Sao Tử Vi, đế tinh đứng đầu Bắc Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Tử Vi

Đế tinh đứng đầu Bắc Đẩu, chủ tinh của cả lá số. Hiểu sao Tử Vi là hiểu cái gốc tôn quý, quyền uy và bản lĩnh lãnh đạo trong Tử Vi Đẩu Số.

Ngũ hành: Thổ Bắc Đẩu chủ Đế tinh, quan lộc Miếu tại Dần, Ngọ
紫微Zǐ Wēi
Tên sao: Tử Vi
Ngũ hành: Thổ
Chòm sao: Bắc Đẩu, đứng đầu
Loại sao: Đế tinh, chủ tinh
Miếu vượng: Miếu tại Dần, Ngọ (chung cả 2 phái)
Cai quản: Quan lộc, tôn quý, lãnh đạo
Hợp gặp: Tả Phụ, Hữu Bật, Khôi Việt
Kỵ: Đơn thủ, cô quân, Không Kiếp
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Tử Vi Là Sao Gì

Đế tinh Bắc ĐẩuẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tử Vi là đế tinh đứng đầu chòm Bắc Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số
Tử Vi là ngôi sao của bậc đế vương, trục quay của cả lá số Đẩu Số

Trong Tử Vi Đẩu Số, sao Tử Vi đứng ở vị trí mà không một tinh diệu nào sánh được. Người xưa gọi nó là đế tinh, nghĩa là ngôi sao của bậc đế vương. Tên Tử Vi vốn chỉ chòm Tử Vi Viên trên bầu trời, nơi được coi là cung điện của Thiên Đế, trục quay của muôn sao. Cả khoa Đẩu Số lấy tên từ ngôi sao này.

Khi an lá số, người ta luôn phải tìm vị trí Tử Vi trước rồi mới an được mười ba chính tinh còn lại. Nói cách khác, Tử Vi là cái mốc, là chiếc chìa khóa mở ra toàn bộ lá số.

Tử Vi thuộc hành Thổ, mang tính âm, là chủ tinh của chòm Bắc Đẩu. Thổ ở trung ương, dày dặn, bao dung, nâng đỡ vạn vật, nên người mang sao này thường có khí chất trầm ổn, độ lượng và một sự tôn quý tự nhiên toát ra mà không cần phô trương. Vì là vua, Tử Vi có quyền sai khiến các sao khác. Một số sát tinh hung dữ khi gặp Tử Vi cũng bớt hung, được sao này chế hóa, giống như bề tôi ngang ngược gặp minh quân thì phải thu mình lại.

Tử Vi là vua. Vua giỏi đến đâu mà ngồi một mình giữa triều đình vắng vẫn chỉ là vua cô độc. Có quần thần phò tá, ngôi vua mới thật sự là ngôi vua.

Đặc điểm cốt lõi này quyết định gần như mọi luận đoán về Tử Vi: sao này cần người giúp. Nếu Tử Vi tọa thủ mà bên cạnh có đủ Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì gọi là cách quân thần đầy đủ, công danh hiển đạt. Ngược lại, nếu Tử Vi đơn thủ, không một phụ tinh tốt nào theo cùng, thì rơi vào thế cô quân, tài cao mà khó thi thố, lòng nhiều nỗi cô đơn ít người chia sẻ.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Tử Vi là sao gốc của cả lá số. Người an số lấy tháng sinh và giờ sinh định ra cục (Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục), rồi lấy ngày sinh chia cho số cục mà tìm ra cung đặt Tử Vi. Từ cung ấy, chuỗi Tử Vi rải ngược: Thiên Cơ lùi một cung, Thái Dương lùi ba, Vũ Khúc lùi bốn, Thiên Đồng lùi năm, Liêm Trinh lùi tám. Rồi lấy Tử Vi đối xứng qua trục Dần Thân mà đặt Thiên Phủ, từ Thiên Phủ rải xuôi chuỗi thứ hai: Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, và Phá Quân cách bốn cung. Vì mọi chính tinh đều đo từ Tử Vi, nên vua đứng đâu là cả triều đình xếp hàng theo đó, không có ngoại lệ.

Suy luận Cách an cứng như vậy sinh ra những điều về Tử Vi không bao giờ thay đổi, bất kể tuổi nào, giờ nào. Người đọc lá số quen tay dùng chúng như bảng cửu chương: thấy Tử Vi ở cung nào là biết ngay cung đối diện và hai cung tam hợp có ai, không cần dò.

Bốn điều bất biến của Tử Vi

  1. Luôn có Thiên Cơ ở cung liền trước. Tử Vi Ngọ thì Thiên Cơ Tỵ, Tử Vi Dần thì Thiên Cơ Sửu. Vua đi đâu cũng có mưu thần theo sát một bước phía sau lưng. Cung liền sau Tử Vi thì không cố định: là Thái Âm khi Tử Vi ở Dần Thân, Cự Môn khi ở Mão Dậu, Thiên Lương khi ở Thìn Tuất, còn ở Tý, Sửu, Tỵ, Ngọ, Mùi, Hợi thì cung sau trống.
  2. Tam hợp luôn là Vũ Khúc và Liêm Trinh. Vũ Khúc lùi bốn cung và Liêm Trinh lùi tám cung, tức hai cung tam hợp của Tử Vi. Bộ ba Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh vì thế luôn chầu nhau: vua, tướng giữ kho và quan hình không bao giờ tách rời. Sao đi cùng Vũ Khúc và Liêm Trinh ở hai cung ấy mới là phần thay đổi theo vị trí.
  3. Tam phương tứ chính chỉ gặp bảy sao: Thiên Phủ, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Tử Vi không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn hay Thiên Lương chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Sáu sao ấy chỉ có thể đứng giáp hai bên Tử Vi hoặc ở các cung khác của lá số. Ai nói "Tử Vi hội Nhật Nguyệt" hay "Tử Vi tam hợp Thiên Lương" là đã an nhầm.
  4. Đồng cung chỉ có sáu khả năng. Tử Vi độc tọa tại Tý, Ngọ; đi cặp với Phá Quân tại Sửu, Mùi; với Thiên Phủ tại Dần, Thân; với Tham Lang tại Mão, Dậu; với Thiên Tướng tại Thìn, Tuất; với Thất Sát tại Tỵ, Hợi. Không có cặp Tử Vi Vũ Khúc, Tử Vi Liêm Trinh, càng không có Tử Vi Thái Dương.

Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí, sinh bằng chương trình an sao của thayungkhiem.vn chứ không chép tay. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.

Cấu trúc tam phương tứ chính cố định của Tử Vi tại 12 địa chi
Tử Vi tạiĐồng cungTam hợp chiếuXung chiếuGiáp hai bên
độc tọaLiêm Trinh, Thiên Phủ (Thìn) · Vũ Khúc, Thiên Tướng (Thân)Tham Lang (Ngọ)Thiên Cơ (Hợi) · trống (Sửu)
SửuPhá QuânLiêm Trinh, Tham Lang (Tỵ) · Vũ Khúc, Thất Sát (Dậu)Thiên Tướng (Mùi)Thiên Cơ (Tý) · trống (Dần)
DầnThiên PhủLiêm Trinh, Thiên Tướng (Ngọ) · Vũ Khúc (Tuất)Thất Sát (Thân)Thiên Cơ (Sửu) · Thái Âm (Mão)
MãoTham LangLiêm Trinh, Thất Sát (Mùi) · Vũ Khúc, Phá Quân (Hợi)trống (Dậu)Thiên Cơ, Thái Âm (Dần) · Cự Môn (Thìn)
ThìnThiên TướngLiêm Trinh (Thân) · Vũ Khúc, Thiên Phủ (Tý)Phá Quân (Tuất)Thiên Cơ, Cự Môn (Mão) · Thiên Lương (Tỵ)
TỵThất SátLiêm Trinh, Phá Quân (Dậu) · Vũ Khúc, Tham Lang (Sửu)Thiên Phủ (Hợi)Thiên Cơ, Thiên Lương (Thìn) · trống (Ngọ)
Ngọđộc tọaLiêm Trinh, Thiên Phủ (Tuất) · Vũ Khúc, Thiên Tướng (Dần)Tham Lang (Tý)Thiên Cơ (Tỵ) · trống (Mùi)
MùiPhá QuânLiêm Trinh, Tham Lang (Hợi) · Vũ Khúc, Thất Sát (Mão)Thiên Tướng (Sửu)Thiên Cơ (Ngọ) · trống (Thân)
ThânThiên PhủLiêm Trinh, Thiên Tướng (Tý) · Vũ Khúc (Thìn)Thất Sát (Dần)Thiên Cơ (Mùi) · Thái Âm (Dậu)
DậuTham LangLiêm Trinh, Thất Sát (Sửu) · Vũ Khúc, Phá Quân (Tỵ)trống (Mão)Thiên Cơ, Thái Âm (Thân) · Cự Môn (Tuất)
TuấtThiên TướngLiêm Trinh (Dần) · Vũ Khúc, Thiên Phủ (Ngọ)Phá Quân (Thìn)Thiên Cơ, Cự Môn (Dậu) · Thiên Lương (Hợi)
HợiThất SátLiêm Trinh, Phá Quân (Mão) · Vũ Khúc, Tham Lang (Mùi)Thiên Phủ (Tỵ)Thiên Cơ, Thiên Lương (Tuất) · trống (Tý)

Suy luận Đọc bảng này rút ra hai quy luật rất tiện. Một, cung xung chiếu của Tử Vi luôn là một sao đơn trong chuỗi Thiên Phủ và đổi theo cặp: Tý Ngọ bị Tham Lang xung, Sửu Mùi bị Thiên Tướng xung, Dần Thân bị Thất Sát xung, Thìn Tuất bị Phá Quân xung, Tỵ Hợi có Thiên Phủ xung, riêng Mão Dậu thì cung đối diện trống. Nên nói "Tử Vi cư Ngọ" là đã ngầm nói "Tham Lang cư Tý chiếu về", nói "Tử Tướng Thìn" là đã ngầm nói "Phá Quân Tuất xung lên". Hai, Thiên Phủ có mặt trong tam phương tứ chính của Tử Vi ở tám vị trí (đồng cung tại Dần Thân, xung chiếu tại Tỵ Hợi, tam hợp tại Tý Ngọ Thìn Tuất) và vắng mặt ở bốn vị trí Sửu, Mùi, Mão, Dậu. Bốn vị trí ấy chính là Tử Phá và Tử Tham, là hai thế mà sách xưa hay dặn dò nhất, vì vua không có kho lẫm đứng chầu, đi với tiên phong hoặc đi với đào hoa mà thiếu người giữ của.

Suy luận Còn một điểm ít ai để ý: Tử Vi ở Tý Ngọ và Thìn Tuất là bốn vị trí mà tam phương gom đủ Tử Phủ Vũ Tướng cùng lúc (Tử Vi tại Ngọ có Liêm Phủ ở Tuất và Vũ Tướng ở Dần chiếu về; Tử Tướng tại Thìn có Vũ Phủ ở Tý chiếu về). Tử Vi ở Dần Thân thì Tử Phủ đồng cung nhưng Vũ Khúc đứng một mình ở Tuất hay Thìn, còn Tử Vi ở Tỵ Hợi, Sửu Mùi, Mão Dậu thì tam phương là Sát Phá Tham trọn bộ: vua ngồi giữa ba viên tướng xung trận. Hai kiểu triều đình này cho hai kiểu đời hoàn toàn khác: một bên giữ nước, một bên mở cõi.

Kinh văn Vì Tử Vi chỉ hội với bảy sao trên, nên các cách cục mang tên Tử Vi cũng chỉ xoay quanh bảy sao ấy cộng với phụ tinh: Tử Phủ đồng cung, Tử Phủ triều viên, Cực Hướng Ly Minh (Tử Vi cư Ngọ), Tử Tướng, Tử Sát hóa sát vi quyền, Tử Phá, Đào Hoa Phạm Chủ (Tử Tham), rồi Quân Thần Khánh Hội và Bách Quan Triều Củng là những cách nói về dàn phụ tinh vây quanh vua. Không có cách nào ghép Tử Vi với Nhật Nguyệt Cự Lương, đó không phải sách thiếu mà là hệ quả của cách an sao.

3 Đặc Tính Người Có Tử Vi Thủ Mệnh

Khí chất đế vươngẢnh minh họa cập nhật sau Người có sao Tử Vi thủ Mệnh mang khí chất lãnh đạo, tôn quý
Dáng vẻ đường bệ, lòng tự tôn cao, thiên hướng đứng đầu một cách tự nhiên

Người có sao Tử Vi đóng ở cung Mệnh thường mang dáng vẻ đường bệ, tướng mạo đoan chính, da dẻ hồng hào, đi đứng khoan thai. Cái thần thái ấy khiến họ dễ được nể trọng ngay từ lần gặp đầu.

Bên trong, họ có lòng tự tôn rất cao, coi trọng danh dự, thích được tôn trọng và rất ghét bị xem thường hay sai khiến. Đặt một người Tử Vi vào vị trí phải cúi đầu phục tùng kẻ kém tài hơn mình là điều khó chịu nhất với họ.

Về tính cách, họ độ lượng, biết bao dung, có khả năng nhìn xa trông rộng và đứng ra gánh vác việc lớn. Trong một tập thể, người Tử Vi hay được đẩy lên làm thủ lĩnh một cách tự nhiên, kể cả khi họ không cố tranh giành. Họ có tài tổ chức, biết dùng người, biết giữ chừng mực. Tuy nhiên mặt trái của đế tinh là dễ kiêu ngạo, chủ quan, đôi khi cố chấp và thích nghe lời thuận tai. Nếu không tu dưỡng, họ có thể trở thành người độc đoán, xa cách, tự dựng quanh mình một bức tường vô hình.

Một điểm rất đáng lưu ý: Tử Vi tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào các sao đi cùng, nhiều hơn hẳn so với phần lớn các sao khác. Cùng là Tử Vi thủ Mệnh, nhưng người gặp được phụ tá và bộ Khoa Quyền Lộc thì làm nên nghiệp lớn, còn người gặp Không Kiếp, Hình Kỵ vây quanh lại lận đận, hữu danh vô thực. Bởi vậy khi xem một lá số có Tử Vi, không bao giờ được nhìn riêng sao này mà phải nhìn cả bộ sao chầu về, nhìn tam phương tứ chính, mới luận cho đúng.

Tử Vi của bạn đóng ở cung nào?An lá số Tử Vi Đẩu Số trọn đời để biết sao Tử Vi nằm ở cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì và ảnh hưởng ra sao tới Mệnh, Quan, Tài, Phu Thê. An lá số ngay

4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Tử Vi

Miếu vượng 12 cungẢnh minh họa cập nhật sau Bảng miếu vượng đắc hãm của sao Tử Vi qua 12 cung địa chi
Cùng một sao, ở mỗi cung lại mạnh yếu khác nhau theo sinh khắc ngũ hành

Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Điều đặc biệt của Tử Vi là vì làm vua nên ở đâu cũng có uy, nó không bao giờ rơi vào thế hãm hoàn toàn như các sao thường.

Dù vậy, vẫn có nơi Tử Vi phát huy trọn vẹn khí chất đế vương, và có nơi nó bị tiết khí, phải nhờ cậy phụ tá nhiều hơn.

Cung địa chiĐồng cungTheo Tân BiênTheo Toàn Thư
Đơn thủBình hòaVượng
SửuPhá QuânĐắcVượng
DầnThiên PhủMiếuMiếu
MãoTham LangBình hòaBình
ThìnThiên TướngVượngVượng
TỵThất SátMiếuVượng
NgọĐơn thủMiếuMiếu
MùiPhá QuânĐắcVượng
ThânThiên PhủMiếuVượng
DậuTham LangBình hòaBình
TuấtThiên TướngVượngVượng
HợiThất SátBình hòaVượng

Hai trường phái về miếu vượng

Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang dùng hệ năm cấp: miếu tại Tỵ, Ngọ, Dần, Thân; vượng tại Thìn, Tuất; đắc tại Sửu, Mùi; bình hòa tại Hợi, Tý, Mão, Dậu. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục ghi: miếu tại Dần, Ngọ, còn Thân, Hợi, Thìn, Tỵ, Tý, Sửu, Mùi đều xếp vượng, bình thường tại Mão, Dậu. Hai phái chỉ chắc chắn trùng nhau ở chỗ Dần và Ngọ đều miếu, Thìn Tuất đều vượng, Mão Dậu đều ở mức thấp. Điểm cả hai cùng thống nhất: Tử Vi là đế tinh nên không có hãm địa, tự giải cứu được. Khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.

Mẹo nhớ: Tử Vi đứng một mình chỉ ở Tý và Ngọ. Mười cung còn lại Tử Vi luôn đi cùng một chính tinh khác, tạo thành các cặp Tử Phủ, Tử Tướng, Tử Tham, Tử Phá, Tử Sát. Muốn luận đúng, phải đọc cả hai sao trong cặp chứ không chỉ riêng Tử Vi.

5 Tứ Hóa Của Tử Vi Theo Tuổi Can

Miếu vượng là ngai vàng đặt ở đâu. Tứ Hóa là tuổi can của người ấy trao thêm cho vua cái gì: ấn tín hay quyền trượng. Tử Vi có một đặc điểm hiếm trong mười bốn chính tinh: chỉ hóa Khoa và hóa Quyền, không bao giờ hóa Lộc, không bao giờ hóa Kỵ. Vua không đi kiếm lộc và vua không bị Kỵ, nhưng vua có thể ngồi giữa một triều đình đầy Kỵ. Vì thế với Tử Vi, phần "hóa từ cung khác bay tới" quan trọng ngang phần Tứ Hóa của chính nó.

Tử Vi hóa Khoa, hóa Quyền theo thiên can năm sinh
Tuổi canTử Vi hóaCả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ)
ẤtHóa KhoaThiên Cơ · Thiên Lương · Tử Vi · Thái Âm. Hai phái Nam Bắc thống nhất, bảng trang an lá số đang dùng cũng vậy.
NhâmHóa QuyềnThiên Lương · Tử Vi · Tả Phụ · Vũ Khúc (Nam phái, bảng trang an lá số đang dùng). Bắc phái: Thiên Lương · Tử Vi · Thiên Phủ · Vũ Khúc. Hai phái chỉ khác ở sao hóa Khoa, Tử Vi hóa Quyền là chung.
Giáp, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Quýkhông hóaTử Vi giữ nguyên khí đế vương theo miếu vượng; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của bảy sao có thể chiếu về (xem phần phi hóa bên dưới).

Tử Vi hóa Khoa (tuổi Ất)

Kinh văn Khoa là ấn tín, là danh tiếng đi kèm học vấn và sự công nhận. Vua hóa Khoa là vua có tiếng thơm: người tuổi Ất có Tử Vi thủ Mệnh dễ được biết đến vì đức độ, vì học vấn, vì cách xử sự đường hoàng, hơn là vì quyền hay vì tiền. Tử Vi miếu vượng hóa Khoa (Ngọ, Dần, Thân, Tỵ, Thìn, Tuất) là thế danh tiếng bền, hợp học thuật, giáo dục, cố vấn cấp cao, những nghề mà cái tên đáng tin hơn cái chức. Cùng tuổi Ất có Thiên Cơ hóa Lộc, mà Thiên Cơ luôn ở cung liền trước Tử Vi (mục 2), nên người tuổi Ất gần như luôn có Lộc của mưu thần đứng sát bên vua: lộc đến từ người tham mưu, từ anh em hay từ cha mẹ tùy Thiên Cơ rơi vào cung nào. Kinh nghiệm Tử Vi bình hòa hóa Khoa (Mão, Dậu, Tý, Hợi theo Tân Biên) thì Khoa vẫn cứu được phần "danh": người Tử Tham ở Mão Dậu mà hóa Khoa thường là người có tài nghệ được công nhận, đào hoa chuyển thành sức hút nghề nghiệp chứ không thành tai tiếng. Nhưng cũng tuổi Ất có Thái Âm hóa Kỵ, mà Thái Âm đứng liền sau Tử Vi ở Dần Thân, nên Tử Phủ tuổi Ất hay bị Kỵ kề vai: tiếng thơm có nhưng trong nhà hay có chuyện về mẹ, về vợ, về tiền bạc ngầm.

Tử Vi hóa Quyền (tuổi Nhâm)

Kinh văn Quyền là quyền trượng, là cái nắm được và sai khiến được. Vua hóa Quyền là vua nắm thực quyền: người tuổi Nhâm có Tử Vi thủ Mệnh có khí thế lãnh đạo mạnh hơn hẳn các tuổi khác, nói ra là người khác nghe, hợp đứng đầu tổ chức, cầm quân, điều hành. Tử Vi miếu vượng hóa Quyền là thế đế vương rõ nhất trong mọi thế của sao này; ở Ngọ thêm Tả Hữu là cách Cực Hướng Ly Minh có Quyền, sách rất khen. Nhưng phải đọc cả bộ: tuổi Nhâm luôn có Vũ Khúc hóa Kỵ, mà Vũ Khúc luôn nằm trong tam hợp của Tử Vi (mục 2). Nghĩa là mọi người tuổi Nhâm có Tử Vi thủ Mệnh đều có Vũ Kỵ chiếu về Mệnh, không có ngoại lệ. Vua nắm quyền nhưng tướng giữ kho bị Kỵ: quyền có mà tiền hay vướng, càng nắm quyền lớn càng phải cẩn thận về tài chính, về nợ, về sổ sách. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít lá Tử Vi Quyền tuổi Nhâm làm quản lý rất giỏi mà đời tiền bạc cứ lận đận đúng ở chỗ ký, chỗ bảo lãnh, chỗ chung vốn. Tử Vi bình hòa hóa Quyền (Tý, Hợi, Mão, Dậu) thì quyền có nhưng là quyền phải tự giành, hay va chạm, dễ độc đoán; Tử Tham tuổi Nhâm ở Mão Dậu là thế vua phong lưu mà nắm quyền, cần Khoa hay Tả Hữu làm mềm.

Tử Vi không hóa Lộc, không hóa Kỵ: điều này có nghĩa gì

Kinh văn Theo bảng Tứ Hóa mà trang an lá số đang dùng, và cả hai phái Nam Bắc, không có tuổi can nào làm Tử Vi hóa Lộc hay hóa Kỵ. Suy luận Hai điều rút ra. Thứ nhất, Tử Vi không tự sinh lộc: người Tử Vi muốn có tiền phải nhờ Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn hay Hóa Lộc của sao khác chiếu về, đó là lý do sách nhấn mạnh Tử Vi cần Thiên Phủ, cần Lộc Tồn. Thứ hai, Tử Vi không bị Kỵ trực tiếp nên không bao giờ "tối" theo nghĩa của Thái Dương hay Thái Âm; cái xấu của Tử Vi luôn đến từ bên ngoài, từ sát tinh đồng cung và từ Kỵ của sao khác bay vào. Muốn biết Tử Vi của mình có vướng gì không, không nhìn vào Tử Vi mà nhìn vào Vũ Khúc, Liêm Trinh, Tham Lang và Thiên Tướng quanh nó.

Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)

Kinh nghiệm Tử Vi không hóa với tám tuổi can vẫn "ăn" Tứ Hóa của bảy sao có thể chiếu về. Tra bảng Tứ Hóa của trang cho bảy sao ấy: Liêm Trinh hóa Lộc tuổi Giáp và hóa Kỵ tuổi Bính; Vũ Khúc hóa Khoa tuổi Giáp, Lộc tuổi Kỷ, Quyền tuổi Canh, Kỵ tuổi Nhâm; Tham Lang hóa Lộc tuổi Mậu, Quyền tuổi Kỷ, Kỵ tuổi Quý; Phá Quân hóa Quyền tuổi Giáp, Lộc tuổi Quý; Thiên Tướng hóa Kỵ tuổi Canh (Nam phái); Thiên Phủ và Thất Sát không hóa theo Nam phái (Bắc phái cho Thiên Phủ hóa Khoa tuổi Nhâm). Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:

  • Tuổi Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ chiếu Tử Vi. Liêm Trinh luôn ở tam hợp của Tử Vi (mục 2), nên mọi người tuổi Bính có Tử Vi thủ Mệnh đều có Liêm Kỵ chiếu về. Quan hình bị Kỵ chiếu vua: dễ vướng chuyện giấy tờ, pháp lý, thị phi trong quan hệ tình cảm hoặc trong công vụ. Tử Vi miếu vượng chịu được, coi như vua có một ông quan hình lắm chuyện; Tử Vi bình hòa mà thêm Kình Đà thì mệt thật.
  • Tuổi Quý, Tham Lang hóa Kỵ chiếu hoặc đồng cung Tử Vi. Tham Lang xung chiếu Tử Vi ở Tý Ngọ, đồng cung ở Mão Dậu, tam hợp ở Sửu Mùi Tỵ Hợi. Dục vọng bị Kỵ chiếu vua: tại Mão Dậu là Đào Hoa Phạm Chủ thêm Kỵ, tình cảm và hưởng thụ thành chỗ hao; tại Tý Ngọ là Kỵ từ cung Thiên Di xung lên, ra ngoài dễ vướng chuyện tửu sắc, giao du. Cùng tuổi Quý lại có Phá Quân hóa Lộc, Phá Quân cũng thuộc bảy sao chiếu Tử Vi, nên tuổi Quý thường là một Lộc một Kỵ cùng vào, được cái này mất cái kia.
  • Tuổi Giáp, Liêm Trinh hóa Lộc chiếu Tử Vi, Vũ Khúc hóa Khoa và Phá Quân hóa Quyền. Đây là thế rất đẹp mà ít người để ý: cả Lộc, Khoa của tuổi Giáp đều rơi vào hai sao luôn tam hợp Tử Vi, nên vua tuổi Giáp gần như luôn có Lộc Khoa chầu về; nếu Phá Quân lại nằm ở tam phương tứ chính nữa (Tử Vi tại Sửu Mùi, Thìn Tuất, Mão Dậu, Tỵ Hợi) thì đủ Khoa Quyền Lộc chiếu Mệnh, ứng câu phú "Tử Vi cư Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ" và các biến thể của nó. Thái Dương hóa Kỵ của tuổi Giáp không bao giờ chạm được vào tam phương Tử Vi, chỉ có thể đứng ở các cung khác.

Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.

6 Tử Vi Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi

Tử Vi qua 12 chiẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tử Vi thủ Mệnh tại 12 cung địa chi từ Tý đến Hợi
Từ Tử Vi cư Ngọ tới các cặp Tử Phủ, Tử Tướng, Tử Sát, Tử Phá, Tử Tham

Cùng một sao Tử Vi nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do địa chi đó sinh hay khắc với hành Thổ, và do sao đi kèm.

Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Tử Vi Tinh Điển và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.

Tử Vi cư Tý

Người uy nghi, tự tôn cao, có khí chất lãnh đạo bẩm sinh. Tý là Thủy địa, Thổ Tử Vi bị tiết khí nên ở đây Tử Vi kém rực rỡ, uy quyền vẫn có nhưng dễ cô độc, rất cần phụ tá mới phát. Hợp với văn chức, ngành công an, chính trị. Có Thiên Phủ ở Tuất chiếu về, thêm Tả Hữu Khôi Việt thì đỡ nhiều.

Tử Vi cư Ngọ (miếu, đẹp nhất)

Đây là vị trí lý tưởng nhất của Tử Vi. Ngọ là Hỏa địa sinh cho Thổ, đế tinh ngồi đúng ngôi tôn nên uy quyền lên đến đỉnh. Người có cách này khí chất đế vương rõ rệt, lãnh đạo bẩm sinh, được trọng vọng từ sớm. Nếu hội thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt và bộ Khoa Quyền Lộc thì phú quý song toàn, có thể giữ trọng trách lớn trong xã hội.

Tử Phủ đồng cung tại Dần và Thân

Tử Vi gặp Thiên Phủ là cách cực quý. Người vừa có khí chất đế vương của Tử Vi, vừa có kho tàng phú quý của Thiên Phủ, lại có cả uy lẫn đức. Được Tả Hữu, Khôi Việt, Lộc Mã hội tụ thì thành cách quân thần khánh hội, đại quý hiển, sự nghiệp lớn, tài lộc dồi dào. Tại Thân, do Thổ sinh Kim nên bị tiết khí nhẹ, cần phụ tá nhiều hơn một chút, hợp ngành tài chính, ngân hàng, bất động sản.

Tử Tướng đồng cung tại Thìn và Tuất (vượng)

Tử Vi gặp Thiên Tướng cho người tướng mạo thanh tao, công bằng, trọng lễ nghĩa, rất giỏi việc quản lý hành chính và làm phụ tá. Hợp nghề pháp luật, hành chính, ngoại giao. Điểm cần lưu ý là dễ bị động, hay chờ người trên đề bạt mới phát, nên chủ động một chút sẽ tiến xa hơn. Tại Tuất khí Thổ mạnh hơn nên người càng trầm ổn, đôn hậu, đáng tin cậy.

Tử Sát đồng cung tại Tỵ và Hợi

Đế tinh gặp tướng tinh Thất Sát cho người có uy mãnh, gan dạ, dám nghĩ dám làm, hợp môi trường khắc nghiệt như quân đội, công an, công nghiệp nặng hay khởi nghiệp gian khó. Cuộc đời nhiều thăng trầm, biến động lớn, thường làm nên cơ nghiệp từ tay trắng. Mức mạnh yếu ở Tỵ và Hợi tùy trường phái, theo Tân Biên thì Tỵ miếu còn Hợi bình hòa, theo Toàn Thư cả hai đều vượng. Mặt cần dè chừng là đời sống tình cảm dễ cô độc do tính cương cường, không chịu khuất phục.

Tử Phá đồng cung tại Sửu và Mùi

Tử Vi gặp Phá Quân cho người chí lớn, thích cải cách, phá cũ lập mới, đời nhiều sóng gió. Có thể đại phú đại quý nhưng cũng có thể vấp ngã lớn nếu không kiểm soát được tính phá. Cần Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đi kèm để giữ tài. Rất hợp người khởi nghiệp, làm công nghệ, làm nghề tiên phong, văn nghệ đột phá.

Tử Tham đồng cung tại Mão và Dậu (bình hòa)

Tử Vi gặp Tham Lang khiến tính đào hoa nổi trội, người lãng mạn, đa tài đa nghệ, mê nghệ thuật và hưởng thụ. Nếu gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thành cách Hỏa Tham, Linh Tham, dễ phát đột ngột về tài lộc. Nhưng cũng dễ hao tài vì rượu chè, sắc dục, nên cần tu dưỡng, giữ mình trong chuyện tình cảm để tránh đổ vỡ.

Một câu để nhớ

Tử Vi ở Ngọ là vua ngồi ngai vàng. Tử Vi ở Tý là vua đứng bên bờ nước, vẫn uy nhưng chạnh lòng. Tử Phủ là vua có kho báu, Tử Tướng là vua có hiền thần, Tử Sát là vua cầm quân ra trận, Tử Phá là vua đi mở cõi, còn Tử Tham là vua phong lưu trong cung điện.

7 Tử Vi An Tại 12 Cung Chức

Tử Vi ở 12 cung chứcẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tử Vi an tại 12 cung chức trong lá số như Quan Lộc, Tài Bạch, Phu Thê
Tử Vi đóng cung nào thì rọi khí chất tôn quý vào lĩnh vực ấy của cuộc đời

Tử Vi không chỉ ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì rọi khí chất tôn quý vào lĩnh vực đó của cuộc đời.

Vì là đế tinh, hễ Tử Vi ở vị trí miếu vượng đắc thì cung ấy được hưởng phúc, được nâng lên cao.

Ý nghĩa của Tử Vi tại từng cung chức và tổ hợp đặc trưng
CungTử Vi đắc thế (miếu vượng, có phụ tá)Tử Vi thất thế (bình hòa, cô quân hoặc gặp sát)Tổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhĐường bệ, tự tôn, lãnh đạo tự nhiên, được nể trọng sớm, đứng đầu một tổ chức.Vẫn có uy nhưng cô độc, có danh mà không có thực quyền, hay uất vì phải dưới người kém mình.Tử Vi Tả Hữu đồng cung là vua có quần thần. Tử Vi Không Kiếp đồng cung là vua ngồi ngai giấy, danh có mà của không.
Phụ MẫuCha mẹ có địa vị, nghiêm mà tốt, gia phong nề nếp; được thừa hưởng danh thế.Cha mẹ nghiêm khắc tới mức xa cách, hoặc có địa vị mà mình khó gần, mình lớn lên trong khuôn khổ.Tử Phủ tại Phụ Mẫu là nhà có cả danh lẫn của. Tử Vi gặp Kình Dương tại Phụ Mẫu là cha mẹ uy nghiêm, con hay bị ép theo ý.
Phúc ĐứcPhúc dày, tinh thần cao quý, thích thú tao nhã, gốc gác dòng họ có danh.Tâm cao mà lòng cô, khó hài lòng với đời, hay tự thấy mình chưa được đặt đúng chỗ.Tử Tham tại Phúc là người ham hưởng thụ tinh thần và vật chất, cần giữ chừng mực. Tử Sát tại Phúc là tâm không yên, hay tự tạo sóng gió.
Điền TrạchNhà cửa rộng, sang, vị trí đẹp; có bất động sản giá trị hoặc được thừa kế.Nhà đẹp mà vắng, hoặc có nhà lớn nhưng do người khác đứng tên, mình chỉ ở nhờ cái danh.Tử Phủ tại Điền có Lộc Tồn là điền sản lớn và giữ được. Tử Phá tại Điền là hay dỡ nhà xây lại, đổi chỗ ở nhiều lần.
Quan LộcVị trí Tử Vi thích nhất: sự nghiệp có địa vị, làm lãnh đạo, quản lý cấp cao, công vụ, doanh nghiệp lớn.Có chức mà quyền bị chia, hoặc lên chức chậm vì thiếu người đỡ, làm việc lớn cho người khác hưởng.Tử Vi hóa Quyền tại Quan là nắm quyền thật. Tử Tướng tại Quan là quản lý hành chính, phụ tá cấp cao. Tử Vi Không Kiếp tại Quan là chức danh đẹp mà việc hư.
Nô BộcBạn bè, cấp dưới có địa vị, ít mà chất; quý nhân nhiều, người dưới trung thành.Bạn bè và cấp dưới giỏi hơn mình hoặc át mình; mình làm chủ mà người dưới làm vua.Tử Vi tại Nô mà Mệnh yếu là thế "tôi mạnh hơn chủ", dễ bị người dưới lấn. Tử Vi Tả Hữu tại Nô thì bạn bè là chỗ dựa lớn hơn cả gia đình.
Thiên DiRa ngoài được người trên nâng đỡ, có khí chất khách quý, dễ phát nơi xa, hợp ngoại giao, xuất ngoại.Ra ngoài được kính mà không được thân, đi xa nhiều mà ít gốc rễ.Tử Vi độc tọa Tý Ngọ tại Di thì Mệnh đối diện có Tham Lang: người ra đường thì sang, ở nhà thì ham vui. Tử Vi Thiên Mã tại Di (chỉ có ở Dần Thân Tỵ Hợi) là phát ở xứ xa.
Tật ÁchThể chất tốt, hồi phục nhanh; chú ý tỳ vị, dạ dày, tiêu hóa vì Tử Vi thuộc Thổ.Bệnh về tỳ vị dai dẳng, huyết áp, đầu não ở tuổi trung niên; bệnh "của người sang" như gút, mỡ máu.Tử Vi Kình Dương tại Tật là đau đầu, huyết áp, có khi phải mổ. Tử Tham Hỏa Linh tại Tật là bệnh do ăn uống hưởng thụ. Tử Vi Không Kiếp tại Tật là bệnh khó chẩn, chữa hao tiền.
Tài BạchTiền đến qua địa vị và uy tín, lương cao, không phải lao lực; hội Lộc thì đại phú.Tiền có nhưng tiêu cho cái danh, sống sang hơn thu nhập, giữ tiền kém.Tử Phủ tại Tài có Lộc Tồn là kho tàng đầy và giữ được. Tử Vi tại Tài mà Vũ Khúc hóa Kỵ tam hợp (tuổi Nhâm) là danh có tiền nhưng tiền hay kẹt ở sổ sách, nợ nần.
Tử TứcCon ít mà giỏi, con cả thông minh có chí, con có địa vị về sau.Con tự tôn cao, khó bảo, hoặc muộn con vì kén; con lớn lên xa cha mẹ vì đi làm lớn.Tử Vi hóa Khoa tại Tử Tức là con có học vị. Tử Sát tại Tử là con cứng đầu, đường con cái nhiều biến động.
Phu ThêBạn đời có địa vị, học thức, tướng mạo đoan chính, ở thế cao hơn mình về vai vế.Bạn đời kiêu, khó chiều, hôn nhân muộn do kén; nữ mệnh dễ lấy chồng có vị thế mà lạnh.Tử Phủ tại Phu là bạn đời vừa có danh vừa có của. Tử Tham tại Phu là bạn đời đào hoa, cần Khoa hay Tả Hữu mới bền. Tử Phá tại Phu là hôn nhân nhiều biến, hay đứt rồi nối.
Huynh ĐệAnh em có địa vị, anh cả là trụ cột, anh em giúp nhau làm việc lớn.Anh em kiêu, mỗi người một cõi, khó hợp tác lâu dài dù đều giỏi.Tử Vi Tả Hữu tại Huynh là anh em đắc lực. Tử Vi tại Huynh thì Thiên Cơ rơi vào Phu Thê (Thiên Cơ luôn ở cung liền trước Tử Vi): bạn đời là người bày kế cho anh em hoặc cộng sự làm ăn.

Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Tử Vi ở cung nào thì cung ấy là chỗ người này muốn được tôn trọng nhất, và cũng là chỗ dễ tự ái nhất. Tử Vi ở Phu Thê thì cãi nhau với bạn đời là cãi về thể diện chứ không phải về tiền; Tử Vi ở Nô Bộc thì bị bạn coi thường là điều họ chịu không nổi; Tử Vi ở Tử Tức thì kỳ vọng vào con rất cao. Mẹo thứ hai: vì Thiên Cơ luôn ở cung liền trước, Tử Vi ở cung nào thì cung ngay trước nó có mưu thần, nên Tử Vi ở Quan Lộc thì Điền Trạch có Thiên Cơ (hay đổi chỗ làm việc và chỗ ở cùng lúc), Tử Vi ở Mệnh thì Huynh Đệ có Thiên Cơ (anh em hoặc cộng sự là người bày kế). Đây là cách người luận có kinh nghiệm dùng Tử Vi để hỏi ngược khách, chứ không chỉ đọc xuôi.

8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Tử Vi

Cách cục đế vươngẢnh minh họa cập nhật sau Các cách cục quý của sao Tử Vi như Quân Thần Khánh Hội, Tử Phủ Vũ Tướng
Vua có đủ quần thần triều bái thì cách cục mới thành đại quý

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về một chỗ, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.

Tử Vi là trung tâm của không ít cách cục quý nổi tiếng trong khoa Đẩu Số.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Với Tử Vi, điều kiện thành cách gần như luôn có hai vế: vua ngồi đâu (vị trí và sao đồng cung) và ai đứng chầu (Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, Lộc Tồn, Tứ Hóa). Thiếu vế sau thì cách nào cũng thành nửa cách. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai, kèm câu phú gốc ở những chỗ Thầy chắc chắn có trong Toàn Thư.

Tử Phủ đồng cung (Tử Vi Thiên Phủ tại Dần, Thân)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi và Thiên Phủ cùng đóng cung Mệnh tại Dần hoặc Thân, là hai vị trí duy nhất hai chủ tinh Bắc Đẩu và Nam Đẩu gặp nhau (mục 2). Phú Toàn Thư viết "Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu": vua có kho lẫm ngay bên cạnh, cả đời phúc dày. Đủ đẹp: có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung hoặc giáp, thêm Lộc Tồn hay Hóa Lộc chiếu; phú Thái Vi nói "Tử Vi Thiên Phủ toàn ỷ Phụ Bật chi công", nghĩa là cách này thành hay không nằm trọn ở Tả Hữu. Tại Dần đẹp hơn Thân vì Dần là Mộc địa mà cả hai sách đều xếp Tử Vi miếu, còn Thân thì Tân Biên miếu, Toàn Thư vượng. Xung chiếu luôn là Thất Sát, nên người cách này quyết đoán chứ không mềm. Phá cách: Không Kiếp đồng cung (kho lẫm thành kho rỗng), hoặc Tuần Triệt án ngữ cung Dần Thân. Kinh nghiệm Tử Phủ Dần Thân mà thiếu Tả Hữu thì Thầy thấy hay là người "có tiếng có của mà cô", giữ được cơ nghiệp cha mẹ chứ ít mở thêm.

Cực Hướng Ly Minh (Tử Vi cư Ngọ)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi độc tọa thủ Mệnh tại Ngọ, cung Ly, phương Nam, Hỏa sinh Thổ. Đây là vị trí cả Tân Biên lẫn Toàn Thư đều xếp miếu. Phú Toàn Thư viết "Tử Vi cư Ngọ vô Sát tấu, vị chí công khanh": Tử Vi ở Ngọ mà không có sát tinh chen vào thì ngôi tới bậc công khanh. Câu phú này tự nó đã nêu điều kiện phá cách: chữ "vô Sát tấu". Đủ đẹp: Tả Hữu, Khôi Việt hội, tuổi Nhâm để Tử Vi hóa Quyền hoặc tuổi Ất để hóa Khoa; tam phương tự nhiên đã có Liêm Phủ (Tuất) và Vũ Tướng (Dần) chầu về nên bộ Tử Phủ Vũ Tướng đủ mặt. Người hợp cách là mẫu lãnh đạo bẩm sinh, được trọng vọng sớm, giữ trọng trách lớn. Phá cách: Kình Dương, Đà La, Hỏa Linh, Không Kiếp đồng cung tại Ngọ (Kình Dương ở Ngọ với tuổi Bính, Mậu là tình huống hay gặp nhất), hoặc Tham Lang ở Tý xung chiếu hóa Kỵ (tuổi Quý). Kinh nghiệm Khi phá cách, người vẫn có phong thái vua nhưng làm "vua không ngai": làm phó, làm cố vấn, làm người đứng sau người đứng đầu.

Tử Phủ triều viên và Tử Phủ Vũ Tướng

Kinh văn Thành cách: Tử Vi và Thiên Phủ không cùng cung Mệnh nhưng cùng chầu về Mệnh từ tam phương tứ chính. Theo bảng mục 2 thì đó là Tử Vi ở Tý Ngọ (Thiên Phủ tam hợp cùng Liêm Trinh), Thìn Tuất (Thiên Phủ tam hợp cùng Vũ Khúc) và Tỵ Hợi (Thiên Phủ xung chiếu). Phú Toàn Thư viết "Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung", ăn lộc muôn chung. Khi Tử Vi ở Tý Ngọ Thìn Tuất thì tam phương gom đủ Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng, là bộ Tử Phủ Vũ Tướng mà trang này đã giới thiệu: vua, kho, tướng giữ kho, ấn tín đủ mặt, người làm việc lớn, quản trị giỏi, giữ được cả quyền lẫn của. Đủ đẹp: có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc rơi vào cung Thiên Phủ hay Vũ Khúc (tuổi Kỷ Vũ Khúc hóa Lộc là hợp nhất), thêm Tả Hữu. Phá cách: Vũ Khúc hóa Kỵ (tuổi Nhâm) hoặc Liêm Trinh hóa Kỵ (tuổi Bính) trong bộ, Không Kiếp đóng ở cung Thiên Phủ. Suy luận Bộ Tử Phủ Vũ Tướng là bộ "giữ nước": mạnh ở ổn định, yếu ở mở mang, nên hợp đại vận đi vào cung có bộ này hơn là hợp khởi nghiệp lúc trẻ.

Tử Tướng (Tử Vi Thiên Tướng tại Thìn, Tuất)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi đồng cung Thiên Tướng tại Thìn hoặc Tuất, cả hai sách xếp vượng. Vua cầm ấn tín: người công chính, trọng lễ, giỏi hành chính, hợp pháp luật, ngoại giao, quản lý. Cung xung chiếu luôn là Phá Quân, nên phú Toàn Thư có câu "Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú nhi bất quý hữu hư danh": Tử Vi ở Thìn Tuất gặp Phá Quân thì giàu mà không quý, có hư danh. Câu này nói riêng thế Phá Quân xung chiếu, là thế cố định của Tử Tướng, nên phải hiểu là cách này mạnh về tài sản và vị trí ổn định hơn là về quyền lớn. Đủ đẹp: Tả Hữu giáp hoặc đồng cung, Lộc Tồn chiếu, Thiên Phủ ở tam hợp (luôn có, đi cùng Vũ Khúc). Thìn Tuất là hai cung Thiên La Địa Võng, Tử Vi vào đó là vua phá được lưới, nên người cách này hay phát sau một lần thoát khỏi ràng buộc lớn. Phá cách: Kình Đà, Hỏa Linh đồng cung (Thiên Tướng rất sợ sát tinh), Thiên Tướng hóa Kỵ (tuổi Canh, Nam phái), Phá Quân ở cung xung có thêm Không Kiếp. Kinh nghiệm Tử Tướng hay bị động, chờ người trên cất nhắc; Thầy dặn khách cách này là "ấn có rồi, phải tự đóng dấu".

Tử Sát (Tử Vi Thất Sát tại Tỵ, Hợi)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi đồng cung Thất Sát tại Tỵ hoặc Hợi, xung chiếu luôn là Thiên Phủ, tam hợp là Liêm Phá và Vũ Tham. Toàn Thư nói Tử Vi gặp Thất Sát thì hóa sát vi quyền: sát khí của tướng xung trận được vua thu phục và biến thành quyền uy. Người cách này uy mãnh, gan dạ, dám làm việc khó, hợp quân đội, công an, công nghiệp nặng, khởi nghiệp từ tay trắng. Đủ đẹp: Tử Vi hóa Quyền (tuổi Nhâm) hoặc Hóa Lộc chiếu về, thêm Tả Hữu, Khôi Việt; tại Tỵ đẹp hơn Hợi theo Tân Biên (Tỵ miếu, Hợi bình hòa), Toàn Thư xếp cả hai vượng. Phá cách: Kình Dương, Hỏa Linh đồng cung (sát chồng sát, vua không thu phục nổi tướng), Không Kiếp, hoặc thiếu hẳn phụ tá. Kinh nghiệm Tử Sát mà thiếu Tả Hữu là thế Thầy thấy đời nhiều biến động nhất trong các thế Tử Vi: lên rất nhanh và xuống cũng nhanh, thường phát ở đại vận thứ ba hoặc thứ tư, sau một lần thất bại lớn. Tình cảm dễ cô vì tính cương.

Tử Phá (Tử Vi Phá Quân tại Sửu, Mùi)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi đồng cung Phá Quân tại Sửu hoặc Mùi, xung chiếu luôn là Thiên Tướng, tam hợp là Liêm Tham và Vũ Sát, Thiên Phủ không có mặt trong tam phương tứ chính (mục 2). Vua đi cùng tiên phong phá cũ: chí lớn, thích cải cách, đời nhiều sóng gió, có thể đại phú quý mà cũng có thể vấp ngã lớn. Phú Cốt Tủy viết "Tử Vi Phá Quân, vô Tả Hữu vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ": Tử Phá mà không Tả Hữu, không cát tinh thì thành kẻ nha lại hung ác. Câu phú nói thẳng điều kiện: cách này bắt buộc phải có Tả Hữu mới thành người tử tế có chí, thiếu thì cái chí phá cũ biến thành cái tính phá phách. Đủ đẹp: Tả Hữu đồng cung hoặc giáp, Lộc Tồn hay Hóa Lộc (tuổi Quý Phá Quân hóa Lộc là hợp nhất, tuổi Giáp Phá Quân hóa Quyền cũng tốt), Thiên Tướng xung chiếu không bị sát. Phá cách: thiếu Tả Hữu, hoặc Không Kiếp Kình Đà đồng cung, hoặc Thiên Tướng ở cung xung hóa Kỵ (tuổi Canh). Kinh nghiệm Tử Phá tuổi Quý có Lộc ngay tại Mệnh là những người khởi nghiệp công nghệ, nghề mới, văn nghệ đột phá mà Thầy gặp khá nhiều; tuổi khác cần Lộc Tồn chiếu mới giữ được tiền.

Đào Hoa Phạm Chủ (Tử Vi Tham Lang tại Mão, Dậu)

Kinh văn Thành cách (cách này là cách cần dè chừng, không phải cách quý): Tử Vi đồng cung Tham Lang tại Mão hoặc Dậu, cả hai sách xếp Tử Vi ở mức bình hòa, cung xung chiếu trống, tam hợp là Liêm Sát và Vũ Phá. Đào hoa thứ nhất đứng ngay bên vua nên gọi là đào hoa phạm chủ; phú Cốt Tủy viết "Đào hoa phạm chủ vi chí dâm", và câu "Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng": Tử Vi ở Mão Dậu nhiều người thành kẻ thoát tục đi tu. Hai câu nghe trái ngược mà thật ra là hai ngả của cùng một người: ham mê hưởng thụ tới cùng, hoặc buông hết mà đi tu. Đủ đẹp để hóa giải: Tử Vi hóa Khoa (tuổi Ất) hoặc hóa Quyền (tuổi Nhâm), Tả Hữu, Khôi Việt đồng cung, hoặc Hỏa Tinh Linh Tinh đồng cung thành Hỏa Tham, Linh Tham thì đào hoa chuyển thành tài lộc phát đột ngột; Thiên Hình đồng cung cũng giúp tự chế. Phá cách nặng thêm: Tham Lang hóa Kỵ (tuổi Quý), Thiên Riêu, Hồng Loan, Hàm Trì đồng cung, Không Kiếp đồng cung (khi ấy ngả "đi tu" rõ hơn ngả "phong lưu"). Kinh nghiệm Thầy gặp Tử Tham có Khoa và Tả Hữu là nghệ sĩ, người làm thẩm mỹ, ẩm thực, giải trí có tên tuổi, đào hoa thành sức hút nghề nghiệp; thiếu những sao ấy mới là đào hoa hại thân.

Bách Quan Triều Củng và Quân Thần Khánh Hội

Kinh văn Hai tên gọi này không nói về vị trí Tử Vi mà nói về dàn phụ tinh vây quanh vua. Quân Thần Khánh Hội thành cách khi Tử Vi thủ Mệnh (miếu vượng càng tốt) mà Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu; phú Cốt Tủy viết "Tử Vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bách nặc cư thượng phẩm": vua có Tả Hữu cùng cung thì một tiếng gọi trăm người dạ. Bách Quan Triều Củng là cách nói của phái Trung Châu, rộng hơn: ngoài Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt còn tính Lộc Tồn, Thiên Mã, Tam Thai Bát Tọa, Ân Quang Thiên Quý, Long Trì Phượng Các, Thiên Quan Thiên Phúc, càng nhiều "quan" chầu về thì ngôi vua càng vững. Đủ đẹp: Tả Hữu phải đồng cung hoặc giáp Mệnh, không chỉ tam hợp; Tử Vi lại hóa Quyền hay Khoa nữa là trọn vẹn. Phá cách: Không Kiếp, Kình Đà chen vào giữa dàn phụ tá, khi ấy sách nói "Đế ngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo" (phú Thái Vi): vua gặp hung đồ thì dù được cát cũng thành vô đạo, tức có quyền có của mà dùng sai. Suy luận Tả Hữu an theo tháng sinh, Khôi Việt theo can năm, Xương Khúc theo giờ sinh, nên cách này là cách "sinh đúng tháng, đúng giờ, đúng tuổi" chứ không phải cách của riêng vị trí; đây là lý do hai người cùng Tử Vi cư Ngọ mà đời khác nhau một trời một vực.

Tử Vi vô phụ tá (cô quân)

Kinh văn Thành cách (cách xấu): Tử Vi thủ Mệnh mà không có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, giáp hay chiếu. Toàn Thư nói thẳng: thiếu Tả Hữu gọi là cô quân, vua cô độc. Tài cao mà khó thi thố, lòng nhiều nỗi cô đơn, làm gì cũng phải tự tay. Nặng thêm: Tử Vi độc tọa tại Tý (bình hòa theo Tân Biên) mà không phụ tá, có Kình Đà hay Không Kiếp đồng cung; phái Trung Châu gọi thế này là "tại dã cô quân", vua cô độc nơi đồng nội, quyền uy chỉ còn ở dáng dấp. Đỡ được: có Khôi Việt, Xương Khúc thay Tả Hữu; có Thiên Phủ trong tam phương (tám vị trí, mục 2) thì vua tuy cô mà còn kho lẫm; Tử Vi hóa Quyền hay Khoa cũng tự nâng mình được một phần. Kinh nghiệm Cô quân không phải cách nghèo. Thầy gặp nhiều lá cô quân giàu có, có địa vị, nhưng đúng như sách: rất khó ủy quyền, không tin ai, mệt vì phải ôm hết, và về già hay cô đơn dù con cháu đông. Lời khuyên cho cách này là học cách dùng người, chứ không phải đi tìm bùa.

Cách hay cũng có mặt cần dè chừng

Tử Vi gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Linh hay Không Kiếp vây hãm thì khí đế vương bị tổn, dễ thành người cao ngạo mà cô độc, có chức mà không có thực quyền, hoặc lên cao rồi vấp ngã. Tử Vi không hóa Kỵ nhưng bảy sao quanh nó thì có: Vũ Kỵ tuổi Nhâm, Liêm Kỵ tuổi Bính, Tham Kỵ tuổi Quý, Tướng Kỵ tuổi Canh đều có thể lọt vào tam phương tứ chính của vua. Cũng vì thế, một lá Tử Vi đẹp luôn được nhìn qua cả phần phụ tá, phần sát tinh lẫn phần Tứ Hóa của các sao chiếu về, không vội mừng cũng không vội lo.

9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Sao hợp, sao kỵẢnh minh họa cập nhật sau Sao hợp và sao kỵ với sao Tử Vi trong lá số Đẩu Số
Vua giữa hiền thần thì thịnh trị, vua giữa gian thần thì ngai vàng lung lay

Tử Vi tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào dàn sao vây quanh. Cùng một đế tinh, gặp người tốt thì hóa minh quân, gặp kẻ xấu thì hóa hôn quân.

Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Tử Vi mừng được gặp và những sao Tử Vi e ngại.

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tử Vi là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng Tả Hữu là ngoại lệ: với Tử Vi, Tả Hữu giáp Mệnh gần bằng đồng cung, vì vua cần hai bên tả hữu đứng hầu chứ không cần họ ngồi chung ngai. Không Kiếp đồng cung là ngai bị rút ruột; Không Kiếp tam hợp chiếu chỉ là kho có lỗ nhỏ.

Tử Vi rất thích gặp

  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp mạnh nhất, tam hợp chiếu vẫn tốt): quần thần phò tá, "nhất hô bách nặc". Chỉ một trong hai cũng đã thoát thế cô quân.
  • Thiên Phủ (đồng cung tại Dần Thân là Tử Phủ đồng cung; xung chiếu tại Tỵ Hợi và tam hợp tại Tý Ngọ Thìn Tuất là Tử Phủ triều viên): vua có kho lẫm, danh sinh của và giữ được của.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, giáp cũng quý): quý nhân nâng đỡ, hợp thi cử, thăng chức.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): thêm văn tài, vua có học; chiếu về thì chỉ là thanh danh.
  • Lộc Tồn, Hóa Lộc của Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân, Tham Lang (đồng cung hoặc tam hợp): Tử Vi không tự sinh lộc nên rất cần lộc từ ngoài chiếu vào; Lộc Tồn đồng cung mạnh nhất.
  • Hóa Quyền, Hóa Khoa của chính Tử Vi (tuổi Nhâm, tuổi Ất): vua tự cầm quyền trượng hay ấn tín, không phụ thuộc ai.

Tử Vi e ngại khi gặp

  • Đơn thủ không Tả Hữu (không phải một sao mà là một thế): cô quân, hữu danh vô thực; nặng nhất khi Tử Vi ở Tý, Mão, Dậu, Hợi.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp kế, chiếu nhẹ hơn): cái quý hóa hư, tài danh đến rồi đi; ở Mão Dậu còn kéo về ngả thoát tục.
  • Kình Dương, Đà La (đồng cung): uy bị tổn, lòng phiền muộn, đầu và huyết áp; Kình Dương tại Ngọ với tuổi Bính Mậu là tình huống phá Cực Hướng Ly Minh hay gặp.
  • Hóa Kỵ của Vũ Khúc (tuổi Nhâm) và Liêm Trinh (tuổi Bính) (luôn tam hợp chiếu): vua không bị Kỵ mà tướng giữ kho và quan hình bị Kỵ, tiền và giấy tờ là chỗ vướng.
  • Tham Lang đồng cung có Riêu, Loan, Hàm Trì hoặc Tham hóa Kỵ tuổi Quý: đào hoa phạm chủ, hao vì tửu sắc; Tham Lang chỉ xung chiếu (Tý Ngọ) thì nhẹ hơn nhiều.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): sách nói Tử Vi chế được Hỏa Linh, nhưng đó là khi có Tả Hữu; cô quân gặp Hỏa Linh thì nóng vội hỏng việc lớn. Riêng Hỏa Linh đồng cung với Tử Tham lại thành cách phát tài.

Nguyên tắc xuyên suốt rất đơn giản: Tử Vi cần người tốt vây quanh. Một ông vua giỏi giữa triều đình toàn hiền thần thì làm nên thái bình thịnh trị. Cũng ông vua đó giữa đám gian thần và phản tướng thì ngai vàng lung lay. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi: vua này đang ngồi giữa những ai.

10 Tử Vi Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Tử Vi "tĩnh": vua ngồi đâu, có ai chầu. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Đây là chỗ Tử Vi "động", cũng là chỗ khách hay hỏi nhất: năm nay tôi có lên chức không, mười năm tới có nên ra làm chủ không.

Đại vận đi vào cung có Tử Vi

Kinh văn Đại vận đến cung Tử Vi miếu vượng có phụ tá là mười năm lên ngôi: được cất nhắc lên vị trí đứng đầu, được tôn trọng, lập được cơ nghiệp mang tên mình, hoặc là giai đoạn cha mẹ, bạn đời có địa vị và mình được nhờ. Nếu đại vận ấy Tử Vi lại hóa Quyền hay hóa Khoa theo tuổi thì thường là đại vận đỉnh của đời. Đại vận đến cung Tử Vi cô quân hay gặp sát là mười năm làm vua không ngai: có chức danh, có việc lớn, nhưng phải tự tay ôm hết, hay bị cô lập, dễ kiêu rồi vấp. Kinh nghiệm Điểm riêng của Tử Vi trong đại vận là đổi thân phận: Thầy thấy đại vận Tử Vi hay là lúc người ta từ làm công chuyển sang làm chủ, từ phó lên trưởng, từ ẩn danh thành có danh; kể cả đại vận Tử Vi xấu vẫn có sự "lên" ấy, chỉ là lên rồi mệt. Đại vận Tử Phủ là mười năm giữ và tích, đại vận Tử Sát, Tử Phá là mười năm phá cũ lập mới, đại vận Tử Tham là mười năm phải giữ mình. Người có Mệnh vốn yếu mà đại vận đi tới Tử Phủ Vũ Tướng thì phát muộn mà phát chắc.

Lưu niên: năm nào vua đổi áo

Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Tử Vi chỉ hóa hai lần trong mười năm, đội Khoa năm Ất và đội Quyền năm Nhâm, không có năm nào bị Kỵ. Nhưng bảy sao quanh vua thì có năm bị Kỵ, và Kỵ ấy chiếu thẳng vào cung Tử Vi:

Các năm Tử Vi lưu hóa và các năm sao chiếu Tử Vi lưu hóa Kỵ, hóa Lộc
Can nămLưu hóa chạm Tử ViCác năm gần đây và sắp tớiĐọc thế nào
ẤtTử Vi lưu Khoa2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất MãoNăm được công nhận, có danh, thi cử xét tuyển thuận; cung nào có Tử Vi thì lĩnh vực ấy có tiếng thơm trong năm. Cùng năm Thái Âm lưu Kỵ, nếu Thái Âm kề Tử Vi (Dần Thân) thì tiếng có mà trong nhà có chuyện.
NhâmTử Vi lưu Quyền2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm TuấtNăm được giao quyền, lên chức, đứng ra cầm trịch. Nhưng cùng năm Vũ Khúc lưu Kỵ luôn tam hợp chiếu về: quyền lên mà tiền phải giữ, tránh ký bảo lãnh, chung vốn trong năm này.
GiápLiêm Trinh lưu Lộc, Vũ Khúc lưu Khoa chiếu Tử Vi2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp DầnNăm hai sao tam hợp của vua cùng đội Lộc và Khoa, thuận cho công danh lẫn tài chính; Phá Quân lưu Quyền nếu ở tam phương nữa là năm dám làm việc lớn.
KỷVũ Khúc lưu Lộc chiếu Tử Vi2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ MùiNăm tướng giữ kho có lộc, tiền về qua vị trí và uy tín; Tham Lang lưu Quyền cùng năm thì ham việc, ham vui đều tăng.
BínhLiêm Trinh lưu Kỵ chiếu Tử Vi2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính ThìnNăm quan hình có Kỵ chiếu vua: giấy tờ, pháp lý, thị phi tình cảm; Tử Vi ở Quan thì việc bị soi, ở Phu Thê thì hôn nhân có chuyện phải giải quyết bằng lý.
NhâmVũ Khúc lưu Kỵ chiếu Tử Vi2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm TuấtTrùng năm Tử Vi lưu Quyền như trên. Với người tuổi Nhâm, năm Nhâm là Quyền chồng Quyền và Kỵ chồng Kỵ cùng lúc, rất cần thận trọng tiền bạc.
QuýTham Lang lưu Kỵ chiếu hoặc đồng cung Tử Vi2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý HợiNăm đào hoa bị Kỵ: Tử Tham Mão Dậu là năm giữ mình về tình cảm và tiêu xài; Tử Vi Tý Ngọ thì Kỵ xung từ Thiên Di, ra ngoài dễ vướng giao du.
CanhThiên Tướng lưu Kỵ (Nam phái) chiếu hoặc đồng cung Tử Vi2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh ThânTử Tướng Thìn Tuất và Tử Phá Sửu Mùi chịu nặng nhất: ấn tín bị Kỵ, năm dễ mất chức hờ, đổi vị trí, hợp đồng trục trặc. Tử Vi Tý Ngọ chịu nhẹ qua tam hợp.

Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Tử Vi bản mệnh nằm ở cung nào, kê ra bảy sao trong tam phương tứ chính của cung ấy, rồi hỏi năm nay sao nào trong bảy sao ấy lưu Lộc, sao nào lưu Kỵ. Tử Vi bản mệnh hóa Quyền (tuổi Nhâm) gặp năm Nhâm lưu Quyền là Quyền chồng Quyền, thường là năm thăng tiến rõ nhưng cũng là năm dễ độc đoán nhất, và Vũ Kỵ chồng Vũ Kỵ đi kèm nên phải giữ tiền. Tử Vi hóa Khoa (tuổi Ất) gặp năm Ất lưu Khoa là năm được vinh danh. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.

Các sao lưu chạm vào cung Tử Vi

  • Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Tử Vi: năm dính tới quan trường, tổ chức, danh phận; Tử Vi có phụ tá thì được bổ nhiệm, cô quân thì tranh chấp quyền hạn, kiện tụng về chức danh.
  • Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Tử Vi: uy bị tổn trong năm, hay có người ganh, dưới không phục trên; lưu Kình chạm Tử Vi tại Tật Ách là năm cần xem huyết áp, đầu, và dạ dày.
  • Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Tử Vi ở Phụ Mẫu hay Phu Thê: đây là tổ hợp Thầy dặn khách để ý sức khỏe người có địa vị trong nhà (cha, hoặc bạn đời) trong năm ấy, không kết luận tang, chỉ để đi khám và bớt việc.
  • Kinh văn Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung Tử Vi: năm vua có thêm quan văn, hợp thi cử, xét phong, được cấp trên để mắt; với cô quân thì đây là năm tạm thoát cô.
  • Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Tử Vi tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm đổi chỗ ngồi, chuyển công tác, xuất ngoại mà giữ được vị thế; Tử Phủ gặp lưu Mã và lưu Lộc là năm "lộc mã giao trì" về tiền.

11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Tử Vi

Nam mệnh, nữ mệnhẢnh minh họa cập nhật sau Nam mệnh và nữ mệnh có sao Tử Vi thủ Mệnh
Cùng là đế tinh nhưng nam và nữ mệnh Tử Vi có nét hay và nét cần giữ riêng

Nam mệnh Tử Vi thường có chí hướng làm lớn, thích đứng đầu, có tài thu phục lòng người. Nếu cách cục đẹp, họ là mẫu người lãnh đạo, dựng nghiệp, được cấp dưới kính phục.

Điều cần giữ là tránh độc đoán và đừng để cái tôi che mất tai mắt, vì người Tử Vi hay thích nghe lời thuận và xa lánh lời thẳng.

Nữ mệnh Tử Vi mạnh mẽ, tự lập, có bản lĩnh và thường có sự nghiệp riêng. Nếu được phụ tá và cách cục tốt thì là mệnh phu nhân quý hiển, vừa lo được việc nhà vừa làm nên việc xã hội. Tuy nhiên nếu thiếu phụ tá, khí đế vương quá vượng mà không có chỗ tựa, người nữ dễ cô khắc, hôn nhân muộn hoặc nhiều trắc trở. Với nữ mệnh Tử Vi, chọn bạn đời tương xứng về bản lĩnh và biết trân trọng nhau quan trọng hơn nhiều so với chọn người chỉ để dựa dẫm.

Người Tử Vi không khổ vì thiếu tài, mà thường khổ vì cô đơn trên đỉnh cao. Học cách lắng nghe và tin người là bài học lớn nhất của đời họ.

12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tử Vi

Tử Vi là sao nổi tiếng nhất của cả môn, tới mức tên nó thành tên môn. Càng nổi tiếng càng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Tử Vi không chủ về gì, để người đọc khỏi mừng hụt hay lo oan.

Có Tử Vi thủ Mệnh không có nghĩa là "số làm vua" hay số giàu

Kinh văn Sách gọi Tử Vi là đế tinh vì nó là mốc an mọi chính tinh và vì tượng của nó là ngôi tôn, chứ không nói người có Tử Vi thủ Mệnh là quý nhân đương nhiên. Toàn Thư nói ngay sau đó: thiếu Tả Hữu là cô quân. Tử Vi lại không hóa Lộc bao giờ (mục 5), nên tự nó không phải tài tinh. Kinh nghiệm Cứ mười hai người thì có một người Tử Vi thủ Mệnh, đó là xác suất thuần túy của cách an sao. Thầy gặp rất nhiều lá Tử Vi thủ Mệnh sống đời bình thường, chỉ khác người ở chỗ tự trọng cao và khó chịu khi bị sai khiến. Đọc Tử Vi mà không đọc Tả Hữu, Thiên Phủ, Lộc Tồn và sát tinh quanh nó là mới đọc cái ngai chứ chưa đọc ông vua.

Tử Vi "không có hãm địa" không có nghĩa là ở đâu cũng tốt

Kinh văn Cả Tân Biên và Toàn Thư đều không xếp Tử Vi vào hãm địa, và Toàn Thư nói Tử Vi tự giải cứu được. Nhưng Tân Biên xếp Tý, Mão, Dậu, Hợi là bình hòa, Toàn Thư xếp Mão Dậu là bình thường, và phú Cốt Tủy nói riêng về Mão Dậu là "đa vi thoát tục chi tăng". Không hãm nghĩa là không tối, không phải luôn sáng. Suy luận Nói cho đúng tượng: mặt trời lặn thì tối, còn vua thì không lặn, nhưng vua có lúc ngồi giữa triều và có lúc đứng ngoài đồng. Tử Vi bình hòa mà thêm sát tinh, không phụ tá, là vua ngoài đồng; nó vẫn là vua, nhưng là vua không ai theo.

Tử Vi không "chế được mọi sát tinh"

Kinh văn Toàn Thư nói Tử Vi chế phục được Hỏa Tinh, Linh Tinh và trị được Thất Sát (hóa sát vi quyền). Sách không nói Tử Vi chế được Không Kiếp, Kình Đà hay Hóa Kỵ của sao khác; ngược lại phú Thái Vi nói "Đế ngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo". Nghĩa là năng lực chế sát của vua có giới hạn và có điều kiện: có Tả Hữu bên cạnh thì chế được, cô quân thì bị sát tinh át. Kinh nghiệm Nhầm lẫn hay gặp là thấy Tử Vi đồng cung Không Kiếp mà vẫn tin "vua chế được hết". Trên lá số thật, Tử Vi Không Kiếp là thế danh lớn của hư, hay gặp ở người có chức mà làm không ra tiền, hoặc ra tiền rồi mất vì tin người.

Tử Vi không bao giờ hóa Kỵ, nhưng người Tử Vi vẫn có thể "gặp Kỵ" quanh năm

Kinh văn Bảng Tứ Hóa của cả hai phái không có tuổi nào Tử Vi hóa Kỵ. Nhiều người đọc tới đó yên tâm rằng mình "không có Kỵ". Nhưng Vũ Khúc và Liêm Trinh luôn tam hợp Tử Vi, Tham Lang và Thiên Tướng thường đồng cung hoặc xung chiếu, và bốn sao ấy hóa Kỵ với tuổi Nhâm, Bính, Quý, Canh (mục 5). Suy luận Tính ra, trong mười tuổi can thì có tới bốn tuổi Tử Vi thủ Mệnh bị một sao trong tam phương tứ chính hóa Kỵ chiếu về, chưa kể lưu Kỵ mỗi năm. Vua không bị Kỵ, nhưng triều đình của vua bị Kỵ thì vua cũng mệt. Đọc "có Kỵ hay không" phải đọc cả bảy sao chầu về, không đọc mỗi Tử Vi.

Tử Vi trong Đẩu Số không phải Tử Vi trong Phong Thủy hay trong Đạo giáo

Kinh văn Tên Tử Vi có mặt ở nhiều nơi: Tử Vi Viên là một trong ba viên trên bầu trời cổ, Tử Vi Đại Đế là một vị thần trong Đạo giáo, và một số phái Phong Thủy có "Tử Vi tinh" trong bảng sao của mình. Sao Tử Vi trong Tử Vi Đẩu Số là chính tinh an theo ngày sinh và cục, nằm cố định trong lá số suốt đời, tượng ngôi vua, không liên quan tới việc thờ cúng hay tới hướng nhà. Người có Tử Vi thủ Mệnh không cần lập bàn thờ Tử Vi Đại Đế, cũng không phải tìm "hướng Tử Vi" để đặt bàn làm việc; những gợi ý phong thủy ở mục 14 chỉ là gợi ý chung theo hành Thổ của sao.

13 Lá Số Minh Họa: Đọc Tử Vi Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Ngọ, Mệnh an tại Ngọ, tuổi Nhâm, sinh ban ngày. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Đà lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn; các phụ tinh khác (Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt) tùy tháng giờ sinh nên không vẽ, và điều ấy có chủ ý: người đọc sẽ thấy chỉ với chính tinh và Tứ Hóa đã đọc được bao nhiêu.

Bước một: sáng hay tối

Tử Vi độc tọa tại Ngọ, miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư, là vị trí Cực Hướng Ly Minh. Ngay bước này đã biết người có khí chất đường bệ, tự tôn cao, hợp đứng đầu. Nhưng cũng ngay bước này phải hỏi câu phú "vô Sát tấu": trong lá số, Lộc Tồn tuổi Nhâm an tại Hợi nên Kình Dương rơi vào Tý và Đà La rơi vào Tuất, cả hai đều ở tam phương tứ chính của Mệnh, không đồng cung. Vậy cách Cực Hướng Ly Minh thành ở cung Mệnh nhưng có Kình xung, Đà chiếu, tức đủ đẹp về vị trí mà chưa trọn về "vô Sát". Cung Ngọ lại bị giáp bởi Thiên Cơ ở Tỵ và cung Mùi trống: mưu thần một bên, bên kia không ai, thế giáp không hại mà cũng không giúp nhiều.

Bước hai: hóa gì

Tuổi Nhâm nên Tử Vi hóa Quyền ngay tại Mệnh: vua nắm quyền trượng, nói là người nghe, hợp điều hành. Cả bộ Tứ Hóa tuổi Nhâm rải ra như sau: Thiên Lương hóa Lộc ở Mão, cung Tử Tức, đi cùng Thái Dương (con cái là lộc, hoặc lộc đến qua việc che chở người khác, nhưng Mão không thuộc tam phương tứ chính của Ngọ nên Lộc này không chiếu về Mệnh, chỉ chiếu về Điền Trạch ở Dậu đang trống); Tả Phụ hóa Khoa là phụ tinh an theo tháng, không vẽ; Vũ Khúc hóa Kỵ ở Dần, cung Tài Bạch, đi cùng Thiên Tướng, và Dần nằm trong tam hợp của Ngọ nên Kỵ này chiếu thẳng về Mệnh. Đây là điều mục 5 đã nói: mọi người tuổi Nhâm có Tử Vi thủ Mệnh đều bị Vũ Kỵ chiếu. Lộc Tồn tại Hợi rơi vào Nô Bộc cùng Thái Âm: bạn bè, cấp dưới là chỗ có tiền, còn mình nắm quyền; kết hợp với Vũ Kỵ ở Tài, thế này Thầy đọc là "quyền trong tay mình, tiền trong tay người", càng cần minh bạch sổ sách.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì

Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Tử Vi Ngọ có Liêm Trinh Thiên Phủ tại Tuất (cung Quan Lộc, có thêm Đà La) và Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần (cung Tài Bạch, Vũ Khúc hóa Kỵ) hợp chiếu, Tham Lang tại Tý (cung Thiên Di, có thêm Kình Dương) xung chiếu. Vậy tam phương của Mệnh gom đủ Tử Phủ Vũ Tướng, bộ giữ nước: người quản trị giỏi, sự nghiệp gắn với tổ chức lớn (Liêm Phủ ở Quan), tiền đến qua vị trí (Vũ Tướng ở Tài). Nhưng ba cung chiếu về mỗi cung mang một vết: Quan có Đà La (lên chức chậm, hay bị trì kéo), Tài có Vũ Kỵ (tiền vướng), Di có Tham Lang Kình Dương (ra ngoài dễ vướng giao du và va chạm). Đọc gộp: vua nắm quyền, triều đình đủ mặt, nhưng mỗi vị đại thần đều mang một tật nhỏ. Người này lên được cao, và điều phải giữ là tiền bạc và các mối giao du bên ngoài, không phải quyền lực.

Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào

  • Đổi sang tuổi Ất: Tử Vi hóa Khoa tại Mệnh, Thiên Cơ hóa Lộc ở Huynh Đệ (Tỵ) giáp Mệnh, Thiên Lương hóa Quyền ở Tử Tức, Thái Âm hóa Kỵ ở Nô Bộc. Lộc Tồn tuổi Ất tại Mão nên Kình Dương ở Thìn (Phu Thê, cùng Thất Sát) và Đà La ở Dần (Tài Bạch, cùng Vũ Tướng). Vua đổi quyền trượng lấy ấn tín: người có tiếng thơm hơn là có quyền, anh em cộng sự mang lộc tới, nhưng bạn đời cứng (Sát Kình) và bạn bè cấp dưới là chỗ dễ mất tiền (Âm Kỵ). Cực Hướng Ly Minh lúc này sạch Kình Đà ở Mệnh và tam phương chỉ còn Đà La ở Tài, gần với "vô Sát tấu" hơn tuổi Nhâm.
  • Đổi sang tuổi Bính: Tử Vi không hóa, nhưng Liêm Trinh ở Quan Lộc hóa Kỵ chiếu về Mệnh, Thiên Đồng hóa Lộc ở Tật Ách, Thiên Cơ hóa Quyền ở Huynh Đệ. Lộc Tồn tuổi Bính tại Tỵ nên Kình Dương rơi đúng cung Ngọ, đồng cung với Tử Vi. Đây là trường hợp phá cách Cực Hướng Ly Minh mà mục 8 đã nói: vua có gươm kề cổ, quan hình bị Kỵ, người vẫn sang nhưng đường công danh nhiều va chạm, giấy tờ pháp lý là chỗ cần cẩn thận, và dễ thành vua không ngai.
  • Đổi sang tuổi Giáp: Liêm Trinh ở Quan hóa Lộc chiếu về Mệnh, Vũ Khúc ở Tài hóa Khoa chiếu về Mệnh, Phá Quân ở Phúc Đức hóa Quyền, Thái Dương ở Tử Tức hóa Kỵ. Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần rơi vào Tài Bạch cùng Vũ Khúc Khoa, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu, đều không chạm tam phương của Mệnh. Đây là thế đẹp nhất trong ba tuổi thử: vua ở Ngọ không bị sát, Lộc Khoa từ hai cung tam hợp chầu về, Tài Bạch có cả Lộc Tồn lẫn Hóa Khoa. Cực Hướng Ly Minh thành cách trọn vẹn, chỉ cần thêm Tả Hữu là Quân Thần Khánh Hội; điều phải để ý duy nhất là Thái Dương Kỵ ở Tử Tức, con trai hoặc chuyện con cái là chỗ lo.

Cùng một ông vua ngồi cùng một ngai, ba tuổi can cho ba triều đình khác nhau. Đó là lý do bài này nói Tử Vi phải đọc bằng Tứ Hóa của bảy sao quanh nó. Muốn thấy Tử Vi của chính mình đứng ở đâu và triều đình của mình ra sao, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Tử Vi trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu vượng và Tứ Hóa của riêng quý vị.

14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Phát huy và tiết chếẢnh minh họa cập nhật sau Lời khuyên và cách hóa giải cho người có sao Tử Vi nổi bật
Tử Vi là sao tốt, việc cần làm là phát huy mặt mạnh và tiết chế mặt yếu

Tử Vi vốn là sao tốt, nên việc cần làm không phải là trấn yểm hay sợ hãi, mà là biết phát huy mặt mạnh và tiết chế mặt yếu.

Dưới đây là vài điều người có Tử Vi nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.

  1. Chủ động kết giao quý nhân. Vì sao này cần phụ tá, hãy trân trọng những người thật lòng giúp mình, đừng để cái tôi đẩy họ ra xa. Một mình thì vua cũng thành cô quân.
  2. Học cách nghe lời trái tai. Người dám nói thẳng với mình thường mới là người trung. Tập đón nhận góp ý thay vì chỉ vây quanh bởi lời khen.
  3. Giữ chừng mực trong hưởng thụ. Nhất là khi Tử Vi đi cùng Tham Lang, cần tiết chế tửu sắc và chi tiêu, kẻo cái quý bị hao mòn.
  4. Đặt mình vào đúng vị trí. Người Tử Vi sống đúng với khí chất khi được làm chủ, làm quản lý, làm việc có tầm. Gò mình vào vai phụ thuộc lâu dài dễ sinh uất ức.
  5. Xem kỹ cả lá số trước khi mừng. Có Tử Vi đẹp chưa đủ, phải xem phụ tá, sát tinh và đại vận lưu niên. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.

Về phong thủy bổ trợ: người mệnh có Tử Vi vốn hành Thổ, hợp các gam màu vàng đất, nâu, be và không gian sống trang nhã, gọn gàng, có điểm nhấn cao quý. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.

15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần III Đặc Tính Các Sao, mục Tử Vi: đế tinh, chủ uy quyền, tài lộc, phúc đức; miếu địa Tỵ, Ngọ, Dần, Thân; vượng địa Thìn, Tuất; đắc địa Sửu, Mùi; bình hòa Hợi, Tý, Mão, Dậu. Phần an sao (định cục, an Tử Vi theo ngày sinh và cục, an chuỗi Tử Vi và chuỗi Thiên Phủ) và phần Tứ Hóa theo can lấy từ phần I và phần II của cùng sách; các cách Tử Phủ đồng cung, Tử Tướng, Tử Sát, Tử Phá, Tử Tham, Quân Thần Khánh Hội lấy từ phần cách cục.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Sao Tử Vi: Tử Vi thuộc Thổ, ở ngôi tôn trong các sao, miếu ở Dần Ngọ, vượng ở Thân Hợi Thìn Tỵ Tý Sửu Mùi, bình thường Mão Dậu, không có hãm địa; thiếu Tả Phụ Hữu Bật gọi là cô quân; chế phục được Hỏa Linh, trị Thất Sát, hóa sát vi quyền. Các câu phú "Tử Vi cư Ngọ vô Sát tấu, vị chí công khanh", "Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu", "Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung", "Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú nhi bất quý hữu hư danh", "Tử Vi Phá Quân, vô Tả Hữu vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ", "Đào hoa phạm chủ vi chí dâm", "Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng", "Tử Vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bách nặc cư thượng phẩm", "Tử Vi cư Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ" dẫn theo Cốt Tủy Phú, và "Tử Vi Thiên Phủ toàn ỷ Phụ Bật chi công", "Đế ngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo" dẫn theo Thái Vi Phú, đều in trong bản dịch này. Tên cách Bách Quan Triều Củng và chữ "tại dã cô quân" là cách gọi của phái Trung Châu, không có trong hai sách trên, bài ghi rõ tại chỗ dùng.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp), danh sách bảy sao có thể chiếu và sáu sao không bao giờ chiếu, điều "Thiên Cơ luôn ở cung liền trước" và "Vũ Khúc, Liêm Trinh luôn tam hợp" được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số; bảng Tứ Hóa ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), có ghi chỗ Bắc phái khác. Lá số minh họa ở mục 13 và ba biến thể tuổi can dựng bằng chính thuật toán ấy.

Lưu ý về dị bản: hai bộ sách trên xếp miếu vượng của Tử Vi hơi khác nhau ở một số cung (Tỵ, Thân, Sửu, Mùi, Tý, Hợi), và ngũ hành Tử Vi có sách ghi Dương Thổ, có sách xếp Âm Thổ. Về Tứ Hóa, Tử Vi hóa Khoa tuổi Ất và hóa Quyền tuổi Nhâm là chỗ hai phái Nam Bắc thống nhất; khác biệt của tuổi Nhâm nằm ở sao hóa Khoa (Nam phái Tả Phụ, Bắc phái Thiên Phủ) và của tuổi Canh nằm ở sao hóa Kỵ (Nam phái Thiên Tướng, Bắc phái Thiên Đồng), hai chỗ này ảnh hưởng trực tiếp tới cách đọc Tử Phủ và Tử Tướng nên bài ghi cả hai. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (gồm Cốt Tủy Phú và Thái Vi Phú in kèm), phần cấu trúc và Tứ Hóa kiểm bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc hiểu đúng bản chất từng sao, phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tử Vi

Tử Vi là đế tinh, chủ tinh của chòm Bắc Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành thuộc Thổ. Đây là sao đứng đầu trong 14 chính tinh, tượng cho ngôi vua, chủ về quyền uy, sự tôn quý và khả năng lãnh đạo. Toàn bộ lá số được an theo vị trí của sao Tử Vi.

Tử Vi miếu địa tại Ngọ là cách đẹp nhất. Ngọ là Hỏa địa sinh cho Thổ Tử Vi nên uy quyền lên tới đỉnh. Người có Tử Vi cư Ngọ, hội thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt và bộ Khoa Quyền Lộc thì rất quý hiển.

Tử Vi là vua nên cần có quần thần. Nếu đơn thủ một mình, không có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì gọi là cô quân, quyền uy giảm và dễ cô độc. Có đủ phụ tá mới thành cách Quân Thần Khánh Hội, đại quý.

Nữ mệnh Tử Vi thường mạnh mẽ, tự lập, có chí và có sự nghiệp riêng. Nếu được phụ tá và cách cục đẹp thì là mệnh phu nhân quý hiển. Tuy nhiên nếu thiếu phụ tá thì dễ cô khắc, hôn nhân muộn hoặc lận đận, nên chú trọng tu dưỡng và chọn người tương xứng.

Đó là cách Tử Vi thủ Mệnh được Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, ví như vua có đủ quần thần triều bái. Người hợp cách này có địa vị cao, sự nghiệp lớn, được nhiều quý nhân nâng đỡ.

Theo bảng Tứ Hóa mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng, và cả hai phái Nam Bắc: tuổi Ất Tử Vi hóa Khoa, tuổi Nhâm Tử Vi hóa Quyền. Không có tuổi can nào làm Tử Vi hóa Lộc hay hóa Kỵ. Tám tuổi còn lại Tử Vi không hóa, giữ nguyên khí đế vương theo miếu vượng và chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của bảy sao có thể chiếu về, nhất là Vũ Khúc hóa Kỵ tuổi Nhâm và Liêm Trinh hóa Kỵ tuổi Bính vì hai sao này luôn tam hợp Tử Vi.

Do cách an sao, tam phương tứ chính của Tử Vi chỉ có thể gặp bảy sao: Thiên Phủ, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Vũ Khúc và Liêm Trinh luôn ở hai cung tam hợp. Tử Vi không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn hay Thiên Lương chiếu về, sáu sao này chỉ có thể đứng kề hai bên. Ngoài ra Thiên Cơ luôn nằm ở cung liền trước Tử Vi.

Cực Hướng Ly Minh là Tử Vi độc tọa thủ Mệnh tại Ngọ, vị trí cả Tân Biên và Toàn Thư đều xếp miếu. Phú viết Tử Vi cư Ngọ vô Sát tấu, vị chí công khanh, nên điều kiện đủ là không có sát tinh đồng cung, có Tả Hữu Khôi Việt chầu, tuổi Nhâm hóa Quyền hoặc tuổi Ất hóa Khoa càng đẹp. Cách bị phá khi Kình Dương, Đà La, Hỏa Linh hay Không Kiếp đóng tại Ngọ, hay gặp nhất là Kình Dương tại Ngọ với tuổi Bính và Mậu, hoặc Tham Lang ở Tý hóa Kỵ xung chiếu với tuổi Quý.

Năm can Nhâm Tử Vi lưu hóa Quyền, gần đây là 2022 Nhâm Dần, sắp tới là 2032 Nhâm Tý; năm can Ất Tử Vi lưu hóa Khoa, gần đây là 2025 Ất Tỵ, sắp tới là 2035 Ất Mão. Tử Vi không có năm lưu Kỵ, nhưng các năm can Bính (Liêm Trinh lưu Kỵ), can Nhâm (Vũ Khúc lưu Kỵ), can Quý (Tham Lang lưu Kỵ) và can Canh (Thiên Tướng lưu Kỵ theo Nam phái) đều có Kỵ chiếu vào cung Tử Vi, cần giữ tiền bạc, giấy tờ và giao du trong năm ấy.

Sao Tử Vi Của Bạn Đang Ngồi Ở Đâu

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết Tử Vi trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.