1 Sao Thất Sát Là Sao Gì

Trong mười bốn chính tinh của Tử Vi Đẩu Số, Thất Sát là một trong những sao mang khí chất rõ rệt nhất. Người xưa xếp nó vào hàng tướng tinh kiêm quyền tinh, một dũng tinh chủ về uy vũ và sát phạt. Cái tên Thất Sát đã nói lên tất cả: đây là ngôi sao của binh đao, của trận mạc, của những con người sinh ra để cầm quân và xông pha nơi đầu sóng ngọn gió.
Thất Sát thuộc chòm Nam Đẩu, ngũ hành mang Dương Kim kiêm thêm khí Hỏa. Kim là gươm giáo sắc bén, Hỏa là ngọn lửa nóng nảy, hai khí ấy gộp lại tạo nên một tinh diệu cương mãnh bậc nhất trong khoa Đẩu Số.
Vì mang khí Kim sắc và Hỏa nóng, Thất Sát thường được ví như thanh bảo kiếm. Trong tay người biết dùng, nó là vũ khí lập nên công trạng lớn lao. Trong tay người không kiểm soát được, nó lại tự gây thương tích cho chính chủ nhân. Đó là lý do cùng một sao Thất Sát mà có người làm nên đại nghiệp, có người lại lận đận tai ương suốt đời.
Một đặc điểm quan trọng khác: Thất Sát luôn nằm trong bộ ba Sát Phá Tham, tức Thất Sát, Phá Quân và Tham Lang, ba sao tam hợp chiếu nhau, tượng cho sự biến động, khai phá và dục vọng vươn lên. Bởi vậy đời người Thất Sát hầu như không bằng phẳng, mà luôn có những đợt sóng lớn, những lần lên voi xuống chó, những bước ngoặt làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh. Hiểu được điều này thì mới luận đúng về Thất Sát.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Thất Sát thuộc chuỗi sao đi theo Thiên Phủ, không đi theo Tử Vi. Khi đã định được cung Tử Vi thì lấy trục Dần Thân làm gương để tìm Thiên Phủ, rồi từ Thiên Phủ đếm thuận: Thái Âm một cung, Tham Lang hai, Cự Môn ba, Thiên Tướng bốn, Thiên Lương năm, Thất Sát sáu, và Phá Quân cách Thiên Phủ mười cung. Thất Sát đứng đúng sáu cung sau Thiên Phủ, nghĩa là luôn đối diện Thiên Phủ. Kho lẫm ở đâu thì tướng canh kho đứng ngay phía đối diện, đó là tượng cố định của sao này, không tuổi nào, giờ nào làm thay đổi được.
Suy luận Vì cách an cứng như vậy, có những điều về Thất Sát người luận không cần tra lá số cũng biết chắc. Người mới hay hỏi "Thất Sát có gặp Thái Dương không", "Thất Sát Cự Môn đồng cung thì sao": câu trả lời là không bao giờ có thế ấy trong tam phương tứ chính, ai nói vậy là đã an sai lá số. Nắm bốn điều bất biến dưới đây thì đọc Thất Sát nhanh hơn rất nhiều.
Bốn điều bất biến của Thất Sát
- Luôn có Thiên Lương ở cung liền trước. Thất Sát đóng cung nào thì Thiên Lương đóng ngay cung trước nó (Thất Sát Dần thì Thiên Lương Sửu, Thất Sát Ngọ thì Thiên Lương Tỵ). Cây lớn che chở luôn đứng sát sau lưng tướng quân, nên Thất Sát luôn bị giáp một bên bởi Thiên Lương; bên kia (cung liền sau) là cung trống khi Thất Sát ở Tý, Sửu, Tỵ, Ngọ, Mùi, Hợi; là Thiên Đồng khi ở Dần Thân; Thái Dương khi ở Mão Dậu; Thiên Cơ khi ở Thìn Tuất. Không có cung liền sau nào cố định.
- Luôn bị Thiên Phủ xung chiếu. Đây là hệ quả trực tiếp của cách an: Thất Sát cách Thiên Phủ sáu cung. Ở sáu vị trí độc tọa, đối diện là Thiên Phủ đi cặp với một sao của chuỗi Tử Vi: Vũ Phủ (khi Thất Sát ở Tý Ngọ), Tử Phủ (Dần Thân), Liêm Phủ (Thìn Tuất). Ở sáu vị trí đi cặp, đối diện là Thiên Phủ độc tọa.
- Tam phương tứ chính chỉ gặp sáu sao: Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Tham Lang, Phá Quân. Trong đó Tham Lang và Phá Quân luôn nằm ở hai cung tam hợp, hợp với Thất Sát thành bộ Sát Phá Tham. Thất Sát không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương chiếu về hay đồng cung. Nói cách khác, bộ Sát Phá Tham và bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương là hai thế giới không chạm nhau trong tam phương tứ chính.
- Đồng cung chỉ có ba khả năng. Thất Sát độc tọa tại Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất (sáu cung dương); đi cặp với Liêm Trinh tại Sửu, Mùi; với Vũ Khúc tại Mão, Dậu; với Tử Vi tại Tỵ, Hợi. Không có cặp nào khác. Thất Sát không bao giờ đồng cung với Tham Lang hay Phá Quân, hai sao ấy chỉ chiếu về, không ngồi chung.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí, sinh bằng thuật toán an sao chạy đủ mười hai cung Tử Vi. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.
| Thất Sát tại | Đồng cung | Tam hợp chiếu | Xung chiếu | Giáp hai bên |
|---|---|---|---|---|
| Tý | độc tọa | Phá Quân (Thìn) · Tham Lang (Thân) | Vũ Khúc, Thiên Phủ (Ngọ) | Thiên Lương (Hợi) · trống (Sửu) |
| Sửu | Liêm Trinh | Vũ Khúc, Phá Quân (Tỵ) · Tử Vi, Tham Lang (Dậu) | Thiên Phủ (Mùi) | Thiên Lương (Tý) · trống (Dần) |
| Dần | độc tọa | Phá Quân (Ngọ) · Tham Lang (Tuất) | Tử Vi, Thiên Phủ (Thân) | Thiên Lương (Sửu) · Thiên Đồng (Mão) |
| Mão | Vũ Khúc | Tử Vi, Phá Quân (Mùi) · Liêm Trinh, Tham Lang (Hợi) | Thiên Phủ (Dậu) | Thiên Đồng, Thiên Lương (Dần) · Thái Dương (Thìn) |
| Thìn | độc tọa | Phá Quân (Thân) · Tham Lang (Tý) | Liêm Trinh, Thiên Phủ (Tuất) | Thái Dương, Thiên Lương (Mão) · Thiên Cơ (Tỵ) |
| Tỵ | Tử Vi | Liêm Trinh, Phá Quân (Dậu) · Vũ Khúc, Tham Lang (Sửu) | Thiên Phủ (Hợi) | Thiên Cơ, Thiên Lương (Thìn) · trống (Ngọ) |
| Ngọ | độc tọa | Phá Quân (Tuất) · Tham Lang (Dần) | Vũ Khúc, Thiên Phủ (Tý) | Thiên Lương (Tỵ) · trống (Mùi) |
| Mùi | Liêm Trinh | Vũ Khúc, Phá Quân (Hợi) · Tử Vi, Tham Lang (Mão) | Thiên Phủ (Sửu) | Thiên Lương (Ngọ) · trống (Thân) |
| Thân | độc tọa | Phá Quân (Tý) · Tham Lang (Thìn) | Tử Vi, Thiên Phủ (Dần) | Thiên Lương (Mùi) · Thiên Đồng (Dậu) |
| Dậu | Vũ Khúc | Tử Vi, Phá Quân (Sửu) · Liêm Trinh, Tham Lang (Tỵ) | Thiên Phủ (Mão) | Thiên Đồng, Thiên Lương (Thân) · Thái Dương (Tuất) |
| Tuất | độc tọa | Phá Quân (Dần) · Tham Lang (Ngọ) | Liêm Trinh, Thiên Phủ (Thìn) | Thái Dương, Thiên Lương (Dậu) · Thiên Cơ (Hợi) |
| Hợi | Tử Vi | Liêm Trinh, Phá Quân (Mão) · Vũ Khúc, Tham Lang (Mùi) | Thiên Phủ (Tỵ) | Thiên Cơ, Thiên Lương (Tuất) · trống (Tý) |
Suy luận Từ bảng này rút ra một quy luật đọc rất tiện. Sáu vị trí đi cặp (Sửu, Mùi, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi) là sáu vị trí "đủ bộ": cả Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Tham Lang, Phá Quân đều có mặt trong tam phương tứ chính, tức toàn bộ chuỗi Tử Vi lẫn chuỗi Thiên Phủ (trừ bốn sao Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Tướng) cùng chầu về một lúc. Cục diện vì thế rất dày, có vua, có kho, có tướng, có tiên phong, mọi lực đều lớn, nên cách cục ở đây thành thì thành lớn mà phá thì phá lớn. Ngược lại sáu vị trí độc tọa (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) chỉ có bốn sao: Thiên Phủ và một sao chuỗi Tử Vi ở xung chiếu, Tham Lang và Phá Quân ở tam hợp. Cục diện gọn, Thất Sát là tướng đứng một mình giữa trận, mọi thứ dồn vào chính nó, nên miếu hãm của bản thân Thất Sát ở sáu cung này quan trọng hơn hẳn so với sáu cung đi cặp. Đó là lý do sách gọi riêng Thất Sát độc tọa Dần Thân Tý Ngọ thành cách, còn Tỵ Hợi, Mão Dậu, Sửu Mùi thì gọi theo tên cặp.
Suy luận Còn một quy luật nữa ít người để ý: cung xung chiếu cho biết ngay Thất Sát đang "canh" cho ai. Thất Sát Tý Ngọ đối diện Vũ Phủ là tướng canh kho tiền, đời gắn với của cải và quyết đoán tài chính. Thất Sát Dần Thân đối diện Tử Phủ là tướng canh triều đình, đời gắn với quyền và tổ chức lớn, đây chính là nền của cách Triều Đẩu. Thất Sát Thìn Tuất đối diện Liêm Phủ là tướng canh nhà ngục, đời gắn với kỷ luật, pháp lý và nhiều va chạm, cộng thêm hai cung Thìn Tuất vốn là lưới trời lưới đất nên vị trí này vất vả nhất trong sáu vị trí độc tọa.
Kinh văn Vì Thất Sát chỉ hội với sáu sao ấy, nên các cách cục của Thất Sát cũng chỉ xoay quanh sáu sao ấy: Thất Sát Triều Đẩu và Ngưỡng Đẩu (Thất Sát độc tọa, Tử Phủ hoặc Vũ Phủ đối diện), Tử Sát, Vũ Sát, Liêm Sát (ba cặp đồng cung), và Sát Phá Tham (bộ tam hợp). Không có cách nào ghép Thất Sát với Nhật Nguyệt hay với Cơ Lương, đó không phải thiếu sót của sách mà là hệ quả của cách an sao. Cũng vì thế, khi đọc cách cục Thất Sát, câu hỏi đầu tiên không phải "Thất Sát gặp sao nào" mà là "Thất Sát đang đứng cạnh Tử Vi, Vũ Khúc hay Liêm Trinh", vì ba sao ấy quyết định sắc thái của cả bộ.
3 Đặc Tính Người Có Thất Sát Thủ Mệnh

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, người có Thất Sát đóng ở cung Mệnh thường can đảm, dũng mãnh, quyết đoán và độc lập. Họ có khí phách của một vị tướng, làm việc dứt khoát, không ưa vòng vo, nói là làm.
Tướng mạo thường có nét uy nghi, ánh mắt cương nghị, dáng đi nhanh nhẹn dứt khoát. Người Thất Sát ít khi chịu khuất phục trước ai, càng bị ép càng phản kháng mạnh.
Về tính cách, đây là mẫu người dám nghĩ dám làm, không sợ gian khó, sẵn sàng lao vào những việc người khác né tránh. Họ có ý chí sắt đá, một khi đã quyết thì theo đến cùng, có sức chịu đựng và khả năng tự lập rất cao. Phần lớn người Thất Sát phải tự gây dựng cơ nghiệp từ tay trắng, ít được hưởng sẵn, và chính trong gian khó họ mới bộc lộ hết bản lĩnh. Cuộc đời họ thường nhiều thăng trầm biến động, hiếm khi êm ả, nhưng cũng nhờ đó mà tôi luyện thành người cứng cỏi.
Mặt trái của khí sát phạt là tính nóng nảy, bộc trực, đôi khi cố chấp và thiếu kiên nhẫn. Khi Thất Sát đắc địa, hội cát tinh, những nét này biến thành quyết đoán và bản lĩnh. Nhưng khi Thất Sát hãm địa, gặp nhiều sát tinh vây quanh, nó dễ trở thành hung bạo, liều lĩnh, hành xử bất chấp hậu quả và hay gây ra tai họa cho chính mình. Cổ nhân từng cảnh báo rằng Thất Sát ở hãm địa mà gặp nhiều sát tinh thì dễ yểu mệnh hoặc gặp tai nạn, thương tật. Đây chính là lằn ranh quan trọng nhất khi luận về sao này.
4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Thất Sát

Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Với Thất Sát, vị trí đóng quyết định rất nhiều, vì sát khí khi được phát huy đúng chỗ thì thành uy quyền, đặt sai chỗ lại thành tai họa.
Bảng dưới đặt song song hai bộ sách gốc, có cả tên sao đồng cung để dễ luận trọn cặp.
| Cung địa chi | Đồng cung | Theo Tân Biên | Theo Toàn Thư |
|---|---|---|---|
| Tý | Đơn thủ | Miếu | Miếu |
| Sửu | Liêm Trinh | Đắc | Bình |
| Dần | Đơn thủ | Miếu | Miếu |
| Mão | Vũ Khúc | Hãm | Bình |
| Thìn | Đơn thủ | Hãm | (không nêu) |
| Tỵ | Tử Vi | Vượng | Bình |
| Ngọ | Đơn thủ | Miếu | Miếu |
| Mùi | Liêm Trinh | Đắc | Bình |
| Thân | Đơn thủ | Miếu | Miếu |
| Dậu | Vũ Khúc | Hãm | Bình |
| Tuất | Đơn thủ | Hãm | (không nêu) |
| Hợi | Tử Vi | Vượng | Bình |
Hai trường phái về miếu vượng
Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp: miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ; vượng tại Tỵ, Hợi; đắc tại Sửu, Mùi; hãm tại Mão, Dậu, Thìn, Tuất. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục lại ghi: miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ; bình thường tại Mão, Dậu, Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi, và nói rõ Thất Sát vô hãm địa, tức không có cung nào thực sự hãm. Hai phái chỉ chắc chắn trùng nhau ở chỗ Dần, Thân, Tý, Ngọ đều miếu. Cốt lõi cần nhớ là Thất Sát Triêu Đẩu, tức Thất Sát thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân, được cả hai phái coi là cách quý. Khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.
Lưu ý về dị bản: chỗ khác nhau lớn nhất là chuyện hãm địa. Toàn Thư cho rằng Thất Sát vô hãm địa, ở đâu cũng còn uy, trong khi Tân Biên xếp Thất Sát hãm tại Mão, Dậu, Thìn, Tuất. Đây là dị bản giữa các trường phái, không phải lỗi. Người mới nên chọn một bộ làm chuẩn và dùng nhất quán cho cả lá số, tránh trộn lẫn hai hệ rồi luận mâu thuẫn.
Mẹo nhớ: Thất Sát đứng một mình ở Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, tức các cung dương. Sáu cung còn lại Thất Sát luôn đi cùng một chính tinh khác: gặp Liêm Trinh ở Sửu, Mùi thành Liêm Sát; gặp Vũ Khúc ở Mão, Dậu thành Vũ Sát; gặp Tử Vi ở Tỵ, Hợi thành Tử Sát. Muốn luận đúng, phải đọc cả hai sao trong cặp.
5 Tứ Hóa Của Thất Sát Theo Tuổi Can
Kinh văn Điều đầu tiên cần nói thẳng: Thất Sát không nằm trong bảng Tứ Hóa. Trong mười bốn chính tinh, chỉ có Thất Sát và (theo Nam phái) Thiên Phủ là không hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ với bất kỳ tuổi can nào. Bảng Tứ Hóa mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng (Nam phái) và bảng Bắc phái đều thống nhất điểm này. Quý vị đọc ở đâu thấy "Thất Sát hóa Quyền tuổi X" hay "Thất Sát hóa Kỵ" thì đó là nhầm lẫn, hoặc là nói tắt cho việc Thất Sát đồng cung với một sao khác đang hóa.
| Tuổi can | Thất Sát hóa | Sao chiếu về Thất Sát hóa gì (Nam phái, bảng trang đang dùng) | Bắc phái khác chỗ nào |
|---|---|---|---|
| Giáp | không hóa | Liêm Trinh Lộc · Phá Quân Quyền · Vũ Khúc Khoa (Kỵ rơi vào Thái Dương, không bao giờ chiếu Thất Sát) | giống nhau |
| Ất | không hóa | Tử Vi Khoa (Lộc Thiên Cơ, Quyền Thiên Lương, Kỵ Thái Âm đều không chiếu) | giống nhau |
| Bính | không hóa | Liêm Trinh Kỵ (Lộc Thiên Đồng, Quyền Thiên Cơ, Khoa Văn Xương) | giống nhau |
| Đinh | không hóa | không sao nào trong bộ hóa (Thái Âm Lộc, Thiên Đồng Quyền, Thiên Cơ Khoa, Cự Môn Kỵ đều ngoài tam phương) | giống nhau |
| Mậu | không hóa | Tham Lang Lộc (Quyền Thái Âm, Khoa Hữu Bật, Kỵ Thiên Cơ) | giống nhau |
| Kỷ | không hóa | Vũ Khúc Lộc · Tham Lang Quyền (Khoa Thiên Lương, Kỵ Văn Khúc) | giống nhau |
| Canh | không hóa | Vũ Khúc Quyền (Lộc Thái Dương, Khoa Thiên Đồng, Kỵ Thiên Tướng) | Khoa Thái Âm, Kỵ Thiên Đồng; với Thất Sát không đổi gì |
| Tân | không hóa | không sao nào trong bộ hóa (Cự Môn Lộc, Thái Dương Quyền, Văn Khúc Khoa, Văn Xương Kỵ) | giống nhau |
| Nhâm | không hóa | Tử Vi Quyền · Vũ Khúc Kỵ (Lộc Thiên Lương, Khoa Tả Phụ) | Khoa rơi vào Thiên Phủ, tức Thất Sát được thêm Khoa xung chiếu |
| Quý | không hóa | Phá Quân Lộc · Tham Lang Kỵ (Quyền Cự Môn, Khoa Thái Âm) | giống nhau |
Suy luận Bảng trên cho thấy một điều thú vị: chính vì Thất Sát không hóa, nên tuổi can quyết định Thất Sát qua đường vòng, qua sáu sao mà nó bắt buộc gặp. Tuổi Giáp là tuổi "được" nhất, vì cả Lộc, Quyền, Khoa đều rơi vào Liêm Trinh, Phá Quân, Vũ Khúc, ba sao nằm trong tam phương tứ chính của Thất Sát ở hầu hết vị trí, còn Kỵ rơi vào Thái Dương là sao Thất Sát không bao giờ gặp. Tuổi Đinh và tuổi Tân thì ngược lại: cả bốn hóa đều rơi ra ngoài bộ, Thất Sát của người tuổi Đinh, Tân "trơn", không lộc không kỵ, phải đọc thuần bằng miếu hãm và sát tinh. Tuổi Nhâm và tuổi Quý là hai tuổi vừa được vừa mất: Nhâm có Tử Vi Quyền nhưng Vũ Khúc Kỵ, Quý có Phá Quân Lộc nhưng Tham Lang Kỵ.
Vì sao Thất Sát không hóa, và đọc điều ấy thế nào
Kinh văn Sách không giải thích lý do, chỉ ghi bảng. Suy luận Nhưng nhìn theo tượng thì hiểu được: Tứ Hóa là bốn cách mà khí của một sao đổi màu theo năm sinh, Lộc là được, Quyền là nắm, Khoa là tiếng, Kỵ là vướng. Thất Sát là thanh kiếm, mà kiếm thì không tự đổi màu, nó chỉ sắc hay cùn, nằm trong tay ai. Bởi vậy đọc Thất Sát không có bước "tra hóa", nhưng lại có bước bắt buộc mà nhiều người bỏ qua: tra hóa của sao đồng cung và của Tham Lang, Phá Quân tam hợp. Thất Sát đồng cung Tử Vi tuổi Nhâm thì cả cung ấy có Quyền; đồng cung Vũ Khúc tuổi Kỷ thì cả cung ấy có Lộc; đồng cung Liêm Trinh tuổi Bính thì cả cung ấy có Kỵ. Người có Thất Sát thủ Mệnh vì thế không nên hỏi "tôi hóa gì" mà nên hỏi "tướng của tôi đang phò cho vị vua, vị tướng giữ kho hay vị quan hình nào, và người ấy đang hóa gì".
Thất Sát đồng cung với sao hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa
Kinh văn Ba cặp đồng cung cho ba tình huống hóa cát rất khác nhau. Tử Sát tuổi Nhâm (Tử Vi hóa Quyền): vua có thực quyền, tướng có kiếm, đây là thế "hóa sát vi quyền" đủ đầy nhất, người cầm quyền thật sự, nói ra có người theo. Tử Sát tuổi Ất (Tử Vi hóa Khoa): vua có tiếng, tướng có danh, hợp người làm việc lớn mà cần danh tiếng đi trước như lãnh đạo có học vị, chuyên gia đầu ngành. Vũ Sát tuổi Kỷ (Vũ Khúc hóa Lộc): tướng giữ kho mà kho có lộc, người quyết liệt về tiền và tiền vào thật, hợp kinh doanh, tài chính, kỹ nghệ. Vũ Sát tuổi Canh (Vũ Khúc hóa Quyền): hai Kim cộng Quyền, rất cứng, nắm được quyền về tiền nhưng phải học mềm. Vũ Sát tuổi Giáp (Vũ Khúc hóa Khoa): Khoa làm dịu hai Kim, thành người kỹ thuật giỏi có tiếng. Liêm Sát tuổi Giáp (Liêm Trinh hóa Lộc): quan hình có lộc, tướng nhiều tâm sự được đền đáp, hợp nghề pháp lý, quản lý rủi ro, và Lộc của Liêm Trinh còn làm dịu tính nóng của cả cặp. Kinh nghiệm Trong các thế trên, Thầy thấy Vũ Sát tuổi Kỷ và Tử Sát tuổi Nhâm là hai thế cho kết quả rõ nhất trên lá số thật: một bên tiền, một bên quyền, đúng như tượng sao. Nhưng cần nhớ khi sao miếu thì hóa cát là thêm cánh, còn khi sao hãm (Vũ Sát Mão Dậu theo Tân Biên là hãm) thì Lộc, Quyền chỉ đỡ được phần vất vả, không xóa được phần va chạm.
Thất Sát đồng cung với sao hóa Kỵ
Kinh văn Hai tình huống cần nhìn kỹ. Liêm Sát tuổi Bính (Liêm Trinh hóa Kỵ tại Sửu Mùi): quan hình bị Kỵ, tướng đứng cạnh người đang vướng án, sách Toàn Thư có câu "Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi", nghĩa là tướng cùng quan hình một chỗ thì xác vùi bên đường, câu ấy nói về thế Liêm Sát gặp thêm sát tinh và Kỵ, không phải mọi Liêm Sát. Với tuổi Bính, câu ấy trở nên đáng để ý thật sự, cần xem Kình Đà, Hỏa Linh và cung Tật Ách. Vũ Sát tuổi Nhâm (Vũ Khúc hóa Kỵ tại Mão Dậu): tướng giữ kho mà kho bị Kỵ, tiền là chỗ vướng, dễ vì tiền mà va chạm, hoặc hao tài do quyết định nóng vội; đáng chú ý là tuổi Nhâm đồng thời có Tử Vi hóa Quyền chiếu về tam hợp (Tử Phá tại Mùi hoặc Sửu), nên thế này là "có quyền mà hao tiền", hợp người làm việc công hơn làm ăn riêng. Kinh nghiệm Thất Sát đồng cung với sao hóa Kỵ khác Thất Sát bị Kỵ chiếu từ xa: Kỵ đồng cung là cái vướng nằm ngay trong tay tướng, thường hiện ra ở thân thể và ở việc chính của đời; Kỵ chiếu từ tam hợp thì là cái vướng đến từ người khác, từ tiền hoặc từ dục vọng, xem hộp dưới.
Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)
Kinh nghiệm Vì Thất Sát không hóa, toàn bộ phần "động" của nó đến từ Tứ Hóa của sáu sao chiếu về. Trên lá số thật, bốn tình huống hay gặp nhất là:
- Tuổi Quý, Tham Lang hóa Kỵ và Phá Quân hóa Lộc cùng chiếu. Tham Lang luôn ở một cung tam hợp của Thất Sát, Phá Quân ở cung tam hợp còn lại. Tướng được tiên phong mang lộc tới nhưng bị dục vọng kéo lại: người tuổi Quý có Thất Sát thủ Mệnh thường phát ở việc đổi mới, làm cái chưa ai làm, nhưng phải giữ mình ở chuyện tình cảm, rượu, cờ bạc, những thứ Tham Lang Kỵ chủ. Cần xem Tham Lang Kỵ ấy đang ở Tài Bạch hay Quan Lộc để biết cái vướng thuộc tiền hay thuộc nghề.
- Tuổi Giáp, Liêm Trinh Lộc, Phá Quân Quyền, Vũ Khúc Khoa cùng chầu. Với Thất Sát ở sáu cung đi cặp, cả ba hóa cát này đều nằm trong tam phương tứ chính; với Thất Sát độc tọa thì ít hơn: Tý Ngọ được Vũ Khúc Khoa xung chiếu và Phá Quân Quyền tam hợp, Thìn Tuất được Liêm Trinh Lộc xung chiếu và Phá Quân Quyền tam hợp, Dần Thân chỉ được Phá Quân Quyền tam hợp. Đây là tuổi "trọn vẹn" nhất của Thất Sát, và cũng là tuổi có Lộc Tồn an tại Dần, nên Thất Sát tại Dần tuổi Giáp là thế Triều Đẩu có Lộc Tồn ngồi chung, xem lá số minh họa ở mục 13.
- Tuổi Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ chiếu Thất Sát. Ở Thìn Tuất, Liêm Phủ xung chiếu nên Kỵ này đánh thẳng vào Mệnh; ở Mão Dậu và Tỵ Hợi thì Liêm Trinh ở tam hợp nên nhẹ hơn; ở Tý Ngọ và Dần Thân thì Liêm Trinh không chiếu, tuổi Bính không ảnh hưởng. Liêm Kỵ chiếu Thất Sát là thị phi, kiện tụng, va chạm về kỷ luật, và với nữ mệnh là chuyện tình cảm rắc rối, vì Liêm Trinh là đào hoa thứ hai.
- Tuổi Nhâm, Vũ Khúc hóa Kỵ chiếu Thất Sát. Ở Tý Ngọ, Vũ Phủ xung chiếu nên Kỵ đánh thẳng vào Mệnh: tướng canh kho mà kho bị Kỵ, tiền bạc là chỗ dễ mất. Ở Sửu Mùi, Tỵ Hợi thì Vũ Khúc ở tam hợp, nhẹ hơn, và tuổi Nhâm còn có Tử Vi Quyền đi kèm nên đỡ được nhiều.
Suy luận Một cách nhớ: Thất Sát không có Kỵ của riêng mình, nhưng có ba "cửa" Kỵ có thể bay tới, là Liêm Trinh (tuổi Bính), Vũ Khúc (tuổi Nhâm), Tham Lang (tuổi Quý). Kỵ bay tới từ cung xung chiếu mạnh hơn từ cung tam hợp. Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung, là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.
6 Thất Sát Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi

Cùng một sao Thất Sát nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do địa chi đó sinh hay khắc với hành Kim, và do sao đi kèm.
Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.
Thất Sát độc tọa tại Dần và Thân (Thất Sát Triêu Đẩu, miếu, đẹp nhất)
Đây là vị trí lý tưởng nhất của Thất Sát, gọi là cách Thất Sát Triêu Đẩu, ngưỡng về phía Nam Đẩu. Đế tinh chiếu về cùng khí miếu vượng khiến uy quyền của Thất Sát phát huy trọn vẹn. Người có cách này khí phách tướng quân rõ rệt, lãnh đạo bẩm sinh, có thể giữ trọng trách lớn, làm nên cơ nghiệp lớn từ hai bàn tay trắng. Nếu hội thêm Tả Hữu, Khôi Việt và bộ Khoa Quyền Lộc thì uy quyền và phú quý song toàn, là mệnh của bậc tướng soái hoặc thủ lĩnh trong nghề.
Thất Sát độc tọa tại Tý và Ngọ (miếu)
Ở Tý và Ngọ, Thất Sát cũng đạt miếu địa theo cả hai phái, khí sát được tiết chế hài hòa, người vừa cương vừa có chừng mực. Đây là mẫu người quyết đoán, bản lĩnh, làm việc có uy, hợp giữ vai trò chỉ huy. Tại Ngọ là Hỏa địa nên thêm phần nóng vội, cần học cách kiềm chế; tại Tý điềm tĩnh hơn, biết tính toán đường dài. Hội cát tinh thì là người thành danh nhờ thực lực và ý chí.
Thất Sát độc tọa tại Thìn và Tuất
Tại Thìn và Tuất, đây là hai cung gọi là thiên la địa võng, Thất Sát theo Tân Biên xếp hãm, theo Toàn Thư thì không nêu hãm mà coi vẫn còn uy. Người có cách này thường nhiều thử thách, trắc trở hơn, phải nỗ lực gấp bội mới thành. Nhưng cũng chính sức ép ấy tôi luyện nên người gan góc, càng khó càng lì. Cần có cát tinh hỗ trợ và giữ cái đầu lạnh thì mới hóa giải được sự khắc nghiệt của hai cung này.
Tử Sát đồng cung tại Tỵ và Hợi
Thất Sát gặp Tử Vi đồng cung gọi là Tử Sát. Đế tinh Tử Vi chế ngự được khí sát phạt cương cường của Thất Sát, biến cái dũng thô thành quyền uy có tiết chế, ví như vua nắm được tướng tài. Người có cách này vừa có uy lực vừa biết kỷ luật, có tài cầm quyền và thu phục người dưới, hợp giữ trọng trách lãnh đạo trong môi trường nhiều thử thách như doanh nghiệp lớn, lực lượng vũ trang, ngành công nghiệp nặng. Mức mạnh yếu ở Tỵ và Hợi tùy trường phái, theo Tân Biên thì vượng, theo Toàn Thư thì bình thường.
Vũ Sát đồng cung tại Mão và Dậu
Thất Sát gặp Vũ Khúc, tài tinh, gọi là Vũ Sát. Hai sao đều mang khí Kim cương mãnh, cộng lại thành người cực kỳ quyết liệt trong chuyện tiền bạc và sự nghiệp, dám mạo hiểm lớn để mưu cầu của cải. Hợp kinh doanh khắc nghiệt, đầu tư, kỹ thuật nặng, nghề liên quan tới kim khí, máy móc. Mặt cần dè chừng là dễ vì tiền mà liều lĩnh, hoặc gặp sóng gió tài chính lớn. Theo Tân Biên cung này hãm, theo Toàn Thư thì bình thường, nên rất cần cát tinh và Lộc đi kèm để giữ tài.
Liêm Sát đồng cung tại Sửu và Mùi
Thất Sát gặp Liêm Trinh gọi là Liêm Sát. Liêm Trinh là tù tinh, lại mang đào hoa và tính cứng, cộng với sát khí Thất Sát thành người cá tính rất mạnh, vừa quyết đoán vừa nhiều cảm xúc. Có thể làm nên việc lớn nhờ bản lĩnh, nhưng đời dễ nhiều biến cố, cần đặc biệt giữ mình trong chuyện thị phi, kiện tụng và tình cảm. Theo Tân Biên cung này đắc, theo Toàn Thư bình thường, nên cát hung phải xét kỹ cả dàn sao chầu về.
Một câu để nhớ
Thất Sát ở Dần, Thân là tướng quân ngưỡng đẩu, oai phong nhất. Thất Sát ở Tý, Ngọ là tướng trấn ải vững vàng. Thất Sát ở Thìn, Tuất là tướng bị giam trong lưới, phải vùng vẫy mới thoát. Tử Sát là vua cầm quân, Vũ Sát là tướng giữ kho, còn Liêm Sát là tướng nhiều tâm sự.
7 Thất Sát An Tại 12 Cung Chức

Thất Sát không chỉ có ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì rọi khí uy mãnh, quyết liệt và cả sự biến động vào lĩnh vực đó của cuộc đời.
Vì là sát tinh, hễ Thất Sát ở vị trí miếu vượng thì cung ấy mạnh mẽ, đắc lực; còn ở hãm địa hoặc gặp sát tinh thì cung ấy dễ trắc trở.
| Cung | Thất Sát sáng (miếu vượng, hội cát) | Thất Sát hãm (Mão Dậu Thìn Tuất theo Tân Biên, hoặc hội sát) | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Khí phách tướng quân, quyết đoán, tự lập sớm, làm chủ được cục diện, hợp chỉ huy. | Vẫn gan góc nhưng liều, nóng, đời nhiều biến động, dễ tự gây thương tích, thường xa quê lập nghiệp. | Thất Sát Dần Thân gặp Lộc Tồn đồng cung là Triều Đẩu có lộc. Thất Sát gặp Kình Dương đồng cung là "sát hội sát", phải xem Tật Ách trước khi khen hay chê. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ nghiêm, có uy, cương trực; mình sớm tự lập, ít dựa dẫm, được cha mẹ rèn thành người cứng cỏi. | Xa cách cha mẹ sớm, hoặc cha mẹ hay đau ốm, tai nạn; quan hệ hai bên căng, ít nói được với nhau. | Phụ Mẫu có Liêm Sát mà tuổi Bính (Liêm Kỵ) thì cha mẹ vướng thị phi, kiện tụng. Có Thất Sát gặp Thiên Hình, Kình Dương thì cha mẹ từng qua dao kéo. |
| Phúc Đức | Tinh thần chiến đấu bền, không sợ khó, tổ nghiệp bên nội gắn với võ nghiệp, kỹ nghệ, hoặc từng phải bỏ quê lập nghiệp. | Tâm không yên, hay tự tạo áp lực, ngủ ít, phúc bên nội mỏng, tổ tiên từng ly tán. | Phúc có Thất Sát thì Tài Bạch luôn có Thiên Phủ xung chiếu: tâm nhiều sóng gió mà tiền lại có chỗ giữ. Phúc có Thất Sát gặp Không Kiếp là hao tâm vì việc lớn mà không thành. |
| Điền Trạch | Tự tay tạo điền sản, mua bán đất mạnh tay, nhà cửa thay đổi nhiều lần rồi mới ổn; hợp nhà gần cơ quan, doanh trại, xưởng. | Nhà đất hay biến động, dễ mất rồi có lại; ở nơi ồn, nhiều xung sát, hoặc phải rời xa nhà cũ. | Điền có Vũ Sát tuổi Kỷ (Vũ Lộc) là mua được nhà nhờ quyết đoán đúng lúc. Điền có Thất Sát gặp Hỏa Linh cần xem chuyện cháy nổ, tranh chấp đất. |
| Quan Lộc | Vị trí Thất Sát thích nhất: sự nghiệp cầm quân, chỉ huy, lực lượng vũ trang, ngoại khoa, thể thao, kỹ nghệ nặng, kinh doanh cạnh tranh gay gắt; nắm thực quyền. | Nghề nhiều thay đổi, hay bỏ việc giữa chừng, va chạm với cấp trên, hoặc làm nghề nguy hiểm mà không được đền đáp. | Quan có Thất Sát thì Mệnh có Tham Lang, Tài có Phá Quân, bộ Sát Phá Tham trọn ở ba cung trục, đời phải khai phá. Quan có Tử Sát tuổi Nhâm (Tử Quyền) là nắm quyền thật trong tổ chức lớn. |
| Nô Bộc | Bạn bè, cấp dưới gan dạ, thẳng, trung thành trong việc lớn; có người dưới quyền dám xông pha thay mình. | Bạn bè cá tính mạnh, hay quay lưng đột ngột; cấp dưới khó bảo, dễ phản; kết giao nhanh mà tan cũng nhanh. | Nô có Thất Sát gặp Kình Dương, Thiên Hình là bị người dưới gây họa hoặc kiện ngược. Nô có Liêm Sát tuổi Giáp (Liêm Lộc) là bạn bè thẳng tính mà có lợi. |
| Thiên Di | Ra ngoài mạnh hơn ở nhà, lập nghiệp xa quê, thành danh nơi cạnh tranh; hợp nghề di chuyển, va đập, đòi hỏi gan dạ. | Ra ngoài dễ tai nạn, va chạm, cạnh tranh mà thua thiệt; đi xa nhiều mà chưa yên chỗ. | Di có Thất Sát thì Mệnh luôn có Thiên Phủ: người trong nhà giữ của, ra ngoài thành tướng. Di có Thất Sát gặp Thiên Mã tại Dần Thân Tỵ Hợi là tướng xuất chinh, càng đi xa càng phát. |
| Tật Ách | Thể chất cứng, sức bền tốt, ít bệnh vặt nhưng khi bệnh thì gấp; điểm yếu là phổi, đường hô hấp, xương, và tai nạn. | Tai nạn, thương tích, dao kéo, phẫu thuật, gãy xương; bệnh về phổi, khí quản, và các chứng do Kim khí như đau nhức xương khớp. | Thất Sát gặp Kình Dương tại Tật là thương tích bằng kim khí hoặc mổ. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh là bỏng, viêm cấp, cháy nổ. Liêm Sát tại Tật là bệnh về máu và ngoại thương cùng lúc. |
| Tài Bạch | Tiền vào qua cạnh tranh, mạo hiểm có tính toán, sức lao động và quyết đoán; kiếm từng khoản lớn, không đều nhưng mạnh. | Được lớn mất lớn, tiền đến rồi đi vì quyết định nóng; dễ hao vì tranh chấp, tai nạn, hoặc vì bạn. | Tài có Vũ Sát tuổi Kỷ (Vũ Lộc) là thế tiền mạnh nhất của Thất Sát. Tài có Thất Sát gặp Không Kiếp là tay trắng làm lại nhiều lần; gặp Đại Tiểu Hao là vào bao nhiêu ra bấy nhiêu. |
| Tử Tức | Con ít nhưng cứng cỏi, có chí, sớm tự lập, con trai hợp nghề võ, kỹ thuật, thể thao. | Muộn con, khó có con, hoặc con xa nhà sớm; con cái cứng đầu, hay va chạm với cha mẹ; cần xem chuyện thai sản. | Tử có Thất Sát gặp Kình Dương, Thiên Hình cần xem kỹ chuyện sinh nở và tai nạn của con đầu. Tử có Tử Sát là con có chí làm lớn, nhưng tính không ai bảo được. |
| Phu Thê | Bạn đời cá tính mạnh, có năng lực, làm nghề cần bản lĩnh; hôn nhân muộn thì bền, ai nhường được ai thì tốt. | Vợ chồng đều cương, dễ xung khắc, hôn nhân trắc trở, hoặc bạn đời gặp tai nạn, xa cách; nữ mệnh dễ lấy chồng nghề võ, nghề nguy hiểm. | Phu Thê có Thất Sát thì Quan Lộc luôn có Thiên Phủ chiếu: người này giữ được nghiệp nhưng phải giữ nhà. Phu có Liêm Sát tuổi Bính (Liêm Kỵ) là hôn nhân nhiều thị phi, cần luận kỹ, không kết luận vội. |
| Huynh Đệ | Anh em ít mà gan dạ, mỗi người một phương, khi cần thì dám đứng ra vì nhau. | Anh em xung khắc, ly tán, hoặc có người gặp tai nạn; ít trông cậy được nhau lúc thường. | Huynh có Thất Sát gặp Kình Đà là anh em bất hòa vì tiền hoặc vì đất. Huynh có Vũ Sát là anh em làm ăn mạnh tay, có người giàu nhanh. |
Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Thất Sát ở cung nào thì Thiên Phủ ở cung đối diện, luôn luôn như thế (mục 2). Nên đọc Thất Sát ở một cung phải đọc kèm Thiên Phủ ở cung đối: Thất Sát ở Thiên Di thì Thiên Phủ ở Mệnh, người "trong nhà giữ kho, ra ngoài cầm quân"; Thất Sát ở Phu Thê thì Thiên Phủ ở Quan Lộc, "nhà nhiều sóng gió mà nghiệp lại vững"; Thất Sát ở Tài Bạch thì Thiên Phủ ở Phúc Đức, "tiền kiếm bằng mạo hiểm nhưng gốc phúc có chỗ giữ". Cặp Sát Phủ đối nhau là chìa khóa để nhìn thấy mặt cân bằng của lá số, chứ không chỉ thấy mặt biến động.
8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Thất Sát

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về một chỗ, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.
Thất Sát là trung tâm của vài cách cục nổi tiếng, có cả cách đại quý lẫn cách đại hung cần cảnh giác.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Với Thất Sát điều này càng phải nói rõ, vì cùng là Thất Sát độc tọa Dần mà người có Lộc Tồn, Tả Hữu đi kèm và người có Kình Dương, Hỏa Tinh đi kèm là hai đời khác hẳn nhau. Dưới đây mỗi cách ghi rõ thành cách, đủ đẹp và phá cách, đối chiếu đúng bảng cấu trúc ở mục 2 và bảng Tứ Hóa ở mục 5.
Thất Sát Triều Đẩu và Thất Sát Ngưỡng Đẩu (tướng chầu sao Đẩu)
Kinh văn Thành cách: Thất Sát độc tọa thủ Mệnh tại Dần, Thân, Tý, Ngọ, bốn cung mà cả Tân Biên lẫn Toàn Thư đều xếp miếu. Tại Dần Thân, xung chiếu là Tử Phủ, tướng chầu về vua và kho, thường gọi là Triều Đẩu; tại Tý Ngọ, xung chiếu là Vũ Phủ, tướng ngẩng nhìn sao Đẩu, thường gọi là Ngưỡng Đẩu. Toàn Thư có câu phú "Thất Sát Triều Đẩu, tước lộc vinh xương", nghĩa là tướng chầu sao Đẩu thì tước vị và bổng lộc rực rỡ. Suy luận Tên gọi Triều Đẩu và Ngưỡng Đẩu có sách xếp ngược lại (Dần Thân là Ngưỡng, Tý Ngọ là Triều); bài này theo cách gọi Dần Thân là Triều Đẩu (mục 4 và mục 6 của trang viết Triêu Đẩu, cùng một chữ, chỉ khác cách phiên âm), còn nghĩa của hai cách gần như nhau, chỉ khác ở chỗ Dần Thân chầu về vua (Tử Phủ), Tý Ngọ chầu về kho (Vũ Phủ), nên Dần Thân thiên về quyền, Tý Ngọ thiên về tiền. Đủ đẹp: có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc chiếu về (tuổi Giáp Lộc Tồn an tại Dần, tuổi Canh Lộc Tồn an tại Thân, đúng hai cung Triều Đẩu), thêm Tả Hữu, Khôi Việt; tuổi Giáp là tuổi đẹp nhất cho Dần vì Lộc Tồn ngồi ngay Mệnh và Phá Quân Quyền chiếu về, còn tại Tý Ngọ tuổi Giáp có thêm Vũ Khúc Khoa xung chiếu. Người hợp cách này cầm quân, cầm tổ chức lớn, làm nên cơ nghiệp từ tay trắng. Phá cách: Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung; Không Kiếp đồng cung hoặc giáp; Tuần Triệt án ngữ cung Mệnh. Khi phá cách, người vẫn có tài cầm quân nhưng đời như tướng thắng trận mà mang thương tích về, được việc mà tổn thân.
Tử Sát tại Tỵ Hợi (vua cầm tướng, hóa sát vi quyền)
Kinh văn Thành cách: Thất Sát đồng cung Tử Vi thủ Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi. Toàn Thư nói Tử Vi gặp Thất Sát thì "hóa sát vi quyền", đổi sát khí thành quyền uy, đây là gốc của cách. Tam phương tứ chính của thế này (mục 2) có đủ Liêm Phá, Vũ Tham và Thiên Phủ, tức toàn bộ chuỗi Tử Vi và chuỗi Thiên Phủ trừ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, cục diện rất lớn. Đủ đẹp: tuổi Nhâm (Tử Vi hóa Quyền ngay tại Mệnh, thêm Lộc Tồn an tại Hợi nên Tử Sát Hợi tuổi Nhâm là Quyền và Lộc Tồn cùng ngồi một cung) hoặc tuổi Ất (Tử Vi hóa Khoa); có Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc chầu. Người hợp cách cầm quyền có kỷ luật, thu phục được người dưới, hợp trọng trách trong doanh nghiệp lớn, lực lượng vũ trang, công nghiệp nặng. Phá cách: Tử Vi không có Tả Hữu (sách gọi là vua cô độc, quyền có mà không ai phò), gặp Không Kiếp đồng cung (Tử Vi kỵ Không Kiếp nhất), hoặc tuổi Nhâm mà Vũ Khúc Kỵ ở tam hợp chiếu về làm quyền đi kèm hao tài. Khi phá cách, người có uy mà không có người, làm chủ một mình, dễ thành độc đoán.
Vũ Sát tại Mão Dậu (hai Kim một chỗ)
Kinh văn Thành cách: Thất Sát đồng cung Vũ Khúc thủ Mệnh tại Mão hoặc Dậu. Tân Biên xếp Thất Sát ở đây hãm, Toàn Thư xếp bình, nên đây là cặp cần cát tinh nhất trong ba cặp đồng cung. Hai sao đều Kim, tướng xung trận đứng cạnh tướng giữ kho, thành người cực kỳ quyết liệt về tiền và sự nghiệp. Tam phương có Tử Phá và Liêm Tham, xung chiếu Thiên Phủ. Đủ đẹp: tuổi Kỷ (Vũ Khúc hóa Lộc tại Mệnh, Tham Lang hóa Quyền chiếu về, Lộc Tồn an tại Ngọ không chiếu nhưng cũng không xung), hoặc tuổi Giáp (Vũ Khúc Khoa tại Mệnh, Liêm Lộc và Phá Quyền chiếu về tam hợp, ba hóa cát cùng chầu). Hợp kinh doanh cạnh tranh, tài chính, kỹ nghệ, kim khí, máy móc. Phá cách: tuổi Nhâm (Vũ Khúc hóa Kỵ ngay tại Mệnh, dù có Tử Vi Quyền chiếu về), Kình Dương hoặc Hỏa Linh đồng cung (ba Kim hoặc Kim gặp Hỏa nung, sát khí quá nặng, phải xem Tật Ách), Không Kiếp đồng cung (kho bị cướp, tướng thất thủ). Kinh nghiệm Vũ Sát Mão Dậu là thế Thầy gặp nhiều ở người làm nghề kỹ thuật, cơ khí, xây dựng, và ở người buôn bán lớn từng trắng tay rồi làm lại; cái phân biệt hai loại người ấy gần như luôn là có Lộc hay có Kỵ.
Liêm Sát tại Sửu Mùi (tướng bên quan hình)
Kinh văn Thành cách: Thất Sát đồng cung Liêm Trinh thủ Mệnh tại Sửu hoặc Mùi, Tân Biên xếp đắc, Toàn Thư xếp bình. Tam phương có Vũ Phá và Tử Tham, xung chiếu Thiên Phủ. Liêm Trinh là quan hình và cũng là đào hoa thứ hai, nên người Liêm Sát vừa quyết đoán vừa nhiều cảm xúc, hợp nghề pháp lý, thanh tra, an ninh, quản lý rủi ro, và nghề cần vừa cứng vừa khéo. Đủ đẹp: tuổi Giáp (Liêm Trinh hóa Lộc tại Mệnh, Phá Quân Quyền và Vũ Khúc Khoa chiếu về, là tuổi trọn bộ ba hóa cát), có Tả Hữu, Khôi Việt; Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ và tuổi Đinh an tại Ngọ giáp Mệnh Mùi, tuổi Quý Lộc Tồn an tại Tý giáp Mệnh Sửu, đều là thế giáp lộc. Phá cách: tuổi Bính (Liêm Trinh hóa Kỵ tại Mệnh), Kình Dương, Hỏa Linh đồng cung. Toàn Thư có câu "Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi", câu này nói về Liêm Sát hội sát tinh và Kỵ, tức thế phá cách, chứ không phải mọi Liêm Sát; người mới hay đem câu ấy dọa cả những lá Liêm Sát có Lộc, là đọc sai.
Sát Phá Tham (bộ tam hợp bất biến)
Kinh văn Thành cách: đây không phải cách theo nghĩa có hay không, vì Tham Lang và Phá Quân luôn nằm ở hai cung tam hợp của Thất Sát (mục 2). Điều làm nên "cách" là bộ ba ấy nằm trên ba cung trục Mệnh, Tài, Quan, và ba sao cùng đắc địa: Thất Sát Dần Thân thì Tham Lang ở Tuất Thìn và Phá Quân ở Ngọ Tý; Thất Sát Tý Ngọ thì Tham Lang ở Thân Dần và Phá Quân ở Thìn Tuất, đúng theo bảng mục 2. Sách gọi bộ này chủ biến động, khai phá, dục vọng vươn lên; người hợp cách là người dựng nghiệp, thay đổi cuộc chơi, làm việc chưa ai làm. Đủ đẹp: tuổi Giáp (Phá Quân Quyền), tuổi Kỷ (Tham Lang Quyền), tuổi Mậu (Tham Lang Lộc), tuổi Quý (Phá Quân Lộc, nhưng đi kèm Tham Lang Kỵ), có Lộc Tồn, Tả Hữu, Khôi Việt chầu về một trong ba cung trục. Phá cách: cả ba sao cùng hãm, hoặc Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp rải đều ba cung trục; Toàn Thư có câu "Thất Sát Phá Quân, chuyên y Dương Nhận chi ngược", tức Sát Phá gặp Kình Dương thì ngược đãi, nói đúng thế phá này. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Sát Phá Tham đắc địa mà thiếu Lộc thì là người cả đời làm lớn mà chưa giàu, có Lộc mà thiếu Tả Hữu thì giàu mà cô độc, có đủ cả thì mới thật sự là mệnh dựng nghiệp.
Thất Sát gặp Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh (sát hội sát, cách cần cảnh giác)
Kinh văn Thành cách (đây là cách xấu): Thất Sát đồng cung Kình Dương, hoặc đồng cung Hỏa Tinh, Linh Tinh, nặng nhất khi Thất Sát ở Mão, Dậu, Thìn, Tuất và có từ hai sát tinh trở lên. Toàn Thư nói thẳng Thất Sát gặp Kình Dương thường gây tai họa, và có câu "Thất Sát trùng phùng Tứ Sát, yêu đà bối khúc", tướng gặp đủ bốn sát thì lưng còng vai vẹo, ý nói thương tật. Kình Dương an theo can: tuổi Giáp Kình tại Mão, tuổi Ất tại Thìn, tuổi Bính Mậu tại Ngọ, tuổi Đinh Kỷ tại Mùi, tuổi Canh tại Dậu, tuổi Tân tại Tuất, tuổi Nhâm tại Tý, tuổi Quý tại Sửu; đối chiếu với vị trí Thất Sát là biết ngay tuổi nào rơi vào thế này. Kinh nghiệm Thầy phân biệt ba mức: Kình Dương đồng cung là thương tích bằng kim khí, mổ xẻ, tai nạn giao thông; Hỏa Linh đồng cung là bỏng, cháy nổ, việc gấp gáp gây họa; cả Kình lẫn Hỏa Linh cùng cung là thế phải xem Tật Ách và đại vận thật kỹ, nhưng cũng là thế của người làm nghề nguy hiểm mà thành danh (ngoại khoa, cứu hộ, lính đặc nhiệm), nghĩa là sát khí có chỗ xả thì thành nghề, không có chỗ xả thì thành họa. Đỡ được khi: Thất Sát miếu tại Dần Thân Tý Ngọ, có Tử Vi hoặc Thiên Phủ sáng xung chiếu, có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Đức, Nguyệt Đức, và nhất là khi người ấy chọn nghề đúng tượng.
Thất Sát gặp Địa Không, Địa Kiếp (tướng mất cả quân lẫn kho)
Kinh văn Thành cách (đây là cách xấu): Thất Sát đồng cung Địa Không hoặc Địa Kiếp, hoặc bị Không Kiếp giáp hai bên. Không Kiếp an theo giờ sinh (Địa Kiếp thuận, Địa Không nghịch từ Hợi), nên chỉ những giờ nhất định mới rơi vào thế này, sinh giờ Tý thì Không Kiếp cùng ở Hợi, sinh giờ Ngọ thì cùng ở Tỵ; hai giờ này tạo thế Không Kiếp cùng ngồi với Tử Sát Tỵ Hợi. Tướng xung trận mà gặp Không Kiếp là tướng mất quân, kho bị cướp: hao tài đột ngột, thất bại lớn giữa lúc đang lên, và dễ tai nạn. Suy luận Không Kiếp là hai sao "làm rỗng", còn Thất Sát là sao "làm mạnh"; mạnh mà rỗng thì thành liều. Người có thế này hay làm những việc lớn hơn sức, vay mượn để đánh lớn rồi trắng tay, nên lời khuyên là làm việc có kỷ luật tài chính, chọn nghề tay nghề thay vì nghề đầu cơ. Đỡ được khi: Thất Sát miếu, có Tử Vi đồng cung (Tử Vi chế được Không Kiếp phần nào), có Lộc Tồn, Hóa Lộc chiếu, và khi Không Kiếp chỉ chiếu từ tam hợp chứ không ngồi chung hay giáp.
Cách hay cũng có mặt cần dè chừng
Thất Sát Triều Đẩu đẹp đến đâu cũng là mệnh của người phải xông pha, không phải mệnh an nhàn; người có cách này mà đòi hưởng sớm, ngại việc khó, thì cách hay không phát. Tử Sát có quyền nhưng nếu thiếu Tả Hữu thì là vua cô độc, quyền có mà người không. Vũ Sát có tiền nhưng mọi đồng tiền đều qua cạnh tranh, được lớn mất lớn, nên rất cần Lộc và cần kỷ luật. Liêm Sát có bản lĩnh nhưng đi liền với thị phi, tình cảm rối. Sát Phá Tham có sức bật nhưng mỗi lần bật là một lần đổi đời, không phải ai cũng chịu được nhịp ấy. Luận Thất Sát phải luận cả cái giá của mỗi cách, không chỉ luận cái được.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Thất Sát tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào dàn sao vây quanh. Cùng một tướng tinh, gặp sao chế hóa và quý nhân thì lập công lớn, gặp sát tinh thì tự gây họa.
Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Thất Sát mừng được gặp và những sao Thất Sát e ngại.
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thất Sát là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Thất Sát điều này đặc biệt quan trọng vì nó là sao "hút" sát tinh: Kình Dương đồng cung là kiếm chạm kiếm, Kình Dương tam hợp chiếu chỉ là tiếng binh khí ở xa. Cũng vậy, Tử Vi đồng cung mới thật sự chế được sát (Tử Sát), Tử Vi xung chiếu từ Thân sang Dần chỉ là vua ở xa trông về tướng, tướng vẫn tự quyết.
Thất Sát rất thích gặp
- Tử Vi (đồng cung tại Tỵ Hợi mạnh nhất, xung chiếu tại Dần Thân kế đó): vua cầm tướng, hóa sát vi quyền; tuổi Nhâm Tử Vi Quyền, tuổi Ất Tử Vi Khoa càng đẹp.
- Thiên Phủ sáng (luôn xung chiếu): kho lẫm đứng đối diện tướng, là chỗ cân bằng cho mọi biến động của Thất Sát; Thiên Phủ có Lộc Tồn đi kèm thì Thất Sát càng vững.
- Lộc Tồn, Hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): tướng có lương, bớt cảnh được mất thất thường; Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần, tuổi Canh tại Thân ngồi đúng cung Triều Đẩu.
- Hóa Quyền của Tử Vi, Phá Quân, Vũ Khúc, Tham Lang (đồng cung hoặc tam hợp): quyền đến từ vua, từ tiên phong, từ kho, từ dục vọng, đều là quyền tướng dùng được.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng tốt): tướng có tả hữu phò, làm việc lớn có người theo; Tử Sát mà thiếu Tả Hữu là vua cô độc.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân nâng đỡ, được cất nhắc đúng lúc trong tổ chức lớn.
- Thiên Mã (đồng cung, chỉ có tại Dần Thân Tỵ Hợi): tướng xuất chinh, đi xa mà phát, hợp chuyển công tác, lập nghiệp xa quê.
Thất Sát e ngại khi gặp
- Kình Dương (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế, giáp cũng xấu): sát hội sát, thương tích, mổ xẻ, tai nạn; tam hợp chiếu chỉ là va chạm nhỏ.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): Kim bị Hỏa nung, nóng vội, bỏng, cháy nổ, việc gấp sinh họa; chiếu từ xa thì chỉ là tính nóng.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): tướng mất quân, kho bị cướp, hao tài đột ngột; giáp là thế xấu hơn chiếu.
- Hóa Kỵ của Liêm Trinh (tuổi Bính), Vũ Khúc (tuổi Nhâm), Tham Lang (tuổi Quý) (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): ba cửa Kỵ duy nhất có thể bay tới Thất Sát; Kỵ tam hợp chiếu chỉ là điều tiếng thoáng qua.
- Thiên Hình (đồng cung): kiếm gặp hình cụ, kiện tụng, dao kéo; nhưng với người làm nghề pháp lý, quân đội, ngoại khoa thì Thiên Hình lại là nghề.
- Đà La (đồng cung): kiếm bị rỉ, việc lớn trì trệ, tai nạn kéo dài, xương khớp.
- Hãm địa Mão Dậu Thìn Tuất (theo Tân Biên): không phải sao mà là thế; ở đây mọi sát tinh nặng thêm một bậc, mọi cát tinh nhẹ đi một bậc.
Nguyên tắc xuyên suốt rất đơn giản: Thất Sát cần được chế hóa và dẫn dắt. Một thanh kiếm sắc trong tay minh quân và bên cạnh quý nhân thì lập nên công trạng; cũng thanh kiếm ấy giữa đám sát tinh hung dữ thì chém cả vào chủ nhân. Khi xem lá số có Thất Sát, hãy luôn hỏi: sát khí này đang được ai chế ngự, hay đang bị đám hung tinh thổi bùng lên.
10 Thất Sát Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Thất Sát "tĩnh": nó nằm ở đâu, sáng hay tối, cạnh ai. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Với Thất Sát, phần động này còn quan trọng hơn phần tĩnh, vì Thất Sát là sao của bước ngoặt: hầu hết những lần đổi nghề, đổi chỗ ở, tai nạn, hay lập nghiệp lớn của một đời đều trùng với lúc đại vận hay lưu niên chạm tới cung có Thất Sát.
Đại vận đi vào cung có Thất Sát
Kinh văn Đại vận đến cung Thất Sát miếu vượng (Dần Thân Tý Ngọ, hoặc Tử Sát Tỵ Hợi có cát tinh) là mười năm xông trận: đổi việc, mở việc, nhận trọng trách, lập nghiệp nơi xa, và thường là chính giai đoạn dựng được nền móng lớn nhất của đời, dù bận rộn và vất vả. Người vốn hiền lành, Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương, đi vào đại vận Thất Sát cũng trở nên quyết liệt khác thường, dám làm điều mười năm trước không dám. Đại vận đến cung Thất Sát hãm (Mão Dậu Thìn Tuất theo Tân Biên) hoặc Thất Sát hội Kình Hỏa Linh Không Kiếp là mười năm sóng gió: biến động lớn, hao tài, dễ tai nạn, thương tích, mất người thân, và thường phải rời bỏ cái đang có. Kinh nghiệm Thầy dặn khách hai điều khi vào đại vận Thất Sát: một là đây là vận để làm, không phải để giữ, ai vào vận này mà co lại thì thường bị đời đẩy đi bằng cách khó chịu hơn; hai là phải xem cung Tật Ách của đại vận và các sát tinh cố định trong cung ấy trước, vì Thất Sát đại vận gặp Kình Dương bản mệnh là mười năm cần giữ thân thể thật kỹ. Đại vận Thất Sát mà đối cung là Thiên Phủ có Lộc Tồn thì sóng gió vẫn có nhưng có chỗ giữ, thường là vận "mất rồi được lại lớn hơn".
Lưu niên: năm nào các sao quanh Thất Sát đổi áo
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Vì Thất Sát không hóa, bảng lưu niên của nó là bảng của sáu sao chiếu về, nhưng cách đọc thì vẫn là đọc vào cung có Thất Sát: năm nào Lộc, Quyền bay vào tam phương tứ chính của Thất Sát thì tướng có lương, có lệnh; năm nào Kỵ bay vào thì tướng bị vướng.
| Can năm | Sao quanh Thất Sát lưu hóa | Các năm gần đây và sắp tới | Đọc thế nào cho cung có Thất Sát |
|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh lưu Lộc · Phá Quân lưu Quyền · Vũ Khúc lưu Khoa | 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần | Năm được nhất của Thất Sát: tiên phong có lệnh, kho có tiếng, quan hình có lộc; hợp mở việc, nhận chức, chuyển công tác. Kỵ rơi vào Thái Dương nên không chạm Thất Sát. |
| Kỷ | Vũ Khúc lưu Lộc · Tham Lang lưu Quyền | 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi | Năm tiền vào qua quyết đoán; Vũ Sát Mão Dậu hưởng trọn; Thất Sát Tý Ngọ có Vũ Phủ Lộc xung chiếu, năm tốt về tài. |
| Mậu | Tham Lang lưu Lộc | 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ | Lộc đến từ cung tam hợp có Tham Lang: năm có lộc nhờ giao thiệp, nhờ dục vọng vươn lên; giữ mình ở tửu sắc. |
| Nhâm | Tử Vi lưu Quyền · Vũ Khúc lưu Kỵ | 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất | Năm được quyền mà hao tiền; Tử Sát Tỵ Hợi hưởng Quyền; Thất Sát Tý Ngọ bị Vũ Kỵ xung chiếu, năm cần giữ tiền, tránh đầu tư lớn. |
| Quý | Phá Quân lưu Lộc · Tham Lang lưu Kỵ | 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi | Năm đổi mới có lộc nhưng dục vọng bị vướng: hợp làm cái mới, không hợp chuyện tình cảm, cờ bạc, hùn hạp. |
| Bính | Liêm Trinh lưu Kỵ | 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn | Năm quan hình bị Kỵ: Liêm Sát Sửu Mùi và Thất Sát Thìn Tuất (Liêm Phủ xung) chịu nặng nhất, giữ giấy tờ, tránh kiện tụng, tránh va chạm pháp lý; Thất Sát Tý Ngọ Dần Thân không chạm. |
| Ất · Canh | Tử Vi lưu Khoa (Ất) · Vũ Khúc lưu Quyền (Canh) | 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão · 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân | Năm có tiếng (Ất) hoặc có quyền về tiền (Canh) đến từ cung xung chiếu hay tam hợp, mức nhẹ, đọc kèm sao lưu. |
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Thất Sát bản mệnh nằm ở cung nào, rồi hỏi năm nay Kỵ lưu bay vào cung nào quanh nó. Thất Sát Tý Ngọ mà gặp năm Nhâm (Vũ Kỵ xung chiếu), Thất Sát Thìn Tuất gặp năm Bính (Liêm Kỵ xung chiếu), Thất Sát bất kỳ vị trí nào gặp năm Quý (Tham Kỵ tam hợp) là ba thế lưu niên hay sinh chuyện nhất. Nếu bản mệnh đã là tuổi Bính, Nhâm hay Quý mà lại gặp đúng năm ấy là Kỵ chồng Kỵ, năm phải cẩn thận thật sự. Ngược lại người tuổi Giáp gặp năm Giáp (2024, 2034) là Lộc Quyền Khoa chồng lên nhau, thường là năm dựng được việc lớn. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các sao lưu chạm vào cung Thất Sát
- Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Thất Sát: năm có việc dính tới công quyền, tranh chấp, thi hành kỷ luật; Thất Sát miếu thì là năm được giao việc khó và làm được, hãm thì là năm bị đưa ra đối chất.
- Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Thất Sát: đây là tổ hợp lưu niên Thầy dặn kỹ nhất với người có Thất Sát, vì sát hội sát dù chỉ trong một năm cũng đủ sinh tai nạn, mổ xẻ, thương tích. Lưu Kình chạm Thất Sát tại Tật Ách hoặc Mệnh, trùng năm Kỵ lưu bay vào, là năm phải đi khám sớm và giữ an toàn khi lái xe, dùng máy móc.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Thất Sát: Bạch Hổ là Kim, gặp Thất Sát là Kim chồng Kim, năm dễ có thương tích, tang sự bên nội hoặc kiện tụng; Tang Môn chạm Thất Sát tại Phụ Mẫu hay Huynh Đệ là năm để ý sức khỏe người thân, không kết luận tang nhưng phải đi khám.
- Kinh nghiệm Lưu Xương Khúc đến cung Thất Sát: Thất Sát vốn không hợp văn tinh lắm, năm này là năm tướng phải học, phải thi, phải làm giấy tờ, thường gượng nhưng có kết quả nếu Thất Sát sáng; năm can Tân (Văn Xương lưu Kỵ) hay can Kỷ (Văn Khúc lưu Kỵ) thì năm ấy chớ ký kết vội.
- Kinh văn Lưu Khôi Việt đến cung Thất Sát sáng: năm được quý nhân tiến cử, được cất nhắc vào vị trí chỉ huy, thi tuyển vào ngành cần thể lực và bản lĩnh thuận lợi.
- Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Thất Sát tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm tướng xuất chinh, hợp chuyển công tác, đi xa, xuất ngoại, dời nhà; Thất Sát hãm gặp lưu Mã thì là năm bôn ba mà chưa yên.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Thất Sát

Nam mệnh Thất Sát thường có chí lớn, gan dạ, dám xông pha, hợp những nghề đòi hỏi bản lĩnh và sức chịu đựng. Khi cách cục đẹp, họ là mẫu người dựng nghiệp, chỉ huy, được cấp dưới nể phục.
Điều cần giữ là tiết chế tính nóng nảy và liều lĩnh, học cách lùi một bước để tính đường dài thay vì lao thẳng bất chấp.
Nữ mệnh Thất Sát mạnh mẽ, độc lập, có bản lĩnh và chí khí hơn người, không thua kém nam giới về ý chí và sự nghiệp. Nếu được cát tinh hỗ trợ và cách cục tốt thì là nữ tướng trong nghề, tự gây dựng được vị thế riêng. Tuy nhiên do tính cương cường, không chịu khuất phục, đời sống tình cảm dễ trắc trở, hôn nhân thường muộn hoặc nhiều sóng gió, đôi khi cô độc dù bên ngoài rất bản lĩnh. Với nữ mệnh Thất Sát, học cách mềm mỏng đúng lúc và chọn bạn đời biết trân trọng cá tính của mình quan trọng hơn nhiều so với việc cố tỏ ra cứng rắn mọi lúc.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thất Sát
Thất Sát có chữ "sát" trong tên nên bị gán thêm rất nhiều thứ không có trong sách, từ yểu mệnh, cô độc, tới "Thất Sát hóa Kỵ". Mục này nói rõ Thất Sát không chủ về gì, để người đọc khỏi lo oan hay mừng hụt.
Thất Sát trong Tử Vi không phải Thất Sát trong Bát Tự
Kinh văn Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất. Trong Bát Tự Tứ Trụ, Thất Sát là một trong mười thần (thập thần), chỉ hành khắc nhật chủ cùng âm dương, còn gọi là Thiên Quan, tính theo can chi ngày tháng năm giờ. Trong Tử Vi Đẩu Số, Thất Sát là một chính tinh an theo cung Thiên Phủ, nằm cố định trong lá số. Hai khái niệm trùng tên nhưng khác hệ, khác cách tính, khác nghĩa: người có Thất Sát thủ Mệnh trong Tử Vi hoàn toàn có thể không có Thất Sát nào trong Bát Tự, và ngược lại. Muốn xem Thất Sát của Bát Tự thì dùng công cụ lập tứ trụ, không phải bài này. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít khách đọc "Thất Sát vượng thì hung" trong sách Bát Tự rồi lo cho lá số Tử Vi của mình, đó là đem thước của môn này đo môn kia.
Thất Sát là chính tinh, không phải sát tinh
Kinh văn Sách gọi Thất Sát là tướng tinh, quyền tinh, dũng tinh, chưa bao giờ xếp nó chung với Lục Sát (Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp). Chữ "sát" ở đây là sát phạt, là việc của tướng, không phải "sát" theo nghĩa hung tinh gây hại. Cả hai bộ sách đều xếp Thất Sát miếu ở bốn cung, và Toàn Thư còn nói Thất Sát vô hãm địa. Suy luận Nhầm Thất Sát thành sát tinh dẫn tới hai lỗi ngược nhau: người thì thấy Thất Sát ở Mệnh đã lo, người thì thấy Thất Sát ở Phúc Đức lại mừng vì tưởng "sát tinh nằm ở Phúc thì bớt hại". Đọc đúng thì Thất Sát ở đâu cũng là tướng cầm quân ở đó, tốt hay xấu do miếu hãm và sát tinh đi kèm, không do bản thân nó.
Không có chuyện "Thất Sát hóa Kỵ" hay "Thất Sát hóa Quyền"
Kinh văn Như mục 5 đã nói, Thất Sát không nằm trong bảng Tứ Hóa của cả Nam phái lẫn Bắc phái. Những chỗ viết "Thất Sát hóa Quyền" thường là nói tắt cho hai chuyện khác: một là Tử Sát "hóa sát vi quyền", tức Tử Vi chế sát khí thành quyền, không phải Thất Sát hóa Quyền; hai là Thất Sát đồng cung với sao đang hóa Quyền (Tử Vi tuổi Nhâm, Vũ Khúc tuổi Canh). Tương tự "Thất Sát hóa Kỵ" thường là Liêm Sát tuổi Bính hay Vũ Sát tuổi Nhâm. Kinh nghiệm Phân biệt được điều này thì đọc lá số chính xác hơn hẳn, vì Kỵ của Liêm Trinh (thị phi, pháp lý, tình cảm) và Kỵ của Vũ Khúc (tiền, kim khí, cô độc) là hai loại vướng khác nhau, gán chung cho Thất Sát là mất thông tin.
Thất Sát không mặc định yểu mệnh
Kinh văn Toàn Thư có câu "Thất Sát lâm Thân, chung thị yểu", nhưng câu ấy nói về Thất Sát ở cung Thân (thân cung, không phải địa chi Thân), và các lời bình đều kèm điều kiện hãm địa, hội sát tinh. Tân Biên cũng chỉ nói Thất Sát hãm gặp nhiều sát tinh thì dễ yểu hoặc thương tật, không nói Thất Sát nói chung. Thất Sát miếu tại Dần Thân Tý Ngọ, hội cát, sách gọi là tước lộc vinh xương, không có chữ yểu nào. Kinh nghiệm Trên lá số thật, người Thất Sát hay có sẹo, có lần mổ, có tai nạn, đó là điều Thầy thấy lặp lại nhiều; còn yểu thì chỉ khi hội đủ Kình Hỏa Linh Không Kiếp tại Mệnh, Thân, Tật và đại vận đến đúng cung ấy, mà thế ấy hiếm. Không nên vì một câu phú mà đem chữ yểu gán cho mọi lá Thất Sát.
Thất Sát ở Phu Thê không đồng nghĩa ly hôn hay khắc chồng
Kinh văn Sách nói Thất Sát ở Phu Thê thì bạn đời cương cường, hôn nhân nhiều sóng gió, nên muộn lập gia đình; sách không dùng chữ khắc hay chữ ly hôn. Và như bảng mục 7 đã chỉ ra, Thất Sát ở Phu Thê thì Thiên Phủ luôn ở Quan Lộc, tức người ấy giữ được nghiệp vững, chỉ nhà là nhiều va chạm. Kinh nghiệm Thầy thấy Thất Sát ở Phu Thê hay gặp nhất là bạn đời làm nghề cần bản lĩnh (quân đội, công an, kỹ thuật, kinh doanh cạnh tranh), hai vợ chồng đều thẳng, cãi nhau to nhưng không giấu nhau; những cặp ấy bền khi có Lộc và Tả Hữu chiếu, và trắc trở khi có Kình Đà, Hóa Kỵ đồng cung. Kết luận ly hôn từ một mình Thất Sát là quá vội.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Thất Sát Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Thân (nên Thiên Phủ cũng tại Thân và Thất Sát rơi vào Dần đúng như quy tắc cách Thiên Phủ sáu cung), Mệnh an tại Dần, tuổi Giáp. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn Kình Đà lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn.
Tử Vi tại Thân, Mệnh tại Dần
không phải người thật
Bước một: sáng hay tối
Thất Sát độc tọa tại Dần, miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư. Xung chiếu là Tử Phủ tại Thân, vậy đây là Thất Sát Triều Đẩu thành cách ngay từ bước đầu. Cung Mệnh bị giáp bởi Thiên Lương tại Sửu (cây lớn che sau lưng tướng, đúng điều bất biến thứ nhất ở mục 2) và Thiên Đồng tại Mão. Ngay bước này đã biết người có khí chất tướng quân, tự lập sớm, hợp tổ chức lớn.
Bước hai: hóa gì
Thất Sát không hóa, nên bước này là bước tra hóa của các sao quanh nó. Tuổi Giáp có Liêm Trinh hóa Lộc tại Tý (cung Phu Thê, đồng cung Thiên Tướng), Phá Quân hóa Quyền tại Ngọ (cung Quan Lộc), Vũ Khúc hóa Khoa tại Thìn (cung Phúc Đức), Thái Dương hóa Kỵ tại Tỵ (cung Điền Trạch). Hai điều đáng chú ý: Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần, ngồi ngay cung Mệnh cùng Thất Sát, tướng Triều Đẩu có lương bổng cố định, đây là thế đẹp nhất của lá này; và vì Lộc Tồn ở đâu thì Kình Đà kẹp hai bên ở đó, nên Kình Dương tại Mão (Phụ Mẫu) và Đà La tại Sửu (Huynh Đệ) giáp Mệnh. Kình Đà giáp là thế bao vây, với Thất Sát cần ghi nhận: người này được lộc nhưng hai bên là cha mẹ và anh em đều là chỗ va chạm, và bản thân cần giữ an toàn thân thể vào những năm lưu Kình Đà chồng lên. Thái Dương Kỵ nằm ở Điền Trạch, ngoài tam phương tứ chính của Mệnh, chỉ ảnh hưởng nhà đất và cha, không chạm tới Thất Sát.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Thất Sát Dần có Phá Quân tại Ngọ (cung Quan Lộc) và Tham Lang tại Tuất (cung Tài Bạch) hợp chiếu, Tử Vi Thiên Phủ tại Thân (cung Thiên Di) xung chiếu. Vậy ba cung trục Mệnh, Tài, Quan là trọn bộ Sát Phá Tham, mà Phá Quân ở Quan Lộc lại đang hóa Quyền: nghề chính là nghề tiên phong, có thực quyền, đổi mới liên tục. Tham Lang ở Tài Bạch không hóa với tuổi Giáp, tiền vào qua giao thiệp và dục vọng vươn lên. Tử Phủ ở Thiên Di là ra ngoài gặp vua gặp kho, lập nghiệp xa quê hoặc trong tổ chức lớn thì được. Liêm Trinh Lộc ở Phu Thê không nằm trong tam phương của Mệnh nhưng là tam phương của Quan Lộc và Thiên Di, nên bạn đời có lộc và giúp cho sự nghiệp. Cộng ba bước lại: tướng Triều Đẩu có lương, có tiên phong mang lệnh, phò vua ở phương xa, nhưng bị Kình Đà kẹp hai bên, đường lên rộng mà phải giữ thân.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Kỷ: Vũ Khúc hóa Lộc tại Phúc Đức, Tham Lang hóa Quyền tại Tài Bạch chiếu về Mệnh, Lộc Tồn dời sang Ngọ ngồi cùng Phá Quân ở Quan Lộc, Kình Dương tại Mùi, Đà La tại Tỵ không còn giáp Mệnh. Thất Sát vẫn Triều Đẩu, nhưng lộc dời từ Mệnh sang Quan và Tài: người này phát bằng nghề và bằng tiền hơn là bằng bổng lộc bản thân, và không bị Kình Đà kẹp nên thân thể an hơn, đổi lại Mệnh "trơn" hơn.
- Đổi sang tuổi Nhâm: Tử Vi hóa Quyền tại Thiên Di xung chiếu về Mệnh, Vũ Khúc hóa Kỵ tại Phúc Đức, Lộc Tồn an tại Hợi (Tử Tức), Kình Dương tại Tý (Phu Thê), Đà La tại Tuất (Tài Bạch). Vua ở xa có quyền trông về tướng, ra ngoài được người có quyền dùng; nhưng Đà La ngồi cùng Tham Lang ở Tài Bạch và Kình Dương cùng Liêm Tướng ở Phu Thê, tiền và hôn nhân là hai chỗ vướng.
- Đổi sang tuổi Quý: Phá Quân hóa Lộc tại Quan Lộc chiếu về, Tham Lang hóa Kỵ tại Tài Bạch cũng chiếu về, Lộc Tồn an tại Tý (Phu Thê), Kình Dương tại Sửu (Huynh Đệ), Đà La tại Hợi (Tử Tức). Nghề tiên phong có lộc nhưng tiền vào lại vướng Kỵ: người này nên làm nghề, không nên làm ăn riêng, và giữ mình ở chuyện tình cảm, tửu sắc mà Tham Lang Kỵ chủ.
Cùng một Thất Sát Triều Đẩu tại Dần mà bốn tuổi can cho bốn đời khác nhau, đó là lý do bài này dành cả một mục cho Tứ Hóa của các sao quanh Thất Sát. Muốn thấy Thất Sát của chính mình đứng ở đâu và đang phò cho ai, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Thất Sát trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu hãm và Tứ Hóa của riêng quý vị.
14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Thất Sát là sao mạnh, không phải sao xấu. Việc cần làm không phải trấn yểm hay sợ hãi, mà là biết dẫn cái khí cương mãnh ấy vào đúng đường để thành công trạng thay vì tai họa.
Dưới đây là vài điều người có Thất Sát nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.
- Rèn chữ nhẫn, kiềm chế nóng vội. Đa số tai họa của người Thất Sát đến từ một phút bốc đồng. Tập dừng lại ba nhịp trước khi quyết những việc lớn hoặc khi đang giận.
- Chọn đúng môi trường để xông pha. Người Thất Sát hợp những nghề có thử thách, cạnh tranh, kỷ luật rõ ràng như quân đội, công an, ngoại khoa, thể thao, kỹ thuật, kinh doanh. Đặt mình vào việc đủ tầm thì sát khí thành động lực.
- Đặc biệt giữ an toàn thân thể. Vì Thất Sát chủ tai nạn, dao kéo, hãy cẩn trọng khi lái xe, dùng máy móc, làm việc nguy hiểm, và khám sức khỏe định kỳ, nhất là trong các đại vận, lưu niên gặp Kình Dương, Hỏa Linh.
- Kết giao quý nhân và biết dùng người. Tướng giỏi vẫn cần quân sư và đồng đội. Trân trọng người thẳng thắn góp ý, đừng để cái tôi cương cường đẩy họ ra xa.
- Xem kỹ cả lá số trước khi mừng hay lo. Thất Sát đắc địa hội cát là mệnh quý, nhưng Thất Sát hãm gặp sát tinh lại rất khác. Phải xem phụ tá, sát tinh và đại vận lưu niên. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.
Về phong thủy bổ trợ: người mệnh có Thất Sát vốn hành Kim, hợp các gam màu trắng, ghi, ánh kim và không gian sống ngăn nắp, dứt khoát, có điểm nhấn mạnh mẽ. Nên tránh không gian quá bừa bộn hay nhiều vật sắc nhọn phơi bày. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần III Đặc Tính Các Sao, mục Thất Sát: tướng tinh kiêm quyền tinh, chủ uy vũ, sát phạt; can đảm, dũng mãnh, quyết đoán, độc lập; miếu địa Dần, Thân, Tý, Ngọ; vượng địa Tỵ, Hợi; đắc địa Sửu, Mùi; hãm địa Mão, Dậu, Thìn, Tuất; hãm địa gặp nhiều sát tinh thì dễ yểu hoặc thương tật. Phần ý nghĩa Thất Sát tại các cung chức và trong hạn lấy từ cùng sách.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Sao Thất Sát: Thất Sát thuộc Kim mang khí Hỏa, là tướng tinh chủ sát phạt; miếu ở Dần, Thân, Tý, Ngọ, các cung còn lại bình thường, nhấn mạnh Thất Sát vô hãm địa; Thất Sát gặp Kình Dương thường gây tai họa; Tử Vi gặp Thất Sát thì hóa sát vi quyền. Các câu phú "Thất Sát Triều Đẩu, tước lộc vinh xương", "Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi", "Thất Sát Phá Quân, chuyên y Dương Nhận chi ngược", "Thất Sát trùng phùng Tứ Sát, yêu đà bối khúc", "Thất Sát lâm Thân, chung thị yểu" dẫn theo phần phú của bản dịch này.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp) và bốn điều bất biến (luôn kề Thiên Lương, luôn xung Thiên Phủ, tam phương chỉ gặp Tử Vũ Liêm Phủ Tham Phá, ba cặp đồng cung) được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số; kết luận Thất Sát không hóa với tuổi can nào và bảng hóa của các sao chiếu về ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), có ghi chỗ Bắc phái khác (tuổi Canh, tuổi Nhâm). Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: điểm khác biệt lớn nhất giữa hai bộ sách là chuyện hãm địa. Toàn Thư cho rằng Thất Sát vô hãm địa, ở đâu cũng còn uy, trong khi Tân Biên xếp Thất Sát hãm ở Mão, Dậu, Thìn, Tuất. Ngoài ra mức miếu vượng tại Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi, Mão, Dậu cũng được hai phái xếp khác nhau. Tên gọi Triều Đẩu và Ngưỡng Đẩu cho hai cặp cung Dần Thân và Tý Ngọ cũng có sách xếp ngược nhau. Về Tứ Hóa, Thất Sát không hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái, nên không có dị bản cho riêng sao này; chỗ hai phái khác nhau là Thiên Phủ (Bắc phái tuổi Nhâm hóa Khoa, Nam phái không hóa), và Thiên Phủ luôn xung chiếu Thất Sát nên khác biệt ấy có ảnh hưởng gián tiếp. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Cốt lõi cả hai cùng thống nhất là Thất Sát miếu ở Dần, Thân, Tý, Ngọ và Thất Sát độc tọa ở bốn cung ấy là cách quý. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thất Sát
Thất Sát là một trong 14 chính tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc chòm Nam Đẩu, ngũ hành Dương Kim kiêm Hỏa. Đây là tướng tinh kiêm quyền tinh, một dũng tinh chủ về uy vũ và sát phạt. Người có Thất Sát thủ Mệnh thường can đảm, dũng mãnh, quyết đoán, độc lập và có khí phách của một vị tướng cầm quân.
Vì Thất Sát mang khí Kim sắc bén kiêm Hỏa nóng nảy, tượng cho gươm giáo và binh đao. Người có sao này dám nghĩ dám làm, không chịu khuất phục, hợp với những môi trường khắc nghiệt như quân đội, công an, ngoại khoa, thể thao hay kinh doanh gian khó. Khi đắc địa thì uy mãnh nên nghiệp lớn, khi hãm địa lại dễ hung bạo, liều lĩnh và gây tai họa.
Thất Sát Triêu Đẩu là cách Thất Sát thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân, ngưỡng về phía Nam Đẩu, được coi là cách quý. Người hợp cách này có uy quyền lớn, khí phách tướng quân, dễ giữ chức trọng và làm nên cơ nghiệp từ tay trắng nếu hội thêm cát tinh và bộ Khoa Quyền Lộc.
Khi Thất Sát gặp Tử Vi đồng cung, gọi là Tử Sát, đế tinh Tử Vi chế ngự được khí sát phạt cương cường của Thất Sát, biến cái dũng thô thành quyền uy có tiết chế. Như vua nắm được tướng tài, người hợp cách này vừa có uy lực vừa biết kỷ luật, hợp giữ trọng trách lãnh đạo trong môi trường nhiều thử thách.
Thất Sát vốn là sát tinh, nếu gặp thêm Kình Dương thì sát khí chồng sát khí, theo cổ luận thường gây tai họa khủng khiếp, dễ thương tật, tai nạn hoặc kiện tụng. Thất Sát đặc biệt kỵ Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp và Hóa Kỵ, nhất là khi đóng ở hãm địa. Cần có cát tinh giải cứu mới giảm bớt được sự hung hiểm.
Không với tuổi nào cả. Thất Sát không nằm trong bảng Tứ Hóa của cả Nam phái (bảng trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng) lẫn Bắc phái. Muốn biết Thất Sát của mình được hay vướng theo tuổi can thì tra hóa của sáu sao luôn ở quanh nó: Tử Vi (Ất Khoa, Nhâm Quyền), Vũ Khúc (Giáp Khoa, Kỷ Lộc, Canh Quyền, Nhâm Kỵ), Liêm Trinh (Giáp Lộc, Bính Kỵ), Tham Lang (Mậu Lộc, Kỷ Quyền, Quý Kỵ), Phá Quân (Giáp Quyền, Quý Lộc). Tuổi Giáp là tuổi được nhiều nhất, tuổi Bính, Nhâm, Quý là ba tuổi có Kỵ bay tới.
Không. Thất Sát trong Bát Tự Tứ Trụ là một trong mười thần, chỉ hành khắc nhật chủ cùng âm dương, còn gọi là Thiên Quan. Thất Sát trong Tử Vi Đẩu Số là một chính tinh an theo cung Thiên Phủ, nằm cố định trong lá số. Hai khái niệm trùng tên nhưng khác hệ, khác cách tính và khác nghĩa, không dùng lời luận của môn này cho môn kia.
Do cách an sao, Thất Sát luôn bị Thiên Phủ xung chiếu, luôn có Tham Lang và Phá Quân ở hai cung tam hợp (bộ Sát Phá Tham), và tùy vị trí có thêm Tử Vi, Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh. Thất Sát không bao giờ gặp Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương trong tam phương tứ chính. Ngoài ra Thiên Lương luôn nằm ở cung liền trước Thất Sát.
Vì Thất Sát không hóa, năm cần chú ý là năm Kỵ lưu bay vào các sao quanh nó: năm can Bính Liêm Trinh lưu Kỵ (2026 Bính Ngọ, 2036 Bính Thìn), nặng với Liêm Sát Sửu Mùi và Thất Sát Thìn Tuất; năm can Nhâm Vũ Khúc lưu Kỵ (2032 Nhâm Tý), nặng với Vũ Sát Mão Dậu và Thất Sát Tý Ngọ; năm can Quý Tham Lang lưu Kỵ (2033 Quý Sửu) chạm mọi vị trí qua tam hợp. Cộng thêm lưu Kình Dương hay lưu Đà La đến cung Thất Sát thì năm ấy phải giữ an toàn thân thể. Ngược lại năm can Giáp (2024, 2034) là năm Lộc Quyền Khoa cùng chầu về Thất Sát, thuận cho việc lớn.