Phong thủy mộ phần: chọn hướng và thế đất đặt mộ đúng cách
Cách chọn hướng mộ và thế đất đặt mộ theo phong thủy âm trạch: tọa sơn hướng thủy, huyền vũ long hổ minh đường, tránh thế xấu. Thầy Ưng Khiêm chia sẻ nhân văn.
Cách chọn hướng mộ và thế đất đặt mộ theo phong thủy âm trạch: tọa sơn hướng thủy, huyền vũ long hổ minh đường, tránh thế xấu. Thầy Ưng Khiêm chia sẻ nhân văn.

Đó là gốc. Khí tụ thì phát. Chào các bạn. Trong nghề, có những việc tôi làm với lòng nhẹ nhõm, nhưng cũng có những việc tôi luôn đặt tay lên ngực mà làm với tất cả sự cẩn trọng và kính cẩn. Chọn đất, chọn hướng cho nơi an nghỉ của người đã khuất là một việc như thế. Đây không phải chuyện cầu may. Càng không phải chuyện để hù dọa ai. Đây là chuyện của hiếu đạo, của tấm lòng con cháu muốn cha mẹ ông bà được yên ấm nơi an nghỉ cuối cùng, đồng thời bài viết này tôi viết ra để những gia đình đang lo việc lớn có được một hệ thống kiến thức địa lý âm trạch chính tông từ gốc cổ điển đến thực hành đo đạc thực địa, vừa ấm áp nhân văn vừa chuẩn xác từng độ số trên la kinh.
Nhớ kỹ điều này. Trong phong thủy học chính thống, phần nhà ở của người dương thế gọi là Dương Trạch (陽宅), còn phần mộ nơi an nghỉ của người đã khuất gọi là Âm Trạch (陰宅). Văn hóa Á Đông từ ngàn đời quan niệm rằng nơi yên nghỉ của tổ tiên có mối liên hệ huyết thống và trường khí bền chặt với con cháu đời sau, gọi là Phúc Ấm (福蔭), cái bóng mát phúc đức mà ông bà cha mẹ để lại che chở cho hậu thế.
葬者,乘生氣也。氣乘風則散,界水則止。古人聚之使不散,行之使有止,故謂之風水。Đừng chủ quan. Giữ tĩnh là thượng sách. Táng giả, thừa sinh khí dã. Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ. Cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi phong thủy., An táng chính là nương theo sinh khí của trời đất. Sinh khí gặp gió thổi thì tản mát, gặp nước ngăn lại thì dừng tụ, đồng thời cổ nhân làm cho khí tụ lại mà không tán, vận hành mà có điểm dừng, cho nên mới gọi là Phong Thủy.
, Quách Phác (郭璞, 276–324) · Táng Thư (葬書 · Nội Thiên)
Khí tụ thì phát. Đoạn kinh văn bất hủ trên của Tổ sư Quách Phác đời Đông Tấn vừa là định nghĩa đầu tiên của hai chữ "Phong Thủy" trong lịch sử nhân loại, vừa chỉ thẳng bản chất của Âm Trạch. Vì sao di cốt của tổ tiên nằm dưới lòng đất lại có sự giao cảm với con cháu? Quách Phác giải thích bằng nguyên lý "Cốt nhục thụ khí, đồng thanh tương ứng":
人受體於父母,本骸得氣,遺體受蔭。蓋生者,氣之聚,凝結者成骨,死而獨留。故葬者反氣納骨,以蔭所生之法也。Tâm an vạn sự an. Thuận lý tự nhiên. Nhân thụ thể ư phụ mẫu, bản hài đắc khí, di thể thụ ấm. Cái sinh giả, khí chi tụ, ngưng kết giả thành cốt, tử nhi độc lưu. Cố táng giả phản khí nạp cốt, dĩ ấm sở sinh chi pháp dã., Con người nhận hình hài từ cha mẹ; hài cốt gốc nhận được sinh khí ấm áp thì thân thể con cháu (di thể) được hưởng phúc ấm. Khi sống, khí ngưng kết thành xương cốt; khi mất đi, chỉ còn bộ xương cốt lưu lại, đồng thời cho nên an táng là đưa xương cốt trở về nơi tụ sinh khí của đất mẹ để che chở cho người đang sống.
, Quách Phác · Táng Thư (葬書)
Giữ tĩnh là thượng sách. Tôi muốn nói ngay. Hãy hiểu lý thuyết "Thừa Sinh Khí" này theo cả hai góc độ, vật lý tự nhiên và đạo lý nhân văn. Về mặt tự nhiên, một huyệt mộ đặt ở nơi "tàng phong tụ khí" là nơi có địa tầng đất sét pha cát mịn, nhiệt độ lòng đất ổn định, độ ẩm vừa phải, không bị mạch nước ngầm độc hại (thủy tuyền) ngâm đen hay gió lùa xói lở, giúp di cốt của người thân được bảo tồn nguyên vẹn, sạch sẽ và thanh tịnh suốt trăm năm. Về mặt nhân văn, khi đại gia đình đồng lòng chọn nơi cao ráo, thoáng đãng, lo cho tổ tiên chu đáo, cái nếp nhà hiếu thuận ấy tự nó nuôi dưỡng sự đoàn kết, lòng biết ơn và bình an trong tâm mỗi người. Tâm an. Trí sáng. Gia hòa. Vạn sự tự khắc hưng, đồng thời đó mới là cái phúc ấm thực nhất, gần gũi nhất, chứ không phải sự mê tín sợ hãi.
"Chọn đất cho người đã khuất, trước hết là chọn bằng cái tâm của người còn sống. Đất lành là nơi con cháu tới thăm thấy lòng thanh thản, và người nằm xuống được yên."
, Thầy Ưng Khiêm · UK Master Corp
Chớ nên nóng vội. Cẩn tắc vô áy náy. Hình thế đứng trước. La kinh theo sau. Trong địa lý chính tông của Dương Quân Tùng (Dương Công) và Tưởng Đại Hồng, Loan Đầu (Hình Thế) là thể, Lý Khí (La Kinh) là dụng: "Loan đầu vô giả, Lý khí vô chân", thế đất bên ngoài có thật thì phép tính la bàn mới phát huy tác dụng, đồng thời quy trình khảo sát một khu đất đặt mộ bắt buộc đi qua Ngũ Quyết Địa Lý: Long – Huyệt – Sa – Thủy – Hướng:
Thuận lý tự nhiên. Cổ nhân có câu: Tam niên tầm long, thập niên điểm huyệt, ba năm học tìm long mạch, nhưng phải mất mười năm mới tinh thông phép Điểm Huyệt. Toàn bộ tinh hoa của dãy đất chỉ tụ lại ở một diện tích vài mét vuông gọi là Huyệt Tinh (穴星), đồng thời theo quy chuẩn Thập Nhị Đảo Trượng Pháp (十二倒杖法) của Dương Quân Tùng, mọi chân huyệt trong thiên hạ đều quy về Bốn Hình Thái Cơ Bản (Tứ Đại Huyệt Hình) dựa trên quy luật Âm Dương tương tế:
Xét kỹ từng tầng. Trước hết xem hình. Làm sao kiểm chứng mình đã điểm đúng Chân Huyệt khi đào huyệt xuống độ sâu 1.2m–1.8m? Người thầy thực địa luôn dùng Phép Nghiệm Thổ Sắc & Trọng Lượng Đất của Táng Thư: đất trong lòng chân huyệt phải mịn dẻo như bột đỗ xanh đồ chín, cầm nắm lại thành cục mà ấn nhẹ lại tơi ra, có hơi ấm tự nhiên và ánh màu tươi nhuận (màu vàng son, đỏ hồng, trắng ngà hoặc vân Ngũ Sắc Thái Cực Huân). Nếu đào xuống gặp đất khô xốp như tro bếp, cát sỏi rời rạc không kết dính, hoặc bùn đen hôi tanh rỉ nước lạnh buốt thì đó là Giả Huyệt hoặc Tuyệt Địa, cần dời vị trí ngay.
Cẩn tắc vô áy náy. Cũng như khi chọn đất dựng nhà, chọn đất đặt mộ có những nơi ta tuyệt đối phải tránh, cổ thư gọi là Thập Ác Bất Táng (十惡不葬). Không phải vì mê tín, mà vì những địa hình này thực sự phá hủy cấu trúc mộ phần và gây bất an lâu dài:
| Yếu tố khảo sát | Thế đất Đại Kỵ cần tránh | Nguyên lý địa chất & phong thủy | Thế đất Chuẩn Cát nên chọn |
|---|---|---|---|
| 1. Địa hình & Thủy văn | Trũng thấp, đọng nước, mạch nước ngầm lạnh (Thủy Tuyền Sát) | Nước ngầm ngâm tiểu quách làm mục xương cốt, lạnh khí âm phần | Cao ráo, thoát nước tự nhiên 4 mùa, nền đất sét pha cát chắc |
| 2. Phía sau (Huyền Vũ) | Sườn dốc hụt sau lưng, vách lở dựng đứng (Lâm Đầu Sát) | Mưa lũ gây sạt lở trôi mộ; thiếu điểm tựa làm tán khí | Có gò cao Huyền Vũ tựa lưng vững vàng, thoai thoải êm ái |
| 3. Hai bên (Long Hổ) | Khe gió lùa mạnh (Ao Phong Sát) hoặc gò nhọn đâm vào hông | Gió xoáy thổi bật sinh khí, bào mòn nền đất quanh mộ | Long Hổ hai bên cân đối ôm vòng như tay ghế bành |
| 4. Phía trước (Minh Đường) | Đường lớn đâm thẳng (Tiễn Xạ Sát) hoặc vách đá bít sát mặt | Xung khí trực diện gây chấn động; vách bít sát làm bức bối | Minh Đường thoáng rộng, sáng sủa, có Án Sơn che nhẹ phía xa |
| 5. Dòng nước (Thủy Pháp) | Rãnh nước xói thẳng, sông cong lưng bắn vào (Phản Cung Thủy) | Dòng chảy cắt lở nền đất, cuốn trôi toàn bộ trường khí | Nước uốn khúc ôm vào lòng huyệt (Ngọc Đai Thủy), chảy êm |
| 6. Chất đất (Thổ Chất) | Đá tảng顽 thạch, sỏi vụn bạc màu, đất rác lấp tạp chất | Đất chết không có vi sinh và sinh khí, cỏ cây không mọc nổi | Đất mịn dẻo, ấm khô, sắc vàng/hồng tươi nhuận, cỏ xanh mượt |
| 7. Rễ cây cổ thụ | Sát gốc đa, đề, si, bồ đề, thông cổ thụ (Mộc Căn Xuyên Quan) | Rễ cọc đâm xuyên gạch vữa, quấn nát tiểu quách hút dưỡng chất | Cách cây cổ thụ rễ cọc tối thiểu 10–15m; chỉ trồng cỏ/hoa rễ chùm |
| 8. Từ trường nhân tạo | Dưới đường dây điện cao thế, trạm biến áp, sát đường sắt | Từ trường biến thiên mạnh làm nhiễu loạn hoàn toàn kim La Kinh | Khu vực yên tĩnh, cách xa hành lang lưới điện cao thế |
| 9. Huyệt cũ chồng lấn | Đặt đè lên huyệt mộ cổ vô chủ hoặc hố vôi tôi cũ | Khí trường hỗn tạp, đất nhiễm kiềm vôi ăn mòn quách sành | Đất sạch nguyên sinh hoặc đã hoàn thổ thanh tẩy đúng nghi thức |
| 10. Đỉnh núi cô độc | Đỉnh gò trơ trọi bốn bề gió táp (Cô Hàn Sơn Đỉnh) | Gió tám hướng thổi tạt không có Sa che chắn, khí tán tuyệt | Đặt ở lưng chừng hoặc chân đồi nơi gió dừng nước tụ |
Lấy tĩnh chế động. Nhớ kỹ điều này. Nhiều người tự mang la bàn điện thoại hoặc la bànBát Trạch ra nghĩa trang đo rồi phán "Ông cụ tuổi Đông Tứ Mệnh phải xoay mộ về hướng Đông Nam". Sai lầm nghiêm trọng! Công cụ hướng hợp tuổi theo Đông – Tây Tứ Mệnh là phép Bát Trạch dùng cho nhà ở của người sống, tuyệt đối không dùng để định hướng mộ phần, đồng thời với Âm Trạch chính tông, người thầy phải sử dụng La Kinh Tam Hợp Dương Công gồm 3 vòng 24 Sơn đồng tâm nhưng lệch nhau đúng 7.5° (nửa sơn), gọi là Tam Bàn Quán Khí:
地盤正針以格龍立向,人盤中針以消砂,天盤縫針以納水。三盤各司其職,不可混用。Trước hết xem hình. Địa bàn Chính châm dĩ cách long lập hướng, Nhân bàn Trung châm dĩ tiêu sa, Thiên bàn Phùng châm dĩ nạp thủy. Tam bàn các tư kỳ chức, bất khả hỗn dụng., Địa bàn Chính châm dùng để đo mạch Long và Lập hướng mộ; Nhân bàn Trung châm dùng để xét gò núi (Tiêu Sa); Thiên bàn Phùng châm dùng để đo dòng nước (Nạp Thủy), đồng thời ba bàn mỗi bàn giữ một chức năng riêng, tuyệt đối không được dùng lẫn lộn.
, Dương Quân Tùng · Thanh Nang Áo Ngữ & Địa Lý Ngũ Quyết
Đó là gốc. Khí tụ thì phát. Sau khi chọn được Sơn Hướng trên Địa Bàn Chính Châm (ví dụ Tọa Tý Hướng Ngọ hay Tọa Càn Hướng Tốn), nếu đặt tiểu quách lệch đi chỉ 1.5°–2°, kết quả có thể biến từ Đại Cát thành Đại Hung! Vì sao? Bởi mỗi sơn rộng 15° lại được chia nhỏ thành 5 ô Phân Kim (mỗi ô đúng 3°), cả vòng tròn 360° có 24 × 5 = 120 Phân Kim (Nhị Thập Tứ Sơn Bách Nhị Thập Phân Kim).
Nhớ kỹ điều này. Trong 5 ô Phân Kim của bất kỳ sơn nào (ghép theo tuần Lục Giáp tương ứng với Địa Chi của sơn đó), quy luật Cô Hư – Vượng Tướng – Không Vong vận hành bất di bất dịch như sau (ví dụ tại sơn Tý và sơn Ngọ):
Đừng chủ quan. Giữ tĩnh là thượng sách. Với các sơn Âm (như Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi và các sơn Âm tương ứng), 5 ô Phân Kim lần lượt là: Ất (Hư - Cấm) – Đinh (Vượng - Dùng) – Kỷ (Quy Giáp Không Vong - Cấm) – Tân (Tướng - Dùng) – Quý (Cô - Cấm). Như vậy, trong toàn bộ 120 Phân Kim của La Kinh, người thầy chân truyền chỉ bao giờ đặt tâm tiểu quách trên 48 Phân Kim mang chữ BÍNH – CANH hoặc ĐINH – TÂN, đồng thời so Ngũ Hành Nạp Âm của Phân Kim đó sao cho tương sinh hoặc tỷ hòa với Nạp Âm năm sinh của người đã khuất (Tiên Mệnh)!
| Phân loại Tuyến Kỵ | Vị trí trên La Kinh 24 Sơn | Tọa độ độ số chính xác (± 1.5° biên an toàn) | Hệ quả & Cách xử lý thực địa |
|---|---|---|---|
| 8 Tuyến Đại Không Vong (Bát Quái Giới Tuyến) |
Ranh giới giữa 8 quẻ Hậu Thiên: Khảm/Cấn, Cấn/Chấn, Chấn/Tốn, Tốn/Ly, Ly/Khôn, Khôn/Đoài, Đoài/Càn, Càn/Khảm | 22.5° (Quý/Sửu) • 67.5° (Dần/Giáp) 112.5° (Ất/Thìn) • 157.5° (Tỵ/Bính) 202.5° (Đinh/Mùi) • 247.5° (Thân/Canh) 292.5° (Tân/Tuất) • 337.5° (Hợi/Nhâm) |
Cực Hung: Khí hai quẻ xung đột, không nhận được quái khí, dòng họ dễ bất an ly tán. Phải xoay tiểu quách tối thiểu 2°–3° vào đúng phân kim Bính/Canh hoặc Đinh/Tân. |
| 16 Tuyến Tiểu Không Vong (Sơn Giới Tuyến) |
Ranh giới giữa các sơn bên trong cùng một quẻ (ví dụ Nhâm/Tý, Tý/Quý, Sửu/Cấn, Cấn/Dần...) | 7.5°, 37.5°, 52.5°, 82.5°, 97.5°, 127.5°, 142.5°, 172.5°, 187.5°, 217.5°, 232.5°, 262.5°, 277.5°, 307.5°, 322.5°, 352.5° |
Hung (Sát ranh Cô Hư): Sát mép ranh sơn chính là vùng Cô – Hư (Giáp/Nhâm/Ất/Quý). Khi căng dây phân kim hạ tiểu, giữ cách mép ranh sơn ít nhất 3°. |
Khí tụ thì phát. Trong Địa Lý Âm Trạch, Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc. Muốn biết hậu vận con cháu có hưng thịnh, giữ được gia sản hay không, người thầy bắt buộc phải đo Thủy Khẩu (水口) trên vòng Thiên Bàn Phùng Châm (+7.5°) để lập Vòng Trường Sinh 12 Cung của Tam Hợp Thủy Pháp: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
生旺之水宜來朝,死絕之水宜歸庫。若見生水反流出,立見退敗損兒郎。Tâm an vạn sự an. Thuận lý tự nhiên. Sinh Vượng chi thủy nghi lai triều, Tử Tuyệt chi thủy nghi quy khố. Nhược kiến Sinh thủy phản lưu xuất, lập kiến thoái bại tổn nhi lang., Nước từ phương Trường Sinh, Đế Vượng phải chảy đến chầu vào Minh Đường; nước ở phương Tử, Tuyệt phải rút về cung Mộ Khố mà thoát đi, đồng thời nếu để nước chảy thoát ra ở phương Trường Sinh, Đế Vượng thì lập tức suy bại, tổn hại nhân đinh tài lộc.
, Dương Quân Tùng · Thiên Ngọc Kinh & Ngọc Xích Kinh
| Tên Thủy Cục | Cung Trường Sinh & Đế Vượng (Thủy Lai Cát) | Cung Mộ Khố & Tuyệt (Thủy Khứ Cát) | Tuyến Bát Lộ Hoàng Tuyền (Cấm mở Thủy Khứ tại các sơn này) |
|---|---|---|---|
| 1. Thân – Tý – Thìn (Thủy Cục) |
Khôn – Thân (Trường Sinh) Nhâm – Tý (Đế Vượng) |
Ất – Thìn (Mộ Khố) Tốn – Tỵ (Tuyệt) |
Lập hướng Ất / Bính tuyệt đối kỵ nước chảy đi ở phương Tốn (Ất Bính tu phòng Tốn thủy tiên). |
| 2. Dần – Ngọ – Tuất (Hỏa Cục) |
Cấn – Dần (Trường Sinh) Bính – Ngọ (Đế Vượng) |
Tân – Tuất (Mộ Khố) Càn – Hợi (Tuyệt) |
Lập hướng Canh / Đinh tuyệt đối kỵ nước chảy đi ở phương Khôn (Canh Đinh Khôn thượng thị Hoàng Tuyền). |
| 3. Tỵ – Dậu – Sửu (Kim Cục) |
Tốn – Tỵ (Trường Sinh) Canh – Dậu (Đế Vượng) |
Quý – Sửu (Mộ Khố) Cấn – Dần (Tuyệt) |
Lập hướng Giáp / Quý tuyệt đối kỵ nước chảy đi ở phương Cấn (Giáp Quý hướng trung hưu kiến Cấn). |
| 4. Hợi – Mão – Mùi (Mộc Cục) |
Càn – Hợi (Trường Sinh) Giáp – Mão (Đế Vượng) |
Đinh – Mùi (Mộ Khố) Khôn – Thân (Tuyệt) |
Lập hướng Tân / Nhâm tuyệt đối kỵ nước chảy đi ở phương Càn (Tân Nhâm thủy lộ sợ Đương Càn). |
Giữ tĩnh là thượng sách. Một phần mộ tốt không nằm ở chỗ xây thật to hay ốp đá đắt tiền lấn át xung quanh, mà nằm ở tỷ lệ chuẩn mực theo Thước Lỗ Ban 38.8 cm (Đinh Lan Xích, Thước Âm Phần), quy tắc đặt bia đúng tôn ti và hợp nguyên vận:
Chớ nên nóng vội. Cẩn tắc vô áy náy. Chọn đất, điểm huyệt và căng dây phân kim cho phần mộ là đại sự trăm năm của cả dòng họ, cần đo đạc trực tiếp bằng La Kinh Tam Bàn tại thực địa. Bạn có thể kết hợp công cụ La Bàn Pro để kiểm tra sơ bộ hoặc đặt lịch khảo sát tận nơi cùng tôi.
Tư vấn khảo sát phong thủy âm trạch › Mở La Bàn Pro 24 Sơn › Dựng Mô Hình 3D › Tầm Soát Phong Thủy ›Mỗi vùng đất từ trung du miền núi tới đồng bằng ven biển đều có quy luật kết huyệt riêng. Dưới đây là 3 hồ sơ thực địa tôi đã trực tiếp cầm La Kinh xử lý cho các dòng họ:
Thuận lý tự nhiên. Bối cảnh: Dòng họ Nguyễn tại Hải Dương xây khu lăng mộ đá xanh rộng 300m2 trên sườn đồi thoai thoải. Khi xây, thợ nề chỉ ngắm bằng mắt thường theo bờ tường bao mà không có thầy căng dây phân kim, đồng thời ba năm sau khi quy tập, hai chi trưởng liên tiếp gặp biến cố kiện tụng đất đai và thất thoát tài chính lớn.
Xét kỹ từng tầng. Trước hết xem hình. Phân tích & Giải pháp của Thầy Ưng Khiêm: Khi đặt La Kinh Tam Bàn đo trực tiếp trên thành mộ Tổ, kim chỉ đúng 202.5°, đường ranh giới giữa sơn Đinh (quẻ Ly) và sơn Mùi (quẻ Khôn), phạm chính tuyến Đại Không Vong! Đồng thời Thủy Khứ chảy thoát ra ngay ở góc Tốn (135°) phạm Bát Lộ Hoàng Tuyền của hướng Đinh. Tôi đã chọn ngày Cát tháng 10 âm lịch (năm không phạm Tam Sát phương Bắc), giữ nguyên phần tiểu cốt dưới lòng đất để tránh động chạm, chỉ điều chỉnh lại khung quách đá trên mặt đất và bia mộ xoay sang 196.5° (Tọa Quý Hướng Đinh kiêm Tý Ngọ, Phân Kim Đinh Mùi/Bính Ngọ Vượng Khí), đồng thời mở lại cổng thoát nước mưa (Thủy Khẩu) về phương Tân Tuất (298°, chính cung Mộ Khố của Hỏa cục trên Thiên Bàn), đồng thời gia đạo hai chi ổn định rõ rệt từ năm kế tiếp.
Cẩn tắc vô áy náy. Bối cảnh: Gia đình anh H. mua một khuôn viên đất nghĩa trang sinh thái rộng 80m2 trên đồi thông Hòa Lạc để chuẩn bị nơi an nghỉ lâu dài cho cha mẹ, đồng thời khu đất có thế dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, phía trước cách 120m có hồ nước tự nhiên lớn.
Lấy tĩnh chế động. Nhớ kỹ điều này. Phân tích & Giải pháp của Thầy Ưng Khiêm: Khảo sát Loan Đầu, dải đất từ đỉnh đồi rủ xuống khuôn viên tạo thành hình Nhũ Huyệt (bầu sữa tròn đầy) rất đẹp. Khi đào kiểm tra ở độ sâu 1.4m, đất sét đồi lộ ra 3 vân màu vàng – đỏ – trắng ấm khô mịn như bột đỗ, đồng thời tôi lập hướng Tọa Càn Hướng Tốn (133.5°, Phân Kim Canh Thìn Tướng Khí): trên Thiên Bàn Phùng Châm, mặt hồ phía Đông Nam – Nam chính là thủy Đế Vượng của Vận 9 chiếu về Minh Đường; hai bên tả hữu đắp thêm hai gò đất trồng tùng la hán cao 1.6m làm tay Thanh Long – Bạch Hổ hộ huyệt, kích thước lăng mộ lấy đúng 107 × 167 cm (Hưng – Nghĩa trên thước Lỗ Ban 38.8 cm).
Trước hết xem hình. Bối cảnh: Gia đình cô L. có phần mộ ông nội đặt tại vùng đất thấp ở Củ Chi, cứ tới mùa mưa tháng 7–9 âm lịch là nước ngập trắng lối đi, thành mộ rêu mốc đen và nứt lún.
Đó là gốc. Khí tụ thì phát. Phân tích & Giải pháp của Thầy Ưng Khiêm: Vùng đất trũng phẳng là Bình Dương Địa, nếu đào sâu chôn thấp sẽ phạm Thủy Tuyền Sát (nước ngầm lạnh ngâm cốt). Áp dụng pháp "Bình dương đắc Đột vi kỳ" của Dương Công, tôi hướng dẫn gia đình tôn cao toàn bộ nền khuôn viên mộ lên 75 cm bằng đất sét vàng sạch đầm chặt theo hình mai rùa (Đột Huyệt), xung quanh xây rãnh thoát nước ngầm dẫn về góc Quý Sửu (Mộ Khố Kim cục), đặt mộ theo phân kim Tọa Canh Hướng Giáp (73.5°, Bính Dần Vượng Khí), đồng thời phần mộ từ đó khô ráo tuyệt đối suốt bốn mùa, cây cỏ quanh lăng xanh tốt.
Nhớ kỹ điều này. Tôi xin nhấn mạnh điều mà tôi cho là quan trọng nhất trong cả chuyên khảo này. Dù bạn có chọn được thế đất đẹp tới đâu, phân kim chuẩn tới từng độ, thì tất cả cũng không quý bằng việc con cháu thường xuyên lui tới chăm nom, hương khói, dọn cỏ, sửa sang cho phần mộ tổ tiên. Đất tốt mà bỏ hoang lạnh lẽo thì cũng phôi pha, đồng thời còn một nơi an nghỉ bình thường nhưng năm nào con cháu cũng tề tựu về thăm, quét dọn, tưởng nhớ, thì nơi đó luôn ấm áp sinh khí của tình thân.
Đừng chủ quan. Giữ tĩnh là thượng sách. Tôi mong các bạn đến với phong thủy mộ phần bằng tấm lòng thanh thản, chứ không phải bằng nỗi lo sợ. Đừng để ai lợi dụng chữ hiếu để gieo rắc sợ hãi rồi trục lợi. Chọn cho tổ tiên một nơi cao ráo, yên tĩnh, hợp lẽ tự nhiên, đo đạc cẩn trọng rồi giữ gìn chăm nom bằng tất cả sự thành kính, đó đã là trọn đạo làm con làm cháu, đồng thời khi tâm mình an, khi gia đình thuận hòa và biết ơn cội nguồn, thì cái phúc lành tự nó tìm về.
Âm trạch có phép riêng, nhưng năm động thổ, cải táng vẫn phải tránh phương sát của năm như dương trạch.
Nên: Việc lành liên quan mộ phần năm nay chọn ngày kỹ, ưu tiên các phương Đông Nam, Đông, Bắc so với tâm khu đất.
Tránh: Không động thổ, không xây sửa mộ ở phía Nam của khu đất trong năm 2026 vì Thái Tuế và Ngũ Hoàng cùng tọa, phía Bắc là Tuế Phá cũng cần thầy xem ngày.
| Phương | Sao năm 2026 | Tính chất |
|---|---|---|
| Đông Nam | 9 Cửu Tử | Đương vượng, tài lộc, hỷ khánh. Kích hoạt |
| Đông | 8 Bát Bạch | Tài lộc, thăng tiến. Kích hoạt |
| Bắc | 6 Lục Bạch | Quý nhân, quyền uy. Kích nhẹ bằng kim loại sáng |
| Đông Bắc | 4 Tứ Lục | Văn xương, học hành. Hợp bàn học |
| Giữa nhà | 1 Nhất Bạch | Sinh khí, nhân duyên |
| Nam | 5 Ngũ Hoàng | Đại sát. Không động thổ, không sửa, hóa giải bằng kim loại |
| Tây Bắc | 2 Nhị Hắc | Bệnh tật. Giữ khô, kim loại hóa giải |
| Tây Nam | 7 Thất Xích | Phá tài, trộm cướp. Khóa kỹ, dùng nước chế |
| Tây | 3 Tam Bích | Thị phi. Giữ yên, dùng sắc đỏ hồng hóa |
Khí tụ thì phát. Phương tính từ tâm nhà, đứng giữa nhà cầm la bàn đo ra tám phương rồi đối chiếu bảng. Muốn thấy đúng phòng nào nhà mình rơi vào sao nào, dựng nhà trong công cụ Nhà 3D và bật lớp sao năm.
Sao năm đổi sau Lập Xuân mỗi năm. Lớp này là phi tinh lưu niên, cần ghép với sao gốc của nhà theo Huyền Không mới trọn vẹn, Thầy Ưng Khiêm xem trực tiếp khi khảo sát.Tâm an vạn sự an. Thuận lý tự nhiên. Không nên hiểu theo hướng mê tín hay sợ hãi. Chọn đất đặt mộ theo Táng Thư của Quách Phác thực chất là tìm nơi tàng phong tụ khí, cao ráo, thoát nước, yên tĩnh và dễ chăm nom, kết hợp ý nghĩa nhân văn của lòng hiếu thảo và sự gắn kết dòng họ.
Giữ tĩnh là thượng sách. Thế đất chuẩn âm trạch cần hội đủ Ngũ Quyết: Long mạch sinh vượng, Sa tay Hổ Long ôm chầu cân đối, Thủy tụ Minh Đường hiền hòa, Huyệt vị (Oa, Kiềm, Nhũ, Đột) kết đất ngũ sắc ấm khô, và Hướng lập đắc Vượng Tướng Phân Kim.
Chớ nên nóng vội. Cẩn tắc vô áy náy. Không. Đông – Tây Tứ Mệnh là phép Bát Trạch dùng cho nhà ở (dương trạch) của người sống, đồng thời với âm trạch, hướng mộ phải định theo thế đất Loan Đầu, Thủy Pháp Trường Sinh, Huyền Không và Nạp Âm Tiên Mệnh người đã khuất qua 24 sơn và 120 Phân Kim.
Thuận lý tự nhiên. Địa Bàn Chính Châm dùng để Cách Long và Lập Hướng huyệt mộ; Nhân Bàn Trung Châm (lệch -7.5°) dùng để Tiêu Sa (xét cát hung các gò núi xung quanh); Thiên Bàn Phùng Châm (lệch +7.5°) dùng để Nạp Thủy (đo phương nước đến và nước đi).
Xét kỹ từng tầng. Trước hết xem hình. Mỗi sơn 15° chia làm 5 ô Phân Kim (mỗi ô 3°), cả vòng 24 sơn có 120 Phân Kim. Trong đó Giáp – Nhâm (hoặc Ất – Quý) rơi vào Cô Hư, Mậu – Kỷ rơi vào Quy Giáp Không Vong, chỉ có hai cặp Bính – Canh và Đinh – Tân đắc khí Vượng – Tướng nên chỉ lập hướng trên hai tuyến này.
Cẩn tắc vô áy náy. Đại Không Vong là 8 đường ranh giới giữa 8 quẻ Bát Quái (22.5°, 67.5°, 112.5°, 157.5°, 202.5°, 247.5°, 292.5°, 337.5°); Tiểu Không Vong là 16 đường ranh giữa các sơn trong cùng một quẻ. Mộ phạm Không Vong làm khí tản mát, phải xoay lệch vào lòng phân kim Vượng Tướng.
Lấy tĩnh chế động. Nhớ kỹ điều này. Mộ phần bắt buộc dùng Thước Lỗ Ban 38.8 cm (Đinh Lan Xích), chọn các cung đỏ: Đinh, Vượng, Nghĩa, Quan, Hưng, Tài. Các bộ kích thước thông dụng: 69 × 107 cm, 81 × 127 cm, 89 × 133 cm, 107 × 167 cm hoặc 127 × 192 cm.
Trước hết xem hình. Tại Việt Nam, quy tắc truyền thống cho mộ cải táng và địa táng là "Đầu gối Sơn, Chân đạp Thủy": đầu tiểu quách đặt phía sau (tựa Huyền Vũ, nơi đặt bia mộ), mặt bia và chân người mất hướng ra phía trước (nhìn về Minh Đường để con cháu đứng lễ đối diện bia).
Đó là gốc. Khí tụ thì phát. Trong Vận 9, sao Cửu Tử Ly Hỏa đương vượng và Nhất Bạch Thủy là Linh Thần. Các khu đất có sơn cao ở phía Nam/Đông Nam, có thủy tụ ở phía Bắc/Đông Bắc, lập các tuyến Tọa Bắc Hướng Nam hoặc Tọa Nam Hướng Bắc hợp Thủy Pháp là đắc vận.
Nhớ kỹ điều này. Chưa đủ. Đất tốt mà bỏ hoang lạnh lẽo cũng phôi pha, còn nơi được con cháu thường xuyên thăm viếng, hương khói, dọn cỏ thì luôn ấm áp sinh khí của tình thân, đồng thời phúc ấm thực nhất nằm ở lòng hiếu thảo và đạo đức gia phong.