🌟 Tổng Quan Mệnh Quẻ
🏷️ Tên Quẻ: Ly là Lệ (sáng đẹp, văn minh). Thuộc tháng 4.
🌟 Lời Tượng & Lược Nghĩa
Hai lần sáng làm quẻ Ly (văn minh) bậc đại nhân lấy đấy mà tiếp nối đức sáng suốt soi ra 4 phương.
☯ Toán Hà Lạc Giải Đoán
| Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ | Lục Thập Hoa Giáp Hợp Quẻ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
| Chi | Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi |
Được quẻ này rất tốt. Lại sinh tháng 4 là cách công danh, phú quý.
Ngán lâu, nay thấy sáng ngời,
Hoàn cầu hội mới mở thời văn minh
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng
Kinh Dịch mở đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, kết thúc phần kinh thượng bằng hai quẻ Khảm và Ly là vì hai lẽ: Một là ba hào thuần dương là Càn, lấy một hào của Khôn thay vào giữa của Càn thành Ly; hai là ba hào thuần âm là Khôn, lấy một hào của Càn thay vào giữa của Khôn, thành Khảm.
Vậy Ly, Khảm là “Thiên Địa chi trung” nghĩa là ở giữa trời và đất; công dụng tạo hóa của trời đất nhờ lửa và nước (Ly và Khảm) cả. Khảm ở chính bắc, Ly ở chính nam. Khảm ở giữa đêm (giờ Tý), Ly ở giữa trưa (giờ Ngọ). Khảm, ở giữa là nét dương, liền, thực, cho nên đức của nó là trung thực. Ly, ở giữa là nét âm, đứt, hư, rỗng, cho nên đức của nó là sáng, là văn minh.
✍️ Phan Bội Châu Giảng Giải
Ly có nghĩa chính là Lệ, là Dựa vào; lại có nghĩa phản là Rời, Lìa. Ở đây chỉ lấy nghĩa chính, Ly là lệ thuộc, là nương dựa (trong sách của Phan Bội Châu là dếnh dựa, bản dịch của Ngô Tất Tố gọi là bám). Vạn vật không vật gì là không chốn nương dựa.
Tỷ như: Loài chim nương dựa vào rừng, cá nương dựa vào nước, mà đến loài người cũng thế, hoặc bạn tình nương dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em nương dựa nhau mà nên gia đình, hoặc loài người nương dựa nhau mà nên dân tộc, hay xã hội. Nhưng mà hễ có nương dựa nhau, thời có hai phương diện: một, thời nương dựa theo lối chính, hai, thời nương dựa theo lối tà.
Cho nên lời quẻ nói rằng: Người tất phải có chốn nương dựa, mà cốt nhất là nương dựa cho được chính thời mới hanh. Lời quẻ còn một nghĩa nữa lấy thí dụ bằng cái đức của con bò cái, một giống nhu thuận, dễ bảo. Nhu thuận thời mới tốt. Bởi là quẻ Thuần Ly, trên dưới đều sáng, sáng quá, lúc nào cũng tỏ ra hơn người, thời ít người ưa. Nên phải giấu bớt cái sáng đi, trau dồi đức thuận của con bò cái, thì mới được lành.
Lời tượng ở trên nói Hai lần sáng, là muốn chỉ mặt trời, liên tiếp chiếu sáng, trùng điệp đức sáng, đó là tượng quẻ Ly. Nói bậc đại nhân (mà không nói quân tử như nhiều quẻ khác) là bởi có đức như thánh nhân, có ngôi vị như bậc nguyên thủ, mới có thể chiếu sáng được khắp bốn phương.
🔮 Dự Báo Hà Lạc & Ứng Việc
Quẻ chỉ vận thế khó khăn, mới quan sát tưởng sáng sủa, nhưng thực tiễn nhiều trở ngại, không thuận lợi cho đường công danh sự nghiệp, chưa phải thời triển khai công việc lớn. Dễ đề xuất những kế hoạch không thực tế, hành động dễ dẫn đến nôn nóng, hỏng việc.
Khó khăn, kinh doanh trắc trở.
Bất lợi.
Dễ nặng lên.
Có thể đạt tốt.
Không thuận, tình yêu dang dở không như ý muốn.
📊 Chi Tiết Các Hào
📖 Lược Nghĩa: Lý thác nhiên, kính chỉ vô cửu. Xô giày lầm lộn, kính đấy thì không lỗi tốt cho những việc nhỏ. Như người cấp dưới thấy cấp trên là sợ, bước đi rối loạn. Lợi nhỏ. Thành công việc nhỏ.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Làm bậy, phải cẩn thận.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào dương này ở thời đầu quẻ Ly là sáng, nên có tính nóng nảy, cầu tiến quá, mà còn non nớt, như đứa trẻ vội vàng, dẫm bậy, xỏ nhầm giày người khác. Phải kính cẩn, thận trọng thì mới khỏi tội lỗi. Đức kính trong lúc vội xỏ chân vào giày, cốt để tránh điều lỗi lầm. (Ba chữ Lý thác nhiên trong lời hào, Phan Bội Châu dịch là xâu chân vào giày lốp xốp; Ngô Tất Tố dịch là xéo bừa; Học Năng dịch là xỏ giày lầm lộn. NHL dịch là Dẫm bậy bạ. Tôi theo Phan Bội Châu và Học Năng. XC)
✅ Mệnh Hợp Cách: Kính, thận xét kỹ cơ sự, trở về điều chính thì sự nghiệp cũng thành, được người ngưỡng mộ. Người cẩn thận, kính trọng người trên, làm nên sự nghiệp.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Sửa đổi, rồi cũng được ít nhiều thụ hưởng. Người hay lo sợ, dễ bị bối rối, nhưng biết cách ăn ở, nên yên vui.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Phòng nông nổi, bất cẩn mà bị lỗi. Giới Sĩ: Phòng sai ngoa, xuyên tạc. Người Thường: Vượt cái phận dành riêng cho mình. Bị lôi thôi. Hoặc trượt cẳng đau.
Quan tâm nhìn cảnh phong ba,
Thủ thường không lỗi cười khà cho vui.
📖 Lược Nghĩa: Hoàng Ly nguyên cát. Văn minh, được sắc vàng (cư trung) rất tốt. Hào 2 âm, hợp đạo trung chính. Quan chức có địa vị cao, công lớn. Sĩ tử có tài, đỗ đạt cao, được trọng dụng. Người thường có nhiều sáng kiến, kinh doanh phát đạt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Giúp sức xây nền văn minh.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào âm này ở quẻ Ly có đức văn minh, lại đắc trung, đắc chính, trên ứng với hào 5 cũng văn minh, đắc trung, nên rất tốt. Vì ở giữa, văn minh, nên ví với sắc vàng, đẹp, sắc ở giữa các màu sắc. Đây là hào tốt nhất trong quẻ.
✅ Mệnh Hợp Cách: Uyển chuyển, khiêm nhường, giúp người trên, hòa người dưới, thành nền nếp văn minh, hưởng phúc lớn, được kỳ vọng. Là người có tài khai sáng, mở mang văn minh, phúc lộc cao dày.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Cũng thành thật, nghiệp nhà hưng thịnh, hưởng phúc lớn. Cũng là người chấn hưng được cơ nghiệp, có nhiều phúc lộc chiều như người về già cao tuổi.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Giữ chức vị cao ở trung ương. Giới Sĩ: Thi đỗ khôi khoa. Người Thường: Hưởng lợi tức.
Việc đã định, khỏi lo âu,
Trong mây, khách gật, trăng lầu lên cao
📖 Lược Nghĩa: Nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại điệt chi ta, hung. Văn minh của mặt trời xế bóng, chẳng gõ đồ sành mà hát, hẳn là người già cả có điều than thở, vậy là xấu. Quan chức đến kỳ hưu trí. Kẻ sĩ hết thời, tham quyền dễ bị chỉ trích. Người thường hết vui đến buồn. Đề phòng ốm đau, bệnh hoạn, tang ma.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Vận đã suy, không cứu vãn được.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào 3 này ở trên cùng quẻ nội Ly, như mặt trời sắp lặn mà chưa lên quẻ ngoại Ly, chưa tới lúc mặt trời mọc. Lời hào tả người già như mặt trời lúc xế chiều, tính khí thất thường, không đáng vui mà vui, không đáng buồn mà buồn, gõ vào cái vò rượu mà hát. Trong lời hào, cái vò gọi là cái phẫu, vò đựng rượu bằng sành, ngày xưa còn dùng làm nhạc khí. Chu Hy giảng câu này là “chẳng biết yên phận mà vui vẻ, lại than thở vì già nua, thế là không biết tự xử".
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Thơ Đường có câu: "Hát Ngô múa Sở dở dang / Mặt trời đã nửa ngậm gương non Đoài." Lại có câu: "Con buôn biết nước mất đâu / cách sông hát bướng mấy câu hận đình." Gõ vò mà hát, là như thế. Lời hào cho ta hình dung một thời tâm tình hôn ám, không khác gì mặt trời lúc xế chiều. Đức sáng đã đến lúc nhoè, chẳng còn lâu nữa.
✅ Mệnh Hợp Cách: Hiểu rõ lẽ thịnh suy, vơi đầy, nên an mệnh sống vui thì cũng không tổn hại phúc trạch. Là người hiểu được thiên mệnh, sống được yên vui, hưởng được phúc lộc.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Thương thân, tổn tài, hình khắc về phía vợ. Là người hay than thân, trách phận, hao tổn tâm thần, thể xác.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Cáo hưu. Giới Sĩ: Phòng bị bôi nhọ. Người Thường: Vui quá hóa buồn. Gian nan đến nỗi bất kỳ ngày nào cũng có thể nguy đến thân.
Trăng đoài lặn, khách hồn lìa,
Bại dễ thành khó, ê chề buồn vui.
📖 Lược Nghĩa: Đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như. Đột nhiên như (ư!) mà tới như (ư!) thiêu đốt như (ư!) chết như (ư!) bỏ như (ư!). Hào xấu, sa vào gian lao cực khổ, dễ bị hình phạt.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Cậy cương mạnh để làm biến cách chính trị, chỉ chóng đi đến chỗ chết.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào 4 này dương cương, nóng nảy, bất chính, bất trung, mới ở quẻ nội lên, gặp hào 5 âm nhu, muốn lấn át 5, như một người ở đâu thình lình chạy tới, lồng lộn lên, muốn đốt người ta (hào 5), táo bạo, vụng về như vậy, làm sao tránh khỏi cái chết. Không ai dùng được người như thế.
✍️ Phan Bội Châu Giảng: Vào lúc ánh sáng trước đã tắt, ánh sáng sau sắp tới, nếu được người kế thừa cho tốt thì hay. Nhưng 4 dương thì trái hẳn. Hào này tương tự như Đổng Trác thời Hán (xem Tam Quốc), Nguyễn Hữu Chỉnh thời Tây Sơn.
✅ Mệnh Hợp Cách: Nếu thủ cựu, an thường, trên tuân luật pháp, dưới không gây thù oán, thì có thể bảo vệ được thân mình. Là người an phận giữ đạo bảo vệ được mình và cơ nghiệp khi gặp biến.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Không trung, chính, lăng bức trên, làm bậy, tội đến chết. Là kẻ thiếu trung chính, làm càn, phạm vào hình khắc. Quan chức lộng quyền, bị ghét bỏ. Người thường là kẻ ngỗ ngược hung bạo, cậy mạnh làm càn, bị nạn binh đao, gian nan cực khổ.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Bị nghi lộng quyền. Giới Sĩ: Có tài, nhưng tưởng lầm là ta thông suốt hết. Người Thường: Ngỗ ngược, phạm thượng, hoặc chết vì binh đao. Hoặc cực khổ trăm điều.
Một người không cẳng đứng
Có cẳng lại không đầu
Nghìn dặm đuổi đến đâu
Phòng sinh ngũ thất hưu
📖 Lược Nghĩa: Xuất thể đà nhược, thích ta nhược, cát. Chảy nước mắt như đầm đìa, như lo buồn than van, thế là tốt. Hào xấu, ít phúc lộc, nhiều khó khăn, gian khổ.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Bực nguyên thủ phải hết đạo lo việc nước, thì mới được yên.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này âm nhu, ở ngôi tôn, trung nhưng không chính, bị ép giữa hai hào dương, như mắc vào hoàn cảnh khó khăn, cho nên, “nước mắt ròng ròng”, nhưng nhờ đức văn minh của quẻ Ly nên than thở đấy mà biết lo tỉnh đấy, tìm cách đối phó với hoàn cảnh, cho nên rồi sẽ tốt.
✍️ Phan Bội Châu Phụ Chú: Chữ than thở ở hào 5, với chữ than thở ở hào 3, tuy nghĩa đen in nhau, nhưng hào 3 là một hạng người mê muội tâm thần mà thở than, hào 5 lại là một người biết thời thế, lo sợ cho trách nhiệm mà thở than.
✅ Mệnh Hợp Cách: Mềm dẻo, khiêm tốn, biết lo xa, thì kẻ cường bạo mới không chen được vào khe hở, mới bảo vệ được phúc trạch, an toàn. Là người hết lòng vì công việc chung, biết lo xa, mềm dẻo khiêm tốn, bảo vệ được phúc lộc.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Nhu nhược, quyền vào tay người khác, hôn ám. Hoặc biết vun đắp vào cái thời của đại nhân, thì đạt được chí một phần; mà trước khó sau dễ. Là người thiếu sáng suốt, gặp khó khăn bị hao tài tốn sức. Kinh doanh kém phát đạt.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Đương hiển đạt thì đắc chí. Thoái chức rồi mà còn gian nan. Giới sĩ: Khó tiến thủ. Người Thường: Kinh doanh đình trệ. Vận xấu: khó tránh đau buồn, than khóc.
Bờ sông trút hết nước
Kinh nạn lụt nguy thôi,
Cô gái vẫy vành nón,
Quay đầu hoa nở rồi. (Nữ nhân huy nhất lạp, hồi đầu hựu hoa khai).
📖 Lược Nghĩa: Vương dụng xuất chinh. Hữu gia chiết thủ, hoạch phỉ kỳ xú, vô cửu. Vương dùng việc ra quân chinh phạt. Có điều tốt đẹp là bẻ gãy được tên đầu bọn, chẳng bắt tụi xấu xa theo đuôi, không lỗi gì. Hào tốt, cơ hội tốt để tạo sự nghiệp, sĩ tử đỗ đạt, thành danh. Nhà buôn kinh doanh thuận lợi.
☯ Toán Hà Lạc Giải: Việc chinh phạt đem lại sự chính đáng.
✍️ Nguyễn Hiến Lê Giảng: Hào này dương cương lại ở trên cùng quẻ Ly, thế là vừa cương quyết vừa sáng suốt đến cực điểm; bậc nguyên thủ dùng tài ấy để trừ kẻ gian tà thì thành công lớn. Nhưng vì cương quá, dễ hóa tàn bạo, nên lời hào khuyên dẹp loạn thì chỉ nên giết kẻ đầu sỏ, còn những kẻ đi theo thì bắt sống thôi. Như vậy sẽ không có lỗi.
✅ Mệnh Hợp Cách: Văn võ kiêm toàn, mở vận hội thái bình. Là người có tài thao lược, giúp nước lập công.
✅ Mệnh Không Hợp Cách: Hoặc làm binh sĩ, khách buôn, vất vả ngược xuôi; hoặc đau đầu, mất thanh danh. Thì kiếm sống khó khăn, cuộc đời vất vả, long đong.
📅 Xem Tuế Vận: Giới Quan: Xuất hay xử cũng nên công. Giới Sĩ: Tiến thủ, đứng đầu danh sách. Người Thường: Kinh doanh đắc lợi.
Chinh phạt bắt được tụi gian,
Phượng đem tin tốt, hân hoan trong ngoài.