壹Đọc Nhanh Trong Năm Câu
Đạo Giáo là đạo bản địa của Trung Hoa, lấy chữ Đạo làm gốc, tin rằng vũ trụ vận hành theo một lẽ tự nhiên mà con người nên thuận theo thay vì cưỡng lại. Đạo Giáo có hai lớp khác nhau mà người đọc hay lẫn: lớp tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử thời Xuân Thu Chiến Quốc, và lớp tôn giáo có tổ chức ra đời muộn hơn nhiều, mốc thường lấy là năm 142 khi Trương Đạo Lăng lập Thiên Sư Đạo. Đạo Giáo thờ Tam Thanh đứng đầu một hệ thần linh rất đông, có kinh sách riêng gom thành bộ Đạo Tạng, có đạo sĩ, cung quán, phù lục, trai tiếu. Đạo Giáo không có giáo hội thống nhất toàn cầu, không có nghi thức nhập đạo bắt buộc cho người thường, nên số tín đồ gần như không đếm được bằng phương pháp thống kê thông thường. Với người Việt, Đạo Giáo ít khi hiện ra dưới tên gọi của nó, mà nằm trong những thứ quen thuộc tới mức không ai còn nhận ra là của Đạo Giáo: ông Táo, ông Thổ Địa, lá bùa dán cửa, tấm gương bát quái, cách gọi ngũ hành sinh khắc.
Bài này đi theo mười sáu mục, từ bối cảnh ra đời cho tới chỗ Đạo Giáo chạm vào phong thủy. Ở mỗi chỗ có tranh cãi, bài tách làm hai hộp: hộp theo giáo nghĩa ghi điều chính Đạo Giáo nói về mình, hộp theo sử liệu ghi điều khảo cổ và văn bản học khảo được. Hai lối kể ấy không phủ nhận nhau, chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau, và người đọc cần biết mình đang đọc lối nào.
貳Bối Cảnh Ra Đời
Muốn hiểu vì sao Đạo Giáo nói những điều nó nói, phải nhìn cái thời sinh ra nó. Từ năm 770 tới năm 221 trước Công nguyên, nhà Chu suy, quyền lực rơi vào tay các nước chư hầu, và Trung Hoa bước vào gần năm trăm năm chiến tranh liên miên mà sử gọi là Xuân Thu rồi Chiến Quốc. Ruộng bỏ hoang, dân chạy loạn, một đời người có thể trải mấy lần đổi chủ. Trong cảnh ấy, câu hỏi lớn nhất của giới trí thức không phải là vũ trụ được tạo ra thế nào, mà là làm sao cho thiên hạ yên.
Mỗi trường phái trả lời một cách. Nho gia bảo phải khôi phục lễ nhạc, dựng lại tôn ti trên dưới. Mặc gia bảo phải kiêm ái, thương người dưng như thương người nhà. Pháp gia bảo phải đặt luật nghiêm, thưởng phạt rõ ràng. Riêng phái sau này gọi là Đạo gia đưa ra một câu trả lời đi ngược hẳn: thiên hạ loạn chính vì người trên can thiệp quá nhiều. Càng đặt thêm luật càng sinh thêm kẻ lách luật, càng đề cao người hiền càng sinh ra tranh giành. Cứ để mọi vật theo lẽ tự nhiên của nó thì tự khắc yên. Đó là gốc của hai chữ vô vi.
Ba dòng chảy nhập lại thành một đạo
Đạo Giáo về sau không sinh ra từ một nguồn duy nhất. Nó là chỗ hợp lưu của ít nhất ba dòng vốn tách rời:
Tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử về Đạo, Đức, vô vi, tự nhiên. Đây là phần lý luận, ban đầu không mang màu tôn giáo.
Giới phương sĩ thời Chiến Quốc, Tần, Hán chuyên tìm thuốc trường sinh, luyện đan sa, đi tìm ba hòn đảo tiên ngoài biển Đông. Đây là phần thực hành và ước vọng bất tử.
Tục thờ trời đất, sông núi, tổ tiên, thần bếp, thần đất, cùng phép bói toán, trừ tà, cầu mưa của thầy vu. Đây là phần nghi lễ và hệ thần linh.
Thời Tây Hán còn có một dòng thứ tư gọi là học thuyết Hoàng Lão, ghép tên Hoàng Đế với Lão Tử, được triều đình dùng làm đường lối trị nước những năm đầu nhà Hán: giảm thuế, bớt hình, để dân nghỉ sức sau chiến tranh. Chính uy tín của Hoàng Lão đã đưa Lão Tử từ một tác giả sách thành một nhân vật có tầm vóc thần thánh, mở đường cho việc tôn ông làm Thái Thượng Lão Quân sau này.
參Lão Tử Và Trương Đạo Lăng
Đạo Giáo có hai người thường bị gọi lẫn là giáo chủ. Lão Tử là người đặt nền tư tưởng và về sau được tôn làm thần. Trương Đạo Lăng mới là người lập ra tổ chức tôn giáo. Hai vai trò khác hẳn nhau, cách nhau hơn sáu trăm năm.
Lão Tử
Theo truyền thống Đạo Giáo, Lão Tử họ Lý tên Nhĩ, tự là Đam, người huyện Khổ nước Sở, làm quan giữ kho sách nhà Chu. Thấy nhà Chu suy, ông cưỡi trâu xanh đi về phía tây. Tới Hàm Cốc Quan, quan giữ ải là Doãn Hỷ trông khí trời biết có bậc chân nhân sắp qua, bèn giữ lại xin lời dạy. Lão Tử để lại năm nghìn chữ rồi đi mất, không ai biết về đâu. Năm nghìn chữ ấy chính là Đạo Đức Kinh. Về sau Đạo Giáo tôn ông là Thái Thượng Lão Quân, một trong Tam Thanh, và tin rằng Lão Quân đã nhiều lần giáng thế dạy đạo qua các đời.
Sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, viết khoảng năm 100 trước Công nguyên, tức đã cách Lão Tử vài trăm năm, là nguồn xưa nhất chép về ông. Điều đáng chú ý là chính Tư Mã Thiên cũng không chắc: ông nêu ba khả năng khác nhau về nhân thân Lão Tử rồi kết bằng một câu rất thành thật rằng đời không biết có đúng vậy hay không.
Về văn bản, hai lần khai quật đã đổi hẳn hiểu biết của giới nghiên cứu. Năm 1973 tại Mã Vương Đôi, Trường Sa, tìm được hai bản Đạo Đức Kinh viết trên lụa, chôn khoảng đầu đời Hán, trong đó phần Đức đứng trước phần Đạo, ngược với bản lưu hành. Năm 1993 tại Quách Điếm, Kinh Môn, tìm được các thẻ tre chép một phần nội dung, niên đại quãng năm 300 trước Công nguyên, là bản xưa nhất hiện có, và nội dung ngắn hơn nhiều so với bản tám mươi mốt chương ngày nay.
Từ đó phần đông giới nghiên cứu nghiêng về cách hiểu rằng Đạo Đức Kinh không phải do một người viết một lần, mà là một tuyển tập lời dạy được bồi đắp dần qua nhiều thế hệ, rồi được gán cho một cái tên chung là Lão Tử. Điều này không làm giảm giá trị của sách, nhưng nó có nghĩa là câu hỏi Lão Tử có thật hay không sẽ mãi không có câu trả lời dứt khoát.
Trương Đạo Lăng
Năm 142, tại Hạc Minh Sơn thuộc đất Thục, Trương Đạo Lăng lập ra Ngũ Đấu Mễ Đạo, tên gọi bắt nguồn từ lệ ai vào đạo thì góp năm đấu gạo. Đây mới thật sự là mốc Đạo Giáo trở thành một tôn giáo: có người đứng đầu, có tổ chức theo cấp, có sổ sách tín đồ, có nghi lễ riêng, có kinh sách và phù lục truyền theo dòng.
Điểm khiến tổ chức này khác hẳn các nhóm thần bí cùng thời là nó gánh cả việc hành chính và cứu tế. Vùng do Ngũ Đấu Mễ Đạo cai quản có nhà nghỉ dọc đường phát cơm miễn phí cho khách qua lại, có lệ người phạm lỗi thì tự thú và làm việc công để chuộc thay vì bị phạt nặng. Cháu của Trương Đạo Lăng là Trương Lỗ giữ đất Hán Trung gần ba mươi năm như một chính quyền tôn giáo thực thụ, tới năm 215 mới quy thuận Tào Tháo. Dòng họ Trương từ đó giữ danh hiệu Thiên Sư nối đời, và Thiên Sư Đạo trở thành gốc của phái Chính Nhất ngày nay.
Cùng thời Trương Đạo Lăng còn có Thái Bình Đạo của Trương Giác, chính là lực lượng khởi nghĩa Khăn Vàng năm 184. Hai nhóm cùng thời, cùng mang màu Đạo Giáo, nhưng khác nhau và không nối dòng nhau. Sách phổ thông hay gộp chung, dẫn tới hiểu lầm rằng Đạo Giáo khởi đầu bằng một cuộc nổi loạn. Thái Bình Đạo tan sau khi khởi nghĩa thất bại; dòng còn tới nay là dòng Thiên Sư.
肆Dòng Thời Gian Hai Nghìn Năm
Đạo Giáo không đi một mạch. Nó lên xuống theo từng triều đại, có lúc là quốc giáo, có lúc bị đàn áp, có lúc gần như tan trong tín ngưỡng dân gian rồi lại kết tinh trở lại. Dưới đây là những mốc đủ lớn để đổi hướng cả dòng chảy.
- khoảng 300 TCNThẻ tre Quách ĐiếmBản Đạo Đức Kinh xưa nhất còn giữ được, chép trên thẻ tre, khai quật năm 1993. Nội dung ngắn hơn bản lưu hành, cho thấy sách còn đang trong quá trình hình thành.
- khoảng 168 TCNBạch thư Mã Vương ĐôiHai bản chép trên lụa được chôn theo mộ, khai quật năm 1973. Phần Đức đứng trước phần Đạo, khác thứ tự quen thuộc ngày nay.
- Thế kỷ 2 TCNHọc thuyết Hoàng Lão thịnh hànhTriều đình Tây Hán lấy đường lối bớt can thiệp để dân hồi sức. Lão Tử được nâng lên tầm vóc thần thánh.
- 142Trương Đạo Lăng lập Ngũ Đấu Mễ ĐạoMốc Đạo Giáo thành tôn giáo có tổ chức. Dòng Thiên Sư bắt đầu từ đây.
- 184Khởi nghĩa Khăn VàngThái Bình Đạo của Trương Giác nổi dậy, làm rung chuyển nhà Đông Hán rồi bị dẹp. Một nhánh Đạo Giáo tắt ở đây.
- khoảng 317Cát Hồng soạn Bão Phác TửSách hệ thống hóa thuật luyện đan và dưỡng sinh, biến việc cầu tiên từ lời đồn thành một môn có phương pháp.
- Thế kỷ 4 tới 5Kinh hệ Thượng Thanh và Linh Bảo ra đờiHai bộ kinh lớn hình thành, mở ra hai truyền thống tu tập riêng. Lục Tu Tĩnh chỉnh lý Linh Bảo, Đào Hoằng Cảnh dựng phái Mao Sơn.
- 618 tới 907Nhà Đường tôn Lão Tử làm tổHoàng tộc nhà Đường mang họ Lý, nhận Lão Tử làm tổ tiên. Đạo Giáo lên hàng quốc giáo, kinh sách được đưa vào khoa cử, Đường Huyền Tông tự tay chú giải Đạo Đức Kinh.
- 1167Vương Trùng Dương lập Toàn Chân ĐạoỞ Sơn Đông, một dòng mới ra đời chủ trương đạo sĩ xuất gia, giữ giới, ăn chay, ở cung quán, tu nội đan. Đây là bước ngoặt lớn nhất trong nghìn năm thứ hai.
- 1222Khưu Xử Cơ gặp Thành Cát Tư HãnVị chân nhân Toàn Chân đi bộ hàng vạn dặm sang Trung Á, khuyên vua Mông Cổ bớt giết chóc. Toàn Chân được miễn thuế dịch và bung ra khắp phương bắc.
- Thế kỷ 15Nhà Minh sùng Chân Vũ, xây Võ ĐangVua Vĩnh Lạc dựng quần thể cung quán trên núi Võ Đang, đưa Chân Vũ Đại Đế thành vị thần hộ quốc.
- 1445Khắc in Chính Thống Đạo TạngBộ Đạo Tạng đồ sộ hơn năm nghìn quyển được in, là nền cho mọi nghiên cứu Đạo Giáo tới nay. Năm 1607 có thêm phần tục biên đời Vạn Lịch.
- 1966 tới 1976Cách mạng Văn hóaCung quán bị phá, kinh sách bị đốt, đạo sĩ bị buộc hoàn tục. Đạo Giáo tại Trung Quốc đại lục gần như đứt mạch truyền thừa trong một thế hệ.
- Từ 1980 tới nayPhục hồi và nghiên cứu quốc tếCung quán mở lại, trường đào tạo đạo sĩ hoạt động trở lại, đồng thời Đạo Giáo trở thành một ngành nghiên cứu độc lập trong đại học phương Tây.
伍Đường Lan Tỏa Ra Ngoài Trung Hoa
Đạo Giáo lan đi khác hẳn Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Nó gần như không có phong trào truyền đạo: không cử người đi giảng ở xứ khác, không dịch kinh sang tiếng nước ngoài để hoằng dương, không đặt ra nghi thức cải đạo. Nó theo chân người Hoa di cư, theo sách vở chữ Hán, và theo đường ngấm vào tín ngưỡng bản địa rồi ở lại đó dưới một cái tên khác.
| Vùng đất | Thời điểm | Dấu vết còn lại |
|---|---|---|
| Đài Loan | Từ thế kỷ 17 theo người Phúc Kiến | Nơi Đạo Giáo giữ được mạch liên tục nhất, cung quán và nghi lễ Chính Nhất còn nguyên vẹn, số đăng ký theo đạo cao |
| Hồng Kông và Ma Cao | Thế kỷ 19 tới 20 | Cung quán lớn còn hoạt động, nhiều đàn tràng và hội thiện |
| Việt Nam | Từ thời Bắc thuộc, đậm dần từ thế kỷ 10 | Không tồn tại như một giáo hội riêng, mà tan vào tín ngưỡng dân gian, đạo Mẫu, phù thủy, và toàn bộ hệ thuật số phong thủy |
| Triều Tiên | Thời Tam Quốc Triều Tiên | Ảnh hưởng lên tư tưởng và y thuật, không thành giáo hội độc lập |
| Nhật Bản | Thời Nara và Heian | Thuyết âm dương ngũ hành thành môn Âm Dương Đạo trong triều đình, thầy Âm Dương Sư là một chức quan |
| Đông Nam Á hải ngoại | Thế kỷ 19 tới 20 | Miếu thờ của cộng đồng người Hoa tại Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan |
| Phương Tây | Từ thế kỷ 19, mạnh lên từ thập niên 1960 | Chủ yếu qua bản dịch Đạo Đức Kinh, khí công, thái cực quyền, và ngành nghiên cứu trong đại học |
Có một điều đáng nói về sách: Đạo Đức Kinh thuộc nhóm những cuốn được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên đời, ngang tầm Kinh Thánh về số bản dịch. Nhưng phần lớn người phương Tây đọc nó như một tác phẩm triết học hoặc văn chương, tách rời khỏi Đạo Giáo với tư cách một tôn giáo có thần linh và nghi lễ. Vì thế mới có nghịch cảnh: sách gốc của Đạo Giáo nổi tiếng khắp thế giới, còn bản thân Đạo Giáo thì bị hiểu rất mỏng.
陸Giáo Nghĩa Cốt Lõi
Đạo Giáo không có một bản tín điều buộc mọi tín đồ phải đọc thuộc. Nhưng có một số ý xuyên suốt từ Đạo Đức Kinh cho tới nghi lễ trong cung quán ngày nay.
Đạo
Chữ Đạo 道 nghĩa đen là con đường. Trong Đạo Giáo, nó chỉ cái lẽ có trước trời đất, sinh ra muôn vật, vận hành muôn vật, mà không thể gọi tên cho đúng. Câu mở đầu Đạo Đức Kinh nói thẳng điều đó: đạo mà nói ra được thì không còn là cái đạo thường hằng nữa. Đây là chỗ khác căn bản với các đạo thờ một vị thần sáng thế có ý chí và có lời phán. Đạo không ra lệnh, không thưởng phạt, không nghe cầu xin. Nó chỉ vận hành.
Đức
Đức 德 là phần Đạo hiện ra nơi từng vật. Cây có đức của cây, nước có đức của nước, người có đức của người. Sống có đức trong nghĩa Đạo Giáo không phải là làm nhiều việc thiện cho người ta khen, mà là giữ đúng cái bản tính trời cho của mình, không tô vẽ, không gắng gượng thành thứ mình không phải.
Vô vi và tự nhiên
Vô vi 無為 là chỗ bị hiểu sai nhiều nhất. Nó không phải là không làm gì. Nó là không làm cái việc trái lẽ, không cưỡng ép, không thêm thắt vào chỗ vốn đã đủ. Người làm vườn tưới cây đúng lúc là vô vi; người kéo mầm cho chóng cao là hữu vi, và cây chết. Đi liền với vô vi là tự nhiên 自然, nghĩa gốc là tự nó vốn như thế, chứ không phải thiên nhiên cây cỏ như cách hiểu ngày nay.
Phản và nhu
Đạo Giáo nhìn thấy một quy luật: cái gì tới cực thì quay lại. Trăng tròn rồi khuyết, nước lên rồi rút, thế mạnh rồi suy. Vì tin vào quy luật ấy nên Đạo Giáo đề cao cái mềm, cái thấp, cái đứng sau. Nước là hình ảnh hay được nhắc nhất: mềm nhất, chịu ở chỗ thấp nhất, mà không gì thắng nổi khi bào mòn đá. Từ đây sinh ra Tam bảo mà Đạo Đức Kinh nêu: một là từ ái, hai là tiết kiệm, ba là không tranh đứng trước thiên hạ.
Tinh, Khí, Thần và phép tu thân
Ở lớp tôn giáo, Đạo Giáo thêm một tầng thực hành mà lớp triết học không có: tu để sống lâu và thành tiên. Thân người được xem là gồm ba thứ quý gọi là ba của báu: Tinh là phần nền vật chất, Khí là phần vận hành, Thần là phần sáng suốt. Tu là giữ tinh, luyện khí, dưỡng thần.
Luyện thuốc bằng khoáng vật như chu sa, lưu huỳnh, chì, thủy ngân, mong uống vào mà bất tử. Thịnh thời Đường và cũng chính là thứ đã đầu độc không ít hoàng đế. Từ đời Tống về sau lụi dần.
Lấy chính thân mình làm lò, dùng tinh khí thần làm thuốc, luyện bằng hô hấp, tĩnh tọa, ý dẫn khí. Đây là dòng chính từ đời Tống trở đi, và là gốc của khí công ngày nay.
Ăn uống điều độ, ngủ nghỉ theo mùa, đạo dẫn co duỗi gân cốt, giữ lòng ít ham muốn. Phần này ngấm sâu vào Đông y.
Nhiều kinh, rõ nhất là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, dạy rằng phúc họa do người tự chuốc, làm lành làm dữ đều có sổ ghi. Muốn thọ thì trước hết phải không làm điều ác.
柒Hệ Thống Thần Linh
Đây là chỗ khiến người mới đọc dễ choáng. Đạo Giáo có một hệ thần linh đông tới mức không sách nào liệt kê hết, và cách sắp xếp thì mô phỏng đúng bộ máy quan lại trần gian: có triều đình trên trời, có bộ, có ty, có sổ sách, có kỳ hạn báo cáo. Hiểu được nguyên tắc ấy thì mọi vị thần đều có chỗ đứng rõ ràng.
Tam Thanh, ba vị tối cao
| Vị | Danh hiệu đầy đủ | Vai trò |
|---|---|---|
| Ngọc Thanh | Nguyên Thủy Thiên Tôn 元始天尊 | Ngôi đầu, tượng trưng cái khởi nguyên của vũ trụ, lúc trời đất chưa phân |
| Thượng Thanh | Linh Bảo Thiên Tôn 靈寶天尊 | Ngôi giữa, tượng trưng lúc khí đã phân âm dương, giữ và truyền kinh pháp |
| Thái Thanh | Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊, tức Thái Thượng Lão Quân | Ngôi thứ ba, hóa thân giáng thế dạy người, chính là Lão Tử được thần hóa |
Tứ Ngự và các vị cai quản
Dưới Tam Thanh là Tứ Ngự, bốn vị trực tiếp trông coi công việc trời đất, trong đó quen thuộc nhất với người Việt là Ngọc Hoàng Đại Đế. Cần chú ý một điều hay bị lẫn: trong hệ thống Đạo Giáo, Ngọc Hoàng không phải ngôi cao nhất, ông là vị đứng đầu bộ máy cai trị, còn Tam Thanh mới là ngôi tối thượng. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Hoa thì ngược lại, Ngọc Hoàng gần như được xem là cao nhất, vì dân chúng quen với hình dung một vị vua trên trời hơn là một nguyên lý trừu tượng.
Còn gọi Huyền Thiên Thượng Đế, trấn phương bắc, chủ về trừ tà và binh nghiệp. Được nhà Minh tôn sùng, gắn với núi Võ Đang.
Thiên Quan ban phúc, Địa Quan xá tội, Thủy Quan giải ách. Ứng với ba ngày rằm lớn trong năm là Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên.
Cai quản núi Thái Sơn và cả việc sinh tử của người, giữ sổ tuổi thọ.
Chủ về văn chương và thi cử. Người xưa đi thi thường cầu ngài.
Chính là Quan Vũ thời Tam Quốc, được đưa vào hệ thần Đạo Giáo, chủ về nghĩa khí, sau thành thần tài của giới buôn bán.
Tám vị tiên gồm Lã Động Tân, Trương Quả Lão, Hà Tiên Cô, Hán Chung Ly, Tào Quốc Cữu, Lý Thiết Quải, Lam Thái Hòa, Hàn Tương Tử. Nổi tiếng trong tranh dân gian và tuồng tích hơn là trong nghi lễ.
Thần bếp, mỗi năm lên trời tâu việc trong nhà. Chính là ông Táo mà người Việt tiễn ngày hai mươi ba tháng Chạp.
Thần cai quản một mảnh đất và một vùng dân cư, tầng thấp nhất mà gần dân nhất trong bộ máy.
Nhiều người tưởng Đạo Giáo thờ Phật vì trong miếu Hoa hay thấy tượng Phật Bà đứng chung với Ngọc Hoàng. Thực tế đó là hiện tượng hỗn dung tín ngưỡng ở tầng dân gian, nơi người ta thờ vị nào linh thì thờ, chứ không phải giáo lý Đạo Giáo đưa Phật vào hệ thần của mình. Trong một cung quán Đạo Giáo đúng phép, ban thờ chính vẫn là Tam Thanh.
捌Kinh Điển Và Bộ Đạo Tạng
Toàn bộ kinh sách Đạo Giáo được gom vào một bộ tùng thư khổng lồ gọi là Đạo Tạng 道藏, cấu trúc theo lối Tam Động Tứ Phụ: ba phần chính ứng với ba hệ kinh lớn, bốn phần phụ bổ sung. Bản Chính Thống Đạo Tạng khắc in năm 1445 có hơn năm nghìn quyển, tới năm 1607 thêm phần tục biên đời Vạn Lịch.
| Tên kinh | Niên đại | Nội dung cốt |
|---|---|---|
| Đạo Đức Kinh | Định hình quãng thế kỷ 4 tới 3 TCN | Năm nghìn chữ, tám mươi mốt chương, nói về Đạo, Đức, vô vi, nhu thắng cương. Nền của mọi thứ về sau |
| Nam Hoa Kinh | Thế kỷ 4 tới 3 TCN | Sách của Trang Tử. Bàn về tự do tuyệt đối của tinh thần, sự tương đối của mọi phân biệt phải trái sống chết |
| Xung Hư Chân Kinh | Định hình muộn, khoảng thế kỷ 4 | Sách của Liệt Tử. Nhiều ngụ ngôn nổi tiếng như Ngu Công dời núi, người nước Kỷ lo trời sập |
| Âm Phù Kinh | Tranh cãi, có thể đời Đường | Chỉ hơn ba trăm chữ, cực cô đọng, bàn về đạo trời và cơ biến. Được cả binh gia lẫn nội đan gia dùng |
| Thanh Tịnh Kinh | Khoảng đời Đường | Kinh tụng hằng ngày phổ biến nhất, dạy phép lắng lòng để hợp Đạo |
| Hoàng Đình Kinh | Thế kỷ 3 tới 4 | Kinh nền của phép tồn tưởng và nội đan, mô tả thần trong từng bộ phận thân người |
| Thái Thượng Cảm Ứng Thiên | Khoảng đời Tống | Sách khuyến thiện, nêu rõ điều lành điều dữ và hậu quả. Lưu hành rộng nhất trong dân gian |
| Chu Dịch Tham Đồng Khế | Thế kỷ 2 | Ghép Kinh Dịch với thuật luyện đan, được coi là tổ của mọi sách đan pháp |
| Bão Phác Tử | Khoảng 317 | Cát Hồng hệ thống hóa thuật thần tiên, dược vật, phù lục và cả cách giữ mình giữa đời |
Một điều nên biết trước khi đọc: kinh Đạo Giáo không phải lời phán của một đấng tối cao theo nghĩa các đạo độc thần. Phần lớn kinh được trình bày như lời một vị Thiên Tôn giảng cho chúng tiên trong một hội, hoặc như bút ký của người tu ghi lại điều mình chứng. Vì thế Đạo Tạng chứa cả triết học, cả sách thuốc, cả sách luyện đan, cả sổ nghi lễ, cả bản đồ núi non. Nó giống một thư viện hơn là một quyển thánh thư.
玖Chú Và Phù Lục
Bên cạnh kinh để đọc và hiểu, Đạo Giáo có chú để tụng và phù để vẽ. Hai thứ này thuộc phần hành trì, và cũng là phần bị hiểu lệch nhiều nhất khi tách khỏi bối cảnh.
Chú
Chú trong Đạo Giáo phần lớn là tiếng Hán đọc hiểu được, không phải âm phiên từ tiếng khác như phần lớn chân ngôn Phật Giáo. Một bài chú thường có kết cấu ba đoạn: xưng danh vị thần được thỉnh, nêu việc cần làm, rồi kết bằng một câu lệnh. Câu kết quen thuộc nhất là cấp cấp như luật lệnh, vốn là công thức kết văn thư hành chính đời Hán, nghĩa là thi hành gấp đúng như phép nước. Chi tiết nhỏ ấy nói lên rất nhiều về cách Đạo Giáo hình dung cõi thiêng: một bộ máy có phép tắc, và người hành lễ là kẻ có thẩm quyền gửi công văn lên đó.
Tụng trước khi hành lễ để giữ lời nói cho sạch. Cùng nhóm với Tịnh tâm và Tịnh thân thần chú.
Bài chú hộ thân được dùng rộng nhất, mở đầu bằng câu nói về gốc của trời đất và muôn khí.
Tụng khi động thổ, dựng đàn, hoặc lập ban thờ mới, để yên thần đất chỗ đó.
Dùng khi mời thần về ngự và khi điểm nhãn cho tượng, bài vị, pháp khí.
Phù lục
Phù 符 nghĩa gốc là cái thẻ tín, thời xưa chẻ đôi, mỗi bên giữ một nửa, khớp lại thì tin nhau. Lá bùa Đạo Giáo mang đúng nghĩa ấy: nó là tín vật giữa người hành lễ và cõi thiêng. Lục 籙 là sổ ghi danh sách thần tướng mà một đạo sĩ được phép điều động, cấp theo cấp bậc thụ pháp. Người chưa thụ lục thì vẽ bùa cũng không có hiệu lực trong quan niệm của chính Đạo Giáo.
Ba chỗ hay bị nói sai về bùa chú. Một, bùa không phải chữ nguệch ngoạc vô nghĩa: phần lớn là chữ Hán viết cách điệu, tên thần, và ký hiệu tinh tú, có quy tắc riêng. Hai, trong chính hệ thống Đạo Giáo, bùa không tự linh, hiệu lực đến từ pháp lục và giới hạnh của người vẽ, nên mua một lá bùa in sẵn ngoài chợ là chuyện nằm ngoài giáo pháp. Ba, Đạo Giáo không dạy dùng bùa để hại người: các bộ giới luật đều xếp việc dùng pháp thuật mưu hại vào tội nặng. Những gì dân gian gọi là bùa ngải hại người phần lớn thuộc các dòng vu thuật địa phương, không phải Đạo Giáo.
拾Nghi Lễ Và Pháp Khí
Nghi lễ Đạo Giáo gọi chung là trai tiếu 齋醮. Trai là phần giữ mình cho sạch trước lễ: tắm gội, ăn chay, kiêng nói lời tạp, sám hối lỗi cũ. Tiếu là phần đàn tràng chính, nơi đạo sĩ dâng sớ, thỉnh thần, tấu nhạc, bước theo đồ hình. Một đàn lớn có thể kéo dài mấy ngày đêm với hàng chục người hành lễ.
Văn bản dâng lên thần, viết theo thể thức hành chính, có ghi rõ họ tên, quê quán, việc cầu. Đọc xong thì hóa đi, tức là gửi lên bằng lửa.
Lối bước chân theo hình chòm Bắc Đẩu khi hành lễ, tương truyền bắt chước dáng đi của vua Vũ. Đây là một trong những nét cổ nhất còn giữ được.
Pháp khí trừ tà. Gỗ đào theo quan niệm cổ có khí dương mạnh, thân kiếm khắc bảy sao Bắc Đẩu.
Vật tượng trưng cho thẩm quyền được cấp qua pháp lục, giống như con dấu của một chức quan.
Treo trước cửa để phản khí xấu. Đây là pháp khí đi từ Đạo Giáo sang phong thủy dân gian, phổ biến tới mức không ai còn nhớ gốc.
Vừa là vật đựng thuốc của tiên gia, vừa tượng trưng cho vũ trụ thu nhỏ, miệng hẹp bụng rộng, thu khí lành giữ lại.
Cây phủi bụi cầm tay của đạo sĩ, tượng trưng cho việc quét sạch bụi trần trong lòng.
Đàn tràng Đạo Giáo có dàn nhạc riêng. Âm nhạc cung quán được xếp vào di sản văn hóa phi vật thể ở nhiều nơi.
Ba dịp lễ lớn nhất trong năm là Tam Nguyên: rằm tháng Giêng là Thượng Nguyên ứng Thiên Quan ban phúc, rằm tháng Bảy là Trung Nguyên ứng Địa Quan xá tội, rằm tháng Mười là Hạ Nguyên ứng Thủy Quan giải ách. Người Việt vẫn giữ rằm tháng Giêng và rằm tháng Bảy rất đậm, dù phần lớn nay hiểu theo nghĩa Phật Giáo là lễ Vu Lan. Hai lớp ý nghĩa ấy chồng lên nhau qua nhiều thế kỷ.
拾壹Các Tông Phái
Từ đời Nguyên trở đi, Đạo Giáo quy về hai dòng lớn, và cách phân chia ấy còn dùng tới nay. Sự khác nhau giữa chúng không nằm ở việc thờ ai, mà ở cách sống của người tu.
| Mặt so sánh | Chính Nhất Đạo | Toàn Chân Đạo |
|---|---|---|
| Gốc | Thiên Sư Đạo của Trương Đạo Lăng, năm 142 | Vương Trùng Dương lập năm 1167 tại Sơn Đông |
| Đạo sĩ | Tại gia, được lấy vợ, ăn mặn, truyền nghề theo dòng họ | Xuất gia, giữ giới, ăn chay, ở cung quán |
| Trọng tâm | Phù lục, trai tiếu, trừ tà, phục vụ nhu cầu của dân | Nội đan, tĩnh tọa, tu tâm luyện tính |
| Chốn tổ | Núi Long Hổ, Giang Tây | Bạch Vân Quán ở Bắc Kinh, dòng Long Môn thịnh nhất |
| Địa bàn mạnh | Miền nam Trung Quốc, Đài Loan, cộng đồng người Hoa hải ngoại | Miền bắc Trung Quốc |
Hình thành thế kỷ 4, được Đào Hoằng Cảnh hệ thống hóa. Trọng phép tồn tưởng và tụng kinh hơn là bùa chú, có ảnh hưởng lớn tới giới sĩ phu.
Nổi lên cùng thời, mạnh về nghi lễ tế đàn và cứu độ vong linh. Nhiều nghi thức tang lễ ngày nay còn giữ dấu Linh Bảo.
Nhánh lớn nhất của Toàn Chân, do Khưu Xử Cơ lập, trung tâm là Bạch Vân Quán.
Gắn với núi Võ Đang và tín ngưỡng Chân Vũ, nổi tiếng về nội gia quyền pháp.
Đời Tống Nguyên, nhấn mạnh trung hiếu làm gốc tu hành, gần với đạo đức Nho gia.
拾貳Số Tín Đồ, Và Vì Sao Không Đếm Được
Đây là mục mà thư viện phải nói thẳng một điều: không có con số đáng tin về số người theo Đạo Giáo trên thế giới, và bất cứ trang nào đưa ra một con số tròn trịa cũng nên được đọc với thái độ dè dặt.
Bốn lý do khiến phép đếm không chạy
Người thường thắp hương ở cung quán, xin xăm, cúng sao, mà không hề đăng ký làm tín đồ. Chỉ đạo sĩ thụ pháp mới có sổ.
Một gia đình Á Đông có thể thờ Phật trong nhà, cúng Táo Quân trong bếp, thờ tổ tiên ở gian giữa, và đi lễ đền Mẫu. Hỏi họ theo đạo nào thì câu trả lời thường là cả mấy, hoặc không đạo nào cả.
Rất nhiều thực hành có gốc Đạo Giáo đã tách khỏi Đạo Giáo và sống như phong tục. Người làm vẫn làm mà không coi đó là hành đạo.
Có báo cáo tách riêng nhóm tôn giáo dân gian, có báo cáo gộp Đạo Giáo vào nhóm tôn giáo khác. Hai cách đếm cho ra hai bức tranh rất khác nhau.
| Nhóm | Dân số 2020 | Tỷ lệ |
|---|---|---|
| Kitô hữu | 2,3 tỷ | 28,8 phần trăm |
| Hồi Giáo | khoảng 2 tỷ | 25,6 phần trăm |
| Không theo tôn giáo nào | 1,9 tỷ | 24,2 phần trăm |
| Ấn Độ Giáo | 1,2 tỷ | 14,9 phần trăm |
| Phật Giáo | 324 triệu | 4,1 phần trăm |
| Các tôn giáo khác, gồm Đạo Giáo | không tách riêng | 2,2 phần trăm |
| Do Thái Giáo | 14,8 triệu | khoảng 0,2 phần trăm |
Nhóm cuối trong bảng gộp chung Đạo Giáo với Kỳ Na Giáo, Thần Đạo, Sikh, Bái Hỏa Giáo và nhiều tín ngưỡng khác, nên không thể lấy con số 2,2 phần trăm ấy mà nói là số tín đồ Đạo Giáo. Ở các báo cáo trước, Pew từng tách riêng nhóm tôn giáo dân gian với quy mô vài trăm triệu người, phần lớn ở Trung Quốc, và phần đó chứa nhiều thực hành mang màu Đạo Giáo. Nhưng đó vẫn là một nhóm rộng hơn Đạo Giáo rất nhiều.
Những con số đếm được
Thay vì đếm tín đồ, cách đáng tin hơn là đếm cơ sở và người hành đạo chuyên nghiệp. Tại Trung Quốc đại lục, Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc công bố con số hàng nghìn cung quán đang hoạt động và hàng chục nghìn đạo sĩ, giáo chức. Tại Đài Loan, nơi có hệ thống đăng ký tôn giáo rõ ràng, Đạo Giáo là một trong hai tôn giáo có số miếu vũ đăng ký lớn nhất, ngang với Phật Giáo. Ở hải ngoại, cung quán Đạo Giáo tập trung tại các cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á và Bắc Mỹ.
Kết luận thành thật nhất mà thư viện này đưa ra: ảnh hưởng của Đạo Giáo lớn hơn số tín đồ của nó rất nhiều lần, và đó mới là cách đúng để đo tầm vóc của đạo này.
拾參Đạo Giáo Tại Việt Nam
Đạo Giáo vào nước ta rất sớm, theo con đường quan lại và sách vở thời Bắc thuộc, rồi đậm dần từ thế kỷ 10 trở đi. Nhưng nó đi một đường khác hẳn Phật Giáo: Phật Giáo dựng được giáo hội, còn Đạo Giáo thì tan ra và thấm vào.
Theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố dịp kỷ niệm bảy mươi năm thành lập ngành, ngày 01/08/2025, Việt Nam công nhận 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động, trên 27,7 triệu tín đồ, hơn 54.500 chức sắc, gần 145.000 chức việc và 29.890 cơ sở thờ tự. Trong danh sách 16 tôn giáo ấy không có Đạo Giáo với tư cách một tổ chức pháp nhân riêng. Điều đó không có nghĩa Đạo Giáo vắng mặt ở Việt Nam, mà nghĩa là nó tồn tại dưới dạng ảnh hưởng văn hóa và tín ngưỡng chứ không dưới dạng giáo hội.
Đạo Giáo hiện diện ở đâu trong đời sống Việt
Ông Táo trong bếp, ông Địa và Thần Tài ở góc nhà, cây nêu ngày Tết, tục cúng sao giải hạn đầu năm. Tất cả đều mang gốc Đạo Giáo.
Chữ quán trong Trấn Vũ Quán, Bích Câu Đạo Quán vốn là danh xưng cơ sở của Đạo Giáo. Đền Quán Thánh ở Hà Nội thờ Huyền Thiên Trấn Vũ chính là một trung tâm Đạo Giáo cũ.
Tín ngưỡng bản địa Việt, nhưng vay mượn nhiều lớp từ Đạo Giáo: hệ thống phủ, sớ điệp, phù chú, chức năng của ông đồng bà đồng gần với đạo sĩ hành pháp.
Giới hành nghề cúng lễ ở làng quê xưa dùng sớ chữ Hán, bùa chú và pháp khí theo lối Đạo Giáo, dù bản thân họ không tự gọi là đạo sĩ.
Cái chí ẩn dật, lánh đời, vui với núi sông của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ đều mang hơi hướng Lão Trang.
Toàn bộ hệ thuật số mà người Việt dùng để xem ngày, xem hướng, xem mệnh đều đứng trên nền vũ trụ quan của Đạo Giáo. Mục kế tiếp nói riêng về chỗ này.
Người Việt hay dùng chữ đạo sĩ và thầy phù thủy lẫn lộn, và phim ảnh càng làm cho lẫn thêm. Đạo sĩ trong nghĩa chuẩn là người xuất gia hoặc thụ pháp trong một dòng Đạo Giáo, có sư truyền, có pháp lục, có giới luật phải giữ. Còn thầy phù thủy ở làng quê Việt Nam thường là người hành nghề tự do, học nghề theo lối truyền miệng, pha trộn nhiều nguồn. Hai vai trò ấy không đồng nhất.
拾肆Gốc Đạo Giáo Trong Phong Thủy Và Thuật Số
Đây là mục mà một thư viện do người làm nghề mệnh lý dựng lên mới viết được đến nơi. Rất nhiều người dùng phong thủy hằng ngày mà không biết mình đang đứng trên nền vũ trụ quan nào. Biết được gốc thì hiểu vì sao các môn ấy nói như vậy, và cũng biết chỗ nào là cốt lõi, chỗ nào là thứ đời sau thêm vào.
Một vũ trụ quan, nhiều môn thuật
Nền chung của mọi môn thuật số Á Đông gồm ba tầng, cả ba đều được Đạo Giáo hệ thống hóa và gìn giữ trong Đạo Tạng:
Vạn vật đều là khí tụ tán. Khí tụ thì thành hình, khí tán thì tan. Đất có khí đất, nhà có khí nhà, người có khí người, và ba thứ ấy giao nhau. Không có khái niệm khí thì không có phong thủy.
Mọi thứ chia hai mặt nương nhau, trong âm có dương, trong dương có âm, cực rồi thì chuyển. Đây là lý do phong thủy không bao giờ nói tuyệt đối tốt hay tuyệt đối xấu.
Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ với vòng tương sinh và vòng tương khắc, dùng làm bộ mã chung để quy đổi giữa hướng, màu, mùa, tạng phủ, can chi, sao.
Những thứ quen thuộc mà gốc là Đạo Giáo

| Thứ quen dùng | Gốc Đạo Giáo |
|---|---|
| Bát quái treo trước cửa | Đồ hình bát quái là pháp khí trấn trạch trong nghi quỹ Đạo Giáo, gương bát quái vốn là vật hành pháp chứ không phải đồ trang trí |
| Hà Đồ và Lạc Thư | Hai đồ hình số được Đạo Giáo giữ và chú giải suốt nghìn năm, là nền của cửu cung và mọi phép phi tinh |
| Cửu cung phi tinh | Phép an chín sao vào chín cung theo Lạc Thư, gốc từ hệ thuật số Đạo Giáo, sau thành xương sống của Huyền Không |
| Tam Nguyên Cửu Vận | Cách chia thời gian thành ba nguyên chín vận theo chu kỳ sao, đi ra từ lịch pháp và thiên văn của Đạo Giáo |
| Cúng sao giải hạn | Nghi lễ Đạo Giáo thờ chín sao chiếu mệnh, ngày nay nhiều nơi làm ở chùa nên bị tưởng là lễ Phật Giáo |
| Chọn ngày, trạch nhật | Hệ thần sát, trực, nhị thập bát tú đều nằm trong sách lịch pháp của Đạo Tạng |
| Ông Táo và Thổ Địa trong nhà | Hai vị thần chức trách trong bộ máy thần linh Đạo Giáo, giữ sổ ghi việc thiện ác của gia chủ |
| Trấn trạch, an vị, nhập trạch | Vốn là các khoa nghi Đạo Giáo có sớ, có chú, có đàn tràng, sau rút gọn thành lễ dân gian |
Nói vậy không có nghĩa mọi môn thuật số đều do Đạo Giáo sinh ra. Tử Vi Đẩu Số, Bát Tự, Kinh Dịch có đường phát triển riêng, có người soạn riêng, và nhiều nhà nghiên cứu xếp chúng vào thuật số chứ không xếp vào đạo giáo theo nghĩa tôn giáo. Điều đúng đắn hơn khi nói là: chúng dùng chung một bộ ngôn ngữ vũ trụ với Đạo Giáo, và Đạo Giáo là nơi bộ ngôn ngữ ấy được ghi chép, hệ thống hóa và bảo tồn đầy đủ nhất.
Hai chỗ cần phân minh, vì hiểu lệch ở đây dẫn tới hành xử lệch. Một, xem phong thủy không phải là theo Đạo Giáo. Người theo bất cứ đạo nào, hoặc không theo đạo nào, vẫn có thể xem hướng nhà mà không hề đổi tín ngưỡng, cũng như học Đông y không có nghĩa là nhập một tôn giáo. Hai, Đạo Giáo không dạy rằng phong thủy quyết định tất cả. Chính Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, cuốn khuyến thiện phổ biến nhất của Đạo Giáo, đặt việc tích đức lên trên mọi phép thuật, và nói rõ họa phúc do người tự chuốc lấy. Đó cũng là điều Thầy vẫn nói với gia chủ: đất tốt giữ được người có đức, người không có đức thì đất tốt cũng không giữ nổi.
拾伍Chín Chỗ Hay Hiểu Lầm
Mục này gom những điều bị nói sai nhiều nhất về Đạo Giáo, kể cả trong sách phổ thông tiếng Việt.
Không. Đạo gia là dòng triết học của Lão Trang. Đạo Giáo là tôn giáo có thần linh, kinh sách, nghi lễ, tổ chức, hình thành muộn hơn sáu trăm năm. Hai thứ liên quan nhưng không đồng nhất.
Không. Lão Tử để lại nền tư tưởng và về sau được tôn làm thần. Người lập tổ chức tôn giáo là Trương Đạo Lăng, năm 142.
Không. Vô vi là không làm điều trái lẽ, không cưỡng ép. Đạo Giáo có cả một truyền thống y dược, luyện đan, xây cung quán, cứu tế, đều là việc làm rất cụ thể.
Trong hệ thống Đạo Giáo thì không. Ngọc Hoàng đứng đầu bộ máy cai quản, còn ngôi tối cao là Tam Thanh. Cách hiểu Ngọc Hoàng cao nhất là cách hiểu của tín ngưỡng dân gian.
Không. Bùa lục là một phần trong hành trì của một số phái. Đạo Giáo còn có triết học, y học, hóa học sơ khai, thiên văn, lịch pháp, âm nhạc, kiến trúc, và một truyền thống tu tâm rất nghiêm.
Ngược lại. Các bộ giới luật Đạo Giáo xếp việc dùng pháp thuật mưu hại vào tội nặng. Những gì dân gian gọi là bùa ngải hại người phần lớn thuộc vu thuật địa phương.
Cách đối lập ấy không đứng vững. Cả hai đạo đều có tầng triết học sâu và tầng thực hành nghi lễ đậm màu tín ngưỡng. Lấy tầng thấp của bên này so với tầng cao của bên kia là so lệch.
Gốc là nghi lễ Đạo Giáo thờ chín sao chiếu mệnh. Ngày nay nhiều chùa Việt Nam có làm, nên người ta tưởng là lễ Phật Giáo. Chính giới tăng sĩ cũng nhiều lần lên tiếng về chỗ này.
Không. Cung quán vẫn hoạt động ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và cộng đồng người Hoa hải ngoại; ngành Đạo Giáo học vẫn là một ngành nghiên cứu độc lập trong đại học quốc tế.
問Hỏi Đáp Nhanh
Đạo Giáo là gì, nói gọn trong một câu
Đạo Giáo là đạo bản địa của Trung Hoa, lấy chữ Đạo làm gốc, chủ trương sống thuận theo lẽ tự nhiên, thờ Tam Thanh đứng đầu một hệ thần linh đông đảo, có kinh sách riêng là bộ Đạo Tạng, có đạo sĩ, cung quán và nghi lễ trai tiếu.
Đạo Giáo và Đạo gia khác nhau chỗ nào
Đạo gia là dòng tư tưởng triết học của Lão Tử và Trang Tử, ra đời thời Xuân Thu Chiến Quốc, không có thần linh và nghi lễ. Đạo Giáo là tôn giáo có tổ chức, mốc thường lấy là năm 142 khi Trương Đạo Lăng lập Thiên Sư Đạo. Đạo Giáo lấy tư tưởng Đạo gia làm nền rồi thêm vào hệ thần linh, kinh sách, phù lục và nghi lễ.
Ai lập ra Đạo Giáo
Người lập tổ chức tôn giáo là Trương Đạo Lăng, năm 142 tại Hạc Minh Sơn đất Thục, với tên gọi Ngũ Đấu Mễ Đạo, về sau gọi là Thiên Sư Đạo. Lão Tử là người đặt nền tư tưởng và được tôn làm Thái Thượng Lão Quân, chứ không phải người sáng lập tôn giáo.
Đạo Giáo có bao nhiêu tín đồ
Không có con số đáng tin. Đạo Giáo không có thủ tục nhập đạo cho người thường, người Á Đông lại thờ nhiều đạo cùng lúc, và các cơ quan thống kê thường gộp Đạo Giáo vào nhóm tôn giáo khác. Báo cáo của Pew Research Center công bố ngày 09/06/2025 xếp Đạo Giáo trong nhóm các tôn giáo khác, chiếm 2,2 phần trăm dân số thế giới theo số liệu mốc 2020, nhưng nhóm ấy còn gồm nhiều đạo khác nữa.
Việt Nam có Đạo Giáo không
Có ảnh hưởng rất sâu nhưng không có giáo hội. Trong danh sách 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận, theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố ngày 01/08/2025, không có Đạo Giáo với tư cách một tổ chức pháp nhân riêng. Đạo Giáo ở Việt Nam tồn tại trong tục thờ Táo Quân, Thổ Địa, Thần Tài, trong đền Quán Thánh, trong đạo Mẫu, trong nghề thầy cúng và trong toàn bộ hệ thuật số phong thủy.
Xem phong thủy có phải là theo Đạo Giáo không
Không. Phong thủy dùng chung bộ ngôn ngữ khí, âm dương, ngũ hành với Đạo Giáo, và nhiều nghi thức trấn trạch có gốc Đạo Giáo, nhưng xem hướng nhà không phải là hành vi nhập đạo. Người theo bất cứ tín ngưỡng nào, hoặc không theo tín ngưỡng nào, đều có thể xem phong thủy.
Kinh nào nên đọc trước khi tìm hiểu Đạo Giáo
Nên bắt đầu bằng Đạo Đức Kinh, năm nghìn chữ, tám mươi mốt chương. Đọc xong phần đầu thì đọc Nam Hoa Kinh của Trang Tử để thấy mặt phóng khoáng, rồi đọc Thái Thượng Cảm Ứng Thiên để thấy mặt luân lý thực hành của đạo này trong dân gian.
Đạo sĩ có được lấy vợ không
Tùy dòng. Đạo sĩ phái Chính Nhất tu tại gia, được lấy vợ và ăn mặn, nghề thường truyền theo dòng họ. Đạo sĩ phái Toàn Chân thì xuất gia, giữ giới, ăn chay và ở cung quán. Hai lối ấy cùng tồn tại tới nay.
續Đọc Tiếp
Bài thuộc Vạn Đạo Đường, thư viện các đạo của Viện Đào tạo và Nghiên cứu Huyền học UK Master Academy · Công ty Cổ phần Tập đoàn UK Master (UK MASTER CORP) · MST 0319411614.
Thư viện mô tả các đạo một cách khách quan, không phán xét đạo nào đúng sai, không mời ai theo đạo nào và không mời ai bỏ đạo nào. Phần theo giáo nghĩa trình bày điều mỗi đạo tự nói về mình; phần theo sử liệu trình bày điều khoa học lịch sử khảo được. Đọc kỹ hai nhãn ấy trước khi trích dẫn.
Toàn bộ nội dung mở tự do, không thu phí. Cập nhật lần cuối 05/09/2026.