Sao Long Trì trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Long Trì

Sao chủ thông minh, khoa giáp, cưới hỏi và may mắn; đi liền Phượng Các.

Hành ThủyPhụ tinhKhoa giáp, may mắnTheo chi năm
龍池Lóng Chí
Tên sao: Long Trì
Ngũ hành: Thủy
Nhóm: Phụ Tinh Khoa Giáp
Cách an: Long trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với phượng các (long trì thuận, phượng các nghịch), hợp thành bộ khoa giáp
Cai quản: thông minh, khoa giáp, cưới hỏi, may mắn
Tính chất: Khoa giáp, may mắn
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Long Trì là gì

Sao Long Trì trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Long Trì trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Long Trì trong lá số Tử Vi

Long Trì là sao chủ khoa giáp và may mắn, ngũ hành Thủy, đi cặp với Phượng Các. Hai sao Long Phượng hợp thành một bộ cát tinh quan trọng, biểu trưng cho sự đỗ đạt, hanh thông và những việc tốt lành.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Long Trì an theo địa chi năm sinh. Không theo can, không theo tháng, không theo giờ, không theo Cục. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ thêm bốn cung, dừng ở đâu thì Long Trì đóng ở đó. Người tuổi Tý khởi từ Tý đếm bốn cung được Thìn, người tuổi Mão khởi từ Mão được Mùi, người tuổi Dậu khởi từ Dậu được Sửu. Vì tham số chỉ là chi năm sinh nên vị trí Long Trì cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo âm dương nam nữ, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi con giáp thì Long Trì luôn đóng cùng một cung địa chi.

Kinh văn Phượng Các đi cặp với Long Trì nhưng đếm ngược: khởi từ cung Tuất đếm nghịch chiều kim đồng hồ đi số bước bằng chỉ số chi năm sinh, tức lấy Tuất trừ đi chi. Người tuổi Tý thì Phượng Các ở ngay Tuất, tuổi Sửu lùi một cung xuống Dậu, tuổi Dần xuống Thân, cứ thế. Một sao đếm thuận, một sao đếm nghịch, đó là ý nghĩa thật của câu Long Trì thuận, Phượng Các nghịch mà sách hay nói. Còn Giải Thần thì trên thuật toán đang chạy của trang dùng đúng công thức của Phượng Các, nên nó luôn ngồi chung cung với Phượng Các, không sót tuổi nào.

Vị trí an của Long Trì, Phượng Các và Giải Thần theo mười hai địa chi năm sinh
Tuổi chiLong TrìPhượng CácGiải Thần
ThìnTuấtTuất
SửuTỵDậuDậu
DầnNgọThânThân
MãoMùiMùiMùi
ThìnThânNgọNgọ
TỵDậuTỵTỵ
NgọTuấtThìnThìn
MùiHợiMãoMão
ThânDầnDần
DậuSửuSửuSửu
TuấtDần
HợiMãoHợiHợi

Bảy điều bất biến của Long Trì, đã chạy đủ mười hai chi bằng máy

  1. Long Trì đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai chi thì Long Trì lần lượt rơi vào Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão. Mười hai tuổi cho mười hai cung khác nhau, phủ kín địa bàn. Không có cung nào Long Trì không tới được và cũng không có cung nào nó ưu ái. Vì thế mọi lá số đều có Long Trì, đây là điều phải nhớ trước tiên trước khi mừng vì có cát tinh khoa giáp.
  2. Long Trì luôn đồng cung với Quan Phù của vòng Thái Tuế. Đây là quan hệ chặt nhất của sao này và cũng là điều ít trang nào nói tới. Quan Phù đứng thứ năm trong vòng Thái Tuế, tức cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận, trùng khít công thức của Long Trì. Máy chạy đủ mười hai tuổi cho kết quả mười hai trên mười hai lần đồng cung. Hễ có Long Trì là có Quan Phù, không có ngoại lệ. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ: hai sao khác nhau, tên gần giống nhau, an theo hai tham số khác hẳn.
  3. Long Trì luôn nằm trong tam hợp cục của chi năm sinh. Cách chi năm sinh bốn cung nghĩa là đứng đúng một chân của tam giác chi năm sinh. Hệ quả là Long Trì luôn tam hợp chiếu với Thái Tuếluôn tam hợp chiếu với Bạch Hổ, cả mười hai tuổi. Ba sao Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ chính là bộ mà người xưa gọi là Tuế Hổ Phù; Long Trì ngồi ngay vào chân Quan Phù của bộ ấy. Một cát tinh khoa giáp được cấu trúc gài sẵn vào tam giác danh phận và pháp lý, đó là chỗ đáng suy ngẫm nhất của sao này.
  4. Long Trì luôn xung chiếu Điếu Khách. Điếu Khách đứng thứ mười một của vòng Thái Tuế, cách Long Trì đúng sáu cung ở cả mười hai tuổi. Nghĩa là cung đối diện cung Long Trì bao giờ cũng có sao chủ lời ra tiếng vào, khách khứa, tin tức từ ngoài đưa tới. Đây là thế cố định, không lá số nào thoát.
  5. Long Trì luôn bị giáp giữa Thiếu Âm và Tử Phù. Cung liền trước Long Trì theo chiều thuận là Thiếu Âm, cung liền sau là Tử Phù, và vì Nguyệt Đức luôn an trùng cung Tử Phù nên cung liền sau ấy cũng luôn có Nguyệt Đức. Một bên là cát tinh khí âm nhu, một bên là bại tinh nhỏ đi kèm một phúc tinh nhỏ. Thế giáp này cố định trên mọi lá số.
  6. Long Trì vĩnh viễn không hội chiếu với ba sao hỷ sự. Chạy đủ mười hai tuổi thì khoảng cách giữa Long Trì với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ. Mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn: đồng cung là không, xung chiếu là sáu, tam hợp là bốn hoặc tám. Kết luận: Long Trì không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ hay Đào Hoa. Long Trì cũng không bao giờ đồng cung với Thiên Mã, với Cô Thần, với Quả Tú, với Thiên Hư, với Thiên Đức và với Nguyệt Đức.
  7. Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Long Trì. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Long Trì thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại bất cứ cung nào trong mười hai cung, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Long Trì vì vậy phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng chứ nó không kén chính tinh.

Khoảng cách giữa Long Trì và Phượng Các không cố định, và đó là điều quan trọng nhất

Suy luận Nhiều bài viết nói bộ Long Phượng như thể hai sao luôn đi liền nhau. Cấu trúc không cho phép nói vậy. Long Trì đếm thuận, Phượng Các đếm nghịch, nên khoảng cách giữa hai sao thay đổi theo từng tuổi. Đem hai công thức cộng lại thì thấy ngay quy luật: vị trí Long Trì cộng vị trí Phượng Các luôn ra một tổng cố định, nghĩa là hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Trục ấy là bản lề của cả bộ Long Phượng, và mọi hệ quả dưới đây đều sinh ra từ nó.

Quan hệ giữa Long Trì và Phượng Các theo từng địa chi năm sinh
Tuổi chiLong Trì tạiPhượng Các và Giải Thần tạiQuan hệ thật giữa hai sao
ThìnTuấtXung chiếu, bộ Long Phượng đứng hai đầu một trục
SửuTỵDậuTam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
DầnNgọThânCách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa
MãoMùiMùiĐồng cung, bộ Long Phượng dính liền
ThìnThânNgọCách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa
TỵDậuTỵTam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
NgọTuấtThìnXung chiếu, bộ Long Phượng đứng hai đầu một trục
MùiHợiMãoTam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
ThânDầnCách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa
DậuSửuSửuĐồng cung, bộ Long Phượng dính liền
TuấtDầnCách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa
HợiMãoHợiTam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ

Suy luận Đọc bảng thì thấy bốn nhóm rành mạch. Đồng cung ở đúng hai tuổi, là tuổi Mão cùng đóng tại Mùi và tuổi Dậu cùng đóng tại Sửu, tức đúng hai cung nằm trên trục đối xứng. Xung chiếu ở đúng hai tuổi, là tuổi Tý với Long Trì tại Thìn Phượng Các tại Tuất, và tuổi Ngọ thì đảo lại. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Không hội chiếu được ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì lúc ấy hai sao cách nhau đúng hai cung, mà cách hai cung thì không phải đồng cung, không phải xung, không phải tam hợp; chúng chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ở giữa ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.

Kinh nghiệm Thầy nhấn mạnh con số: tám tuổi hội đủ bộ Long Phượng, bốn tuổi không. Người sinh năm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì trên lá số của mình, Long Trì và Phượng Các đứng cách nhau hai cung và không nhìn thấy nhau. Với những lá số ấy, câu nói bộ Long Phượng đẹp không dùng được, phải luận từng sao một tại từng cung. Đây là chỗ mà rất nhiều bản luận viết sai vì chép theo trí nhớ chứ không chạy số.

Một hệ quả nhỏ mà tiện: âm dương của ba sao

Suy luận Còn một điều máy chỉ ra mà sách không nói. Vì Long Trì bằng chi cộng bốn và Phượng Các bằng Tuất trừ chi, cả hai phép đều giữ nguyên tính chẵn lẻ của chi năm sinh, nên Long Trì, Phượng Các và Giải Thần luôn đóng ở cung cùng âm dương với chi năm sinh. Người tuổi chi dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì cả ba sao đều nằm trong sáu cung dương; người tuổi chi âm là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì cả ba đều nằm trong sáu cung âm. Điều này dùng để kiểm nhanh: nếu quý vị an tay mà thấy Long Trì rơi vào cung khác âm dương với tuổi mình thì chắc chắn đếm nhầm, khỏi cần tra lại bảng.

3 Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Cách an và đặc tính sao Long TrìẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Long Trì
Cách an và đặc tính sao Long Trì

Long Trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Phượng Các (Long Trì thuận, Phượng Các nghịch), hợp thành bộ khoa giáp.

Vì là phụ tinh, Long Trì làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch

Long Trì: thông minh, nhân hậu, đem may mắnẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Long Trì
Long Trì: thông minh, nhân hậu, đem may mắn

Theo Tân Biên, Long Trì cùng Phượng Các chủ sự thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ. Hai sao liên quan tới việc cưới hỏi, sinh nở, đem lại nhiều may mắn, làm cho công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi.

Long Trì gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu kết thành bộ hiền thần chuyên phò tá Tử, Phủ, khiến uy quyền của Tử, Phủ thêm hiển hách. Gặp Phi Liêm, Long Trì đem lại may mắn, vui mừng một cách nhanh chóng.

5 Quan Hệ Cố Định Của Long Trì Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm Sinh

Suy luận Long Trì không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm; Long Trì không có tên trong bốn danh sách ấy. Nhưng nó lại dùng chung tham số với vòng Thái Tuế, và chính điều đó tạo ra một loạt quan hệ khóa cứng mà quý vị tính được chắc chắn, không cần biết ngày sinh giờ sinh của ai.

Kinh văn Vòng Thái Tuế là vòng mười hai sao an theo chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vòng này luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ. Vì vậy mọi khoảng cách trong vòng đều tính được chắc chắn cho cả mười hai tuổi.

Vị trí đủ mười hai sao vòng Thái Tuế theo từng địa chi năm sinh, dùng để đối chiếu cung Quan Phù với cung Long Trì
Tuổi chiThái TuếThiếu DươngTang MônThiếu ÂmQuan PhùTử PhùTuế PháLong ĐứcBạch HổPhúc ĐứcĐiếu KháchTrực Phù
SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
SửuSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
DầnDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
MãoMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDần
ThìnThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMão
TỵTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
NgọNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
MùiMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọ
ThânThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
DậuDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThân
TuấtTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậu
HợiHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất

Long Trì trùng khít cung Quan Phù, cả mười hai tuổi

Suy luận Đây là kết luận quan trọng nhất của cả bài. Long Trì cách cung chi năm sinh bốn cung đếm thuận. Quan Phù là sao thứ năm của vòng, tức cũng cách cung chi năm sinh bốn cung đếm thuận. Hai công thức là một. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả trùng khít mười hai trên mười hai lần: tuổi Tý cả hai ở Thìn, tuổi Sửu ở Tỵ, tuổi Dần ở Ngọ, tuổi Mão ở Mùi, tuổi Thìn ở Thân, tuổi Tỵ ở Dậu, tuổi Ngọ ở Tuất, tuổi Mùi ở Hợi, tuổi Thân ở Tý, tuổi Dậu ở Sửu, tuổi Tuất ở Dần, tuổi Hợi ở Mão. Quý vị đối chiếu cột Quan Phù của bảng vòng bên trên với cột Long Trì của bảng ba sao ở mục trước sẽ thấy hai cột giống nhau từng dòng.

Kinh nghiệm Hệ quả thực dụng thì lớn. Không bao giờ được luận Long Trì một mình. Cung nào có Long Trì thì cung ấy đồng thời mang khí Quan Phù, tức khí của giấy tờ, công văn, pháp lý, tiếng nói của bên có thẩm quyền. Hai nghĩa này không chống nhau, ngược lại chúng bổ cho nhau rất đẹp khi cung tốt: khoa giáp là thi cử và bằng cấp, Quan Phù là con dấu và tờ giấy chứng nhận. Người có Long Trì đóng ở Quan Lộc mà chính tinh sáng thì việc thăng tiến hay đi kèm một tờ quyết định, một chứng chỉ, một giấy phép hành nghề. Nhưng khi cung ấy xấu thì hai nghĩa cũng cộng vào nhau theo chiều xấu: chuyện giấy tờ hóa rắc rối, việc thi cử hóa kiện tụng, danh dự bị đem ra bàn ở chỗ công quyền.

Bốn quan hệ khóa cứng khác, tính bằng máy

  • Luôn tam hợp Thái Tuế. Cách bốn cung, cả mười hai tuổi. Thái Tuế chủ danh phận, tiếng nói, năm tuổi. Long Trì đứng trong tam giác của Thái Tuế nghĩa là cái khoa giáp của nó luôn dính vào chuyện danh, chứ không bao giờ là chuyện thuần túy tiền bạc.
  • Luôn tam hợp Bạch Hổ. Cách tám cung, cả mười hai tuổi. Ba sao Thái Tuế, Quan Phù cùng Long Trì, Bạch Hổ khép thành một tam giác cố định. Bạch Hổ là hung tinh chủ uy mãnh, tang thương, cũng chủ oai quyền. Điều này nói rằng cát tinh khoa giáp của quý vị không bao giờ ở trong một tam giác toàn cát.
  • Luôn xung chiếu Điếu Khách. Cách sáu cung, cả mười hai tuổi. Cung đối diện Long Trì luôn có sao chủ lời bàn từ bên ngoài. Danh dự và tiếng bàn ra tán vào là hai đầu của cùng một trục, cấu trúc đã nói thẳng điều ấy.
  • Luôn giáp Thiếu Âm phía trước và Tử Phù cùng Nguyệt Đức phía sau. Cách một cung mỗi bên, cả mười hai tuổi. Thiếu Âm là cát tinh khí âm, chủ việc lành đến chậm và kín; Tử Phù là bại tinh nhỏ chủ hao và sự lụi; Nguyệt Đức là phúc tinh nhỏ chủ ơn che.
  • Luôn cách hai cung với Tang Môn và với Tuế Phá, tức hai hung tinh nặng nhất của vòng không bao giờ hội chiếu được với Long Trì. Đây là một điểm lành thật của cấu trúc, và là một trong số ít điểm lành cố định mà sao này có.

Bộ Tứ Linh: sách gọi là bộ, máy nói bộ ấy thiếu ở bốn tuổi

Kinh văn Người luận quen gọi Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ và Hoa Cái là bộ Tứ Linh, lấy tượng bốn con vật thiêng là rồng, phượng, hổ và tán che. Bộ này được coi là cách quý hiển, chủ người có phong thái, có danh vọng, được trọng.

Suy luận Kiểm bằng thuật toán thì thấy ba trong bốn sao ấy khóa cứng vào nhau: Long Trì luôn tam hợp Bạch Hổ như đã nói, và Long Trì với Hoa Cái thì khoảng cách luôn là không, bốn hoặc tám cung, nghĩa là Long Trì và Hoa Cái luôn đồng cung hoặc luôn tam hợp, không bao giờ lệch ra ngoài tam giác. Ba sao Long Trì, Bạch Hổ, Hoa Cái vì thế lúc nào cũng chung một tam hợp cục. Cái duy nhất không chắc là Phượng Các.

Bộ Tứ Linh Long Trì Phượng Các Bạch Hổ Hoa Cái theo từng địa chi năm sinh
Tuổi chiLong TrìPhượng CácBạch HổHoa CáiBộ Tứ Linh có hội đủ không
ThìnTuấtThânThìnHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
SửuTỵDậuDậuSửuHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
DầnNgọThânTuấtTuấtThiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
MãoMùiMùiHợiMùiHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
ThìnThânNgọThìnThiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
TỵDậuTỵSửuSửuHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
NgọTuấtThìnDầnTuấtHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
MùiHợiMãoMãoMùiHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
ThânDầnThìnThìnThiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
DậuSửuSửuTỵSửuHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
TuấtDầnNgọTuấtThiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
HợiMãoHợiMùiMùiHội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì

Kinh nghiệm Vậy câu trả lời dứt khoát cho một câu hỏi rất hay bị nói mò: bộ Tứ Linh hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì ở tám tuổi là Tý, Sửu, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Dậu, Hợi, và không hội đủ ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì ở bốn tuổi ấy Phượng Các đứng cách Long Trì đúng hai cung. Người tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất mà nghe ai nói lá số mình có Tứ Linh thì nên hỏi lại xem bốn sao ấy đang đứng ở đâu.

Long Trì và bảng Tứ Hóa

Suy luận Long Trì không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không có tuổi can nào làm cho Long Trì hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Nó cũng không tự phát ra hóa để bay đi cung khác. Nhưng nó chịu ảnh hưởng rất rõ từ hóa của chính tinh ngồi cùng cung, và đây là cách đọc:

  • Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây là thế hợp nhất của Long Trì trong cả lá số. Hóa Khoa chủ tiếng thơm, thi cử, bằng cấp, danh dự, đúng lĩnh vực của Long Trì. Hai lớp khoa giáp chồng lên nhau, lại thêm Quan Phù đồng cung lo phần giấy tờ, nên chuyện học hành và chứng chỉ của người này thường trôi chảy hơn người khác.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: danh đi liền với quyền. Long Trì làm cho cái quyền ấy có hình thức đẹp, có danh nghĩa chính đáng, đỡ phần thô. Kèm Quan Phù thì quyền ấy hay là quyền có giấy tờ chống lưng chứ không phải quyền do vị thế cá nhân.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: Long Trì không giỏi về tiền, nó chỉ làm cho đường tiền có vẻ ngoài chỉnh tề và hợp lệ. Tiền vào theo lối chính danh, hợp đồng rõ, ít khuất tất, nhưng bản thân Long Trì không làm tiền nhiều thêm.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: đây là thế phải cẩn thận nhất, vì Quan Phù cũng ở đó. Hóa Kỵ chủ vướng mắc, dây dưa, mất mát; cộng khí giấy tờ pháp lý của Quan Phù thì cái vướng ấy hay ứng thành chuyện hồ sơ, hợp đồng, thủ tục, hoặc chuyện danh dự bị đem ra nói. Long Trì lúc này chỉ giữ được cái thể diện bề ngoài, không gỡ được cái nút bên trong. Kinh nghiệm Thầy dặn: gặp thế này thì làm giấy tờ cho kỹ, đọc kỹ hợp đồng, lưu bản cứng, đừng tin vào việc mình là người tử tế thì mọi chuyện sẽ ổn.

Suy luận Vì sao đọc Long Trì phải đọc cả nhóm. Long Trì tự nó là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là hình thức đẹp và danh dự, không phải thực lực. Thực lực nằm ở chính tinh, ở Tứ Hóa, ở Lộc Tồn. Nhưng vị trí của nó lại bị cấu trúc gài vào đúng tam giác Tuế Hổ Phù, dính cứng với Quan Phù, đối mặt Điếu Khách, kề Thiếu Âm và Tử Phù. Cho nên khi luận một cung có Long Trì, thứ tự đúng là: xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, rồi mới cộng Long Trì vào như một lớp phủ về danh dự và hình thức, và cuối cùng phải nhìn sang cung đối diện xem Điếu Khách đang gặp gì.

6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách

Long Trì phối với các sao tạo nên các bộ cách quý:

Khi Long Trì gặpÝ nghĩa kết hợp
Văn Xương, Văn KhúcBộ văn tinh, lợi khoa giáp, học hành.
Khôi, Việt, Tả, HữuBộ hiền thần phò Tử Phủ, uy quyền hiển hách.
Tử Vi, Thiên PhủTăng quý khí, công danh chức vị.
Sát tinh, Tuần TriệtGiảm cái đẹp, công danh trắc trở.

7 Long Trì Tại Đủ Mười Hai Cung Chức

Suy luận Long Trì đi được cả mười hai cung nên không cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng, xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy ở hai mục trên, vì chúng đúng với mọi dòng của bảng: cung có Long Trì thì cung ấy luôn có Quan Phù, cung đối diện luôn có Điếu Khách, và tam phương của nó luôn có Thái Tuế cùng Bạch Hổ. Cột giữa là khi Long Trì gặp chính tinh miếu vượng hoặc gặp văn tinh và cát tinh, tức khi nó đủ sức nói. Cột phải là khi nó bị sát tinh lấn át, bị Hóa Kỵ đè hoặc bị Tuần Triệt án ngữ, tức khi cái hình thức đẹp của nó rỗng ruột.

Ý nghĩa của Long Trì tại từng cung chức, khi đắc thế và khi thất thế
CungLong Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nângLong Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ
MệnhDáng người chỉnh tề, mặt mũi sáng sủa dễ nhìn, ăn nói có chừng mực, biết giữ thể diện cho mình và cho người. Đường học hành thi cử thuận, hay có bằng cấp hoặc chứng chỉ làm vốn. Người khác gặp lần đầu thường có thiện cảm.Coi trọng hình thức tới mức nặng sĩ diện, sợ mất mặt hơn sợ làm sai. Bằng cấp có mà nghề không sâu. Gặp Tuần Triệt thì việc thi cử hay dở dang, thi lại, đổi ngành giữa chừng.
Huynh ĐệAnh em hoặc bạn đồng môn có người ăn học, có danh phận; quan hệ giữ được lễ, ít lời qua tiếng lại. Việc chung trong họ hay có người đứng ra làm giấy tờ đâu ra đấy.Giữ lễ ngoài mặt mà xa cách bên trong. Có Quan Phù ở đây nên chuyện chia chác trong họ dễ phải đưa nhau ra giấy tờ, thậm chí ra pháp lý, dù hai bên đều không muốn.
Phu ThêBạn đời có học, có nghề nghiệp đàng hoàng, dáng dấp coi được, gia đình bên ấy nề nếp. Cưới hỏi làm đủ lễ, hôn thú giấy tờ rõ ràng, hai bên coi trọng danh dự của nhau.Cưới nhau vì môn đăng hộ đối hơn vì hợp tính; chuộng cái vỏ nề nếp mà thiếu chuyện trò thật. Gặp Hóa Kỵ thì chuyện hôn nhân hay vướng thủ tục, đăng ký muộn, hoặc phải nhờ tới giấy tờ để phân định.
Tử TứcCon cái sáng dạ, học được, dễ nuôi, hình thức khá; cha mẹ đầu tư việc học cho con thường thấy kết quả. Chuyện khai sinh nhập học của con trôi chảy.Con học theo lối lấy điểm lấy bằng, thiếu đam mê thật. Cha mẹ đặt kỳ vọng vào thành tích của con nhiều hơn vào con.
Tài BạchTiền vào theo đường chính danh: lương, thù lao chuyên môn, tiền công dạy học, tiền bản quyền, hợp đồng có ký kết. Hồ sơ tài chính sạch, ít khuất tất, dễ vay được vốn vì giấy tờ đẹp.Long Trì không làm ra tiền, nó chỉ làm cho đường tiền coi được. Vỏ chỉnh tề mà ruột mỏng, hay tiêu vào những khoản giữ thể diện. Gặp sát tinh thì tiền dễ vướng vào chuyện hợp đồng, thuế, thủ tục.
Tật ÁchSách không nói Long Trì chủ bộ phận cơ thể nào, nên bài này không gán bừa. Suy luận Điều suy ra được từ cấu trúc là cung Tật Ách có Long Trì thì đi kèm Quan Phù, nên chuyện bệnh của người này hay dính tới hồ sơ y tế, giám định, bảo hiểm; và cung đối diện có Điếu Khách nên tin tức bệnh tật thường do người ngoài nói ra trước.Vẻ ngoài trông khỏe mạnh tươm tất nên chủ quan, khám muộn. Đây là chỗ Long Trì dễ đánh lừa nhất: hình thức đẹp không phải là sức khỏe tốt.
Thiên DiRa ngoài được nể trọng, dễ được giới thiệu, hợp với việc đại diện, đối ngoại, giao tiếp có nghi thức. Đi xa vì việc học hoặc việc chuyên môn thì thuận.Ra ngoài phải giữ hình ảnh nên mệt; bị nhìn nhận theo cái mác chứ không theo con người thật. Điếu Khách lúc này chiếu về Mệnh, dễ bị người ngoài bàn tán.
Nô BộcBạn bè có người học rộng, cấp dưới lễ độ; quan hệ giữ đúng khuôn phép nên ít sinh chuyện. Hay được bạn giới thiệu cho cơ hội chính thức.Bạn nhiều mà toàn quan hệ xã giao. Có Quan Phù nên chuyện với bạn bè hoặc nhân viên dễ đi tới chỗ phải nói bằng văn bản; nên làm rõ mọi thỏa thuận từ đầu.
Quan LộcĐây là cung Long Trì nói rõ nhất. Hợp nghề cần bằng cấp và danh phận: dạy học, nghiên cứu, luật, y, hành chính, ngoại giao, nghề có chứng chỉ hành nghề. Thăng tiến hay đi kèm một tờ quyết định. Thi tuyển, thi nâng ngạch, xét học hàm học vị đều thuận.Có chức danh mà thiếu thực quyền; ngồi chỗ coi được mà việc không nhiều. Gặp Hóa Kỵ cùng Quan Phù thì công việc dễ vướng thanh tra, kiểm tra hồ sơ, hoặc chuyện bằng cấp bị đem ra xét.
Điền TrạchKinh văn Tân Biên nói Long Trì Phượng Các làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Nhà cửa khang trang, mặt tiền coi được, chỗ ở có thế đẹp; giấy tờ nhà đất đầy đủ, sổ sách rõ ràng.Nhà đẹp mã mà công năng kém, hoặc mua nhà vì thích cái vẻ chứ không vì tiện sống. Gặp sát tinh thì nhà đất hay vướng thủ tục, tranh chấp ranh giới, giấy tờ chậm.
Phúc ĐứcTrong lòng chuộng cái đẹp, cái nề nếp; thích chữ nghĩa, thích chỗ trang nhã. Phúc phần của dòng họ hay dính tới việc học, có người trong họ làm nghề chữ nghĩa.Hay tự ràng mình vào khuôn phép, sống theo mắt người khác nhìn, ít khi cho phép mình xuề xòa. Đây là cái mệt lặng mà người ngoài không thấy.
Phụ MẫuCha mẹ có học hoặc coi trọng việc học, nề nếp gia phong tốt, dạy con biết giữ lễ. Quan hệ với cấp trên và với thầy cũng thuận, dễ được người trên đứng tên bảo lãnh.Cha mẹ nặng về thể diện, đặt kỳ vọng bằng cấp lên con. Có Quan Phù ở đây nên chuyện thừa kế, giấy tờ nhà cửa của cha mẹ nên làm sớm và làm rõ.

Mẹo đọc bảng

Kinh nghiệm Thầy đưa ba mẹo mà Thầy dùng hàng ngày. Mẹo thứ nhất, đọc Long Trì như một lớp phủ chứ không phải một cái móng. Nó không đổi bản chất cung, nó chỉ làm cho cái bản chất ấy có hình thức chỉnh tề hơn. Cung tốt gặp Long Trì thì cái tốt được nhìn thấy; cung xấu gặp Long Trì thì cái xấu được che đi, mà che đi không phải là hết.

Kinh nghiệm Mẹo thứ hai, hễ đọc Long Trì thì mở ngoặc đọc luôn Quan Phù. Vì hai sao dính cứng, nên mọi dòng trong bảng trên đều có thể thêm một câu hỏi: chuyện này có dính giấy tờ không. Rất nhiều lần Thầy tìm ra manh mối của một cung chỉ nhờ hỏi thêm câu ấy.

Kinh nghiệm Mẹo thứ ba, xem Phượng Các trước khi kết luận. Nếu tuổi của quý vị thuộc nhóm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì Long Trì đứng một mình, không có Phượng Các đỡ, lúc ấy nghĩa khoa giáp mỏng hẳn và phải trông vào Văn Xương Văn Khúc, Hóa Khoa, Thai Phụ Phong Cáo, Tam Thai Bát Tọa để bù. Nếu tuổi thuộc nhóm Mão hoặc Dậu thì hai sao chồng lên nhau tại một cung, cộng thêm Giải Thần cũng ở đó, cung ấy trở thành cung đáng chú ý nhất lá số về mặt danh dự.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thấy rõ mà không trộn. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường ứng thành hoàn cảnh chứ không thành sự việc. Riêng với Long Trì thì cấu trúc đã khóa sẵn nhiều thế và không đổi được: Quan Phù chỉ có thể đồng cung, Thái Tuế và Bạch Hổ chỉ có thể tam hợp chiếu, Điếu Khách chỉ có thể xung chiếu, Thiếu Âm và Tử Phù chỉ có thể giáp, còn Hồng Loan, Thiên Hỷ, Đào Hoa, Thiên Mã, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Hư, Thiên Đức, Nguyệt Đức thì không thể đồng cung bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.

Long Trì phát huy được khi gặp

  • Phượng Các (đồng cung ở tuổi Mão và tuổi Dậu là mạnh nhất, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): trọn bộ Long Phượng, cách khoa giáp đẹp. Đồng cung thì kéo theo cả Giải Thần nên cung ấy vừa có danh vừa có phần giải trừ.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp và xung chiếu vẫn có tác dụng; an theo giờ sinh nên không cố định): bộ văn tinh thật sự làm nên khoa giáp. Long Trì cho cái danh, Xương Khúc cho cái tài chữ nghĩa để đỡ cái danh ấy. Đây là cặp hợp nhất của Long Trì.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): cùng lĩnh vực thi cử, bằng cấp, tiếng thơm. Hai lớp chồng nhau, lại có Quan Phù lo phần giấy tờ nên rất thuận cho việc học lên và việc xin chứng chỉ.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân đứng ra tiến cử. Long Trì chủ cái danh xứng đáng, Khôi Việt chỉ ra ai là người đưa cái danh ấy tới.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh): có người đỡ tay, việc chính thức hóa được. Bộ Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu hội cùng Long Phượng chính là bộ hiền thần mà Tân Biên nói tới.
  • Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung hoặc chiếu; an theo giờ sinh nên không cố định, hai sao này luôn cách nhau bốn cung nên chúng luôn tam hợp nhau): bộ sao chủ sắc phong, chức danh, giấy khen. Cùng hướng với Long Trì và với Quan Phù, ba lớp danh dự cộng lại.
  • Tam Thai, Bát Tọa (đồng cung hoặc chiếu; an theo ngày sinh phối Tả Hữu nên không có quan hệ cố định nào với Long Trì): chủ ngôi thứ, chỗ ngồi, thứ bậc. Hợp với nghĩa khoa giáp của Long Trì.
  • Tử Vi, Thiên Phủ (đồng cung): tăng quý khí, đúng như sách nói bộ hiền thần phò Tử Phủ. Long Trì làm cho cái sang của Tử Phủ có thêm phần nề nếp.
  • Bạch Hổ và Hoa Cái (Bạch Hổ luôn tam hợp, Hoa Cái luôn đồng cung hoặc tam hợp): góp thành bộ Tứ Linh khi có đủ Phượng Các. Thế này cho phong thái và sự được trọng, không cho tiền.
  • Phi Liêm (đồng cung hoặc chiếu; thuộc vòng Bác Sĩ, an theo can năm nên không cố định): Kinh văn Tân Biên nói Long Trì gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui một cách nhanh chóng.

Long Trì e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Long Trì là nặng nhất): đây là thế Thầy dặn kỹ nhất. Long Trì vốn chỉ mạnh về hình thức, mà Tuần Triệt lại chuyên chặn phần hình thức, nên việc thi cử dở dang, bằng cấp chậm, danh đến muộn hoặc đến rồi lại mất. Người có thế này nên làm nghề bằng thực chất, đừng trông vào cái mác.
  • Hóa Kỵ đồng cung (mạnh nhất khi đồng cung, xung chiếu cũng đáng ngại): cộng với Quan Phù vốn luôn ở đó thì cái vướng hay ứng vào giấy tờ, hợp đồng, hồ sơ, hoặc chuyện danh dự bị đem ra bàn. Phải xử lý gốc chứ Long Trì không gỡ được.
  • Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất): Kình Dương làm cho việc tranh danh thành tranh chấp thật; Đà La làm cho mọi thủ tục kéo dài lê thê. Cả hai đều đánh thẳng vào chỗ Long Trì yếu.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái đẹp bị làm cho gấp gáp và nóng nảy, hay có chuyện bùng lên rồi tắt. Danh dự dễ tổn thương vì một lời nói lúc nóng.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung): làm rỗng phần hình thức, nghĩa là cái danh có mà không đem lại gì thật. Người ngoài tưởng quý vị đang lên, chỉ quý vị biết là không.
  • Điếu Khách (vĩnh viễn chỉ có thể xung chiếu, không tránh được): bản thân thế này là cố định nên không nên coi là điềm xấu. Chỉ cần nhớ rằng cung đối diện luôn có sao chủ lời bàn, nên chuyện của cung có Long Trì hay bị người ngoài biết và bàn.
  • Thiên Hình đồng cung (an theo tháng sinh nên không cố định): cộng với Quan Phù thành thế nặng về pháp lý. Không có nghĩa là sẽ kiện tụng, nhưng có nghĩa là việc gì cũng nên làm cho đúng luật và đủ giấy.
  • Chính tinh hãm địa (đồng cung): Long Trì không cứu được chính tinh hãm, nó chỉ làm cho cái hãm ấy trông chỉnh tề hơn. Đây là chỗ dễ đọc nhầm nhất, xin xem kỹ mục ranh giới.

Tóm lại, Long Trì là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

9 Long Trì Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Suy luận Mọi mục phía trên nói về Long Trì tĩnh: nó nằm ở cung nào, đi với ai. Mục này nói về Long Trì động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.

Đại vận đi vào cung có Long Trì

Kinh nghiệm Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Long Trì bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái chung mà Thầy hay gọi là quãng được nhìn thấy. Không nhất thiết là quãng giàu, cũng không nhất thiết là quãng sướng, nhưng là quãng mà tên tuổi, chức danh, bằng cấp, vị trí xã hội của người ấy được xác lập hoặc được nâng lên. Thầy thấy quãng này hay ứng vào bốn loại việc: học lên một bậc, lấy được một chứng chỉ hoặc giấy phép hành nghề, được cất nhắc vào một vị trí có chức danh, và làm xong một bộ giấy tờ lớn như nhà đất, hôn thú, đăng ký doanh nghiệp.

Suy luận Bốn điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Long Trì. Thứ nhất, cung ấy luôn có Quan Phù, nên mười năm đó chuyện giấy tờ và pháp lý nhiều hơn bình thường; đây là điều trung tính, nó thành tốt hay xấu là do chính tinh và do hóa. Thứ hai, cung đối diện luôn có Điếu Khách, nên quãng ấy quý vị được bàn tới nhiều, khen có chê có; người làm nghề công chúng thì đây là lợi, người ưa yên thì đây là phiền. Thứ ba, phải xem đại vận ấy mang Tứ Hóa gì vào cung: đại vận đem Hóa Khoa tới thì mười năm ấy đúng là mười năm khoa giáp; đại vận đem Hóa Kỵ tới thì Long Trì chỉ giữ được thể diện bề ngoài. Thứ tư, phải xem Phượng Các có chiếu tới cung ấy không, vì với bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì Phượng Các đứng cách hai cung và không chiếu tới, bộ Long Phượng không thành, nghĩa khoa giáp phải trông vào Xương Khúc và Hóa Khoa.

Kinh nghiệm Thầy cũng phải nói mặt trái để quý vị khỏi mừng hụt. Đại vận vào cung Long Trì mà lá số vốn thiếu thực lực, tức chính tinh hãm, không Hóa Quyền, không Lộc Tồn, thì mười năm ấy dễ thành mười năm có tiếng mà không có miếng: chức danh có, lời khen có, mà thu nhập và quyền quyết định thì không. Thầy gặp thế này nhiều nhất ở những người làm nghề chữ nghĩa và nghề công. Cách xử là dùng chính mười năm ấy để đổi cái danh thành cái nền: lấy bằng, lấy chứng chỉ, dựng hồ sơ nghề nghiệp, tạo mối quan hệ chính thức, để tới đại vận sau có cái mà tiêu.

Long Trì có bản lưu niên không

Suy luận Phải trả lời dứt khoát vì đây là chỗ hay bị nói mập mờ. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, Long Trì chỉ được an một lần theo chi năm sinh và không có bản lưu riêng. Sách cũng không lập bản lưu cho Long Trì. Nhưng vì hai lý do sau, quý vị vẫn suy ra được một cung Long Trì của từng năm nếu muốn dùng.

Suy luận Lý do thứ nhất là tham số. Long Trì an theo chi năm sinh, mà mỗi năm lại có một chi mới, nên về nguyên tắc cứ thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem là ra ngay cung Long Trì của năm ấy. Đây khác hẳn vòng Tràng Sinh vốn an theo Cục, mà Cục là con số cố định của một lá số nên không có bản lưu; cũng khác Tả Phụ Hữu Bật an theo tháng sinh và Văn Xương Văn Khúc an theo giờ sinh, hai tham số ấy cố định suốt đời nên cũng không có bản lưu. Lý do thứ hai là Long Trì trùng khít cung Quan Phù, mà vòng Thái Tuế thì chắc chắn có bản lưu niên, nên cung lưu Quan Phù của một năm chính là cung Long Trì của năm ấy. Hai cách tính cho cùng một kết quả, và bảng dưới đây tính sẵn mười hai năm tới.

Cung lưu Thái Tuế, lưu Quan Phù tức cung Long Trì của năm, lưu Phượng Các, lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ của mười hai năm tới
NămLưu Thái TuếCung Long Trì của năm, trùng lưu Quan PhùCung Phượng Các và Giải Thần của nămLưu Tang MônLưu Bạch Hổ
2026 Bính NgọNgọTuấtThìnThânDần
2027 Đinh MùiMùiHợiMãoDậuMão
2028 Mậu ThânThânDầnTuấtThìn
2029 Kỷ DậuDậuSửuSửuHợiTỵ
2030 Canh TuấtTuấtDầnNgọ
2031 Tân HợiHợiMãoHợiSửuMùi
2032 Nhâm TýThìnTuấtDầnThân
2033 Quý SửuSửuTỵDậuMãoDậu
2034 Giáp DầnDầnNgọThânThìnTuất
2035 Ất MãoMãoMùiMùiTỵHợi
2036 Bính ThìnThìnThânNgọNgọ
2037 Đinh TỵTỵDậuTỵMùiSửu

Kinh nghiệm Bảng này dùng được ngay theo ba cách. Cách một, tra xem cung Long Trì của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc; đó là lĩnh vực mà năm ấy chuyện danh dự, giấy tờ và bằng cấp nổi lên. Cách hai, xem cung ấy có trùng cung Long Trì bản mệnh không; trùng thì đó là năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, tức năm tuổi, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Năm ấy hai lớp Long Trì chồng lên nhau, chuyện danh phận nổi rõ, mà lưu Thái Tuế cũng đè lên cung tuổi nên phải xét cả hai. Cách ba, và đây là cách Thầy dùng nhiều nhất khi khách hỏi về thi cử: xem cung Long Trì và cung Phượng Các của năm có chiếu vào cung Quan Lộc hoặc cung Mệnh trên lá số gốc không, rồi mới cộng thêm lưu Xương Khúc và lưu Khôi Việt để kết luận.

Các lưu sao chạm vào cung Long Trì

Suy luận Ngoài hai cung trên, có bốn nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Long Trì bị chạm trong một năm cụ thể:

  • Lưu Thái Tuế và cả vòng lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Thái Tuế rơi đúng cung Long Trì bản mệnh thì năm ấy khoảng cách giữa hai sao là bốn cung theo chiều ngược, tức cung Long Trì bản mệnh trở thành cung lưu Thái Tuế và chuyện danh phận đưa ra mặt tiền. Năm nào lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ rơi vào đó thì cái danh ấy dễ dính chuyện buồn hoặc chuyện tang, phải xét cả cung Phụ Mẫu.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Hai sao này rơi vào cung Long Trì thì việc tranh danh dễ thành tranh chấp, hoặc thủ tục bị kéo dài.
  • Lưu Văn Xương và lưu Văn Khúc, an theo can năm xem. Đây là cặp lưu sao đáng mừng nhất với Long Trì vì cùng lĩnh vực chữ nghĩa; năm nào lưu Xương hoặc lưu Khúc chiếu vào cung Long Trì thì việc học, việc thi, việc viết lách thuận hơn hẳn.
  • Lưu Khôi Việt, an theo can năm xem. Chiếu vào cung Long Trì thì năm ấy hay có người tiến cử, có cơ hội được đề bạt hoặc được mời vào một vị trí có danh.

Kinh nghiệm Một câu dặn cuối cho mục này. Long Trì là sao nhỏ, nên đừng bao giờ lấy riêng nó để quyết một năm tốt hay xấu. Thứ tự đúng khi luận hạn là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, xem sát tinh và Tuần Triệt, rồi mới cộng các sao nhỏ như Long Trì, Phượng Các, Giải Thần vào để chỉnh sắc thái. Ai làm ngược thứ tự này thì luận đâu sai đó.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Long Trì

Suy luận Long Trì là một cát tinh nhỏ mang cái tên rất đẹp là ao rồng. Tên đẹp thì dễ bị thổi, và bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần.

Hiểu lầm một: có Long Trì là chắc chắn đỗ đạt

Kinh nghiệm Không. Vì Long Trì an theo chi năm sinh nên mọi lá số đều có Long Trì, mười hai tuổi phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Long Trì là đỗ đạt thì cả nước đã đỗ hết. Điều sách nói là Long Trì chủ khoa giáp, tức nó thuộc về lĩnh vực thi cử và bằng cấp, chứ không phải nó bảo đảm kết quả trong lĩnh vực ấy. Kết quả do chính tinh, do Tứ Hóa, do bộ văn tinh Xương Khúc, do Hóa Khoa quyết định; Long Trì chỉ nói rằng chuyện học hành thi cử là một mạch đáng chú ý của đời người này.

Hiểu lầm hai: bộ Long Phượng lúc nào cũng có, chỉ cần tìm là thấy

Suy luận Sai, và đây là hiểu lầm tai hại nhất vì nó dẫn tới việc luận bừa. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả rõ ràng: bộ Long Phượng chỉ hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi, còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung và vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Với bốn tuổi ấy, người luận phải nói thẳng là bộ Long Phượng không thành trên lá số này, rồi luận từng sao tại từng cung, chứ không được mượn cái tiếng của bộ đôi để tô cho một sao lẻ.

Hiểu lầm ba: Long Trì chủ cưới hỏi nên gặp Hồng Loan là song hỷ

Kinh văn Tân Biên có nói bộ Long Phượng liên quan tới việc cưới hỏi và sinh nở, điều ấy đúng, bài này không phủ nhận. Suy luận Nhưng cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa, không phải liên quan về cấu trúc, và nhiều người đã đẩy nó đi quá xa thành câu Long Trì gặp Hồng Loan thì cưới. Máy nói rõ điều ngược lại: khoảng cách giữa Long Trì với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ ở cả mười hai tuổi, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên Long Trì không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp với ba sao hỷ sự ấy. Phượng Các và Giải Thần cũng vậy. Nghĩa là cái cách gọi là Long Trì gặp Hồng Loan thì hoàn toàn không tồn tại trên bất kỳ lá số nào. Ai luận cho quý vị bằng thế ấy là người chưa từng chạy số.

Hiểu lầm bốn: có Long Trì thì không sợ Quan Phù

Suy luận Ngược lại hẳn. Long Trì luôn ngồi chung cung với Quan Phù, mười hai trên mười hai tuổi, nên không có chuyện Long Trì hóa giải được Quan Phù; hai sao là một chỗ. Cách đọc đúng là coi cung ấy có hai lớp nghĩa cùng chảy: lớp danh dự và lớp giấy tờ pháp lý. Cung tốt thì hai lớp bổ nhau, thành ra người có danh chính ngôn thuận, có bằng có dấu. Cung xấu thì hai lớp cũng cộng lại, thành ra chuyện danh dự bị đưa vào hồ sơ. Muốn nhẹ phần Quan Phù thì phải trông vào Hóa Khoa, vào Thiên Lương, vào Thiên Đức Nguyệt Đức, chứ không trông vào Long Trì.

Một ranh giới nữa về chữ nghĩa

Suy luận Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh, với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn tức can năm sinh. Hai sao khác nhau, tên đọc gần giống nhau, và nhiều bài viết trên mạng nhập chung làm một. Long Trì chỉ dính cứng với Quan Phù của vòng Thái Tuế; với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ thì không có quan hệ cố định nào, vì hai sao an theo hai tham số khác nhau.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Long Trì Qua Ba Bước

Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Ất Mão, Tử Vi an tại Tuất, Mệnh an tại Mùi. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng ba sao của bài này và vòng Thái Tuế thì lưới không vẽ, Thầy ghi rõ ra đây để đối chiếu: tuổi Mão nên Long Trì tại Mùi, Phượng Các tại Mùi, Giải Thần cũng tại Mùi, đây đúng là một trong hai tuổi mà bộ Long Phượng đồng cung. Vòng Thái Tuế thì Thái Tuế tại Mão, Thiếu Dương tại Thìn, Tang Môn tại Tỵ, Thiếu Âm tại Ngọ, Quan Phù tại Mùi, Tử Phù tại Thân, Tuế Phá tại Dậu, Long Đức tại Tuất, Bạch Hổ tại Hợi, Phúc Đức tại Tý, Điếu Khách tại Sửu, Trực Phù tại Dần. Thêm Hoa Cái tại Mùi, Thiên Khốc tại Mão, Thiên Hư tại Dậu, Hồng Loan tại Tý, Thiên Hỷ tại Ngọ, Đào Hoa tại Tý, Thiên Mã tại Tỵ.

Bước một: Long Trì nằm ở cung chức nào và đi với ai

Suy luận Mệnh an tại Mùi nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Mùi là Mệnh, Ngọ là Huynh Đệ, Tỵ là Phu Thê, Thìn là Tử Tức, Mão là Tài Bạch, Dần là Tật Ách, Sửu là Thiên Di, Tý là Nô Bộc, Hợi là Quan Lộc, Tuất là Điền Trạch, Dậu là Phúc Đức, Thân là Phụ Mẫu. Vậy Long Trì rơi đúng vào cung Mệnh tại Mùi, và rơi cùng lúc với Phượng Các, Giải Thần, Quan Phù và Hoa Cái. Năm ngôi sao trong một cung, đây là một cung Mệnh rất đông.

Suy luận Chính tinh tại Mùi là Thái Dương và Thái Âm đồng cung, tức thế Nhật Nguyệt tịnh minh tại Mùi. Tuổi Ất thì Thái Âm hóa Kỵ, nên cung Mệnh này có một chính tinh mang Kỵ ngay trên Mệnh. Kiểm tiếp cấu trúc: cung liền trước Mùi là Ngọ có Thiếu Âm cùng Thiên Hỷ và Vũ Khúc Thiên Phủ; cung liền sau là Thân có Tử Phù cùng Nguyệt Đức và Tham Lang, đúng thế giáp cố định của Long Trì. Cung đối diện là Sửu, cung Thiên Di, cung trống và có Điếu Khách, đúng thế xung cố định. Tam phương chiếu về là Mão tức Tài Bạch có Thái Tuế, Thiên Khốc và Lộc Tồn tuổi Ất, và Hợi tức Quan Lộc có Bạch Hổ cùng Thiên Lương hóa Quyền.

Kinh nghiệm Vậy trên lá số này bộ Tứ Linh hội đủ: Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái cùng ở Mệnh, Bạch Hổ ở Quan Lộc tam hợp chiếu về. Thêm Thái Tuế ở Tài Bạch cũng tam hợp. Đây là mẫu lá số mà người ta hay khen là quý cách, dáng người coi được, ra ngoài được nể. Nhưng đọc tiếp thì thấy ngay chỗ phải dè.

Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì

Suy luận Bốn hóa của tuổi Ất rải như sau: Thiên Cơ hóa Lộc tại Dậu là cung Phúc Đức, Thiên Lương hóa Quyền tại Hợi là cung Quan Lộc, Tử Vi hóa Khoa tại Tuất là cung Điền Trạch, và Thái Âm hóa Kỵ tại Mùi là cung Mệnh. Lộc Tồn tuổi Ất an tại Mão là cung Tài Bạch, kéo theo Kình Dương tại Thìn là Tử Tức và Đà La tại Dần là Tật Ách.

Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Mệnh có Nhật Nguyệt cùng bộ Long Phượng Hoa Cái, lại thêm Quan Phù: người này hình thức chỉnh tề, có phong thái, nói năng có chừng mực, hợp với nghề cần danh phận và cần giấy tờ. Nhưng Thái Âm ngay tại Mệnh lại hóa Kỵ, nghĩa là bên trong có một mối bận không gỡ được, thường ứng vào chuyện tình cảm, chuyện mẹ hoặc người nữ trong nhà, và vào tính hay nghĩ ngợi ban đêm. Long Trì và Phượng Các không xóa được cái Kỵ ấy, chúng chỉ làm cho người ngoài không nhìn thấy. Đây chính là điều Thầy nói ở mục ranh giới: Long Trì che, không chữa.

Suy luận Giải Thần cũng ở ngay cung Mệnh, và đây là điểm đáng nói của lá số này. Giải Thần chủ giải trừ tai ách, nên nó có làm dịu phần nào cái Kỵ của Thái Âm; nhưng Giải Thần là sao nhỏ, cái nó giải là phần ngọn, không phải phần gốc. Cách đọc đúng: người này gặp chuyện thì thường có đường lui, có người dàn xếp, chuyện không đi tới chỗ vỡ; nhưng mối bận trong lòng thì vẫn còn nguyên năm này qua năm khác.

Suy luận Kiểm thêm hai điều mà cấu trúc đã hứa và lá số này xác nhận. Thứ nhất, Điếu Khách ở Thiên Di xung thẳng về Mệnh: người này ra ngoài hay bị bàn tán, chuyện riêng dễ thành chuyện chung. Thứ hai, Hồng Loan tại Tý và Thiên Hỷ tại Ngọ, cả hai đều không chiếu tới cung Mùi: đúng như máy đã nói, Long Trì và Phượng Các không bao giờ hội được với hai sao hỷ sự. Ai muốn xem chuyện hôn nhân của lá số này thì phải nhìn cung Phu Thê tại Tỵ có Thiên Đồng và nhìn Hồng Loan tại Tý là cung Nô Bộc, chứ không được mượn bộ Long Phượng ở Mệnh.

Bước ba: vận nào chạm tới

Kinh nghiệm Với lá số này, ba loại năm đáng chú ý. Năm Mão, tức năm tuổi, lưu Thái Tuế đè lên Tài Bạch nơi có Lộc Tồn và Thiên Khốc, còn cung Long Trì của năm rơi đúng vào Mùi tức cung Mệnh, chồng lên Long Trì bản mệnh; năm ấy chuyện danh phận nổi rõ, hợp việc thi cử, nhận chức, làm giấy tờ lớn, mà cũng dễ bị đem ra bàn. Năm Dậu, cung Long Trì của năm rơi vào Sửu tức Thiên Di, đối xung Mệnh; năm ấy danh của người này được xác lập ở bên ngoài, đi xa hoặc đổi chỗ làm thì thuận. Những năm mà lưu Kình Đà hoặc lưu Tang Hổ rơi vào Mùi thì phải cẩn thận, vì cung Mệnh vốn đã có Hóa Kỵ, thêm sát tinh lưu thì bộ Long Phượng không đỡ nổi, phải xem đó là năm giữ mình chứ không phải năm tiến.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Vẫn tuổi Ất nhưng đổi chi năm sinh sang Dậu. Long Trì, Phượng Các và Giải Thần cùng dời về Sửu, Quan Phù cũng về Sửu, Hoa Cái về Sửu, Bạch Hổ về Tỵ. Bộ Long Phượng vẫn đồng cung nhưng nay rơi vào cung Thiên Di thay vì cung Mệnh, nên cái danh của người này hình thành ở bên ngoài, ở nơi xa, ở môi trường mới, chứ không ở ngay tại chỗ. Mẫu người này hợp đi học xa, làm việc với người nước ngoài, hoặc làm nghề phải đại diện cho một tổ chức.
  • Đổi sang tuổi Thìn. Long Trì về Thân, Phượng Các và Giải Thần về Ngọ, hai sao cách nhau đúng hai cung nên bộ Long Phượng không thành. Lúc ấy phải bỏ hẳn lối luận bộ đôi, xem Long Trì ở Phụ Mẫu như một sao lẻ chủ nề nếp gia phong và giấy tờ của cha mẹ, xem Phượng Các ở Huynh Đệ như một sao lẻ chủ hình thức trong quan hệ anh em, và trông vào Xương Khúc cùng Hóa Khoa để luận khoa giáp.
  • Vẫn tuổi Mão nhưng đổi can sang Tân. Vị trí Long Trì, Phượng Các, Giải Thần không đổi vì chúng chỉ ăn theo chi, vẫn ở Mùi. Nhưng Tứ Hóa đổi hẳn: Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền, Văn Khúc hóa Khoa, Văn Xương hóa Kỵ. Thái Dương ở ngay cung Mệnh nay hóa Quyền thay vì đứng cạnh một Thái Âm hóa Kỵ, nên cùng một bộ Long Phượng ấy mà đọc khác hẳn: người này danh đi liền quyền, đứng ra làm chủ được. Đổi lại phải dè Văn Xương hóa Kỵ, vì chữ nghĩa giấy tờ là chỗ Quan Phù đang chờ sẵn ở cung Mệnh.

Suy luận Ba bước trên là cách Thầy đọc mọi lá số có Long Trì: tìm cung, đọc chính tinh và hóa của nó, rồi mới cộng lớp danh dự của Long Trì vào, và bao giờ cũng liếc sang cung đối diện xem Điếu Khách đang gặp gì. Quý vị muốn làm thử trên lá số của chính mình thì an lá số tại mục Tử Vi của trang, tìm cung có Long Trì rồi đi lại đúng ba bước ấy.

12 Lời Khuyên Và Cách Dùng Long Trì Cho Đúng

Kinh nghiệm Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách biến cái hình thức đẹp thành cái nền thật. Thầy chia làm ba nhóm.

Dùng đúng cái mà Long Trì cho

  • Cái nó cho là cánh cửa, không phải căn phòng. Long Trì làm cho người khác có thiện cảm ban đầu, làm cho hồ sơ của quý vị coi được, làm cho quý vị được mời vào bàn. Còn ngồi được ở bàn ấy bao lâu thì do thực lực. Vậy nên đã có cửa mở thì phải bước vào và học cho tới nơi.
  • Đầu tư vào bằng cấp và chứng chỉ, vì đó đúng là mạch của quý vị. Kinh nghiệm Thầy thấy người có Long Trì đẹp mà không chịu học tiếp thì tới tuổi bốn mươi hay tiếc, vì cái duyên với chuyện thi cử của họ mạnh hơn người thường, bỏ phí thì uổng.
  • Giữ giấy tờ cho gọn. Vì Quan Phù luôn ngồi cùng cung, nên nếp giữ hồ sơ, hợp đồng, bằng cấp, giấy tờ nhà đất một cách ngăn nắp là việc thực dụng nhất mà người có Long Trì nên làm. Một tủ hồ sơ gọn gàng đáng giá hơn mọi vật phẩm phong thủy.

Nếu Long Trì của quý vị bị lấn át

  • Đếm sát tinh trước khi mừng. Cung có Long Trì mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có cát tinh, phải luận cung ấy theo lối bình thường và phòng bị theo lối bình thường.
  • Gặp Tuần Triệt án ngữ thì đừng trông vào cái mác. Kinh nghiệm Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất. Người có Long Trì bị Tuần Triệt nên chọn nghề trả công theo kết quả chứ đừng chọn nghề trả công theo danh phận, vì cái danh của họ đến muộn và hay dở dang.
  • Gặp Hóa Kỵ đồng cung thì vẫn phải xử lý gốc. Long Trì làm cho cái vướng trông đỡ khó coi, không làm cho nó biến mất. Hồ sơ vẫn phải làm lại, hợp đồng vẫn phải sửa, lời hứa vẫn phải thực hiện.
  • Tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì đừng đi tìm bộ Long Phượng. Cấu trúc không cho, tìm cũng không ra. Hãy trông vào Văn Xương Văn Khúc, vào Hóa Khoa, vào Thai Phụ Phong Cáo và Tam Thai Bát Tọa để bù phần khoa giáp.

Điều Thầy muốn nói thẳng

Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Long Trì, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới, tức lĩnh vực học hành, danh dự và giấy tờ. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Long Trì, mở được khoa giáp, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra đúng với những người có bộ Long Phượng đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở thói sống bằng hình thức. Người được khen dáng dấp coi được, ăn nói có chừng, hồ sơ đẹp, thì rất dễ quen với việc được đánh giá cao hơn thực lực, và tới lúc phải làm việc thật thì hụt. Thầy khuyên mỗi vài năm nên tự hỏi một câu thô: nếu bỏ hết chức danh và bằng cấp đi thì mình còn làm được cái gì bằng tay. Trả lời được câu ấy thì Long Trì mới thành của mình.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người có Long Trì nên có một góc làm việc sáng sủa, bàn rộng, đủ chỗ bày sách vở và hồ sơ, vì nếp làm việc gọn gàng hợp với mạch chữ nghĩa của sao này. Bằng cấp và giấy khen nếu treo thì treo ở chỗ làm việc chứ đừng treo ở phòng khách, để nó nhắc mình chứ không phải để khoe khách. Hồ sơ quan trọng nên có bản cứng lưu một chỗ cố định và bản mềm sao lưu, đây là việc thực dụng chứ không cần tin gì thêm. Giữ nếp học một thứ mới mỗi năm, dù nhỏ, cũng nên coi là cách bồi cho mạch khoa giáp của thời nay. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Long Trì và Phượng Các: hai sao đi cặp, an theo chi năm sinh, Long Trì hành Thủy, chủ thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ; liên quan việc cưới hỏi và sinh nở; đem lại may mắn, làm công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi; gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu thì kết thành bộ hiền thần phò Tử Phủ; gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui nhanh chóng. Mọi câu gắn thẻ Kinh văn trong bài về tính chất Long Trì đều quy về mục này. Sách không lập câu phú riêng cho Long Trì, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: dùng để kiểm lại phép an Long Trì đếm thuận và Phượng Các đếm nghịch theo chi năm sinh, và kiểm lại thứ tự mười hai sao vòng Thái Tuế trình bày ở mục quan hệ cố định.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài được sinh và kiểm bằng chương trình chạy đủ mười hai địa chi năm sinh và mười hai thế Tử Vi, đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: bảng vị trí Long Trì, Phượng Các, Giải Thần theo mười hai chi; kết luận Long Trì luôn đồng cung với Quan Phù của vòng Thái Tuế, đúng mười hai trên mười hai tuổi, vì hai sao dùng chung công thức chi năm sinh cộng bốn cung; kết luận Giải Thần luôn đồng cung với Phượng Các, đúng mười hai trên mười hai tuổi, vì hai sao dùng chung đúng một công thức trên thuật toán đang chạy; kết luận Long Trì luôn tam hợp Thái Tuế và Bạch Hổ, luôn xung chiếu Điếu Khách, luôn giáp giữa Thiếu Âm và Tử Phù cùng Nguyệt Đức, luôn cách Tang Môn và Tuế Phá đúng hai cung; kết luận Long Trì luôn đồng cung hoặc tam hợp với Hoa Cái; kết luận Long Trì, Phượng Các và Giải Thần không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ và Đào Hoa, vì khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ; kết luận Long Trì không bao giờ đồng cung với Thiên Mã, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Hư, Thiên Đức, Nguyệt Đức; bảng quan hệ giữa Long Trì và Phượng Các theo từng tuổi, cho ra đồng cung ở tuổi Mão tại Mùi và tuổi Dậu tại Sửu, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ trên trục Thìn Tuất, tam hợp ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi, và cách hai cung không hội chiếu ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất; từ đó suy ra bộ Tứ Linh hội đủ ở tám tuổi và không hội đủ ở bốn tuổi; danh sách chính tinh có thể đồng cung với Long Trì tại từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể và cung ấy cũng có thể trống. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Long Trì không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.

Lưu ý về dị bản: phép an Long Trì và Phượng Các thống nhất giữa các bộ sách, nhưng cách an Giải Thần thì có dị bản: một số tài liệu an Giải Thần theo tháng sinh chứ không theo chi năm sinh, và khi ấy Giải Thần sẽ không còn trùng cung Phượng Các nữa. Bài này trình bày theo thuật toán đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, tức Giải Thần an theo chi năm sinh và luôn đồng cung Phượng Các; quý vị dùng sách khác thì nên kiểm lại cách an của sách ấy trước khi đối chiếu. Cần phân biệt rõ Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, hai sao khác nhau và an theo hai tham số khác nhau. Một số tài liệu lưu truyền trong dân gian gán cho Long Trì những câu phú và những lời ca ngợi mà bài này không dẫn, vì chưa đối chiếu được với bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc rồi đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, phần Đặc Tính Các Sao, và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư bản Vũ Tài Lục dùng để đối chiếu cách an phụ tinh; toàn bộ phần cấu trúc an sao và quan hệ cố định giữa Long Trì với các sao cùng an theo chi năm sinh đã kiểm lại bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp quý vị phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm luận giải, đâu là suy luận từ nguyên lý, trước khi áp một ngôi sao vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Long Trì

Long Trì là sao chủ khoa giáp và may mắn trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, đi cặp với Phượng Các. Bộ Long Phượng chủ thông minh, đỗ đạt, cưới hỏi, sinh nở và làm công danh tài lộc hưng vượng.

Long Trì và Phượng Các giáp hoặc hội chiếu nhau tạo thành bộ Long Phượng đầy đủ, là cách khoa giáp đẹp, báo đỗ đạt, công danh và những việc tốt lành như cưới hỏi.

Long Trì là cát tinh, chủ may mắn, thông minh, nhân hậu. Gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu thì thành bộ hiền thần phò Tử Phủ; chỉ khi gặp sát tinh hay Tuần Triệt mới giảm tốt.

Long Trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Phượng Các trong lá số.

Có, và đây là điều bất biến tuyệt đối. Long Trì an tại cung mang chi năm sinh đếm thuận thêm bốn cung. Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế, tức cũng cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận. Hai công thức trùng khít nhau, nên chạy đủ mười hai địa chi bằng thuật toán an sao thì Long Trì và Quan Phù ngồi chung một cung ở cả mười hai trường hợp, không sót tuổi nào. Hệ quả là mọi lời luận về Long Trì đều phải đọc kèm Quan Phù: một sao chủ khoa giáp danh dự, một sao chủ giấy tờ pháp lý và tiếng nói công quyền. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, hai sao khác nhau, an theo hai tham số khác nhau.

Có. Trên thuật toán an sao đang chạy của thayungkhiem.vn, Phượng Các và Giải Thần dùng chung đúng một công thức là lấy cung Tuất đếm ngược đi số bước bằng chỉ số chi năm sinh, nên hai sao trùng khít nhau ở cả mười hai tuổi, không có ngoại lệ. Nói cách khác, hễ thấy Phượng Các là thấy Giải Thần, và ngược lại. Điều này có ý nghĩa thực tế khi luận: cung có Phượng Các vừa mang khí khoa giáp danh dự vừa mang khí giải trừ tai ách, hai lớp nghĩa chồng lên nhau tại một chỗ. Đây cũng là lý do vì sao Long Trì gặp Phượng Các thì đồng thời gặp luôn Giải Thần.

Chạy đủ mười hai chi bằng máy thì kết quả cố định như sau. Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng tại Mùi, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng tại Sửu. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì Long Trì tại Thìn và Phượng Các tại Tuất, tuổi Ngọ thì Long Trì tại Tuất và Phượng Các tại Thìn. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung, tức không hội chiếu được, chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ở giữa ấy luôn là Sửu hoặc Mùi. Vậy bộ Long Phượng hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi và không hội được ở bốn tuổi.

Vì khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu trong Tử Vi đều cần khoảng cách chẵn: đồng cung là không, xung chiếu là sáu, tam hợp là bốn hoặc tám. Kiểm bằng thuật toán trên cả mười hai tuổi thì Long Trì cách Hồng Loan, cách Thiên Hỷ và cách Đào Hoa luôn một số lẻ cung, Phượng Các cũng vậy. Kết quả là Long Trì, Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với ba sao hỷ sự ấy trên bất kỳ lá số nào. Đây là điều cần nhớ khi đọc câu sách nói bộ Long Phượng liên quan tới cưới hỏi và sinh nở: cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa, không phải liên quan về cấu trúc.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.