốn Tân là Cự, Càn Giáp là Lộc, Nhâm Dần Ngọ Tuất là Văn, Canh Hợi Mão Mùi là Liêm, Đinh Tỵ Dậu Sửu là Vũ, Quý Thân Tý Thìn là Phá. Hai mươi bốn ô trên la kinh của Thầy khớp đúng như vậy.
Khi đo thực địa
Dùng để xét núi, sa và gò đống bên ngoài, và chỗ đặt cửa, bếp, giường. Phương sao tốt có núi đẹp thì cát, phương sao xấu có núi nhọn lệch thì hung.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Nạp thủy không dùng vòng này mà dùng phép Phụ tinh thủy pháp, khởi sao từ quẻ của hướng. Cũng đừng lẫn với Tham Lang cửu tinh theo Tiên Thiên viên đồ của Huyền Không Đại Quái, đó là hệ khác.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Địa bàn Chính châm 24 sơn
地盤正針二十四山Vòng gốc để cách long và lập hướng
Hai mươi bốn sơn gồm tám thiên can (bỏ Mậu Kỷ ở giữa), mười hai địa chi và bốn duy Càn Khôn Cấn Tốn. Mỗi sơn rộng mười lăm độ, Tý ở chính Bắc từ 352,5 tới 7,5 độ. Chữ nhỏ bên cạnh mỗi sơn là chính ngũ hành của sơn ấy.
Chữ đỏ là Tịnh Dương, chữ đen là Tịnh Âm. Càn Khôn Khảm Ly là quẻ dương theo số Lạc Thư lẻ, kéo theo các sơn nạp giáp của chúng, Càn nạp Giáp, Khôn nạp Ất, Khảm nạp Quý và Thân Tý Thìn, Ly nạp Nhâm và Dần Ngọ Tuất. Mười hai sơn ấy in đỏ, mười hai sơn còn lại in đen.
Chín độ giữa mỗi sơn là chính hướng, ba độ hai bên là kiêm. Đè đúng ranh hai sơn là Tiểu Không Vong, đè ranh hai quẻ là Đại Không Vong. Kiêm ra ngoài thì xuất quái, kiêm vào trong thì phạm âm dương sai thác.
Khi đo thực địa
Đây là vòng đọc đầu tiên khi đo. Phái Tam Nguyên dùng Địa bàn cho cả cách long, xem thủy khẩu và lập hướng. Phái Tam Hợp dùng Địa bàn để cách long, Nhân bàn để tiêu sa, Thiên bàn để nạp thủy.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Tam Nguyên và Tam Hợp chia âm dương các sơn theo hai cách khác nhau. Dùng lý thuyết nào thì phải dùng đúng cách chia âm dương của lý thuyết ấy.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Xuyên Sơn 72 long
穿山七十二龍Sáu mươi hoa giáp cộng mười hai ô Chính
Sáu mươi hoa giáp chia cho mười hai địa chi, mỗi chi năm ô rộng năm độ. Chi dương mang Giáp Bính Mậu Canh Nhâm, chi âm mang Ất Đinh Kỷ Tân Quý. Dưới mỗi ô in nạp âm ngũ hành. Ở chính giữa tám can và bốn duy là mười hai ô trống, la kinh của Thầy in đỏ chữ Chính 正. Cộng lại thành bảy mươi hai ô.
Năm ô trong một chi chia theo năm tuần. Tuần Giáp Tý là cô hư, Bính Tý vượng tướng, Mậu Tý quy giáp không vong, Canh Tý vượng tướng, Nhâm Tý sai thác. Người đo tránh cô hư, quy giáp và sai thác.
Mỗi ô Chính kẹp giữa ô cuối của chi trước và ô đầu của chi sau, ví dụ giữa Đinh Tỵ Thổ và Canh Ngọ Thổ ở sơn Bính. Thanh Nang Áo Ngữ có câu 「顛顛倒,二十四山有珠寶」.
Khi đo thực địa
Xuyên Sơn đọc long mạch ở xa. Đặt la kinh tại chỗ quá giáp, nếu không có quá giáp thì đặt sau sao chủ nhập thủ trên sống phân thủy, rồi đọc long thuộc hoa giáp nào.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Các phái đọc câu điên điên đảo rất khác nhau. Tưởng Đại Hồng giảng là sự giao cấu âm dương, hợp sinh vượng thì cát. Phái Tam Hợp đọc theo vòng Trường Sinh. Trần Ích Phong gắn thẳng vào vòng này, cho rằng chỉ ô Canh Bính Đinh Tân là châu bảo. Một số tài liệu gọi mười hai ô Chính là Đại Không Vong.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
24 thiên tinh
二十四天星Định quý tiện của long và sa theo sao trời
Mỗi sơn ứng với một chòm sao. Hợi là Thiên Hoàng thuộc Tử Vi viên, Cấn là Thiên Thị thuộc Thiên Thị viên, Bính là Thái Vi, Dậu là Thiếu Vi. Long và sa từ phương có sao quý thì mạch quý.
La kinh của Thầy in Mão là Thiên Mệnh và Đinh là Thiên Trụ, khớp với bản trong Thôi Quan Thiên của Lại Văn Tuấn. Một số la kinh khác in Mão là Thiên Hành và Đinh là Nam Cực.
Khi đo thực địa
Xét long đến và núi quanh huyệt. Hợi long được xem là quý nhất. Tam cát là Hợi Chấn Canh, lục tú là Cấn Bính Tốn Tân Đoài Đinh. Sa hình thổ ở Cấn Bính chủ giàu, núi đẹp ở Tốn Tân chủ văn chương.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Có la kinh in một vòng 24 sao khác, bắt đầu bằng Long Lâu và kết bằng Địa Sát, xoay theo nguyên vận. Đó không phải vòng này.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Nhân bàn Trung châm
人盤中針Lệch bảy độ rưỡi ngược chiều kim đồng hồ, dùng tiêu sa
Trung châm tương truyền do Lại Bố Y lập. Cả vòng hai mươi bốn sơn xoay ngược chiều kim đồng hồ nửa sơn, tức bảy độ rưỡi, nên Tý của Trung châm nằm ở 345 tới 360 độ.
Chữ hành in trước mỗi sơn là Thất chính tứ dư ngũ hành, còn gọi bát sa ngũ hành. Câu quyết là 「乾坤艮巽是木鄉,寅申巳亥水神當,甲庚丙壬本屬火,子午卯酉火依相,乙辛丁癸土相傷,辰戌丑未屬金堂」. Đủ hai mươi bốn ô trên la kinh của Thầy khớp đúng câu này.
Khi đo thực địa
Phái Tam Hợp dùng Trung châm để tiêu sa, tức đánh giá núi và gò đống quanh huyệt. Đo phương của ngọn núi trên vòng này rồi lấy hành của sơn so sinh khắc với tọa.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Phái Tam Nguyên không dùng Trung châm. Có tác giả đảo vai trò của Trung châm và Phùng châm, ghi Trung châm để nạp thủy, nên khi đọc sách phải xem tác giả theo quy ước nào.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Thấu Địa 60 long
透地六十龍Mạch gần đi vào huyệt
Sáu mươi hoa giáp, mỗi ô sáu độ. Giáp Tý bắt đầu ở đầu sơn Nhâm, tức 337,5 độ, rồi Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý, sang Ất Sửu và tiếp tục. Mỗi cặp sơn như Nhâm Tý, Quý Sửu ôm năm ô của một chi.
Theo phép đo trên mặt bàn này, Canh Tý nằm từ 355,5 tới 1,5 độ, ôm trọn tâm sơn Tý. Mậu Tý nằm vắt nửa Nhâm nửa Tý.
Khi đo thực địa
Xuyên Sơn đọc mạch xa, Thấu Địa đọc mạch gần. Đặt la kinh ở chỗ thắt cổ sau huyệt, trên sống phân thủy, đọc mạch vào huyệt thuộc ô nào. Tuần Bính Tý và Canh Tý là châu bảo. Thứ tự kiểm là 「分金不克坐穴,坐穴不克透地,透地不克來龍」.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Có sách đặt Thấu Địa theo Trung châm. Trần Ích Phong lại đọc sáu mươi ô như sáu mươi tháng để chọn tháng an táng. Ký hiệu trên ô cũng mỗi tác giả một kiểu.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Hai vòng phân kim 120
一百二十分金Đường chỉ chính xác của tọa hướng
Mỗi sơn chia năm ô ba độ, cả vòng một trăm hai mươi ô. La kinh chỉ in chữ ở hai ô của mỗi sơn, Bính và Canh dưới chi dương, Đinh và Tân dưới chi âm. Đó là bốn ô vượng tướng theo nạp giáp, vì Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân đều là quẻ có hào lẫn âm dương.
Giáp Nhâm thuộc Càn là cô dương, Ất Quý thuộc Khôn là âm hư, Mậu Kỷ thuộc Khảm Ly là quy giáp không vong. Vì thế một trăm hai mươi ô chỉ có bốn mươi tám đường dùng được. Vòng trong theo Chính châm, vòng ngoài theo Phùng châm dời bảy độ rưỡi.
Khi đo thực địa
Dùng chủ yếu cho âm trạch. Nạp âm của phân kim so với nạp âm năm sinh của người mất. Phân kim sinh mệnh, đồng hành, hoặc mệnh khắc phân kim là cát. Mệnh sinh phân kim hoặc phân kim khắc mệnh là hung. Có câu 「分金差一線,富貴不相見」.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Dương trạch có câu 「陰宅一條線,陽宅一大片」, nên phân kim ít quan trọng với nhà ở. Trần Ích Phong cho rằng đường hòm và đường bia là một, không có nội ngoại phân kim. Thầy khác dùng hai vòng để xét khí nhiều hay ít.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Thiên bàn Phùng châm và 24 tiết khí
天盤縫針 · 二十四節氣Lệch bảy độ rưỡi theo chiều kim đồng hồ, dùng nạp thủy
Phùng châm tương truyền do Dương Quân Tùng lập. Cả vòng hai mươi bốn sơn xoay thuận chiều kim đồng hồ bảy độ rưỡi, nên Tý của Phùng châm nằm từ 0 tới 15 độ, đường Tý Ngọ chạy qua khe giữa Tý Quý và Ngọ Đinh của Chính châm.
Mỗi ô in thêm một tiết khí theo lối thái dương đáo sơn. Mặt trời đi ngược quanh hai mươi bốn sơn, mỗi sơn một tiết. Đông Chí in ở Sửu, Tiểu Hàn ở Quý, Đại Hàn ở Tý, Lập Xuân ở Nhâm, Hạ Chí ở Mùi. Đông Chí ở Sửu vì nguyệt tướng của trung khí Đông Chí là Sửu.
Chữ hành sau mỗi sơn có quy luật rõ. Địa chi theo tam hợp cục, Thân Tý Thìn thủy, Dần Ngọ Tuất hỏa, Tỵ Dậu Sửu kim, Hợi Mão Mùi mộc. Thiên can và tứ duy giữ chính ngũ hành.
Khi đo thực địa
Phái Tam Hợp dùng Phùng châm để nạp thủy và tiêu thủy theo mười hai trường sinh. Đo phương nước đến và nước đi trên vòng này. Vòng tiết khí dùng khi chọn ngày theo thái dương đáo sơn.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Có bài viết ghi ngược chiều xoay của Phùng châm. Trần Ích Phong nghi chuyện Dương Công lập Phùng châm, vì sách đời Đường chưa ghi độ lệch từ.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
64 quẻ Huyền Không Đại Quái, năm tầng
玄空大卦六十四卦Quái vận, quẻ phối, cửu tinh, tên quẻ, Sơ hào và Thượng hào
Sáu mươi tư quẻ xếp theo Tiên Thiên viên đồ, mỗi quẻ 5,625 độ, quẻ Phục bắt đầu ở 0 độ. Nửa vòng từ Phục tới Càn có hạ quái Chấn Ly Đoài Càn, nửa còn lại từ Cấu tới Khôn có hạ quái Tốn Khảm Cấn Khôn.
Tầng tên quẻ là tầng chính. Tám ô nền xanh là tám quẻ thuần, Càn Khôn Khảm Ly Chấn Tốn Cấn Đoài, quái vận một. Tầng cửu tinh ghi sao của quái vận. So từng hào của thượng quái với hạ quái, giống hết là một Tham Lang, khác hết là chín Hữu Bật, chỉ khác hào dưới là tám Tả Phụ, chỉ hào giữa là bảy Phá Quân, chỉ hào trên là sáu Vũ Khúc. Không có vận năm.
Tầng quẻ phối ghi quẻ đổi đối rồi tráo trên dưới, ví dụ Phục phối Tiểu Súc, Di phối Trung Phu, Truân phối Gia Nhân. Quẻ phối cùng quái vận và từng quẻ đơn hợp thập với quẻ gốc. Tầng trong cùng ghi số và quẻ đơn của thượng quái đối, in nền đỏ ở bốn quẻ có thượng quái Tốn Khảm Cấn Khôn trong mỗi bốn mươi lăm độ.
Tầng ngoài cùng ghi quái số, tức số Tiên Thiên phối Lạc Thư của thượng quái, Càn 9 Đoài 4 Ly 3 Chấn 8 Tốn 2 Khảm 7 Cấn 6 Khôn 1. Hai bên số là chữ 刀 và 上. Chữ 刀 đánh dấu Sơ hào, chữ 上 đánh dấu Thượng hào, nên biết sáu hào trong quẻ chạy chiều nào.
Khi đo thực địa
Lập hướng Đại Quái thì đọc quẻ của tọa và hướng, xét hợp thập, hợp ngũ, sinh thành, rồi xét quái vận với nguyên vận. Thiên Ngọc Kinh có câu 「江東一卦從來吉,八神四個一」.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Màu đỏ và xanh trên tầng quẻ là quy ước riêng của mặt bàn này. Có la kinh tô đỏ quẻ dương, đen quẻ âm. Sách cũng không thống nhất quẻ nào là Giang Đông, quẻ nào là Giang Tây.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
384 hào và châu bảo tuyến
三百八十四爻 · 珠寶線Mỗi hào chưa tới một độ
Mỗi quẻ chia sáu hào, cả vòng ba trăm tám mươi tư ô, mỗi ô 0,9375 độ. Đếm từ phía có chữ 刀 là Sơ hào sang phía chữ 上 là Thượng hào. Vì hai quẻ liền nhau luôn gặp nhau ở 上 với 上 hoặc 刀 với 刀, chiều đếm đổi qua đổi lại.
Mỗi ô hào in hai số. Đối chiếu từng ô trên mặt bàn thì hai số này là số Hậu Thiên của thượng quái và hạ quái của quẻ biến khi động hào ấy. Ví dụ hào hai quẻ Cấu động thành quẻ Độn, thượng Càn số 6, hạ Cấn số 8, ô ghi 六 và 八. Trần Ích Phong dùng phép tương tự với số Tiên Thiên, mặt bàn này in số Hậu Thiên.
Vòng chấm đỏ sát bên là châu bảo tuyến. Trên la kinh của Thầy có 138 chấm nằm trong ô hào và 12 chấm nằm trên ranh giữa hai hào.
Khi đo thực địa
Dương trạch dùng chấm đỏ để tham khảo khi chọn đường hướng. Âm trạch dùng phép trừu hào hoán tượng, hào dương động thành âm, hào âm động thành dương. Chỉ động ở hào có chấm đỏ mới cát. Chấm nằm giữa hai hào thì động cả hai.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Mỗi hãng giải chấm đỏ một kiểu. Có hãng giải theo cặp số Hà Đồ Lạc Thư của hào trên quẻ trên và quẻ dưới. Cách đọc hai số trên trang này là con suy từ mặt bàn và đã đối từng ô, sách chưa thấy ghi thẳng.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Vòng 60 can kèm hành
盈縮六十龍Nhiều khả năng là Doanh Súc 60 long
Vòng này có sáu mươi ô rộng hẹp không đều, mỗi ô ghi một thiên can và một hành, can xếp đúng thứ tự Thấu Địa. Cách bố trí khớp với Doanh Súc lục thập long, loại vòng chia theo ba trăm sáu mươi lăm độ một phần tư của trời nên có ô dài ô ngắn như tháng đủ tháng thiếu.
Trên la kinh của Thầy có thêm một ô hẹp ở khoảng 35,5 tới 37,5 độ in Mậu Mộc, liền trước ô Mậu Hỏa. Ô này còn chờ giải nghĩa.
Khi đo thực địa
Theo sách, Doanh Súc 60 long lấy nạp âm phối với hành của từng độ tú, ưa sinh và hòa, kỵ khắc và tiết.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Hành in trên vòng này không trùng nạp âm của hoa giáp, nên cách dùng trên mặt bàn này cần Thầy xác nhận. Kỷ Đại Khuê viết người hiểu lý thì bỏ ngũ hành của Doanh Súc không dùng.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Vòng độ tú và nhất điểm hồng
渾天星度五行 · 一點紅Ba tầng sát vòng 28 tú, 374 ô
Ba tầng này chia theo độ cổ của từng tú, không theo ba trăm sáu mươi độ, nên vạch ô lệch dần so với thước. Tầng trong in số lẻ một, ba, năm, bảy, chín, mười một để đếm độ trong tú. Tầng giữa in hành của từng độ, gọi là hồn thiên tinh độ ngũ hành. Các ô nền đen in hai hành nằm ở chỗ chuyển giao.
Tầng ngoài in dấu cát hung. Chấm đỏ là độ cát, ô trống là độ bình, nét chấm 丶 là độ hung, chữ 人 là tuyến Không Vong, chữ 丫 là Sai Thác Không Vong, dấu × in vắt ngang vạch là Quan Sát, chỗ hai độ liền nhau khắc nhau. Đối chiếu trên la kinh của Thầy, hai mươi trong hai mươi bốn dấu 人 rơi đúng ranh giới hai mươi bốn sơn và mười trong mười một dấu 丫 rơi đúng tâm địa chi.
Các chấm đỏ này còn gọi là nhất điểm hồng. La kinh này có 138 chấm đỏ trong 374 ô độ.
Khi đo thực địa
Khi đã chọn được hướng trên Chính châm, dò tiếp trên tầng này để rơi vào độ có chấm đỏ, tránh 人, 丫 và ×. Nhiều thầy địa lý chỉ dùng chấm đỏ.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Ký hiệu mỗi hãng mỗi khác, có hãng dùng chữ 亡 thay 人 và vòng đen thay 丶. Mặt bàn này còn ba dấu chưa có lời giải là dấu 丰 ở khoảng 105 độ, dấu hình W ở khoảng 202 độ và một gạch đỏ ở ranh Sâm và Chủy.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
28 tú
二十八宿Hai mươi tám chòm sao trên đường đi của mặt trăng
Mỗi ô ghi tên tú, hành của tú, số độ cổ và một chữ thái, thiếu hoặc bán. Bán là nửa độ, thiếu là kém nửa, thái là hơn nửa. Ví dụ 斗木廿二太 là tú Đẩu, hành Mộc, hai mươi hai độ hơn.
Hành của tú theo thất chính, Mộc Kim Thổ Nhật Nguyệt Hỏa Thủy lặp lại. Tú Nhật và tú Nguyệt đều in thành Hỏa, nên Phòng, Tâm, Hư, Nguy, Tinh, Trương, Mão, Tất trên mặt bàn này đều mang Hỏa.
Phần lớn la kinh ngày nay dùng độ Khai Hy đời Nam Tống. Năm Càn Long thứ mười bảy, triều Thanh đổi thứ tự thành Chủy trước Sâm sau, nên la kinh có thể in một trong hai thứ tự. Trên mặt bàn này tú Chủy hẹp chưa tới một độ.
Khi đo thực địa
Dùng để định tọa độ theo tú, ví dụ tọa Trương mười bảy độ hơn, để tiêu sa và chọn ngày theo thiên tinh, nơi thất chính phải chiếu vào sơn.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
Độ Khai Hy và độ Thời Hiến lệch nhau chừng mười một độ. Thầy dùng mặt bàn nào thì đọc theo độ của mặt bàn ấy.
Bảng tra đủ các ô
Nguồn tham khảo
Thước 360 độ
周天三百六十度Cầu nối giữa la kinh cổ và la bàn hiện đại
Vòng ngoài cùng chia ba trăm sáu mươi độ, cứ năm độ một số, 0 độ ở chính Bắc. Thước này giúp các thầy khác phái so số độ với nhau và giúp đọc la kinh cùng bản đồ.
Các vòng tú, vòng độ và Doanh Súc chia theo độ cổ ba trăm sáu mươi lăm độ một phần tư, còn thước này chia theo ba trăm sáu mươi độ mà nhà Thanh chính thức dùng.
Khi đo thực địa
Ghi hướng bằng số độ trên thước này khi báo cho khách, khi đối chiếu với bản đồ vệ tinh hoặc khi nhập vào La Bàn Pro.
Lưu ý và chỗ các phái khác nhau
La kinh đo theo Bắc từ. Bản đồ dùng Bắc thật. Muốn đối chiếu hai bên thì cộng trừ độ lệch từ tại chỗ.
Nguồn tham khảo
Dùng la kinh này để đo nhà thật
La Bàn Pro có sẵn mặt La kinh này, xoay theo điện thoại, đọc mọi vòng tại hướng nhà, kèm vòng Bát Trạch 8 du niên của gia chủ và tinh bàn Huyền Không.
Viện Đào tạo và Nghiên cứu Huyền học UK Master Academy · Công ty Cổ phần Tập đoàn UK Master (UK MASTER CORP) · MST 0319411614