Cân xương tính số, xưng cốt toán mệnh

Tính Cân Lượng Chỉ trực tuyến

Quý vị nhập ngày giờ sinh theo dương lịch hoặc âm lịch, hệ thống tự cộng cân lượng của năm, tháng, ngày, giờ thành tổng lượng chỉ, tách rõ từng phần rồi dẫn quý vị tới bài luận giải số mệnh tương ứng.

Nhập thông tin ngày sinh

Chọn loại lịch rồi nhập ngày giờ sinh. Hệ thống tính tức thì ngay trên máy quý vị.

Cân Lượng Chỉ là gì?

Trong kho tàng mệnh lý phương Đông, bên cạnh Tử Vi Đẩu Số và Bát Tự Tứ Trụ vốn rất công phu, người xưa còn để lại một phép đoán số gọn nhẹ mà thâm thúy, đó là Cân Lượng Chỉ. Dân gian quen gọi là cân xương tính số, sách vở gọi là xưng cốt toán mệnh. Cách làm rất dễ hình dung: mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày và mỗi giờ sinh được quy ước một trọng lượng nhỏ tính bằng lượng và chỉ, cộng tất cả lại ta được tổng cân nặng của bộ xương số mệnh.

Tổng lượng chỉ thấp nhất là 2 lượng 1 chỉ, cao nhất quanh ngưỡng 7 lượng. Con số này không phải để khoe giàu nghèo, mà là một lát cắt nhanh giúp quý vị hình dung cốt cách bẩm sinh, phần phúc tổ tiên để lại và nhịp thăng trầm của cả một đời người.

Cách tính cân lượng theo năm, tháng, ngày, giờ

Phép tính cộng dồn bốn thông số, toàn bộ lấy theo ngày giờ sinh âm lịch. Nếu quý vị chỉ nhớ ngày dương, công cụ phía trên sẽ tự quy đổi sang âm lịch trước khi cân. Bốn bảng trọng số dưới đây đúng bằng bộ bảng mà hệ thống của Thầy Ưng Khiêm đang dùng, quý vị có thể tự nhẩm lại để kiểm chứng.

Bước 1. Cân lượng theo năm sinh

Mỗi năm Can Chi âm lịch ứng với một cân lượng riêng theo vòng lục thập hoa giáp. Ví dụ tuổi Giáp Tý năm 1984 là 1 lượng 2 chỉ, tuổi Tân Mùi năm 1991 là 8 chỉ, tuổi Bính Ngọ năm 2026 là 1 lượng 3 chỉ. Đây là phần biểu thị nền tảng gốc gác mà mỗi người mang theo từ lúc chào đời.

Bước 2. Cân lượng theo tháng sinh

Mười hai tháng âm lịch có trọng số cố định. Tháng Giêng 6 chỉ, tháng Hai 7 chỉ, tháng Ba 1 lượng 8 chỉ, tháng Tư 9 chỉ, tháng Năm 5 chỉ, tháng Sáu 1 lượng 6 chỉ, tháng Bảy 9 chỉ, tháng Tám 1 lượng 5 chỉ, tháng Chín 1 lượng 8 chỉ, tháng Mười 1 lượng 8 chỉ, tháng Mười Một 9 chỉ, tháng Chạp 5 chỉ.

Bước 3. Cân lượng theo ngày sinh

Ba mươi ngày trong tháng âm lịch mỗi ngày một trọng số, lên xuống theo nhịp trăng tròn trăng khuyết. Ví dụ mùng Một 5 chỉ, mùng Hai 1 lượng, mùng Tám 1 lượng 6 chỉ, ngày Rằm 1 lượng.

Bước 4. Cân lượng theo giờ sinh

Mười hai giờ chi cũng có cân nặng riêng. Giờ Tý 1 lượng 6 chỉ, giờ Sửu 6 chỉ, giờ Dần 7 chỉ, giờ Mão 1 lượng, giờ Thìn 9 chỉ, giờ Tỵ 1 lượng 6 chỉ, giờ Ngọ 1 lượng, giờ Mùi 8 chỉ, giờ Thân 1 lượng, giờ Dậu 6 chỉ, giờ Tuất 6 chỉ, giờ Hợi 6 chỉ. Cộng bốn con số của bốn bước lại, quý vị có tổng lượng chỉ của mình.

Ba nhóm cốt cách thường gặp

Để dễ nhớ, người xưa chia tổng lượng chỉ thành ba khoảng lớn. Mỗi khoảng là một dáng đời, không phải bản án, mà là gợi ý để mỗi người biết mình nên giữ gìn điều gì và bồi đắp điều gì.

Lượng chỉ là bệ phóng bẩm sinh, còn hành thiện tích đức mới là động cơ đưa ta đi xa. Người lượng thấp mà tích đức dày vẫn hưởng hậu vận an lành. Thầy Ưng Khiêm.

Vì sao mỗi nơi lại tính ra kết quả khác nhau?

Rất nhiều người thắc mắc vì sao cùng một ngày sinh mà mỗi trang cân xương lại cho một con số khác nhau. Có ba nguyên nhân chính, và công cụ này được dựng để tránh cả ba.

Câu hỏi thường gặp

Nam và nữ tính cân lượng có khác nhau không?

Phần quy đổi lượng chỉ từ năm, tháng, ngày, giờ là giống nhau cho cả nam và nữ. Chỉ có phần thơ luận giải đi kèm mới có đôi chỗ khác biệt theo giới tính, nên quý vị cứ yên tâm nhập đúng thông tin.

Tôi chỉ nhớ ngày dương lịch thì làm sao?

Quý vị chọn thẻ Dương lịch rồi nhập ngày dương như bình thường, hệ thống sẽ tự quy đổi sang âm lịch và cân giúp quý vị, không cần tra cứu đâu khác.

Cân lượng thấp thì cải vận thế nào?

Cân lượng thấp chỉ báo hiệu thời trẻ vất vả chứ không định đoạt cả đời. Cách bồi phúc bền nhất vẫn là giữ tâm hướng thiện, siêng năng giúp người, sống tử tế và chăm chỉ, phúc khí theo đó mà dày lên.