🌟 Tổng Quan Mệnh Quẻ
🏷️ Tên Quẻ: Khảm là Hãm (hiểm, mắc kẹt, linh lạc, gian nan). Thuộc tháng 10.
🌟 Lời Tượng & Lược Nghĩa
Thủy tấu chí, tập Khảm.
Quân tử dĩ thường đức hạnh tập giáo sự.
Nước đều tiến đến là quẻ Khảm Kép. Người quân tử coi tượng nước chảy (thường xuyên, liên tục) mà giữ đức hạnh bền bỉ hàng ngày, tập rèn việc giáo dục, dạy dỗ cho dân quen dần.
☯ Toán Hà Lạc Giải Đoán
| Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
| Chi | Tý | Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất |
Được quẻ này rất tốt. Lại sinh tháng 10 là cách công danh, phú quý.
Hiểm nghèo Khảm muốn thông,
Giữ nước, phải tương dung,
Sẻ quạ đương bày trận,
Cùng trời chiếc nhạn tung.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng
Quẻ này còn gọi là Tập Khảm, là hai lần Khảm, có nghĩa là hai lần hiểm. Nhìn hình quẻ Khảm ta thấy một hào dương bị hãm vào giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hãm, hiểm. Hai hào dương như thế là hai lần hãm, hiểm.
✍️ Phan Bội Châu Giảng Giải
Các quẻ Thuần khác chỉ có một tên là Thuần, như Thuần Ly, Thuần Tốn..., riêng quẻ Thuần Khảm còn gọi là Tập Khảm, là để nhấn hai lần Khảm, hiểm.
Ta lại thấy ở giữa đặc, nét liền, ngoài rỗng, nét đứt, trái với quẻ Ly ở giữa rỗng, trên dưới đặc, như cái miệng lò, chỗ rỗng để chứa không khí và than củi, cho nên Ly là lửa.
Trái lại quẻ Khảm giữa thì đặc nên chỗ nào trũng thì nước chảy vào. Cho nên Khảm là Nước. Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, nên bảo Nước là hiểm.
Người xử vào thời hiểm chống chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm một hào dương ở giữa, dương là Thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người đời Tống có câu thơ: "Ngày thường giữ trung tín / Nay sóng gió sợ gì." Người Nhật có câu: "Những chốn lòng thành thấu tới / Đá vàng cũng phải nứt." Chính là dùng đạo tín thành cho cái tâm sáng, mà bước qua thời hiểm vậy.
✍️ Phan Bội Châu phụ chú
Trong Thoán truyện, khi tán (bình luận) các quẻ chỉ tán bằng một chữ Thời, mà quẻ Khảm lại thêm vào chữ Dụng (tác dụng). Bởi vì hiểm có thời, lại có dụng. Tỷ như trong nước có họa loạn, trong nhà có tai biến, là vào thời hiểm. Nhưng việc binh, việc hình, việc dạy dân để ngăn ngừa họa loạn, việc chuẩn bị tiền, gạo thuốc thang... để phòng tai nạn thảy đều là Dụng Hiểm. Tóm lại, Hiểm thuộc về thời, là cảnh ngộ không bình thường; Hiểm thuộc về Dụng là công việc thường làm. Thời hiểm chắc không bao giờ không, Dụng hiểm chắc lúc nào cũng phải có. Nên lời Thoán nói rằng: Hiểm có thời, có dụng, lớn vậy thay.
Tán về lời tượng, Phan Bội Châu phụ chú: Chữ Tập trên chữ Khảm, có nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa. Một là tập rèn, ôn đi tập lại không ngừng, không quên. Người quân tử dùng nghĩa này mà thường (trau dồi) đức hạnh. Một nghĩa là tập quán, là ngày ngày đêm đêm rót sâu, đúc chín, khiến cho tai quen, mắt luyện, mà thành ra tập quán (thói quen), người quân tử dùng nghĩa này mà vận dụng vào việc giáo dục. Vậy mà chỉ một chữ Thường mà bao nuốt hết nghĩa tu thân, chỉ một chữ Tập mà bao nuốt hết nghĩa dạy dân. Nước từ một dòng suối mà chảy hoài thời có ngày thành sông biển, người ta từ một việc tốt mà làm hoài thời có ngày thành hiền. Nghĩa lý chữ Thường, chữ Tập của thánh hiền sâu xa thế.
✍️ Thiên Cơ Dật Sĩ Giảng Giải
Thiên Cơ Dật Sĩ nói về Người quẻ Tập Khảm: Họ thường thích phù suy hơn phù thịnh. Là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc. Biết mình có quẻ Tập Khảm thì cần giữ tâm trí cho ngay thẳng, chờ qua lúc gian nguy. Nếu có thể di chuyển nơi chốn thì tốt.
🔮 Dự Báo Hà Lạc & Ứng Việc
Quẻ chỉ thời vận gian nan hiểm trở chồng chất, mọi việc đều khó khăn trắc trở, cần đề phòng tai tật, ốm đau nặng. Không phải thời để hoàn thành sự nghiệp lớn, chỉ nên kiên trì bồi dưỡng sức lực, lòng tin, chờ thời.
Không có, kinh doanh thua lỗ, thất bại, dễ bị lừa.
Không lợi dễ xảy ra tai nạn.
Khó khăn, khó đạt.
Bị thua, nên hòa giải ngay từ đầu.
❤️ Tình Yêu Và Hôn Nhân: Trắc trở, lắm kẻ dèm pha, khó tính, nhưng gặp được người đồng chí hướng thì dễ thành lương duyên gắn bó.
📊 Chi Tiết Các Hào
📖 Lược Nghĩa: Tập Khảm, nhập vu Khảm hãm, hung. Quen hiểm, vào chỗ hiểm sâu nên xấu. Chỉ thời cuộc khó khăn. Quan chức dễ bị kỷ luật truất giáng. Sĩ tử khó thành đạt. Kinh doanh bế tắc. Người thường hay gặp khó khăn, không lối thoát. Hợp với người tu hành, ẩn sĩ.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm.
✍️ Phan Bội Châu Giảng: Hào âm nhu, lại ở dưới cùng quẻ Thuần Khảm, như người sa xuống vực hiểm, càng cựa quậy càng sụp xuống sâu. Nên lời hào có chữ tập khảm (quen hiểm). Chữ tập ở đây có khác với chữ tập ở quẻ. Chữ tập ở quẻ là hai lần, ở đây là quen.
✅ Mệnh Hợp Cách: Biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không vào. Người có cơ mưu, không sa vào chỗ hiểm.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lối bùn lầy lội, không cách vượt lên. Người tài hèn sức nhỏ, không biết thời thế, bị sa vào cạm bẫy, khó khăn.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan và Giới Sĩ: Phòng khiển trách, truất giáng. Người Thường: Phòng đắm đuối. Chỉ có tăng ni ẩn dật là yên ổn.
Hiểm như đáy biển mò châu
Muốn nâng cây mọc đợi đầu gió xuân
📖 Lược Nghĩa: Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc. Khảm có chỗ hiểm, cầu việc nhỏ thì được.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Đang lúc gian nan, tìm cách thoát hiểm.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương, đắc trung, có tài trí, nhưng ở giữa thời trùng hiểm, trên dưới bị hai hào âm nhu bao vây, chưa thoát được, nên chỉ mong làm được việc nhỏ thôi. Xem hào 4 của quẻ Lôi Địa Dự, cũng dương ở vị âm, cũng bị hai hào âm bao vây, còn kém hào 2 quẻ Khảm vì không đắc trung, vậy mà lời hào 4 quẻ Dự là thành công lớn (đại hữu đắc), còn hào 2 quẻ Khảm chỉ mong được việc nhỏ (cầu tiểu đắc) thôi, chỉ vì hai thời khác nhau, thời quẻ Dự là thời vui vẻ, hanh thông, thời quẻ Khảm là thời gian nan nguy hiểm.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Thế mới biết chữ Thời ghê gớm thiệt. Quẻ Dự, hào 4 là ở thời vui vẻ, thuận thời, thuận thế mà làm nên anh hùng. Quẻ Khảm, hào 2 ở thời hiểm, trái thời trái thế, may chỉ làm nên một bậc quân tử, hai bên dương cương in như nhau, mà thành tựu thì lớn nhỏ khác nhau. Phan Bội Châu lại tán thêm rằng: Trước nay, anh hùng tuy có đủ sức chống với thời thế, nhưng thời thế cũng có sức làm khốn được anh hùng. Có tài cương, trung như hào 2 dương, mà bị trên dưới hai âm vây bọc, muốn làm được sự nghiệp lớn có dễ dàng đâu, nên phải tích ngày lũy tháng, từ một phân một tấc gây lên, miễn cho được một tí con con, năm chồng tháng chất, tựa như nước chảy một giọt lúc đầu, nên nói rằng: mong được việc nhỏ. Được việc nhỏ thôi, nhưng mà tích lũy nghìn muôn cái nhỏ, thì thành một cái gì rất lớn, chính là một phương pháp rất hay cho người quân tử ở thời Khảm.
✅ Mệnh Hợp Cách: Lúc biến cố, tuy chưa thành việc lớn, nhưng có công cứu được cái nguy đổ sụp. Người có mưu lược thoát được nơi hiểm, qua khỏi tai nạn.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Chỉ làm được việc quy mô nhỏ. Chỉ làm nên việc nhỏ, việc lớn thất bại.
📅 Xem Tuế Vận: Quan chức: Trải chức vụ nhỏ. Giới sĩ: Thi bằng nhỏ thôi. Người thường: Kinh doanh nhỏ, nữ mạng làm vợ nhỏ, nô tỳ. Bệnh Tật: Vận xấu phòng bệnh tim, bụng, huyết khí.
Hiểm nan, cầu nhỏ an bình
Muốn to, Lục Tốn, Ngô đình thẹn chưa?
📖 Lược Nghĩa: Lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm hãm vật dụng. Lại và đi đều gặp Khảm, trước mặt hiểm, sau gối hiểm, vào chỗ sâu của Khảm, chớ dùng. Thời khó khăn không nên tiến, chỉ nên lùi, yên phận chờ thời. Quan chức khó tiến thủ. Sĩ tử khó thành danh. Kinh doanh trắc trở, số xấu: gặp gian nan, kiện cáo.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Qua lại đều hiểm, không thoát được hiểm.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu, bất trung bất chính, ở trên cùng quẻ nội Khảm, tiến lên thì gặp quẻ ngoại Khảm, sau lưng là Khảm, toàn là hiểm cả, cho nên chỉ sụp vào chỗ sâu hơn mà thôi.
✅ Mệnh Hợp Cách: Không đến nỗi chìm đắm, cũng bảo vệ được sự sống còn, thân và nhà không đến nỗi suy vi. Người khôn khéo, biết lấy nhu thắng cương, nhẫn nhục khi cần, nên thoát được gian nguy, giữ được cơ nghiệp.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tài nhược, chí đoản, nghèo khó mãi.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Nên lui bước. Giới Sĩ: Đợi thời. Người Thường: Gian nan, thêm kiện tụng nữa.
Thuyền phòng nước, bộ phòng xe;
Thật là hiểm trở, nên dè dặt luôn
📖 Lược Nghĩa: Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cửu. Dâng chén rượu, bát ăn, dâng thêm dùng ve sành (tỏ lòng thành) dâng lời ước hẹn từ cửa sổ (tỏ trí khôn, tùy cơ) sau không lỗi gì. Hào trung bình, lợi cho người làm công việc lễ tân, trông coi tế tự. Quan chức khó tiến. Sĩ tử long đong. Hay có tang phục.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Lấy điều thiện, lòng thành, làm cho nguyên thủ cảm được, nhờ vậy mà thành công.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Lời hào này gọn quá, khó hiểu. Nghĩa hào là không cần nhiều, chỉ cần lòng chí thành là đủ. Lời ước hẹn làm tin đáng nhẽ phải nộp qua cửa lớn, cho đàng hoàng, nhưng lại đưa qua cửa sổ, như vậy là không chính đại, quang minh, nhưng gặp thời hiểm, phải quyền biến, miễn là giữ được lòng chí thành. Hào 4 này như một vị quan chức cấp cao, nhưng âm nhu, bất tài, không cứu đời ra khỏi cảnh hiểm được, cũng may mà đắc chính, chí thành, cứ giữ đức chí thành đó mà ứng xử với bậc nguyên thủ, khai phát được chốn bế tắc cho bề trên, giúp đỡ cho thiên hạ trong cuộc gian nguy, có nghĩa là biết thời, thế, biết tòng quyền thì rốt cuộc không có lỗi.
Phan Bội Châu giải thích câu “đưa lời giao ước qua cửa sổ” như sau: Đương giữa thời hiểm, lòng người còn bế tắc, nếu mình cứ ngay thẳng nhè vào giữa chốn bế tắc của người mà công kích hoài, tất nhiên lời nói khó vào, mà việc cũng hỏng. Chi bằng chịu khó mất công, rình chờ đến khi xuất hiện điểm sáng của người, mà thừa cơ mở đường, tượng như nạp giao ước làm tin, mà không nạp ở cửa chính, lại đưa qua cửa sổ vào. Tuy làm thế không đường hoàng, nhưng cốt cho lời mình lọt vào tai người nghe, thì dầu có uốn đường, tắt lối chút đỉnh cũng không ngại gì. Đó chỉ là thủ đoạn ứng xử về thời Khảm hiểm, thánh nhân vạn bất đắc dĩ mà phải ủy khúc chu toàn như thế.
✅ Mệnh Hợp Cách: Lòng thành, cứu được hiểm, dẹp được khó, nên đức nghiệp thịnh. Người có ơn cũ với cấp trên nên sau được giúp đỡ, thoát khỏi tai nạn, có phúc lộc về sau. (như ý hào: Lấy lòng thành đãi bậc quân vương lúc lâm nạn, nên sau không lỗi)
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Dễ thành, dễ phá, bỗng vinh, bỗng nhục, ăn mặc kiệm ước, phúc trạch thường. Người phúc lộc mỏng, không bền, gặp gian nan dễ hao tổn sự nghiệp.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Giữ việc nghi lễ. Giới Sĩ: Khó tiến. Người Thường: Có sự giao ước. Phòng tang phục.
Đừng buồn việc quá chờ lâu,
Dài mong, hẳn cá lên câu cắn mồi
📖 Lược Nghĩa: Khảm bất doanh, kỳ ký bình, vô cửu. Hiểm chẳng đầy, khi đã bằng rồi, thì không lỗi gì. Hào tốt cho mọi người, thời cuộc bình an vô sự, nhưng vẫn là thời khó khăn nên chỉ thành đạt nhỏ. (Hào cửu ngũ chỉ đường chí tôn, khi ngôi đã vững thì như nước đã đầy, đầy rồi thì bằng phẳng, như người công bằng, không sợ thiên vị, không có lỗi).
☯ Toán Hà Lạc Giải: Có cách cứu hiểm, thì cứu hiểm thành công.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương, cương, có tài, đắc trung, đắc chính, ở nơi chí tôn, mới trải qua quá nửa thời Khảm, hiểm chưa hết, nước còn dâng lên nữa, đến khi nào nước đầy rồi, mới bình lại, mà dắt dân ra khỏi hiểm được.
✅ Mệnh Hợp Cách: Đổi nguy ra an, cứu được dân, sự nghiệp không nhỏ. Người ở địa vị cao có tài đức, biến nguy thành an, có công cứu nước, phúc lộc cao dày.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tài nhỏ, giải được ách, bình an. Người cũng có địa vị xã hội, thoát được cơn hoạn nạn, giữ được phúc lộc.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Phận nhỏ, nhưng không nguy. Giới Sĩ: Lợi nhỏ. Người Thường: Bình thản, không nguy gì.
Tuy đầy mà chẳng lo tràn,
Thuyền to buồm nhẹ tếch ngàn dặm khơi.
📖 Lược Nghĩa: Hệ dụng huy mặc, chỉ vu tùng cúc, tam tuế bất đắc, hung. Buộc (tay) dùng dây đàn, đặt (chân) vào bụi gai, ba năm chẳng được gì, xấu. Như kẻ ở vị trí cao mà vô tài, lỗi bị hình phạt. Quan chức dễ bị hình án, truất giáng. Sĩ tử gian nan khó thành đạt. Người thường dễ bị hình án.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Vô tài mà ở chỗ cực hiểm, tất nguy vong.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu, ở trên cùng quẻ Khảm, chỗ cực kỳ hiểm, đã không có tài ra khỏi cảnh hiểm, lại không biết hối mà sửa mình, nên bị họa rất nặng.
✍️ Phan Bội Châu phụ chú: Quẻ Khảm này, 4 hào âm vây bọc lấy 2 hào dương, tượng như 4 tiểu nhân vây bọc 2 quân tử. Nên lời hào trong 6 hào: hào 2 dương thời mong được việc nhỏ, 5 dương thời mong nước đầy, bình lặng, là trông mong cho quân tử mau xuất hiểm; hào 1, sơ; hào 6, thượng, thời xấu (hung), hào 3 thời chớ dùng (vật dụng), hào 4 thời chỉ được không lỗi (vô cựu), là đau đớn cho tiểu nhân hành hiểm mà vô ích. Thánh nhân phù quân tử, ức tiểu nhân là như thế. Nên lời hào sơ, thượng, thảy có chữ hung (xấu), mà lời tượng đều có chữ thất đạo (mất đường lối), cứ coi hai hào đầu cuối, và hai hào ở giữa cũng đủ biết.
✅ Mệnh Hợp Cách: Nên ẩn cư nơi sơn lâm. Hoặc làm tăng đạo. Người thất thế, ẩn cư hoặc tu hành.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Tổn thân, phá tổ, cốt nhục khó yên, tuổi thọ kém, hình khắc nhiều. Người tài nhỏ chí to làm tổn hại cơ nghiệp, bị tù tội gian nan.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Lo chăng trói, hoặc đi an trí. Giới Sĩ: Đấu tranh gay go. Người Thường: Phòng tù ngục.
Lo buồn đổi tiết sang thu,
Một mình Nam Bắc dời khu mới lành