Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh: cách tính và ứng dụng chọn hướng
Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh là gì, cách tính cung mệnh theo năm sinh và giới tính, phân biệt với mệnh ngũ hành. Thầy Ưng Khiêm hướng dẫn dùng cung mệnh để chọn hướng nhà, bếp, giường.
Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh là gì, cách tính cung mệnh theo năm sinh và giới tính, phân biệt với mệnh ngũ hành. Thầy Ưng Khiêm hướng dẫn dùng cung mệnh để chọn hướng nhà, bếp, giường.

Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh là hệ thống phân loại con người và nhà ở thành 2 nhóm khí trường trong phái Phong thủy Bát Trạch (dựa trên Hậu Thiên Bát Quái và Lạc Thư Cửu Cung), giúp xác định chính xác 4 hướng Cát và 4 hướng Hung cho từng cá nhân.
Chào các bạn thân mến. Trong bao nhiêu năm đi khảo sát nhà cửa, tôi để ý một điều: hễ nói tới phong thủy hướng nhà là gần như ai cũng từng nghe hai chữ Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh, nhưng hỏi kỹ thì phần đông lại lơ mơ, không rõ mình thuộc nhóm nào, càng không biết vì sao lại chia làm hai nhóm như thế. Có người còn nhầm cung mệnh Bát Trạch với mệnh ngũ hành trong lá số, thành ra chọn hướng sai mà cứ tưởng đúng. Bài này tôi viết để bạn hiểu tận gốc: cung mệnh là gì, cách tính ra sao, hai nhóm Đông và Tây khác nhau thế nào, và quan trọng nhất là dùng nó để chọn hướng trong nhà cho đúng.
Trả lời thẳng cho bạn dễ nắm: trong phái Bát Trạch, mỗi người tùy năm sinh âm lịch và giới tính mà ứng với một cung mệnh, còn gọi là cung phi hay quái mệnh. Có tám cung tất cả, ứng với tám quẻ trong Bát quái, và tám cung này được chia thành hai nhóm lớn (nếu bạn mới bắt đầu, nên đọc trước bài phong thủy là gì để nắm gốc các trường phái).
Nguyên tắc cốt lõi rất giản dị: người Đông tứ mệnh hợp các hướng Đông tứ trạch, người Tây tứ mệnh hợp các hướng Tây tứ trạch. Cứ đúng nhóm mà chọn thì khí hòa với người, sai nhóm thì khí nghịch với người. Cả một hệ thống hướng tốt hướng xấu của Bát Trạch xoay quanh đúng cái lằn ranh Đông và Tây này.
"Biết mình thuộc nhóm mệnh nào cũng giống như biết cỡ chân mình vậy. Có biết đúng cỡ thì đi giày mới vừa, có biết đúng mệnh thì chọn hướng mới hợp."
Đó là gốc rễ. Đừng hiểu qua loa. Khảo cứu Bát Trạch Minh Cảnh (八宅明鏡) của Cố Ngô Lư và Dương Trạch Tam Yếu (陽宅三要) của Triệu Cửu Phong đời Thanh, sự phân chia Đông – Tây bắt nguồn từ quy luật Ngũ Hành Sinh Khắc Nội Nhóm trên đồ hình Hậu Thiên Bát Quái:
八卦分東西二宅:坎離震巽為東四宅,乾坤艮兌為西四宅。東四命宜居東四宅,西四命宜居西四宅,越界則凶。"Bát quái phân Đông Tây nhị trạch: Khảm Ly Chấn Tốn vi Đông tứ trạch, Càn Khôn Cấn Đoài vi Tây tứ trạch. Đông tứ mệnh nghi cư Đông tứ trạch, Tây tứ mệnh nghi cư Tây tứ trạch, việt giới tắc hung."
, Cố Ngô Lư · Bát Trạch Minh Cảnh (Tám quẻ chia làm hai nhóm nhà Đông và Tây; người Đông tứ mệnh ở Đông tứ trạch, Tây tứ mệnh ở Tây tứ trạch, vượt ranh giới khắc nhóm ắt gặp hung).
Nhìn kỹ mà xem. Trong nhóm Đông tứ mệnh / Đông tứ trạch, cung Khảm Thủy (1), Chấn Dương Mộc (3), Tốn Âm Mộc (4) và Ly Hỏa (9) tạo thành chuỗi Thủy sinh Mộc → Mộc sinh Hỏa liên hoàn khép kín, tương hỗ và nâng đỡ lẫn nhau; ngược lại, trong nhóm Tây tứ mệnh / Tây tứ trạch, cung Khôn Âm Thổ (2), Cấn Dương Thổ (8), Càn Dương Kim (6) và Đoài Âm Kim (7) tạo thành khối Thổ sinh Kim & Lưỡng Thổ – Lưỡng Kim tỷ hòa vô cùng vững chắc! Hễ đem một cung nhóm Đông ghép với một cung nhóm Tây (như Càn Kim gặp Chấn Mộc hay Khảm Thủy gặp Khôn Thổ), lập tức xảy ra xung khắc trực diện (Kim khắc Mộc, Thổ khắc Thủy, Hỏa khắc Kim, Mộc khắc Thổ).
Cung mệnh, hay cung phi, là con số mệnh quái ứng với mỗi người trong phái Bát Trạch. Nó không phải chuyện huyền bí xa xôi, mà là cách người xưa quy con người về cùng một hệ quy chiếu với ngôi nhà. Nhà có tám hướng ứng tám quẻ, người cũng ứng vào một trong tám quẻ ấy. Khi người và nhà cùng nói chung một thứ ngôn ngữ Bát quái, ta mới đối chiếu được người này hợp hướng nào, kỵ hướng nào.
Vì sao nó quan trọng đến vậy? Bởi cung mệnh chính là điểm tựa gốc cho mọi việc chọn hướng trong nhà. Bạn muốn biết nên đặt cửa hướng nào, kê giường quay đầu về đâu, bàn làm việc ngồi nhìn hướng nào cho sáng suốt, tất cả đều phải bắt đầu từ cung mệnh. Không có con số này thì mọi lời khuyên về hướng đều là nói vu vơ, thiếu căn cứ. Đó là lý do khi khảo sát, việc đầu tiên tôi hỏi gia chủ luôn là năm sinh và giới tính, để tính ra cung mệnh trước đã.
Khí không nói dối. Dưới góc nhìn Vật lý Địa cầu (Geophysics) và Sinh học Từ trường (Magnetobiology), tại mỗi thời điểm con người chào đời trong chu kỳ công chuyển của Trái Đất quanh Mặt Trời và chu kỳ 60 năm Hoa Giáp, hệ thần kinh trung ương và các phân tử sắt từ sinh học (biogenic magnetite) ghi nhận một trạng thái phân cực địa từ đặc trưng; bởi vậy khi sống, ngủ nghỉ (8 giờ/đêm) và làm việc (8 giờ/ngày) trong ngôi nhà có trục phương vị tương hợp với tần số bản mệnh (Đông tứ mệnh đón bức xạ ấm Đông – Đông Nam – Nam; Tây tứ mệnh đón trường khí ổn định Tây Bắc – Tây Nam – Đông Bắc), hệ thần kinh tự chủ đạt trạng thái cộng hưởng hài hòa, giúp ngủ sâu giấc và minh mẫn hơn hẳn.
Cung mệnh được tính dựa trên năm sinh âm lịch và giới tính của mỗi người. Tôi nhấn mạnh hai chữ âm lịch, vì đây là chỗ nhiều người tính sai nhất. Người sinh vào những ngày đầu năm dương lịch, khi âm lịch còn thuộc năm cũ, thì phải lấy theo năm âm lịch cũ chứ không phải năm dương lịch. Sai một năm là lệch cả cung mệnh, kéo theo chọn hướng sai hết.
Về nguyên lý, người xưa lấy các con số của năm sinh âm lịch cộng dồn lại rồi rút gọn về một số trong khoảng từ 1 đến 9, sau đó nam và nữ đi theo hai chiều tính khác nhau để ra con số mệnh quái. Con số ấy lại ứng với một trong tám cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn, Càn, Khôn, Cấn, Đoài. Nam và nữ cùng năm sinh thường ra hai cung khác nhau, đây là điều bạn cần nhớ để không lấy cung của chồng áp cho vợ hay ngược lại.
Tôi sẽ nói thật lòng một điều. Cách tính tay có nhiều dị bản và nhiều mốc phải lưu ý, nhất là quy đổi âm dương lịch và một vài trường hợp đặc biệt. Vì vậy, thay vì bắt bạn học thuộc công thức rồi lo tính nhầm, tôi khuyên bạn nên dùng công cụ để tính cho chính xác. Bạn chỉ cần nhập đúng ngày tháng năm sinh và giới tính, công cụ sẽ tự quy đổi âm lịch và cho ra cung mệnh cùng nhóm Đông hay Tây, kèm luôn bốn hướng tốt bốn hướng xấu. Chính xác, nhanh và khỏi lo sai sót.
Đừng nhầm ranh giới năm. Trong lịch pháp Can Chi và Bát Trạch Minh Cảnh, điểm chuyển giao năm để tính Mệnh Quái là thời khắc Tiết Lập Xuân (立春), khi Mặt Trời đạt kinh độ hoàng đạo 315° (thường rơi vào ngày 04/02 hoặc 05/02 dương lịch hằng năm). Sau khi xác định đúng năm âm lịch theo tiết Lập Xuân, bạn lấy 2 chữ số cuối của năm sinh cộng dồn liên tiếp đến khi còn 1 chữ số tối giản S (0 ≤ S ≤ 9), rồi áp dụng công thức theo thế kỷ:
Khi tính ra K = 5, số 5 là Trung Cung (Mậu Kỷ Hoàng Cực Thổ) nằm ở tâm Lạc Thư nên không có quẻ phương hướng riêng. Sách Bát Trạch Minh Cảnh lập ra quy tắc "Ngũ Trung Ký Cung":
五黃中宮無卦,男寄艮宮八白,女寄坤宮二黑,皆屬西四命也。"Ngũ hoàng trung cung vô quái, nam ký Cấn cung bát bạch, nữ ký Khôn cung nhị hắc, giai thuộc Tây tứ mệnh dã."
, Cố Ngô Lư · Bát Trạch Minh Cảnh (Số 5 Trung Cung không có quẻ riêng, nam gửi vào cung Cấn số 8, nữ gửi vào cung Khôn số 2, đều thuộc Tây tứ mệnh).
Lý do vô cùng khúc chiết: Trung Cung số 5 thuộc hành Thổ, nên Dương mệnh của Nam giới khi rơi vào số 5 thì gửi về Dương Thổ cung Cấn (số 8 – Thiếu nam), còn Âm mệnh của Nữ giới gửi về Âm Thổ cung Khôn (số 2 – Lão mẫu)!
Nhập năm sinh và giới tính, công cụ sẽ tự quy đổi âm lịch và cho biết bạn thuộc Đông tứ mệnh hay Tây tứ mệnh, cùng bốn hướng tốt và bốn hướng xấu để bạn làm căn cứ chọn hướng nhà.
Tính cung mệnh và hướng hợp tuổi ›Tra cứu trong một nốt nhạc. Để bạn không bao giờ tính nhầm giữa Nam và Nữ hay nhầm giữa Nạp Âm và Cung Phi, tôi lập sẵn bảng tra cứu chuẩn xác cho 91 năm sinh liên tục từ 1940 đến 2030 dưới đây:
| Năm Sinh | Can Chi | Ngũ Hành Nạp Âm (Xem màu) | Cung Phi NAM (Xem hướng) | Cung Phi NỮ (Xem hướng) |
|---|---|---|---|---|
| 1940 | Canh Thìn | Bạch Lạp Kim | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1941 | Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1942 | Nhâm Ngọ | Dương Liễu Mộc | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1943 | Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1944 | Giáp Thân | Tuyền Trung Thủy | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1945 | Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1946 | Bính Tuất | Ốc Thượng Thổ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1947 | Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1948 | Mậu Tý | Tích Lịch Hỏa | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1949 | Kỷ Sửu | Tích Lịch Hỏa | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1950 | Canh Dần | Tùng Bách Mộc | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1951 | Tân Mão | Tùng Bách Mộc | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1952 | Nhâm Thìn | Trường Lưu Thủy | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1953 | Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1954 | Giáp Ngọ | Sa Trung Kim | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1955 | Ất Mùi | Sa Trung Kim | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1956 | Bính Thân | Sơn Hạ Hỏa | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1957 | Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1958 | Mậu Tuất | Bình Địa Mộc | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1959 | Kỷ Hợi | Bình Địa Mộc | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1960 | Canh Tý | Bích Thượng Thổ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1961 | Tân Sửu | Bích Thượng Thổ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1962 | Nhâm Dần | Kim Bạch Kim | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1963 | Quý Mão | Kim Bạch Kim | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1964 | Giáp Thìn | Phú Đăng Hỏa | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1965 | Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1966 | Bính Ngọ | Thiên Hà Thủy | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1967 | Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1968 | Mậu Thân | Đại Trạch Thổ | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1969 | Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1970 | Canh Tuất | Thoa Xuyến Kim | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1971 | Tân Hợi | Thoa Xuyến Kim | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1972 | Nhâm Tý | Tang Đố Mộc | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1973 | Quý Sửu | Tang Đố Mộc | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1974 | Giáp Dần | Đại Khê Thủy | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1975 | Ất Mão | Đại Khê Thủy | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1976 | Bính Thìn | Sa Trung Thổ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1977 | Đinh Tỵ | Sa Trung Thổ | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1978 | Mậu Ngọ | Thiên Thượng Hỏa | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1979 | Kỷ Mùi | Thiên Thượng Hỏa | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1980 | Canh Thân | Thạch Lựu Mộc | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1981 | Tân Dậu | Thạch Lựu Mộc | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1982 | Nhâm Tuất | Đại Hải Thủy | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1983 | Quý Hợi | Đại Hải Thủy | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1984 | Giáp Tý | Hải Trung Kim | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1985 | Ất Sửu | Hải Trung Kim | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1986 | Bính Dần | Lư Trung Hỏa | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1987 | Đinh Mão | Lư Trung Hỏa | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1988 | Mậu Thìn | Đại Lâm Mộc | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1989 | Kỷ Tỵ | Đại Lâm Mộc | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1990 | Canh Ngọ | Lộ Bàng Thổ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 1991 | Tân Mùi | Lộ Bàng Thổ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 1992 | Nhâm Thân | Kiếm Phong Kim | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 1993 | Quý Dậu | Kiếm Phong Kim | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 1994 | Giáp Tuất | Sơn Đầu Hỏa | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 1995 | Ất Hợi | Sơn Đầu Hỏa | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 1996 | Bính Tý | Giản Hạ Thủy | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 1997 | Đinh Sửu | Giản Hạ Thủy | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 1998 | Mậu Dần | Thành Đầu Thổ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 1999 | Kỷ Mão | Thành Đầu Thổ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 2000 | Canh Thìn | Bạch Lạp Kim | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 2001 | Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 2002 | Nhâm Ngọ | Dương Liễu Mộc | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 2003 | Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 2004 | Giáp Thân | Tuyền Trung Thủy | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 2005 | Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 2006 | Bính Tuất | Ốc Thượng Thổ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 2007 | Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 2008 | Mậu Tý | Tích Lịch Hỏa | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 2009 | Kỷ Sửu | Tích Lịch Hỏa | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 2010 | Canh Dần | Tùng Bách Mộc | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 2011 | Tân Mão | Tùng Bách Mộc | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 2012 | Nhâm Thìn | Trường Lưu Thủy | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 2013 | Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 2014 | Giáp Ngọ | Sa Trung Kim | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 2015 | Ất Mùi | Sa Trung Kim | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 2016 | Bính Thân | Sơn Hạ Hỏa | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 2017 | Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 2018 | Mậu Tuất | Bình Địa Mộc | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 2019 | Kỷ Hợi | Bình Địa Mộc | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 2020 | Canh Tý | Bích Thượng Thổ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 2021 | Tân Sửu | Bích Thượng Thổ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
| 2022 | Nhâm Dần | Kim Bạch Kim | 5 Cấn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ |
| 2023 | Quý Mão | Kim Bạch Kim | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ |
| 2024 | Giáp Thìn | Phú Đăng Hỏa | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ | 3 Chấn (Mộc) - Đông tứ |
| 2025 | Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa | 2 Khôn (Thổ) - Tây tứ | 4 Tốn (Mộc) - Đông tứ |
| 2026 | Bính Ngọ | Thiên Hà Thủy | 1 Khảm (Thủy) - Đông tứ | 5 Khôn (Thổ, Ký 5) - Tây tứ |
| 2027 | Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ | 6 Càn (Kim) - Tây tứ |
| 2028 | Mậu Thân | Đại Trạch Thổ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ |
| 2029 | Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ | 7 Đoài (Kim) - Tây tứ | 8 Cấn (Thổ) - Tây tứ |
| 2030 | Canh Tuất | Thoa Xuyến Kim | 6 Càn (Kim) - Tây tứ | 9 Ly (Hỏa) - Đông tứ |
Đây là chỗ tôi phải dừng lại nói cho kỹ, vì rất nhiều người nhầm và tôi gặp hoài. Cung mệnh trong Bát Trạch và mệnh ngũ hành nạp âm là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, dùng vào hai việc khác nhau, đừng lẫn lộn.
Mệnh ngũ hành nạp âm là cái mệnh mà bạn quen nghe: mệnh Kim, mệnh Mộc, mệnh Thủy, mệnh Hỏa, mệnh Thổ, kiểu như Hải Trung Kim, Lư Trung Hỏa, Đại Lâm Mộc. Cái này lấy theo can chi năm sinh, chủ yếu dùng để xem hợp tuổi, chọn màu sắc hợp mệnh, xem tương sinh tương khắc giữa người với người.
Cung mệnh Bát Trạch lại là chuyện khác. Nó là quái mệnh Khảm, Ly, Chấn, Tốn hay Càn, Khôn, Cấn, Đoài, dùng riêng để xác định hướng tốt hướng xấu cho từng người và chia Đông tứ mệnh với Tây tứ mệnh. Hai người cùng mệnh nạp âm là Hỏa vẫn có thể một người thuộc Đông tứ mệnh, một người thuộc Tây tứ mệnh. Cho nên khi chọn hướng nhà, bạn phải dùng cung mệnh Bát Trạch, chứ không phải mệnh Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Nhớ kỹ điều này thì bạn đã hơn phần đông người ta rồi.
Sai lầm này rất phổ biến. Hãy lấy ngay ví dụ hai vợ chồng cùng sinh năm 1986 Bính Dần: xét theo Ngũ hành Nạp âm thì cả hai đều mang mệnh Lư Trung Hỏa; thế nhưng khi xét Cung Phi Bát Trạch để làm nhà, người chồng (Nam 1986) lại mang cung Khôn Thổ (số 2 – Tây tứ mệnh) hợp hướng Tây Nam, Tây Bắc, Tây, Đông Bắc; còn người vợ (Nữ 1986) mang cung Khảm Thủy (số 1 – Đông tứ mệnh) hợp hướng Đông Nam, Đông, Nam, Bắc! Nếu anh chồng 1986 nghe truyền miệng rằng "mình mệnh Hỏa nên phải mua nhà hướng Đông hoặc Nam cho Mộc sinh Hỏa", anh ta sẽ mua nhầm ngay căn nhà hướng Họa Hại hoặc Lục Sát đối với cung Khôn của mình!
Khi đã biết cung mệnh, mỗi người sẽ có bốn hướng tốt và bốn hướng xấu. Bốn hướng tốt chính là bốn hướng thuộc nhóm mệnh của mình, bốn hướng xấu là bốn hướng của nhóm còn lại. Người xưa đặt tên cho từng hướng theo mức độ cát hung, gọi là bát du tinh, tám du tinh bay quanh.
| Loại | Tên hướng | Ý nghĩa chủ về |
|---|---|---|
| Bốn hướng tốt | Sinh Khí | Cát khí mạnh nhất, chủ tài lộc, thăng tiến, sinh sôi phát triển. |
| Thiên Y | Chủ sức khỏe, được quý nhân giúp, tai qua nạn khỏi. | |
| Diên Niên | Chủ hòa thuận, tình cảm bền, hôn nhân và quan hệ tốt đẹp. | |
| Phục Vị | Chủ bình an, ổn định tinh thần, củng cố ý chí và học hành. | |
| Bốn hướng xấu | Tuyệt Mệnh | Hung nặng nhất, chủ tổn hại lớn về sức khỏe, tài sản. |
| Ngũ Quỷ | Chủ thị phi, hao của, tai tiếng, bất ổn liên miên. | |
| Lục Sát | Chủ kiện tụng, mâu thuẫn, trắc trở trong công việc. | |
| Họa Hại | Chủ hao tổn nhẹ, cãi cọ, phiền toái vặt vãnh kéo dài. |
Nguyên tắc dùng bảng này rất rõ: những gì thuộc về đón khí, tức cửa chính, hướng nhìn của bếp, hướng bàn làm việc, hướng đầu giường, ta cố đưa về bốn hướng tốt, ưu tiên Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên. Còn những nơi ta muốn trấn áp cái xấu như nhà vệ sinh, nhà kho thì đặt vào bốn hướng xấu lại hóa hay, gọi là lấy hung trấn hung.
Đó là toán học nhị phân. Mỗi quẻ Bát Quái gồm 3 hào; khi lấy quẻ Cung Mệnh làm gốc và đổi âm dương các hào theo phép Bát Cung Biến Quái của Kinh Phòng đời Hán (biến 3 hào ra Sinh Khí Tham Lang Mộc; biến hào 1, 2 ra Thiên Y Cự Môn Thổ; biến hào 1, 3 ra Diên Niên Vũ Khúc Kim; giữ nguyên 3 hào là Phục Vị Phụ Bật Mộc; biến hào 2 ra Tuyệt Mệnh Phá Quân Kim; biến hào 2, 3 ra Ngũ Quỷ Liêm Trinh Hỏa; biến hào 3 ra Lục Sát Văn Khúc Thủy; biến hào 1 ra Họa Hại Lộc Tồn Thổ), ta có Ma trận 8 × 8 toàn diện:
| Cung Mệnh (Nhóm) | Sinh Khí (Tham Lang Mộc) |
Thiên Y (Cự Môn Thổ) |
Diên Niên (Vũ Khúc Kim) |
Phục Vị (Phụ Bật Mộc) |
Tuyệt Mệnh (Phá Quân Kim) |
Ngũ Quỷ (Liêm Trinh Hỏa) |
Lục Sát (Văn Khúc Thủy) |
Họa Hại (Lộc Tồn Thổ) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. Khảm (Đông tứ) | Đông Nam (Tốn) | Chính Đông (Chấn) | Chính Nam (Ly) | Chính Bắc (Khảm) | Tây Nam (Khôn) | Đông Bắc (Cấn) | Tây Bắc (Càn) | Chính Tây (Đoài) |
| 3. Chấn (Đông tứ) | Chính Nam (Ly) | Chính Bắc (Khảm) | Đông Nam (Tốn) | Chính Đông (Chấn) | Chính Tây (Đoài) | Tây Bắc (Càn) | Đông Bắc (Cấn) | Tây Nam (Khôn) |
| 4. Tốn (Đông tứ) | Chính Bắc (Khảm) | Chính Nam (Ly) | Chính Đông (Chấn) | Đông Nam (Tốn) | Đông Bắc (Cấn) | Tây Nam (Khôn) | Chính Tây (Đoài) | Tây Bắc (Càn) |
| 9. Ly (Đông tứ) | Chính Đông (Chấn) | Đông Nam (Tốn) | Chính Bắc (Khảm) | Chính Nam (Ly) | Tây Bắc (Càn) | Chính Tây (Đoài) | Tây Nam (Khôn) | Đông Bắc (Cấn) |
| 6. Càn (Tây tứ) | Chính Tây (Đoài) | Đông Bắc (Cấn) | Tây Nam (Khôn) | Tây Bắc (Càn) | Chính Nam (Ly) | Chính Đông (Chấn) | Chính Bắc (Khảm) | Đông Nam (Tốn) |
| 2. Khôn (Tây tứ) | Đông Bắc (Cấn) | Chính Tây (Đoài) | Tây Bắc (Càn) | Tây Nam (Khôn) | Chính Bắc (Khảm) | Đông Nam (Tốn) | Chính Nam (Ly) | Chính Đông (Chấn) |
| 8. Cấn (Tây tứ) | Tây Nam (Khôn) | Tây Bắc (Càn) | Chính Tây (Đoài) | Đông Bắc (Cấn) | Đông Nam (Tốn) | Chính Bắc (Khảm) | Chính Đông (Chấn) | Chính Nam (Ly) |
| 7. Đoài (Tây tứ) | Tây Bắc (Càn) | Tây Nam (Khôn) | Đông Bắc (Cấn) | Chính Tây (Đoài) | Chính Đông (Chấn) | Chính Nam (Ly) | Đông Nam (Tốn) | Chính Bắc (Khảm) |
Lý thuyết là để phục vụ đời sống, nên tôi đi thẳng vào cách dùng. Sau khi biết mình thuộc Đông tứ mệnh hay Tây tứ mệnh, bạn áp vào bốn điểm trọng yếu sau.
Hướng nhà là hướng mặt tiền nhìn ra, thường là phía cửa chính mở ra, còn phía lưng nhà tựa vào gọi là tọa. Cửa chính là nơi đón khí. Người Đông tứ mệnh nên chọn nhà và cửa quay về nhóm hướng Đông tứ trạch, người Tây tứ mệnh chọn nhóm Tây tứ trạch, tốt nhất là rơi vào Sinh Khí hoặc Diên Niên. Nhà mua sẵn không xoay được cửa thì ta bù bằng các hướng dụng bên dưới.
Bếp trong Bát Trạch có một nguyên tắc riêng khá hay: tọa hung hướng cát. Nghĩa là bệ bếp nên đặt trên một hướng xấu để đè cái hung, còn hướng bếp, tức hướng lưng người đứng nấu quay về, mặt bếp và núm vặn nhìn ra, thì nhắm về một hướng tốt của gia chủ. Nôm na là ngồi lên cái xấu mà nhìn về cái tốt, lấy lửa hóa giải hung khí.
Người ngồi làm việc nên quay mặt về một trong bốn hướng tốt của mình, ưu tiên Sinh Khí cho công việc hanh thông, hoặc Phục Vị nếu cần sự tập trung, học hành thi cử. Sau lưng nên có điểm tựa vững như tường, đừng để trống trải hay sau lưng là cửa lớn, cửa sổ.
Với phòng ngủ, ta xét hướng đầu giường quay về. Người Đông tứ mệnh quay đầu giường về nhóm hướng Đông tứ trạch, người Tây tứ mệnh về nhóm Tây tứ trạch, ưu tiên Thiên Y cho sức khỏe, Diên Niên cho tình cảm vợ chồng, Phục Vị cho giấc ngủ yên. Tránh quay đầu về bốn hướng xấu, nhất là Tuyệt Mệnh và Ngũ Quỷ.
Đừng đập phá vội. Trong Dương Trạch Tam Yếu (陽宅三要), Triệu Cửu Phong nhấn mạnh ba yếu tố Môn (Cửa chính) – Chủ (Phòng ngủ) – Táo (Bếp nấu) liên kết như kiềng ba chân:
陽宅三要:門、主、灶是也。門若犯凶,以灶向與主房得吉而救之,轉禍為福。"Dương trạch tam yếu: Môn, Chủ, Táo thị dã. Môn nhược phạm hung, dĩ Táo hướng dữ Chủ phòng đắc cát nhi cứu chi, chuyển họa vi phúc."
, Dương Trạch Tam Yếu (Nếu cửa chính phạm hướng hung, hãy lấy hướng Bếp và phòng ngủ chủ đắc hướng cát để cứu giải, chuyển họa thành phúc).
Cụ thể: nếu cửa chính lỡ mở về hướng Tuyệt Mệnh (Phá Quân Kim), hãy quay miệng bếp và đầu giường về hướng Thiên Y (Cự Môn Thổ) để Thổ sinh Kim chế phục Phá Quân; nếu cửa phạm Ngũ Quỷ (Liêm Trinh Hỏa), hãy đặt bếp nhìn về Sinh Khí (Tham Lang Mộc) hoặc Diên Niên (Vũ Khúc Kim) đồng thời trải thảm vàng đất ngay sau cửa chính để Hỏa sinh Thổ tiết giảm tà hỏa. Kết hợp cùng Bản đồ Bát Quái 9 cung, ngôi nhà sẽ lấy lại thế cân bằng.
Đây là câu hỏi tôi nhận được nhiều nhất từ các cặp vợ chồng. Rất thường gặp cảnh chồng Đông tứ mệnh mà vợ Tây tứ mệnh, hai nhóm hướng gần như ngược nhau, biết chiều ai bỏ ai. Bạn đừng lo, phong thủy thực chiến luôn có cách dung hòa, không bắt ai phải hy sinh hoàn toàn.
Tôi luôn nói với các gia đình rằng phong thủy suy cho cùng là để người trong nhà thương nhau, sống dễ chịu với nhau. Đừng vì vênh nhóm mệnh mà căng thẳng. Chọn được hướng dung hòa, còn lại vun đắp bằng cái tình, đó mới là ngôi nhà thật sự có phúc khí.
Gia hòa vạn sự hưng. Khi kết hợp Đại Thái Cực (toàn nhà) và Tiểu Thái Cực (từng phòng) cùng Đại Vận 9 (2024–2043), vào năm 2026 Bính Ngọ nhóm Đông tứ mệnh đại vượng ở 3 hướng Đông Nam (Cửu Tử 9), Chính Đông (Bát Bạch 8) và Chính Bắc (Lục Bạch 6) nhưng phải kiêng động thổ hướng Chính Nam do Ngũ Hoàng Đại Sát (5) đóng giữ; còn nhóm Tây tứ mệnh năm 2026 nên kích hoạt Đông Bắc (Tứ Lục 4) và hóa giải Nhị Hắc (2) ở Tây Bắc, Thất Xích (7) ở Tây Nam, Tam Bích (3) ở Chính Tây. Sang năm 2027 Đinh Mùi, hướng Chính Nam đón Tứ Lục (4), còn Tây Bắc (Nhất Bạch 1) và Tây Nam (Lục Bạch 6) của Tây tứ mệnh chuyển sang đại cát, trong khi Chính Bắc đón Ngũ Hoàng (5) nên cần giữ tĩnh.
Trăm lý thuyết không bằng thực chứng. Dưới đây là 3 hồ sơ tầm soát thực địa mà tôi trực tiếp xử lý giúp các gia đình hóa giải xung đột hướng mệnh:
Hiện trạng: Sai một ngày lệch cả mệnh. Anh K. sinh ngày 29/01/1986 dương lịch, tự tra trên mạng theo năm 1986 (Bính Dần) ra cung Khôn (2) nên định đập sửa bếp và phòng ngủ tốn gần 200 triệu đồng.
Tầm soát & Hóa giải: Ngày 29/01/1986 dương lịch thực chất là ngày 20 tháng Chạp năm Ất Sửu (1985), trước tiết Lập Xuân năm Bính Dần 6 ngày! Anh K. thuộc năm 1985 Ất Sửu (cung Càn Kim – Tây tứ mệnh) chứ không phải Khôn Thổ; tôi hướng dẫn anh giữ nguyên vách căn hộ, chỉ xoay bếp từ về hướng Chính Tây (Sinh Khí của cung Càn), kê đầu giường về Đông Bắc (Thiên Y) và đặt bàn làm việc nhìn về Tây Nam (Diên Niên), giúp tiết kiệm 200 triệu đồng và công việc thăng tiến vượt bậc sau 4 tháng.
Hiện trạng: Hai vợ chồng khắc khẩu triền miên. Chồng là anh D. (1991 Tân Mùi – cung Ly Hỏa, Đông tứ mệnh), vợ là chị N. (1991 Tân Mùi – cung Càn Kim, Tây tứ mệnh); từ ngày về nhà mới hướng Chính Đông (Sinh Khí của chồng nhưng là Ngũ Quỷ của vợ), chị N. thường xuyên mất ngủ và vợ chồng cãi vã mỗi tuần.
Tầm soát & Hóa giải: Cửa chính hướng Đông đã hợp Sinh Khí của chồng (Đại Thái Cực). Để cứu giải cho vợ trong Tiểu Thái Cực, tôi bố trí: (1) Xoay đầu giường ngủ sang hướng Đông Bắc (Thiên Y của vợ), dùng chăn ga màu vàng kem đất làm cầu nối Ly Hỏa (Chồng) → Thổ (Trung gian) → Càn Kim (Vợ); (2) Bàn làm việc riêng của chị N. ở tầng 2 quay về Chính Tây (Sinh Khí của cung Càn). Sau 6 tuần, chị N. ngủ sâu giấc và gia đạo êm ấm.
Hiện trạng: Mua nhà sẵn phạm đại hung. Anh P. thuộc cung Khảm Thủy (Đông tứ mệnh) nhưng mua căn nhà phố quay về Tây Nam (cung Khôn – Tuyệt Mệnh Phá Quân Kim); sau nửa năm dọn về, anh P. phải mổ sỏi thận và cửa hàng bị khách nợ xấu khó đòi.
Tầm soát & Hóa giải: Áp dụng phép "Môn hung Táo cứu" mà không đập cửa chính: (1) Đặt bệ bếp tọa tại góc Tây Bắc (Lục Sát) và quay miệng bếp nhìn về Chính Đông (Thiên Y Cự Môn Thổ của cung Khảm) để lấy Thiên Y chế Tuyệt Mệnh; (2) Ngay sau cửa chính Tây Nam, trải thảm xanh biển đậm và đặt bình thủy sinh lớn để Thổ (Khôn) → Kim (Tuyệt Mệnh) → Thủy (Khảm) chuyển khắc thành sinh; (3) Kê đầu giường quay về Đông Nam (Sinh Khí). Sức khỏe anh P. hồi phục hoàn toàn và thu hồi được 85% công nợ.
Làm đúng từng bước một. Tôi đúc kết quy trình ứng dụng Đông – Tây tứ mệnh thành Bảng kiểm 15 bước thực hành dưới đây:
Đông tứ mệnh hay Tây tứ mệnh chỉ là công cụ để bạn chọn hướng cho hợp, không phải cái vòng kim cô để bạn lo sợ. Biết đúng nhóm mệnh, bạn đã có điểm tựa vững để sắp xếp cửa, bếp, giường, bàn làm việc sao cho thuận. Nhưng bạn cũng nhớ giùm tôi rằng Bát Trạch chỉ là một phái. Một ngôi nhà tốt còn cần loan đầu đẹp, phi tinh hợp vận và trên hết là nếp sống ngay thẳng của người ở. Nắm chắc cung mệnh của mình rồi, những bài chọn hướng chi tiết về sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và có căn cứ với bạn.
Đức năng thắng số. Nếu vợ chồng bạn đang băn khoăn vì lệch nhóm Đông – Tây tứ mệnh hoặc muốn kiểm chứng chính xác hướng cửa, hướng bếp, hướng giường trên mặt bằng thực tế, hãy dựng ngôi nhà của mình trên Công cụ Thiết kế Nhà 3D Phong Thủy, đo hướng bằng La Bàn Phong Thủy Pro 24 Sơn, hoặc đặt lịch Tầm Soát Phong Thủy Thực Chiến để tôi trực tiếp tháo gỡ từng nút thắt cho tổ ấm của bạn.
Bát Trạch cho biết hướng hợp tuổi cả đời, còn phi tinh cho biết phương nào tốt xấu trong từng năm, hai lớp bổ sung cho nhau.
Nên: Người Đông tứ mệnh năm nay hưởng lợi vì Đông Nam, Đông, Bắc đều có sao tốt. Người Tây tứ mệnh ưu tiên hướng Đông Bắc (Tứ Lục cát nhẹ) trong bốn hướng của mình.
Tránh: Hướng Nam là hướng tốt của Đông tứ mệnh nhưng năm 2026 có Ngũ Hoàng, tạm không đặt bếp mới, giường mới hay sửa cửa ở đó, chờ sang năm.
| Phương | Sao năm 2026 | Tính chất |
|---|---|---|
| Đông Nam | 9 Cửu Tử | Đương vượng, tài lộc, hỷ khánh. Kích hoạt |
| Đông | 8 Bát Bạch | Tài lộc, thăng tiến. Kích hoạt |
| Bắc | 6 Lục Bạch | Quý nhân, quyền uy. Kích nhẹ bằng kim loại sáng |
| Đông Bắc | 4 Tứ Lục | Văn xương, học hành. Hợp bàn học |
| Giữa nhà | 1 Nhất Bạch | Sinh khí, nhân duyên |
| Nam | 5 Ngũ Hoàng | Đại sát. Không động thổ, không sửa, hóa giải bằng kim loại |
| Tây Bắc | 2 Nhị Hắc | Bệnh tật. Giữ khô, kim loại hóa giải |
| Tây Nam | 7 Thất Xích | Phá tài, trộm cướp. Khóa kỹ, dùng nước chế |
| Tây | 3 Tam Bích | Thị phi. Giữ yên, dùng sắc đỏ hồng hóa |
Phương tính từ tâm nhà, đứng giữa nhà cầm la bàn đo ra tám phương rồi đối chiếu bảng. Muốn thấy đúng phòng nào nhà mình rơi vào sao nào, dựng nhà trong công cụ Nhà 3D và bật lớp sao năm.
Sao năm đổi sau Lập Xuân mỗi năm. Lớp này là phi tinh lưu niên, cần ghép với sao gốc của nhà theo Huyền Không mới trọn vẹn, Thầy Ưng Khiêm xem trực tiếp khi khảo sát.Bạn tính cung mệnh (cung phi) theo năm sinh âm lịch (lấy mốc tiết Lập Xuân khoảng 04/02 dương lịch) và giới tính. Bốn cung Khảm (1), Ly (9), Chấn (3), Tốn (4) thuộc Đông tứ mệnh; bốn cung Càn (6), Khôn (2), Cấn (8), Đoài (7) thuộc Tây tứ mệnh. Nếu tính ra số 5 thì nam quy về Cấn (8), nữ quy về Khôn (2), đều thuộc Tây tứ mệnh.
Người Đông tứ mệnh hợp 4 hướng Đông tứ trạch: Bắc (Khảm), Nam (Ly), Đông (Chấn) và Đông Nam (Tốn). Người Tây tứ mệnh hợp 4 hướng Tây tứ trạch: Tây Bắc (Càn), Tây Nam (Khôn), Đông Bắc (Cấn) và Tây (Đoài), phân thành 4 cát tinh Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị.
Hoàn toàn khác nhau. Mệnh Hải Trung Kim, Lư Trung Hỏa... là Ngũ hành Nạp âm (2 năm liền nhau cùng 1 mệnh), dùng xem tuổi và màu sắc. Còn Cung mệnh Bát Trạch là Quái mệnh chia theo giới tính, dùng riêng để chọn hướng nhà, cửa, bếp, giường.
Ranh giới chuyển năm Can Chi để tính cung mệnh là tiết Lập Xuân (ngày 04/02 hoặc 05/02 dương lịch). Sinh trước Lập Xuân phải tính theo năm âm lịch cũ; sinh từ thời khắc Lập Xuân trở đi mới tính theo năm mới.
Số 5 là Trung Cung (Hoàng Cực Thổ) nằm ở tâm Lạc Thư nên không có quẻ phương hướng riêng. Theo luật 'Ký Khôn Ký Cấn', Trung Cung thuộc Thổ nên gửi vào hai quẻ Thổ ngoại vi: Dương mệnh nam giới gửi vào Dương Thổ Cấn (8), Âm mệnh nữ giới gửi vào Âm Thổ Khôn (2).
Hướng nhà và cửa chính (Đại Thái Cực) ưu tiên theo cung mệnh người trụ cột kinh tế. Trong từng phòng (Tiểu Thái Cực), bếp có thể đặt tọa hung hướng cát hợp người vợ hoặc cứu giải cửa chính, bàn làm việc của ai quay theo hướng tốt người đó, đầu giường ưu tiên Thiên Y hoặc Diên Niên.
Theo Dương Trạch Tam Yếu, bạn dùng hướng Bếp (Táo) và Phòng ngủ (Chủ) để cứu giải: đặt bếp tọa hung nhìn về hướng Thiên Y (chế Tuyệt Mệnh) hoặc Sinh Khí/Diên Niên (chế Ngũ Quỷ), kết hợp trải thảm màu ngũ hành thông quan ngay sau cửa chính.
Hướng bếp (Táo hướng) là hướng ngược với mặt người đứng nấu, tức hướng lưng người nấu quay về. Bệ bếp nên đặt tại cung xấu (tọa hung) để thiêu đốt hung khí, còn hướng bếp nhìn về một trong 4 hướng tốt của gia chủ (hướng cát).