Sao Tuế Phá trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Tuế Phá

Một hung tinh nhỏ trong vòng Thái Tuế, nằm ở cung xung đối Thái Tuế. Tuế Phá chủ sự xung khắc, phá hao, là gốc của khái niệm xung Thái Tuế trong lưu niên.

Hành HỏaVòng Thái TuếXung phá, hao tổnTheo chi năm sinh
歲破Suì Pò
Tên sao: Tuế Phá
Ngũ hành: Hỏa
Nhóm: Vòng Thái Tuế
Cách an: Ở cung xung đối Thái Tuế
Cai quản: Xung khắc, phá hao, biến động
Kỵ: Sát tinh, Hóa Kỵ, Đại Tiểu Hao
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Tuế Phá là gì

Tuế Phá là sao xung đối với Thái TuếẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tuế Phá thuộc vòng Thái Tuế
Tuế Phá là sao xung đối với Thái Tuế

Tuế Phá là một sao trong vòng Thái Tuế, ngũ hành Hỏa, được xếp là hung tinh nhỏ. Đặc điểm cốt lõi của Tuế Phá là nó luôn nằm ở cung xung đối với Thái Tuế, tức cách Thái Tuế sáu cung. Chính vì vậy Tuế Phá gắn liền với khái niệm xung Thái Tuế trong dân gian và trong lưu niên.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Tuế Phá an theo địa chi năm sinh, không theo can, không theo tháng, không theo giờ, không theo Cục. Phép an của cả vòng Thái Tuế rất giản dị: đặt sao Thái Tuế vào đúng cung mang tên chi năm sinh, rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Mỗi cung nhận đúng một sao, mười hai cung vừa đủ mười hai sao, không thừa không thiếu. Tuế Phá là sao thứ bảy, tức cách Thái Tuế đúng sáu cung.

Suy luận Sáu cung là đúng nửa vòng địa bàn. Từ một con số ấy sinh ra toàn bộ tính chất của Tuế Phá, và cũng sinh ra một loạt điều không bao giờ thay đổi trên mọi lá số của mọi người. Thầy muốn quý vị đọc kỹ chỗ này hơn mọi chỗ khác trong bài, vì phần lớn cái sai khi luận Tuế Phá là sai cấu trúc chứ không phải sai ý nghĩa: người ta gán cho nó những thế đứng mà nó không thể có.

Vị trí an của Thái Tuế, Tuế Phá, Thiên Hư, Thiên Khốc và Thiên Mã theo địa chi năm sinh
Tuổi chiThái TuếTuế PháThiên HưThiên KhốcThiên Mã
NgọNgọNgọDần
SửuSửuMùiMùiTỵHợi
DầnDầnThânThânThìnThân
MãoMãoDậuDậuMãoTỵ
ThìnThìnTuấtTuấtDầnDần
TỵTỵHợiHợiSửuHợi
NgọNgọThân
MùiMùiSửuSửuHợiTỵ
ThânThânDầnDầnTuấtDần
DậuDậuMãoMãoDậuHợi
TuấtTuấtThìnThìnThânThân
HợiHợiTỵTỵMùiTỵ

Bảy điều bất biến của Tuế Phá

  1. Tuế Phá an được cả mười hai cung. Chạy đủ mười hai địa chi năm sinh thì Tuế Phá lần lượt rơi vào Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ. Không có cung nào Tuế Phá không tới được, và cũng không có cung nào Tuế Phá tới thường xuyên hơn cung khác. Ai nói Tuế Phá chỉ đóng ở tứ mộ hay chỉ đóng ở tứ sinh là nói sai.
  2. Tuế Phá vĩnh viễn nằm ở cung xung chiếu của Thái Tuế. Đây là điểm cấu trúc quan trọng nhất của sao này, và là lý do nó mang tên Tuế Phá, tức phá cái Tuế. Mười hai trên mười hai tuổi, khoảng cách giữa hai sao đúng bằng sáu cung. Hệ quả là nói tới Tuế Phá thì đã ngầm nói tới một trục vắt ngang lá số chứ không phải một điểm: một đầu là Thái Tuế, tiếng nói và danh phận của đương số, đầu kia là Tuế Phá, chỗ va đập của cái tiếng nói ấy.
  3. Tuế Phá luôn đồng cung với Thiên Hư. Thiên Hư an bằng cách lấy cung Ngọ cộng chỉ số chi năm sinh, mà Ngọ đúng là cung thứ sáu tính từ Tý, nên hai công thức trùng khít. Chạy đủ mười hai tuổi thì mười hai trên mười hai lần hai sao ngồi chung. Đây là điều mà rất ít bài viết nói tới, mà nó đổi hẳn cách đọc: cái mà người ta cảm thấy ở cung Tuế Phá thường không phải sự đổ vỡ ồn ào, mà là cảm giác trống rỗng, hụt hẫng, mất chỗ dựa, đó là phần đóng góp của Thiên Hư.
  4. Tuế Phá luôn tam hợp với Tang Môn và Điếu Khách. Ba sao ấy đứng ở vị trí thứ ba, thứ bảy và thứ mười một của vòng, cách đều nhau bốn cung, nên hợp thành một tam giác cố định trên mọi lá số. Không có tuổi nào Tuế Phá đứng lẻ khỏi bộ này. Vì vậy hễ cung nào có Tuế Phá thì tam phương của cung ấy chắc chắn có Tang Môn và Điếu Khách chiếu về, đây là bộ sao mà người xưa gọi chung là bộ tang khốc, chủ buồn phiền, tin dữ và lời ra tiếng vào.
  5. Tuế Phá luôn nằm trong cùng tam hợp với Thiên Mã. Đối chiếu đủ mười hai tuổi thì khoảng cách giữa Tuế Phá và Thiên Mã chỉ nhận ba giá trị không, bốn và tám, đều là các thế hội chiếu. Với bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi thì hai sao đồng cung; tám tuổi còn lại thì tam hợp chiếu. Nói cách khác, cái xung của Tuế Phá luôn có chân ngựa đi kèm, nên nó thiên về dịch chuyển và thay đổi hơn là đứng yên chịu đựng. Đây là chỗ Thầy dựa vào để nói năm Tuế Phá là năm đổi chỗ chứ không phải năm tai họa.
  6. Tuế Phá vĩnh viễn không đồng cung với chín sao sau đây: Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tướng Tinh, Vong Thần, Cô Thần, Quả Tú. Chạy đủ mười hai tuổi thì khoảng cách giữa Tuế Phá và mỗi sao trong danh sách ấy không bao giờ bằng không. Cụ thể, Tuế Phá cách Đào Hoa và Kiếp Sát một, năm hoặc chín cung; cách Hoa Cái và Tướng Tinh hai, sáu hoặc mười cung; cách Hồng Loan và Thiên Hỷ luôn một số lẻ; cách Cô Thần ba tới năm cung và cách Quả Tú bảy tới chín cung. Ai luận cho quý vị một lá số có Tuế Phá ngồi cùng Đào Hoa hay cùng Hồng Loan thì lá số ấy đã an sai.
  7. Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Tuế Phá. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Tuế Phá thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, ở bất cứ cung nào trong mười hai cung, và cung ấy cũng có thể trống không có chính tinh nào. Vậy nên cái quyết định sắc thái của Tuế Phá là chính tinh nào ngồi cùng, chứ không phải chính tinh nào được phép ngồi cùng.

Tuế Phá và Thiên Hư: một cặp không tách ra được

Suy luận Trong bảng ở trên quý vị thấy cột Tuế Phá và cột Thiên Hư giống nhau từng dòng. Đó không phải trùng hợp mà là hệ quả toán học của hai công thức an sao. Thiên Hư thuộc bộ Khốc Hư, chủ sự trống trải, thiếu vắng, lo nghĩ không thành lời. Tuế Phá chủ sự va chạm, phá vỡ, hao tán. Hai khí ấy chồng lên nhau tại cùng một cung, đủ mười hai tuổi, nên cái tượng thật của cung Tuế Phá là một cái đổ vỡ để lại chỗ trống, chứ không phải một cái đổ vỡ ồn ào rồi thôi.

Kinh nghiệm Thầy thấy chỗ này rất hay ứng khi luận cung Phu Thê và cung Điền Trạch. Người có Tuế Phá tại Phu Thê thường không kể chuyện cãi vã to tiếng, mà kể chuyện hai người ở cạnh nhau mà thấy xa nhau, nói với nhau mà không tới. Người có Tuế Phá tại Điền Trạch hay có cảm giác nhà không phải nhà mình, ở đâu cũng như đang tạm. Cái ấy là Thiên Hư nói chứ không phải Tuế Phá nói, nhưng vì hai sao dính nhau nên trên thực tế phải đọc gộp.

Suy luận Thêm một chi tiết đáng nhớ. Thiên Khốc an bằng cung Ngọ trừ đi chỉ số chi năm sinh, còn Thiên Hư là cung Ngọ cộng vào. Vì vậy chỉ hai tuổi Tý và Ngọ mới có Khốc Hư trùng nhau, và khi ấy cả ba sao Tuế Phá, Thiên Khốc, Thiên Hư dồn vào đúng một cung. Với người tuổi Tý thì ba sao ấy cùng ở Ngọ, với người tuổi Ngọ thì cùng ở Tý. Đây là hai tuổi mà cung Tuế Phá nặng nhất trong cả mười hai tuổi, và cũng là hai tuổi mà Thầy dặn phải luận cung ấy cho kỹ, đừng lướt qua.

Những sao luôn kề bên và những sao không bao giờ gặp

Suy luận Vì cả vòng Thái Tuế cùng an theo một tham số nên quan hệ trong vòng là quan hệ cứng. Cung liền trước Tuế Phá luôn là Tử Phù, cung liền sau luôn là Long Đức. Nghĩa là Tuế Phá luôn bị giáp bởi một bại tinh và một phúc tinh, không bao giờ bị giáp bởi hai hung tinh, cũng không bao giờ được giáp bởi hai cát tinh. Thế giáp của Tuế Phá vì vậy luôn là thế nửa nọ nửa kia, và ai nói lá số của quý vị có Tuế Phá bị hung tinh giáp hai bên trong vòng Thái Tuế thì người ấy chưa nắm cấu trúc vòng.

Suy luận Hai sao Tứ Đức cũng có vị trí cố định so với Tuế Phá. Nguyệt Đức an tại chi năm sinh cộng năm cung, tức trùng đúng cung Tử Phù, nên Nguyệt Đức luôn ở cung liền trước Tuế Phá. Thiên Đức an tại chi năm sinh cộng chín cung, tức trùng đúng cung Phúc Đức của vòng, cách Tuế Phá ba cung nên không hội chiếu. Kết quả là sự cứu giải dành cho Tuế Phá bao giờ cũng đến từ bên cạnh chứ không đến từ chính diện: Long Đức và Nguyệt Đức kẹp hai bên, còn tam phương của nó thì chỉ có Tang Môn với Điếu Khách, toàn sao cùng loại buồn.

Kinh nghiệm Đây là điều Thầy hay nói với học trò: đọc Tuế Phá đừng đi tìm cứu tinh trong tam phương, vì cấu trúc vòng đã định là tam phương của nó không có phúc tinh nào. Cứu giải phải tìm ở ba chỗ khác, là chính tinh miếu vượng ngồi cùng cung, là Tứ Hóa của lá số bay vào cung ấy, và là các sao ngoài vòng Thái Tuế như Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Khoa. Ba chỗ ấy mới quyết định cung Tuế Phá nặng hay nhẹ.

3 Cách An Và Vị Trí Của Tuế Phá Trong Lá Số

Tuế Phá ở cung xung đối Thái TuếẢnh minh họa cập nhật sau Cách an vòng Thái Tuế và vị trí Tuế Phá
Tuế Phá ở cung xung đối Thái Tuế

Vòng Thái Tuế gồm mười hai sao an theo chi của năm sinh. Người ta khởi sao Thái Tuế đặt vào cung cùng tên với chi năm sinh, rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Mỗi cung nhận đúng một sao của vòng này.

Tuế Phá được an ở cung xung đối Thái Tuế, tức đối đỉnh qua tâm địa bàn. Cả vòng an theo chi năm sinh nên vị trí Tuế Phá cố định theo tuổi, luôn đối diện cung an Thái Tuế.

4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Tuế Phá chủ xung khắc, phá hao, biến độngẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và ý nghĩa của Tuế Phá
Tuế Phá chủ xung khắc, phá hao, biến động

Tuế Phá mang khí xung khắc và phá hao. Vì đứng ở thế đối đỉnh với Thái Tuế, nó tượng cho sự va chạm, đối nghịch, những việc dễ đổ vỡ, hao tổn, biến động trong lĩnh vực cung nó đóng.

Là hung tinh nhỏ, Tuế Phá không gây đại họa một mình, nhưng khi đi cùng Đại Hao, Tiểu Hao, sát tinh và Hóa Kỵ thì sự hao tán và xung khắc rõ rệt hơn. Đây là sao cần lưu ý đặc biệt khi xét vận năm.

5 Vị Trí Của Tuế Phá Trong Vòng Thái Tuế

Kinh văn Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng sao lớn của Tử Vi Đẩu Số, bên cạnh vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm. Riêng vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh và luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác hẳn vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ. Vì thế vòng Thái Tuế là vòng dễ kiểm nhất và cũng là vòng mà mọi khẳng định về khoảng cách đều tính được chắc chắn.

Suy luận Mười hai sao của vòng chia làm ba nhóm theo tính chất. Nhóm cát gồm Thiếu Dương, Thiếu Âm, Long Đức, Phúc Đức. Nhóm hung và bại gồm Tang Môn, Bạch Hổ, Tuế Phá, Tử Phù, Điếu Khách. Nhóm trung tính mang nghĩa quyền và trách nhiệm gồm Thái Tuế, Quan Phù, Trực Phù. Tuế Phá thuộc nhóm thứ hai, xếp là hung tinh nhỏ, hành Hỏa theo Tân Biên.

Vị trí đủ mười hai sao của vòng Thái Tuế theo từng địa chi năm sinh
Tuổi chiThái TuếThiếu DươngTang MônThiếu ÂmQuan PhùTử PhùTuế PháLong ĐứcBạch HổPhúc ĐứcĐiếu KháchTrực Phù
SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
SửuSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
DầnDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
MãoMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDần
ThìnThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMão
TỵTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
NgọNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
MùiMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọ
ThânThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
DậuDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThân
TuấtTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậu
HợiHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất

Tuế Phá đứng thứ bảy, cách Thái Tuế sáu cung

Suy luận Chạy thuật toán an vòng thì Tuế Phá là sao thứ bảy trong mười hai sao, ứng với khoảng cách sáu cung tính thuận từ Thái Tuế. Sao đứng liền trước nó là Tử Phù, sao đứng liền sau là Long Đức. Sáu là nửa vòng, nên vị trí thứ bảy này là vị trí duy nhất trong vòng nằm đối đỉnh với sao chủ vòng. Cái tên Tuế Phá vì vậy không phải một lời dọa mà là một mô tả hình học: nó là chỗ mà trục Thái Tuế chạm vào bờ bên kia của địa bàn.

Suy luận Bốn quan hệ cố định của Tuế Phá trong vòng, tính bằng máy và đúng với cả mười hai tuổi:

  • Xung chiếu: Thái Tuế, luôn luôn, không ngoại lệ.
  • Tam hợp chiếu: Tang Môn ở một đầu, Điếu Khách ở đầu kia. Ba sao cách đều nhau bốn cung.
  • Giáp hai bên: Tử Phù bên trước, Long Đức bên sau.
  • Không bao giờ hội chiếu trong vòng: Thiếu Dương, Thiếu Âm, Quan Phù, Bạch Hổ, Phúc Đức, Trực Phù. Sáu sao này cách Tuế Phá một, ba, năm, bảy, chín hoặc mười một cung, toàn số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần số chẵn.

Kinh nghiệm Điều thứ tư đáng nhớ hơn ba điều trên. Nó nói rằng Tuế Phá không bao giờ được Phúc Đức hay Long Đức chiếu về bằng tam hợp, hai phúc tinh mạnh nhất của vòng, mà chỉ có Long Đức đứng sát cạnh theo thế giáp. Sách vở hay khuyên gặp Tuế Phá thì tìm Long Đức Phúc Đức để giải, câu ấy đúng ý nhưng dễ làm người đọc hiểu lầm là hai sao ấy sẽ chiếu về. Không có chuyện đó. Chúng chỉ có thể đứng cạnh hoặc đứng xa, và cái đỡ mà chúng cho là cái đỡ của hàng xóm, không phải cái đỡ của người trong nhà.

Bốn tam hợp của vòng, và vì sao phải đọc cả vòng

Suy luận Mười hai sao của vòng chia thành đúng bốn nhóm tam hợp, mỗi nhóm ba sao cách đều nhau bốn cung, và bốn nhóm ấy cố định trên mọi lá số:

Bốn nhóm tam hợp cố định của vòng Thái Tuế và tính chất của từng nhóm
Nhóm tam hợpBa saoTính chất chung của nhóm
Nhóm mộtThái Tuế, Quan Phù, Bạch HổDanh phận, tiếng nói, pháp lý, uy mãnh. Người xưa gọi là bộ Tuế Hổ Phù.
Nhóm haiThiếu Dương, Tử Phù, Phúc ĐứcKhí sáng dần, có phúc đỡ, nhưng Tử Phù xen vào nên vẫn có phần hao.
Nhóm baTuế Phá, Tang Môn, Điếu KháchVa chạm, buồn phiền, tin dữ, lời ra tiếng vào. Nhóm nặng nhất của vòng.
Nhóm bốnThiếu Âm, Long Đức, Trực PhùKhí ẩn mà lành, có che chở, hợp với việc âm thầm.

Suy luận Nhìn bảng này thì thấy ngay một điều: Tuế Phá rơi vào nhóm tam hợp duy nhất không có một phúc tinh nào. Tang Môn là bại tinh chủ tang chế, Điếu Khách là hung tinh nhỏ chủ tin dữ và lời điếu, cộng thêm Tuế Phá chủ va chạm. Ba sao ấy chiếu nhau thành một tam giác mà cổ nhân gọi là tam giác tang khốc. Đây là lý do vì sao cung có Tuế Phá thường được luận nặng hơn cảm giác mà cái tên của nó gợi ra.

Kinh nghiệm Nhưng cũng chính bảng này cho một cách đọc cân bằng hơn. Vì mười hai cung nhận đủ mười hai sao nên trong bất cứ lá số nào, bốn nhóm tam hợp trên đều có mặt đủ. Cung Mệnh của quý vị chắc chắn thuộc về một trong bốn nhóm ấy, và ba cung tam phương của Mệnh chắc chắn nhận đủ ba sao của cùng một nhóm. Cho nên khi thấy Tuế Phá ở một cung, việc phải làm không phải là lo cho riêng cung ấy, mà là xác định xem cung Mệnh và cung hạn của mình đang nằm ở nhóm nào. Nếu Mệnh thuộc nhóm ba thì cả đời sống trong khí tang khốc, phải luận theo lối khác hẳn người có Mệnh thuộc nhóm một hay nhóm bốn.

Suy luận Còn một hệ quả nữa ít người nói. Vì vòng Thái Tuế phủ kín mười hai cung nên không ai không có Tuế Phá. Câu hỏi đúng không phải là lá số tôi có Tuế Phá hay không, mà là Tuế Phá của tôi rơi vào cung chức nào và cung ấy có chính tinh gì. Ai nói với quý vị rằng lá số của quý vị may mắn vì không có Tuế Phá thì người ấy chưa từng an đủ một vòng Thái Tuế.

Tuế Phá đứng cùng cung với chính tinh đang hóa

Suy luận Nói rõ một câu để quý vị khỏi mất công tìm: Tuế Phá không nằm trong bảng Tứ Hóa. Đối chiếu đủ mười thiên can trên bảng mà máy chủ thayungkhiem.vn dùng để an sao, cả Nam phái lẫn Bắc phái, danh sách sao được hóa chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở dị bản Bắc phái tuổi Nhâm. Tuế Phá không có mặt. Vậy nên không có chuyện tuổi này Tuế Phá hóa Kỵ, tuổi kia Tuế Phá hóa Quyền.

Suy luận Nhưng Tứ Hóa vẫn chạm tới nó, qua chính tinh ngồi cùng cung. Bốn cách đọc:

  • Chính tinh đồng cung hóa Lộc. Lộc là dòng chảy vào. Cung Tuế Phá có Lộc thì cái va chạm ấy sinh lợi: đổi việc mà lương cao hơn, bán đi mà được giá, cãi nhau xong thì rành mạch được quyền lợi. Đây là thế nhẹ nhất trong bốn thế.
  • Chính tinh đồng cung hóa Quyền. Quyền là cái nắm. Cung Tuế Phá có Quyền thì cái xung biến thành thế chủ động: chính mình là người ra tay phá bỏ cái cũ chứ không phải bị phá. Thầy hay gặp thế này ở người tự xin nghỉ việc, tự dỡ nhà xây lại, tự đứng ra chia tách công việc làm ăn.
  • Chính tinh đồng cung hóa Khoa. Khoa là sao giải, là tiếng thơm. Cung Tuế Phá có Khoa thì việc đổ vỡ vẫn xảy ra nhưng giữ được thể diện và giữ được người: chia tay mà không thù, nghỉ việc mà chỗ cũ vẫn quý. Trong bốn hóa thì đây là hóa hợp với Tuế Phá nhất.
  • Chính tinh đồng cung hóa Kỵ. Kỵ là cái vướng, cái dính. Tuế Phá chủ đứt, Hóa Kỵ chủ dính, hai khí ngược nhau dồn vào một cung nên sinh ra thế dằng dai: dứt mà không dứt được, bỏ rồi lại quay lại, kiện tụng kéo dài, nợ trả mãi chưa xong. Kinh nghiệm Đây là thế mà Thầy luận nặng nhất, và cũng là thế duy nhất trong bốn thế mà Thầy khuyên nên nhờ người ngoài đứng ra làm trung gian, vì tự hai bên gỡ thường không xong.

Suy luận Ngoài Tứ Hóa bản mệnh còn phải xét Tứ Hóa của đại vận và của lưu niên bay vào cung có Tuế Phá. Nguyên tắc đọc giống hệt bốn dòng trên, chỉ khác ở chỗ hiệu lực giới hạn trong mười năm hoặc trong một năm. Cùng một cung Tuế Phá, mười năm này nhận Hóa Khoa của đại vận thì êm, mười năm sau nhận Hóa Kỵ của đại vận thì nặng, mà bản thân ngôi sao không hề đổi chỗ.

6 Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung

Tuế Phá đóng ở cung nào thì gợi sự xung khắc, biến động hoặc hao tổn ở lĩnh vực đó.

CungÝ nghĩa khi có Tuế Phá
MệnhNgười dễ gặp va chạm, đối nghịch; năm xung thì nhiều thay đổi.
Tài BạchLưu ý hao tán, chi tiêu ngoài dự tính, tránh đầu tư mạo hiểm.
Phu ThêVợ chồng dễ xung khắc, bất đồng; cần nhường nhịn.
Thiên DiĐi xa dễ gặp trục trặc; cẩn trọng khi dịch chuyển.

7 Tuế Phá Tại Đủ Mười Hai Cung Chức

Suy luận Tuế Phá an được cả mười hai cung nên không có cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng, xin nhớ hai điều đã chứng ở mục cấu trúc, vì mỗi dòng dưới đây thực ra đang nói về một trục chứ không phải một cung: cung nào có Tuế Phá thì cung đối diện chắc chắn có Thái Tuế, và cung ấy chắc chắn có Thiên Hư ngồi cùng. Cột giữa là khi Tuế Phá gặp chính tinh miếu vượng hoặc gặp cát tinh, cột phải là khi nó gặp sát tinh, Hóa Kỵ hoặc chính tinh hãm địa.

Ý nghĩa của Tuế Phá tại từng cung chức, khi gặp cát tinh và khi gặp hung tinh
CungTuế Phá gặp cát, có chính tinh vữngTuế Phá gặp hung, sát tinh hoặc Hóa Kỵ
MệnhNgười không chịu ngồi yên trong khuôn cũ, hay là người khởi xướng thay đổi trong nhà và trong nhóm. Thái Tuế ở Thiên Di nên tiếng nói của mình vang ra ngoài, đi xa dễ được biết tới.Hay đối đầu, nói trước nghĩ sau, dễ mất lòng người trên. Thiên Hư đồng cung làm sinh cảm giác thiếu chỗ dựa, càng thiếu càng muốn chứng tỏ.
Huynh ĐệAnh em bạn bè mỗi người một hướng nhưng vẫn giữ được tình, tách ra làm riêng mà không bỏ nhau.Dễ có chuyện chia tách vì tiền hoặc vì lời nói. Hùn hạp với anh em ruột nên có giấy tờ rõ ràng ngay từ đầu.
Phu ThêVợ chồng có tính cách trái nhau mà bù được cho nhau, hay tranh luận mà không thù, thường là hai người mạnh cùng sống chung.Cãi vã lặp lại một chủ đề, hoặc lặng lẽ xa nhau, đây là chỗ Thiên Hư nói rõ nhất: ở cạnh nhau mà thấy trống. Hôn nhân xa quê hoặc muộn thì đỡ hơn.
Tử TứcCon cái có chính kiến, sớm tự lập, không đi theo con đường cha mẹ vạch mà vẫn nên người.Khó dạy theo lối áp đặt, dễ có giai đoạn xa cách; cũng ứng vào việc sinh nở trắc trở hoặc con đi học xa sớm.
Tài BạchTiền vào ra nhanh nhưng có chỗ dùng, hợp nghề buôn bán, môi giới, việc theo mùa vụ, việc phải xoay dòng vốn.Hao ngoài dự tính, tiền tới rồi đi mất dấu, dễ mất vì bảo lãnh và cho vay. Gặp thêm Đại Hao Tiểu Hao thì hao thành nếp, phải quản bằng sổ sách chứ không quản bằng trí nhớ.
Tật ÁchSức khỏe theo kiểu lúc trồi lúc sụt mà không thành bệnh nặng; chú ý điều độ là giữ được.Bệnh do va đập, tai nạn giao thông, chấn thương khi vận động, và các chứng liên quan tới thần kinh, mất ngủ, lo âu; phần lo âu là do Thiên Hư đồng cung, đừng bỏ qua.
Thiên DiRa ngoài gặp cạnh tranh mà lớn lên nhờ cạnh tranh; hợp người làm nghề phải đi, phải giao dịch, phải thương lượng.Đi xa hay trục trặc giấy tờ, phương tiện, lịch trình; dễ va chạm với người lạ. Thái Tuế lúc này ở Mệnh nên mình hay là bên nói trước.
Nô BộcBạn bè thay đổi theo từng chặng đời, ai đi ai ở đều tự nhiên, không nợ nần tình cảm.Dễ bị nói sau lưng, dễ mất bạn vì tiền; người giúp việc, cấp dưới hay thay đổi liên tục.
Quan LộcSự nghiệp đi bằng những lần chuyển hướng chứ không đi bằng thâm niên; hợp nghề cải tổ, xây dựng lại, xử lý việc hỏng.Hay bị đổi vị trí ngoài ý muốn, dự án dở dang, đồng nghiệp cạnh tranh ngầm. Gặp Hóa Kỵ thì thêm chuyện kiện tụng hợp đồng.
Điền TrạchNhà cửa có sửa có đổi mà mỗi lần đổi một khá hơn; hợp người mua bán bất động sản, sửa nhà rồi bán.Ở không yên một chỗ, chuyển nhà nhiều lần, nhà có chỗ hỏng phải chữa đi chữa lại; cảm giác không thuộc về nơi mình ở.
Phúc ĐứcTinh thần ưa cái mới, không sợ bỏ cái cũ; tuổi càng lớn càng nhẹ nhõm vì đã quen với đổi thay.Hay nghĩ ngợi ban đêm, khó an trong lòng dù ngoài đời không thiếu gì; đây là cung mà Thiên Hư nặng nhất trong mười hai cung.
Phụ MẫuCha mẹ có chính kiến, mình với cha mẹ hay tranh luận nhưng thân; sớm ra ở riêng mà tình vẫn dày.Xa cách cha mẹ sớm, hoặc trong nhà có chuyện phân chia; lưu ý sức khỏe người trên vào các năm lưu Tuế Phá chạm cung này.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này. Thầy dặn ba bước, làm đúng thứ tự thì không sai. Bước một, đừng đọc ô nào cả cho tới khi biết chính tinh của cung. Tuế Phá là phụ tinh nhỏ, nó chỉ tô màu cho chính tinh chứ không tự vẽ ra bức tranh. Cung Tuế Phá có Thiên Phủ hay Thiên Tướng thì cái xung ấy có kho có tướng đỡ, đọc theo cột trái; cùng cung ấy mà là Phá Quân hãm gặp Kình Dương thì đọc theo cột phải. Bước hai, xem cung đối diện. Cung đối diện luôn là Thái Tuế, mà Thái Tuế là sao chủ danh phận và tiếng nói, nên mọi việc ở cung Tuế Phá đều có phần liên quan tới thể diện và lời qua tiếng lại. Bước ba, mới xét tới tam hợp Tang Môn Điếu Khách và các sát tinh ngoài vòng. Ai làm ngược thứ tự, nhìn thấy chữ Tuế Phá rồi phán ngay, thì mười lần sai bảy.

Kinh nghiệm Thêm một mẹo nhỏ mà rất hiệu quả: đọc cặp cung chứ đừng đọc lẻ. Vì Tuế Phá và Thái Tuế luôn đối nhau nên chúng luôn rơi vào một trong sáu cặp cung chức đối xứng: Mệnh với Thiên Di, Huynh Đệ với Nô Bộc, Phu Thê với Quan Lộc, Tử Tức với Điền Trạch, Tài Bạch với Phúc Đức, Tật Ách với Phụ Mẫu. Biết Tuế Phá ở đâu là biết luôn Thái Tuế ở đâu, và câu chuyện của đương số thường nằm ở chỗ giằng co giữa hai đầu ấy chứ không nằm ở một đầu.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thấy rõ nhưng còn khoảng cách nên còn kịp trở tay. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, nặng khi cả hai bên là sát tinh và rất nhẹ khi chỉ một bên. Riêng với Tuế Phá thì cấu trúc đã khóa sẵn mấy thế: Thái Tuế chỉ có thể xung chiếu, Thiên Hư chỉ có thể đồng cung, Tang Môn và Điếu Khách chỉ có thể tam hợp chiếu, Long Đức và Tử Phù chỉ có thể giáp. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.

Tuế Phá dịu đi khi gặp

  • Chính tinh miếu vượng đồng cung (đồng cung, mạnh nhất): Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thái Dương sáng, Thiên Lương. Có gốc vững thì cái xung thành cải tổ có kiểm soát. Đây là điều kiện quan trọng hơn mọi phúc tinh.
  • Hóa Khoa (đồng cung nặng nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn có tác dụng): sao giải hợp với Tuế Phá nhất, giữ được thể diện và giữ được người khi việc đổ vỡ.
  • Long Đức (chỉ có thế giáp, không bao giờ đồng cung hay chiếu): đứng liền sau Tuế Phá trên mọi lá số, làm cái đỡ bên cạnh. Có giá trị thật nhưng đừng trông đợi quá, vì thế giáp một bên là thế nhẹ.
  • Nguyệt Đức (chỉ có thế giáp, luôn ở cung liền trước, cùng cung Tử Phù): cùng với Long Đức kẹp hai bên Tuế Phá, tạo thành thế được hai phúc khí ôm ngoài.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, không cố định vì an theo can năm): có quý nhân đứng ra dàn xếp, rất hợp với các việc va chạm giấy tờ và kiện tụng.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu, an theo tháng sinh): có người đỡ tay khi phải làm lại từ đầu; Tuế Phá sợ nhất là phải xoay xở một mình.
  • Thiên Mã (đồng cung với bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi; tam hợp chiếu với tám tuổi còn lại): biến cái phá thành cái đi, đổi chỗ thay vì đổ vỡ. Đây là quan hệ cố định, ai cũng có ở một trong hai mức.
  • Hóa Lộc của chính tinh đồng cung (đồng cung): cuộc thay đổi có lợi ích thật đi kèm, không phải thay đổi suông.

Tuế Phá nặng thêm khi gặp

  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): dứt mà không dứt được, việc kéo dài, kiện tụng dây dưa. Thế nặng nhất của Tuế Phá.
  • Đại Hao, Tiểu Hao (đồng cung hoặc tam hợp chiếu, an theo vòng Bác Sĩ nên không cố định): phá cộng với hao thì tiền ra không có dấu vết, đây là tổ hợp Tân Biên nhắc thẳng.
  • Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất, giáp hai bên cũng nặng): Kình làm việc gãy nhanh và gãy đau, Đà làm việc dây dưa không dứt. Giáp Kình Đà mà giữa là Tuế Phá thì phải luận rất dè dặt.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung hoặc chiếu): thêm phần đột ngột, việc xảy ra không kịp trở tay.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp, giáp còn nặng hơn chiếu): cái mất không lấy lại được; thế này kỵ nhất ở cung Tài Bạch và Điền Trạch.
  • Tang Môn, Điếu Khách (chỉ có thế tam hợp chiếu, mọi tuổi đều có): bộ tang khốc thành đủ. Không tránh được nên đừng lo về việc có, chỉ cần xem ba cung ấy có chính tinh vững hay không.
  • Bạch Hổ (không bao giờ đồng cung, không bao giờ chiếu, chỉ có thể cách hai cung): nhắc ở đây để quý vị biết đây là thế không tồn tại; ai luận Tuế Phá hội Bạch Hổ là đã sai cấu trúc.
  • Tuần, Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): với hung tinh nhỏ như Tuế Phá thì Tuần Triệt lại thường có lợi, che bớt cái xung; nhưng nếu cung ấy đang có chính tinh sáng thì cái tốt cũng bị che theo, phải cân nhắc cả hai mặt.

Tuế Phá là thế đối đỉnh của Thái Tuế, nhắc về sự va chạm và biến động. Có phúc tinh và chính tinh vững thì cái xung ấy thành thay đổi có kiểm soát; gặp Hao và sát tinh thì cần thận trọng giữ của giữ hòa khí.

9 Tuế Phá Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Suy luận Mọi mục phía trên nói về Tuế Phá tĩnh: nó nằm ở cung nào, đi với sao nào. Mục này nói về Tuế Phá động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào. Đây cũng là chỗ mà cái tên của nó gây hiểu lầm nhiều nhất, nên Thầy viết kỹ.

Đại vận đi vào cung có Tuế Phá

Kinh nghiệm Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Tuế Phá bản mệnh, cả mười năm ấy mang một sắc thái chung: đây là quãng đời mà cái cũ phải bỏ đi để cái mới vào. Không phải mười năm tai họa, mà là mười năm dời đổi. Thầy thấy quãng này rất hay ứng vào ba loại việc: đổi nghề hoặc đổi nơi làm, đổi chỗ ở, và sắp xếp lại các quan hệ thân thiết. Người biết trước mà chủ động thì mười năm ấy là mười năm lột xác; người bị động thì thành mười năm bị đẩy.

Suy luận Ba điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Tuế Phá. Thứ nhất, vì Thái Tuế luôn ở cung xung nên đại vận vào cung Tuế Phá đồng thời bị Thái Tuế bản mệnh chiếu thẳng về; nghĩa là cả trục danh phận bị kích hoạt, chuyện mười năm ấy thường có phần liên quan tới thể diện, tới việc mình được nhìn nhận thế nào. Thứ hai, phải xem cung đại vận ấy là cung chức gì trên lá số gốc, vì Tuế Phá ở cung Tài thì bàn về tiền, ở cung Phu Thê thì bàn về người bạn đời, hai chuyện khác hẳn nhau. Thứ ba, phải xem Tứ Hóa của đại vận có bay vào cung ấy không, nhất là Hóa Kỵ của đại vận.

Kinh nghiệm Trường hợp nhẹ nhất mà Thầy hay gặp là đại vận vào cung Tuế Phá có chính tinh miếu vượng và có Hóa Lộc hoặc Hóa Khoa của đại vận. Mười năm ấy đương số thường bỏ một việc lớn để làm một việc lớn hơn, và về sau nhìn lại đều nói đó là quyết định đúng. Trường hợp nặng nhất là đại vận vào cung Tuế Phá mà cung ấy có Hóa Kỵ đại vận cộng thêm Kình Dương hoặc Đà La. Khi ấy Thầy khuyên đừng khởi sự lớn trong nửa đầu đại vận, dùng nửa đầu để dọn dẹp cho gọn, dành sức cho nửa sau.

Bản lưu niên của Tuế Phá: có, và đây là cách tính

Suy luận Câu hỏi phải trả lời dứt khoát: vòng Thái Tuế có bản lưu niên. Đây là điểm khác biệt lớn giữa vòng này với vòng Tràng Sinh và với các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh. Vòng Tràng Sinh an theo Cục, mà Cục là con số cố định của một lá số, không đổi theo năm, nên nó không có bản lưu. Tả Phụ Hữu Bật an theo tháng sinh, Văn Xương Văn Khúc an theo giờ sinh, hai tham số ấy cũng cố định suốt đời nên cũng không có bản lưu. Riêng vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh, mà mỗi năm lại có một chi mới, nên cứ mỗi năm là an lại được một vòng Thái Tuế mới cho năm ấy, gọi là vòng lưu Thái Tuế. Vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu theo cách tương tự, vì nó bám vào Lộc Tồn mà Lộc Tồn thì an theo can năm.

Suy luận Cách tính lưu Tuế Phá vì thế rất gọn: lấy cung mang tên chi của năm đang xem làm lưu Thái Tuế, rồi cộng sáu cung ra lưu Tuế Phá, tức cung xung với chi của năm. Bảng dưới đây tính sẵn mười hai năm tới để quý vị đối chiếu thẳng với lá số của mình.

Vị trí lưu Thái Tuế, lưu Tuế Phá, lưu Tang Môn và lưu Điếu Khách của mười hai năm tới
NămLưu Thái TuếLưu Tuế PháLưu Tang MônLưu Điếu Khách
2026 Bính NgọNgọThânThìn
2027 Đinh MùiMùiSửuDậuTỵ
2028 Mậu ThânThânDầnTuấtNgọ
2029 Kỷ DậuDậuMãoHợiMùi
2030 Canh TuấtTuấtThìnThân
2031 Tân HợiHợiTỵSửuDậu
2032 Nhâm TýNgọDầnTuất
2033 Quý SửuSửuMùiMãoHợi
2034 Giáp DầnDầnThânThìn
2035 Ất MãoMãoDậuTỵSửu
2036 Bính ThìnThìnTuấtNgọDần
2037 Đinh TỵTỵHợiMùiMão

Kinh nghiệm Bảng này dùng được ngay theo ba cách. Cách một, tra xem lưu Tuế Phá của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc của quý vị; đó là lĩnh vực chịu khí va chạm trong năm ấy. Cách hai, xem lưu Tuế Phá có trùng đúng cung có Tuế Phá bản mệnh không; nếu trùng thì đó là năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, tức năm bản mệnh, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Cách ba, xem lưu Thái Tuế của năm có rơi đúng vào cung có Tuế Phá bản mệnh không; đó chính là năm xung Thái Tuế mà dân gian hay nhắc, xảy ra khi chi của năm xung với chi năm sinh, cũng mười hai năm một lần và lệch sáu năm so với năm bản mệnh.

Kinh nghiệm Thầy nói rõ một điều về năm xung để quý vị đỡ lo. Trong hai loại năm ấy, năm bản mệnh và năm xung, cái khác nhau không nằm ở chỗ năm nào xấu hơn, mà nằm ở chỗ sức ép đến từ đâu. Năm bản mệnh thì lưu Thái Tuế đè lên chính cung mang chi của mình, sức ép đến từ bên trong, từ chính danh phận và trách nhiệm của mình. Năm xung thì lưu Thái Tuế đè lên cung đối diện, sức ép đến từ bên ngoài, từ người khác, từ hoàn cảnh. Người hiểu chỗ này thì năm xung biết là năm nên nhường và nên đi, năm bản mệnh biết là năm nên đứng và nên nhận.

Các lưu sao chạm vào cung Tuế Phá

Suy luận Ngoài lưu Tuế Phá còn năm nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Tuế Phá bị chạm trong một năm cụ thể:

  • Lưu Tang Môn và lưu Điếu Khách, an cùng vòng, luôn tam hợp với lưu Tuế Phá. Năm nào cả ba cùng phủ lên tam phương của một cung quan trọng thì cung ấy chịu khí tang khốc rõ, nên giữ gìn sức khỏe người thân và tránh việc hiếu hỷ trùng lặp.
  • Lưu Bạch Hổ, cách lưu Thái Tuế tám cung. Lưu Bạch Hổ không bao giờ chồng lên lưu Tuế Phá vì hai sao cách nhau hai cung, nhưng chúng có thể cùng phủ lên hai cung liền kề, khi ấy phải xét cả hai.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm qua lưu Lộc Tồn. Năm nào lưu Kình hoặc lưu Đà rơi đúng vào cung có Tuế Phá bản mệnh thì đó là năm cần cẩn thận nhất trong mười hai năm, vì hung tinh của năm chồng lên hung tinh của mệnh.
  • Lưu Hóa Kỵ của năm, tính theo can năm. Đây là dấu hiệu Thầy coi trọng hơn cả bản thân lưu Tuế Phá: Hóa Kỵ bay vào cung Tuế Phá là thế dằng dai đã nói ở mục trên, chỉ khác là hiệu lực gói trong một năm.
  • Lưu Thiên Mã, an theo tam hợp chi của năm. Lưu Mã chạm cung Tuế Phá thì cái xung của năm thiên hẳn về dịch chuyển: đổi nơi ở, đi công tác dài, chuyển việc. Đây thường là dấu hiệu lành hơn là dữ.

Kinh nghiệm Nguyên tắc cuối cùng của mục này, và Thầy mong quý vị nhớ đúng câu chữ: một sao lưu chạm vào chưa nói được gì, phải có ít nhất ba dấu hiệu cùng chỉ về một cung thì mới đáng nói. Lưu Tuế Phá tự nó là một dấu hiệu rất nhẹ, vì năm nào cũng có, ai cũng có, và nó luôn đi qua đủ mười hai cung trong mười hai năm. Đếm đủ ba dấu rồi hãy kết luận, đó là kỷ luật của nghề.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tuế Phá

Suy luận Tuế Phá là một trong những cái tên gây sợ nhất trong bộ 121 sao, ngang với Tang Môn, Bạch Hổ, Kiếp Sát và Đại Hao. Chữ phá nằm ngay trong tên nên người đọc thấy là lo. Mục này Thầy viết để trả nó về đúng kích thước thật.

Hiểu lầm một: có Tuế Phá là năm ấy sẽ đổ vỡ

Kinh văn Sách nói gì: Tân Biên xếp Tuế Phá là hung tinh nhỏ thuộc vòng Thái Tuế, hành Hỏa, chủ xung khắc và phá hao. Sách không nói Tuế Phá gây tai họa, không nói Tuế Phá quyết định vận hạn, và không có câu nào cho phép luận một biến cố lớn chỉ từ ngôi sao này. Suy luận Về cấu trúc thì càng rõ: vòng Thái Tuế phủ kín mười hai cung, nên mọi lá số đều có Tuế Phá và mọi người đều đi qua đủ mười hai cung Tuế Phá lưu niên trong mỗi mười hai năm. Nếu Tuế Phá gây đổ vỡ thì cả loài người cứ mười hai năm lại đổ vỡ một lần theo lịch, điều ấy hiển nhiên không xảy ra.

Kinh nghiệm Cách đọc đúng: Tuế Phá là một điểm cần lưu ý, không phải một lời phán. Nó chỉ ra lĩnh vực mà quý vị dễ gặp va chạm và dễ phải thay đổi, để quý vị chuẩn bị. Trong hàng nghìn lá số Thầy đã xem, cung Tuế Phá gây chuyện thật chỉ khi hội đủ ba điều: chính tinh của cung ấy hãm hoặc yếu, có ít nhất hai sát tinh cùng chầu, và đại vận hoặc lưu niên đang chạm vào đúng cung ấy. Thiếu một trong ba thì thường không thành việc.

Hiểu lầm hai: năm xung Thái Tuế là năm phải cúng sao giải hạn

Suy luận Đây là chỗ lẫn hai hệ thống khác nhau. Thái Tuế và Tuế Phá trong Tử Vi Đẩu Số là hai trong mười hai sao của một vòng an theo chi năm sinh, dùng để phân bố khí trên địa bàn mười hai cung. Thái Tuế trong tín ngưỡng dân gian, gắn với tục cúng sao giải hạn và với lịch La Hầu Kế Đô, là một hệ khác hẳn, có cách tính khác, có danh sách sao khác, và không dùng địa bàn mười hai cung. Hai hệ trùng tên nhưng không trùng nội dung. Bài này chỉ nói về hệ thứ nhất.

Kinh nghiệm Vì vậy, khi nghe câu năm nay tuổi này phạm Thái Tuế, xung Thái Tuế, phải dâng sao, quý vị nên hỏi lại người nói là đang dùng hệ nào. Trong khoa Tử Vi, năm xung Thái Tuế đơn giản là năm mà chi của năm xung với chi năm sinh, và ý nghĩa của nó phải đọc trên cung hạn cụ thể của lá số. Thầy không luận theo lối cúng sao, và cũng không bán dịch vụ giải hạn.

Hiểu lầm ba: Tuế Phá và Phá Quân là một

Suy luận Hai sao khác hẳn nhau về mọi mặt. Phá Quân là một trong mười bốn chính tinh, an theo vị trí Tử Vi, hành Thủy, có bảng miếu vượng đắc hãm riêng, có Tứ Hóa riêng, và đủ sức định hình cả một mệnh cách. Tuế Phá là phụ tinh nhỏ, an theo chi năm sinh, không có Tứ Hóa, không đủ sức định hình mệnh cách. Chúng chỉ giống nhau ở chữ phá trong tên.

Kinh nghiệm Tuy vậy có một chỗ hai sao gặp nhau thật, và chỗ ấy đáng luận. Vì Tuế Phá đồng cung được với mọi chính tinh nên nó hoàn toàn có thể ngồi chung cung với Phá Quân. Khi ấy khí phá cũ dựng mới của Phá Quân cộng với khí va chạm của Tuế Phá làm cung ấy rất động: bỏ nghề, dỡ nhà, chia tách công việc làm ăn đều dễ xảy ra. Nếu Phá Quân lại đang hóa Quyền thì việc phá là do mình chủ động, thường là việc tốt; nếu Phá Quân hãm địa lại gặp thêm sát tinh thì mới đáng lo. Vẫn là nguyên tắc cũ: đọc chính tinh trước, đọc phụ tinh sau.

Hiểu lầm bốn: Tuế Phá và Đại Hao là hai tên của một sao

Suy luận Không phải. Đại HaoTiểu Hao thuộc vòng Bác Sĩ, an bám theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh, và chiều an đổi theo âm dương nam nữ. Tuế Phá thuộc vòng Thái Tuế, an theo địa chi năm sinh, luôn đi thuận. Hai tham số khác nhau nên quan hệ giữa chúng không cố định: có lá số Tuế Phá ngồi cùng Đại Hao, có lá số hai sao cách nhau rất xa, phải xét từng trường hợp chứ không suy ra được.

Kinh nghiệm Chỗ đáng nói là khi chúng gặp nhau thật thì phải luận nặng, vì đó là hai cơ chế hao khác nhau chồng lên: Tuế Phá làm đứt, Đại Hao làm . Một bên là mất một lần rồi thôi, một bên là mất từng ít một mà không thấy. Cung Tài Bạch có đủ hai sao ấy cộng thêm Hóa Kỵ thì Thầy khuyên thật lòng là nên có sổ sách, có người thứ hai kiểm tiền, và đừng đứng tên vay hộ ai.

Suy luận Nói lại cho gọn cả mục này: Tuế Phá là phụ tinh nhỏ, không phán họa từ một sao, và cái tên của nó không phải là điều sẽ xảy ra. Tên sao trong Tử Vi là tên của một loại khí, không phải tên của một sự kiện.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Tuế Phá Qua Ba Bước

Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Giáp Tý, sinh ban ngày, Tử Vi an tại Thân, Mệnh an tại Tý. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng vòng Thái Tuế thì lưới không vẽ, Thầy ghi rõ ra đây để quý vị đối chiếu: tuổi Tý nên Thái Tuế tại Tý, Tuế Phá tại Ngọ, và theo thứ tự vòng thì Thiếu Dương tại Sửu, Tang Môn tại Dần, Thiếu Âm tại Mão, Quan Phù tại Thìn, Tử Phù tại Tỵ, Long Đức tại Mùi, Bạch Hổ tại Thân, Phúc Đức tại Dậu, Điếu Khách tại Tuất, Trực Phù tại Hợi. Mọi vị trí này tra thẳng từ bảng ở mục vòng Thái Tuế, không phải Thầy chọn cho đẹp.

Bước một: Tuế Phá nằm ở cung chức nào và đi với ai

Suy luận Mệnh an tại Tý nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Tý là Mệnh, Hợi là Huynh Đệ, Tuất là Phu Thê, Dậu là Tử Tức, Thân là Tài Bạch, Mùi là Tật Ách, Ngọ là Thiên Di, Tỵ là Nô Bộc, Thìn là Quan Lộc, Mão là Điền Trạch, Dần là Phúc Đức, Sửu là Phụ Mẫu. Vậy Tuế Phá rơi đúng vào cung Thiên Di tại Ngọ, và theo luật bất biến thì Thái Tuế tất phải ở cung xung, tức tại Tý, chính là cung Mệnh. Trục Thái Tuế với Tuế Phá của lá số này vắt qua cặp Mệnh với Thiên Di: bản thân mình một đầu, thế giới bên ngoài một đầu.

Suy luận Cung Thiên Di tại Ngọ có Phá Quân tọa thủ, mà tuổi Giáp thì Phá Quân hóa Quyền. Thêm nữa, tuổi Tý là một trong hai tuổi hiếm mà Thiên Khốc và Thiên Hư cùng dồn về một cung, và cung ấy chính là Ngọ. Cộng lại, cung Thiên Di của lá số này chứa Phá Quân hóa Quyền, Tuế Phá, Thiên Khốc, Thiên Hư. Tam phương của nó là Dần có Tang Môn cùng Thất Sát, và Tuất có Điếu Khách cùng Tham Lang, tức bộ tang khốc thành đủ theo đúng cấu trúc vòng đã nói.

Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì

Suy luận Bốn hóa của tuổi Giáp rải như sau: Liêm Trinh hóa Lộc tại Tý là cung Mệnh, Phá Quân hóa Quyền tại Ngọ là cung Thiên Di, Vũ Khúc hóa Khoa tại Thìn là cung Quan Lộc, Thái Dương hóa Kỵ tại Tỵ là cung Nô Bộc. Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần là cung Phúc Đức, kéo theo Kình Dương tại Mão là Điền Trạch và Đà La tại Sửu là Phụ Mẫu.

Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Mệnh tại Tý có Liêm Trinh hóa Lộc và Thiên Tướng, lại có Thái Tuế tọa thủ: người này có danh phận, nói có người nghe, và cái lộc của đời đến từ chính con người mình. Cung Thiên Di đối diện có Phá Quân hóa Quyền cộng Tuế Phá: ra ngoài là phá, mà là phá có quyền, tức chủ động dỡ bỏ cái cũ ở môi trường bên ngoài chứ không phải bị đẩy. Đây là mẫu người đi xa lập nghiệp, làm những việc phải mở đường, phải cải tổ, phải dọn dẹp chỗ hỏng của người khác. Cái giá phải trả là Thiên Khốc Thiên Hư cùng cung: ra ngoài dễ thấy cô độc, làm được việc mà ít người chia sẻ.

Suy luận Chỗ này minh họa đúng nguyên tắc đã nêu ở mục vòng: không có phúc tinh nào chiếu về cung Tuế Phá, vì tam phương của nó theo cấu trúc chỉ có Tang Môn và Điếu Khách. Long Đức của lá số này nằm ở Mùi là cung Tật Ách, đứng liền cạnh Ngọ, đúng thế giáp mà cấu trúc đã định. Cái đỡ thật sự cho cung Thiên Di ở đây không phải Long Đức mà là Hóa Quyền của Phá Quân, và là cung Mệnh có Hóa Lộc chiếu sang.

Bước ba: vận nào chạm tới

Kinh nghiệm Với lá số này, ba loại năm đáng chú ý. Năm Tý, tức năm bản mệnh, lưu Thái Tuế đè lên cung Mệnh, sức ép đến từ trách nhiệm và danh phận của chính mình. Năm Ngọ, tức năm xung, lưu Thái Tuế đè lên cung Thiên Di nơi có Tuế Phá bản mệnh, sức ép đến từ bên ngoài; theo bảng lưu niên thì năm 2026 Bính Ngọ đúng là một năm như vậy, và năm ấy nên chủ động lo việc đi lại, hợp đồng, quan hệ đối tác cho gọn trước khi nó tự động. Năm Dần và năm Tuất, lưu Thái Tuế rơi vào tam phương của cung Thiên Di, cái động nhẹ hơn nhưng vẫn nên xem lại việc đi xa.

Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi chi năm sang tuổi Ngọ. Cả vòng Thái Tuế quay nửa vòng: Thái Tuế sang Ngọ là cung Thiên Di, Tuế Phá về Tý là cung Mệnh. Bây giờ chính bản thân đương số mang Tuế Phá, còn danh phận thì nằm ở bên ngoài. Đọc ra là người hay tự phá cái mình đang có để làm lại, tính không chịu yên, và cái tiếng của mình do người ngoài đặt cho chứ không do mình dựng. Khốc Hư cũng theo Tuế Phá về Tý vì tuổi Ngọ là tuổi thứ hai có Khốc Hư trùng cung, nên cung Mệnh thành rất nặng, phải xem kỹ chính tinh của cung ấy mới dám luận.
  • Đổi chi năm sang tuổi Dần. Thái Tuế sang Dần là cung Phúc Đức, Tuế Phá sang Thân là cung Tài Bạch. Tuổi Dần lại nằm trong bốn tuổi mà Tuế Phá đồng cung Thiên Mã, nên cung Tài Bạch có cả Tuế Phá lẫn Thiên Mã: tiền của người này đi theo chân, kiếm được nhờ di chuyển và giao dịch, mà cũng hao vì di chuyển. Đây là thế Thầy hay thấy ở người làm thương mại đường dài, làm vận tải, làm môi giới liên tỉnh.
  • Giữ tuổi Giáp Tý, chỉ đổi can sang tuổi Nhâm Tý. Vòng Thái Tuế không đổi một ly vì nó chỉ ăn theo chi, Tuế Phá vẫn ở Ngọ. Nhưng Tứ Hóa đổi hẳn: tuổi Nhâm thì Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Tả Phụ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ, và Lộc Tồn dời sang Hợi kéo Kình Đà theo. Cung Thiên Di có Tuế Phá nay không còn Hóa Quyền đỡ nữa, Phá Quân đứng trơ. Cùng một vị trí sao, cùng một cấu trúc vòng, mà đọc ra hai con người khác nhau. Đó là bằng chứng rõ nhất cho câu Thầy nói ở đầu bài: phụ tinh không tự quyết định điều gì.

Muốn thấy Tuế Phá của chính mình đứng ở cung nào, đi với chính tinh gì, tam phương có những ai, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Tuế Phá trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo các sao hội chiếu của riêng quý vị.

12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Tuế Phá là sao của sự thay đổi bị ép. Cách hóa giải hợp cơ chế của nó không phải là chống lại sự thay đổi, mà là đi trước nó một bước. Thầy chia lời khuyên làm ba nhóm cho gọn.

Nếu Tuế Phá ở cung Mệnh, Thiên Di hoặc Phúc Đức

  • Chủ động chọn cái để bỏ. Người có Tuế Phá ở ba cung này thường cứ vài năm lại thấy cần thay đổi. Nếu tự mình chọn bỏ cái gì thì đó là cải tổ; nếu để hoàn cảnh chọn hộ thì đó là mất mát. Cùng một sự việc, chỉ khác ai là người quyết.
  • Nói ít lại một nhịp khi đang căng. Suy luận Thái Tuế luôn ở cung đối diện, mà Thái Tuế chủ lời nói và danh phận, nên phần lớn rắc rối của người có Tuế Phá bắt đầu từ một câu nói lúc nóng. Hoãn câu trả lời lại một ngày là cách hóa giải rẻ nhất và hiệu quả nhất.
  • Đừng đo đời mình bằng cảm giác trống. Kinh nghiệm Thiên Hư đồng cung làm người ta thấy thiếu ngay cả khi không thiếu. Thầy khuyên đặt ra vài mốc cụ thể đo được, việc làm xong, tiền dành được, người vẫn ở bên, rồi nhìn vào mốc ấy thay vì nhìn vào cảm giác.

Nếu Tuế Phá ở cung Tài Bạch, Điền Trạch hoặc Quan Lộc

  • Quản bằng sổ sách, đừng quản bằng trí nhớ. Cái hao của Tuế Phá là cái hao ngoài dự tính, nên chỉ có ghi chép mới bắt được. Điều này càng đúng khi cung ấy có thêm Đại Hao hoặc Tiểu Hao.
  • Giấy tờ làm rõ từ đầu. Kinh nghiệm Hùn hạp, cho mượn, đứng tên hộ, bảo lãnh, đây là bốn việc mà Thầy khuyên người có Tuế Phá ở cung Tài nên tránh, hoặc nếu buộc phải làm thì phải có văn bản. Tuế Phá không lấy tiền của quý vị, nhưng nó làm những chỗ mập mờ trở thành chỗ vỡ.
  • Chuẩn bị sẵn phương án hai trong nghề nghiệp. Sự nghiệp của người có Tuế Phá ở Quan Lộc thường đi bằng những lần chuyển hướng. Biết trước điều ấy thì mỗi lần chuyển là một bước lên; không biết thì mỗi lần chuyển là một lần hụt.

Nếu Tuế Phá ở cung Phu Thê, Tử Tức hoặc Phụ Mẫu

  • Nói cho hết chuyện, đừng để nguội rồi bỏ đó. Kinh nghiệm Thầy nhắc lại: cái tượng của cung Tuế Phá là đổ vỡ để lại chỗ trống, mà chỗ trống trong quan hệ gia đình phần lớn sinh ra từ những câu chưa nói. Mỗi tuần một buổi ngồi nói chuyện tử tế có sức nặng hơn mọi vật phẩm phong thủy.
  • Chấp nhận khác biệt thay vì thắng cuộc tranh luận. Tuế Phá ở Phu Thê thường ứng vào hai người mạnh, mỗi người một lý. Thắng được lý mà mất người thì cái mất lớn hơn.
  • Với cung Phụ Mẫu, hãy đi trước một bước về sức khỏe. Vào những năm mà lưu Tuế Phá hoặc lưu Tang Môn chạm cung này, việc nên làm rất giản dị là đưa cha mẹ đi khám định kỳ, không phải làm lễ.

Suy luận Nói cho hết ý: không có phép nào đổi được vị trí của Tuế Phá, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là trấn được Tuế Phá, giải được năm xung Thái Tuế, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Trong năm có nhiều biến động, hãy giữ nhà cửa gọn gàng, sửa dứt điểm những chỗ hỏng nhỏ thay vì để dồn, vì đồ hỏng trong nhà làm tâm người ở thêm bất an. Bàn làm việc nên có điểm tựa vững phía sau, tránh ngồi quay lưng ra lối đi. Người phải di chuyển nhiều nên kiểm tra phương tiện trước mỗi chuyến xa, đây là cách phòng thân hợp lý nhất cho một sao mang khí va chạm. Việc giữ giấy tờ có bản sao, hợp đồng có người thứ hai đọc lại, cũng nên coi là một dạng phong thủy của thời nay. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Tuế Phá: hành Hỏa, hung tinh nhỏ thuộc vòng Thái Tuế, chủ xung khắc và phá hao; an theo chi năm sinh, ở cung xung đối với Thái Tuế. Mọi câu gắn thẻ Kinh văn trong bài về tính chất Tuế Phá đều quy về mục này. Sách không lập câu phú riêng cho Tuế Phá, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần luận đại hạn và tiểu hạn: dùng để đối chiếu cách luận vòng Thái Tuế lưu niên và khái niệm năm xung, tức năm mà lưu Thái Tuế đóng vào cung xung với Thái Tuế bản mệnh.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài được sinh và kiểm bằng chương trình chạy đủ mười hai địa chi năm sinh và mười hai thế Tử Vi, đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: bảng vị trí đủ mười hai sao vòng Thái Tuế theo mười hai chi; kết luận Tuế Phá đứng ở vị trí thứ bảy của vòng, cách Thái Tuế sáu cung, đúng mười hai trên mười hai trường hợp; kết luận Tuế Phá luôn đồng cung Thiên Hư và luôn tam hợp Tang Môn cùng Điếu Khách; kết luận Tuế Phá luôn nằm trong tam hợp của Thiên Mã và đồng cung Thiên Mã với bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi; kết luận Tuế Phá không bao giờ đồng cung với Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tướng Tinh, Vong Thần, Cô Thần, Quả Tú; kết luận Nguyệt Đức luôn trùng cung Tử Phù nên luôn ở cung liền trước Tuế Phá, còn Thiên Đức luôn trùng cung Phúc Đức của vòng; kết luận chỉ hai tuổi Tý và Ngọ có Thiên Khốc và Thiên Hư cùng dồn vào cung Tuế Phá; danh sách chính tinh có thể đồng cung với Tuế Phá tại từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Tuế Phá không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.

Lưu ý về dị bản: thứ tự mười hai sao vòng Thái Tuế thống nhất giữa các bộ sách, nhưng cách xếp loại từng sao thì có khác nhau: có bản gọi Tuế Phá là hung tinh, có bản gọi là bại tinh, có bản chỉ ghi là sao xấu nhỏ; đó là khác biệt giữa các trường phái chứ không phải lỗi. Một số tài liệu lưu truyền trong dân gian gán cho Tuế Phá những câu phú và những lời phán nặng mà bài này không dẫn, vì chưa đối chiếu được với bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Ngoài ra, cần phân biệt rõ Thái Tuế cùng Tuế Phá trong khoa Tử Vi Đẩu Số với hệ Thái Tuế trong tín ngưỡng cúng sao giải hạn dân gian: hai hệ trùng tên nhưng khác cách tính và khác nội dung, bài này chỉ nói về hệ Tử Vi. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc rồi đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, phần Đặc Tính Các Sao, mục Tuế Phá, cùng cách luận đại tiểu hạn của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư bản Vũ Tài Lục; phần cấu trúc an sao và vị trí trong vòng Thái Tuế kiểm lại bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp quý vị phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm luận giải, đâu là suy luận từ nguyên lý, trước khi áp một ngôi sao vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tuế Phá

Tuế Phá là một hung tinh nhỏ trong vòng Thái Tuế của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa. Đặc điểm cốt lõi là nó luôn nằm ở cung xung đối với Thái Tuế, chủ sự xung khắc, phá hao và biến động.

Tuế Phá luôn ở cung xung đối Thái Tuế, tức đối đỉnh qua tâm địa bàn, cách Thái Tuế sáu cung. Vì cả vòng an theo chi năm sinh nên Tuế Phá luôn đối diện cung an Thái Tuế.

Có, Tuế Phá chính là cơ sở của khái niệm xung Thái Tuế. Năm nào lưu niên rơi vào thế xung với Thái Tuế gốc thì gặp Tuế Phá, là năm va chạm, biến động, dễ hao tổn, nên giữ mình.

Năm Tuế Phá thiên về biến động, thay đổi và hao tổn hơn là tai họa hoàn toàn. Quan trọng là chủ động lái sự thay đổi, thận trọng tài chính và quan hệ, đồng thời xem cả lá số và bộ sao lưu niên.

Tuế Phá là sao thứ bảy, tức đứng ở khoảng cách sáu cung tính từ Thái Tuế theo chiều thuận. Thứ tự đủ mười hai sao của vòng là Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vì sáu là đúng nửa vòng địa bàn nên Tuế Phá vĩnh viễn nằm ở cung xung chiếu của Thái Tuế, với cả mười hai tuổi, không một ngoại lệ. Sao đứng liền trước Tuế Phá là Tử Phù, sao đứng liền sau là Long Đức.

Đúng, và đây là điều bất biến ít người để ý. Thiên Hư an theo công thức lấy cung Ngọ cộng thêm chỉ số chi năm sinh, còn Tuế Phá là chi năm sinh cộng sáu cung, mà Ngọ chính là cung thứ sáu tính từ Tý. Hai công thức trùng nhau nên chạy đủ mười hai địa chi thì mười hai trên mười hai trường hợp Tuế Phá và Thiên Hư ngồi chung một cung. Vì vậy khi luận Tuế Phá phải luận luôn Thiên Hư, và ngược lại, hai sao ấy không tách ra được.

Không. Năm xung Thái Tuế chỉ là năm mà lưu Thái Tuế của năm đóng vào cung đối diện với Thái Tuế bản mệnh, tức năm mà chi của năm xung với chi năm sinh, xảy ra đều đặn mười hai năm một lần. Đó là một trạng thái tuần hoàn của địa bàn, không phải một lời phán. Tính chất thật của năm ấy do cung hạn chứa chính tinh gì, có Tứ Hóa nào bay vào, đại vận đang ở đâu quyết định. Trong nghề Thầy gặp không ít năm xung mà đương số đổi việc, chuyển nhà, cưới hỏi rất thuận, vì cái xung ấy hợp với việc họ đang cần làm.

Không. Đối chiếu đủ mười thiên can trên bảng Tứ Hóa mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang dùng, cả bảng Nam phái lẫn bảng Bắc phái, danh sách các sao được hóa chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở dị bản Bắc phái tuổi Nhâm. Tuế Phá không có tên trong bất kỳ ô nào. Tuế Phá đổi nghĩa theo Tứ Hóa của chính tinh ngồi cùng cung với nó, chứ tự nó không mang Tứ Hóa.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.