Sao Thiên Phủ, Nam Đẩu chủ tinh, kho tàng của trời trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Thiên Phủ

Nam Đẩu chủ tinh, tài tinh kiêm quyền tinh, được ví như kho tàng của trời. Hiểu Thiên Phủ là hiểu cái gốc tích lũy, giữ của và uy quyền ổn định trong Tử Vi Đẩu Số.

Ngũ hành: Âm Thổ Nam Đẩu chủ Tài tinh, lệnh tinh Miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ
天府Tiān Fǔ
Tên sao: Thiên Phủ
Ngũ hành: Thổ
Chòm sao: Nam Đẩu chủ
Loại sao: Tài tinh, kho tàng
Miếu vượng: Miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ
Cai quản: Tài lộc, tích lũy, uy quyền
Hợp gặp: Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tử Vi
Kỵ: Tuần Triệt, Không Kiếp
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Thiên Phủ Là Sao Gì

Kho tàng Nam ĐẩuẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Phủ là chủ tinh chòm Nam Đẩu, kho tàng của trời trong Tử Vi Đẩu Số
Thiên Phủ là kho chứa của cải của trời đất, chủ về tích lũy và giữ của

Trong Tử Vi Đẩu Số, nếu Tử Vi là ngôi vua thì Thiên Phủ chính là kho tàng và quan giữ của của triều đình. Người xưa gọi Thiên Phủ là chủ tinh của chòm Nam Đẩu, sánh ngang với Tử Vi chủ chòm Bắc Đẩu. Hai sao này như hai trục lớn, một bên nghiêng về quyền, một bên nghiêng về của, cùng nhau làm nên thế cân bằng của cả lá số.

Tên Thiên Phủ có nghĩa là cái kho của trời. Phủ ở đây là phủ khố, là nơi chứa đựng tài vật. Vì thế Thiên Phủ vừa là tài tinh, chủ về tiền bạc và sự giàu có, vừa là lệnh tinh, có quyền điều phối, đứng đầu một phương.

Thiên Phủ thuộc hành Thổ, mang tính âm, nên khí chất của nó là sự dày dặn, ổn trọng và bao dung. Thổ chủ về sự tích chứa và nuôi dưỡng, nên người mang sao này thường có thiên hướng tích lũy, biết lo xa, không thích phiêu lưu mạo hiểm mà chuộng sự chắc chắn, bền vững. Đây cũng là lý do Thiên Phủ rất hợp với những nghề liên quan tới tiền bạc và tài sản như tài chính, ngân hàng, kế toán, quản lý tài sản, bất động sản và kho vận.

Tử Vi là vua trị nước, Thiên Phủ là quan giữ kho. Vua có uy mà thiếu kho thì lệnh khó truyền, kho đầy mà thiếu vua thì của khó dùng. Hai sao gặp nhau mới thành đại cuộc.

Một nét rất đáng quý của Thiên Phủ là khả năng cứu giải. Sách xưa chép Thiên Phủ có thể giải được bệnh tật, tai ương, lại chế ngự được tính hung ác của bốn sát tinh Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, khiến chúng bớt hung. Tuy nhiên, nếu cả bốn sát tinh cùng hội đủ về một chỗ thì sức cứu giải của Thiên Phủ cũng không kham nổi, lúc đó uy quyền và tài lộc của sao này đều bị chiết giảm đáng kể. Bởi vậy, khi luận một lá số có Thiên Phủ, vẫn phải nhìn kỹ dàn sát tinh vây quanh chứ không thể chủ quan.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Thiên Phủ là sao đầu của chuỗi Nam Đẩu, an theo Tử Vi nhưng không đi cùng chiều với Tử Vi. Quy tắc cổ là: Tử Vi và Thiên Phủ đối xứng nhau qua trục Dần Thân. Tử Vi ở Dần thì Thiên Phủ cũng ở Dần, Tử Vi ở Thân thì Thiên Phủ cũng ở Thân; Tử Vi lệch khỏi trục ấy bao nhiêu cung thì Thiên Phủ lệch về phía ngược lại bấy nhiêu: Tử Vi Thìn thì Thiên Phủ Tý, Tử Vi Ngọ thì Thiên Phủ Tuất, Tử Vi Hợi thì Thiên Phủ Tỵ. Định xong Thiên Phủ, cả chuỗi Nam Đẩu đi thuận theo nó: Thái Âm cung liền sau, rồi Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát mỗi sao cách một cung, và Phá Quân ở cung thứ mười tính từ Thiên Phủ. Chính vì cách an cứng như vậy mà có những điều về Thiên Phủ không bao giờ thay đổi, bất kể tuổi nào, tháng nào, giờ nào.

Bốn điều bất biến của Thiên Phủ

  1. Luôn có Thái Âm ở cung liền sau. Thiên Phủ đóng cung nào thì Thái Âm đóng ngay cung kế tiếp (Thiên Phủ Tý thì Thái Âm Sửu, Thiên Phủ Mùi thì Thái Âm Thân). Kho lẫm luôn có mặt trăng kề bên, nên bàn Thiên Phủ mà không nhìn Thái Âm là mới nhìn một nửa thế giáp của nó.
  2. Thất Sát luôn xung chiếu, Thiên Tướng luôn tam hợp chiếu. Thất Sát cách Thiên Phủ đúng sáu cung nên đời đời đứng đối diện; Thiên Tướng cách bốn cung nên đời đời nằm trong tam hợp. Vì thế nói "Thiên Phủ thủ Mệnh" là đã ngầm nói "Thất Sát ở Thiên Di, Thiên Tướng ở Quan Lộc". Kho lẫm luôn có tướng xung trận đứng trước cửa và ấn tín nằm trong tay, đó là thế cố định.
  3. Tam phương tứ chính chỉ gặp Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát hoặc cung trống. Thiên Phủ không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Lương hay Phá Quân chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Ai nói "Thiên Phủ hội Tham Lang" hay "Thiên Phủ được Thái Âm chiếu" là đã an sai lá số: Thái Âm chỉ có thể kề Thiên Phủ chứ không chiếu, Phá Quân chỉ có thể đứng cách Thiên Phủ hai cung chứ không nhìn thấy nhau.
  4. Đồng cung chỉ có ba khả năng. Thiên Phủ đi cặp với Vũ Khúc tại Tý, Ngọ; với Tử Vi tại Dần, Thân; với Liêm Trinh tại Thìn, Tuất. Sáu vị trí còn lại Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi Thiên Phủ độc tọa. Không có cặp Phủ Tướng, Phủ Sát hay Phủ Âm đồng cung, dù ba sao ấy đều rất gần Thiên Phủ.

Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí, sinh bằng thuật toán an sao của trang, không chép theo trí nhớ. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.

Cấu trúc tam phương tứ chính cố định của Thiên Phủ tại 12 địa chi
Thiên Phủ tạiĐồng cungTam hợp chiếuXung chiếuGiáp hai bên
Vũ KhúcTử Vi, Thiên Tướng (Thìn) · Liêm Trinh (Thân)Thất Sát (Ngọ)Thiên Đồng (Hợi) · Thái Dương, Thái Âm (Sửu)
Sửuđộc tọaThiên Tướng (Tỵ) · trống (Dậu)Liêm Trinh, Thất Sát (Mùi)Thái Dương (Tý) · Thiên Cơ, Thái Âm (Dần)
DầnTử ViLiêm Trinh, Thiên Tướng (Ngọ) · Vũ Khúc (Tuất)Thất Sát (Thân)Thiên Cơ (Sửu) · Thái Âm (Mão)
Mãođộc tọaThiên Tướng (Mùi) · trống (Hợi)Vũ Khúc, Thất Sát (Dậu)trống (Dần) · Thái Âm (Thìn)
ThìnLiêm TrinhVũ Khúc, Thiên Tướng (Thân) · Tử Vi (Tý)Thất Sát (Tuất)trống (Mão) · Thái Âm (Tỵ)
Tỵđộc tọaThiên Tướng (Dậu) · trống (Sửu)Tử Vi, Thất Sát (Hợi)trống (Thìn) · Thiên Đồng, Thái Âm (Ngọ)
NgọVũ KhúcTử Vi, Thiên Tướng (Tuất) · Liêm Trinh (Dần)Thất Sát (Tý)Thiên Đồng (Tỵ) · Thái Dương, Thái Âm (Mùi)
Mùiđộc tọaThiên Tướng (Hợi) · trống (Mão)Liêm Trinh, Thất Sát (Sửu)Thái Dương (Ngọ) · Thiên Cơ, Thái Âm (Thân)
ThânTử ViLiêm Trinh, Thiên Tướng (Tý) · Vũ Khúc (Thìn)Thất Sát (Dần)Thiên Cơ (Mùi) · Thái Âm (Dậu)
Dậuđộc tọaThiên Tướng (Sửu) · trống (Tỵ)Vũ Khúc, Thất Sát (Mão)trống (Thân) · Thái Âm (Tuất)
TuấtLiêm TrinhVũ Khúc, Thiên Tướng (Dần) · Tử Vi (Ngọ)Thất Sát (Thìn)trống (Dậu) · Thái Âm (Hợi)
Hợiđộc tọaThiên Tướng (Mão) · trống (Mùi)Tử Vi, Thất Sát (Tỵ)trống (Tuất) · Thiên Đồng, Thái Âm (Tý)

Suy luận Từ bảng này rút ra một quy luật đọc rất tiện. Sáu vị trí Thiên Phủ đồng cung (Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất) là sáu vị trí "đủ bộ": tam phương tứ chính có trọn cả năm sao Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát, tức bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm cùng Thất Sát chầu về một lúc, không có cung nào trống. Ngược lại, sáu vị trí Thiên Phủ độc tọa (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi) luôn có một cung tam hợp trống, chỉ còn Thiên Tướng một bên và một cặp "X cùng Thất Sát" xung chiếu: Sửu Mùi thì Liêm Sát xung, Mão Dậu thì Vũ Sát xung, Tỵ Hợi thì Tử Sát xung. Nói cách khác, Thiên Phủ độc tọa là cái kho lớn nhưng vắng người: vua, tướng giữ kho hay quan hình chỉ có một trong ba tới thăm, mà lại đi cùng tướng xung trận. Đây là lý do cấu trúc khiến sách dặn Thiên Phủ độc tọa cần Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc mới sung mãn, còn Thiên Phủ đồng cung thì tự thân đã có bộ sao dày.

Suy luận Một điều nữa rút từ cột giáp: Thiên Phủ độc tọa tại Sửu và Mùi được Thái Dương kề một bên, Thái Âm cùng Thiên Cơ kề bên kia, tức là cái kho nằm giữa mặt trời và mặt trăng. Thiên Phủ đồng cung Vũ Khúc tại Tý, Ngọ thì một bên là Nhật Nguyệt đồng cung, bên kia là Thiên Đồng. Thế giáp này không đổi được, nên khi Thái Dương hay Thái Âm hóa Kỵ theo tuổi (Giáp, Ất) thì Thiên Phủ ở các vị trí ấy bị "kẹp" bởi một sao Kỵ ngay sát vách, dù trong tam phương của nó không hề có Kỵ. Người đọc lá số hay bỏ sót thế này vì chỉ nhìn tam phương tứ chính.

Kinh văn Vì Thiên Phủ chỉ hội với Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng và Thất Sát, nên mọi cách cục có tên của Thiên Phủ cũng chỉ xoay quanh năm sao ấy: Tử Phủ đồng cung, Vũ Phủ, Liêm Phủ, Phủ Tướng triều viên, Tử Phủ triều viên, Tử Phủ Vũ Tướng. Không có cách nào ghép Thiên Phủ với Nhật Nguyệt Cự Lương hay với Tham Lang, Phá Quân; đó không phải sách thiếu mà là cách an sao không cho phép hai bộ ấy nhìn thấy nhau.

3 Đặc Tính Người Có Thiên Phủ Thủ Mệnh

Nhân hậu, ổn trọngẢnh minh họa cập nhật sau Người có sao Thiên Phủ thủ Mệnh nhân hậu, ổn trọng, giỏi giữ của
Tướng mạo đôn hậu, tính thận trọng, biết lo xa và giỏi tích lũy giữ của

Người có sao Thiên Phủ đóng ở cung Mệnh thường có tướng mạo đôn hậu, khuôn mặt đầy đặn, thần thái điềm tĩnh, đi đứng khoan thai. Nhìn vào họ, người ta dễ cảm thấy yên tâm và tin cậy.

Bên trong, họ là người nhân hậu, từ thiện, biết nghĩ cho người khác, lại có tính thận trọng và ổn trọng hiếm có. Họ ít khi nóng vội, làm việc gì cũng cân nhắc kỹ, rất ghét sự bừa bãi và liều lĩnh.

Điểm mạnh nổi bật nhất của người Thiên Phủ là tài quản lý và tích lũy. Họ có con mắt tinh tế với tiền bạc, biết tính toán dài hạn, biết giữ của và làm cho của cải sinh sôi một cách bền vững. Trong một tập thể, họ thường được giao những việc cần sự cẩn trọng và đáng tin như giữ quỹ, quản lý tài sản, điều hành hậu cần. Họ cũng có khí độ của người đứng đầu, biết bao dung, biết dung hòa các mâu thuẫn, nên hay được mọi người kính nể.

Tuy nhiên, mặt trái của tính ổn trọng là dễ thành bảo thủ, ngại thay đổi, đôi khi tính toán quá kỹ hóa ra do dự, bỏ lỡ cơ hội. Một số người Thiên Phủ nặng về giữ của tới mức thành ra ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết vun vén cho riêng mình. Đây là điều cần tu dưỡng, bởi một cái kho chỉ biết chứa mà không biết cho đi thì rốt cuộc cũng chỉ là cái kho lạnh lẽo. Người Thiên Phủ biết rộng lượng, biết chia sẻ thì phúc khí mới thật sự dày.

Thiên Phủ của bạn đóng ở cung nào?An lá số Tử Vi Đẩu Số trọn đời để biết sao Thiên Phủ nằm ở cung nào, miếu hay đắc, đi cùng sao gì và ảnh hưởng ra sao tới Mệnh, Tài, Điền, Phúc. An lá số ngay

4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Thiên Phủ

Miếu vượng 12 cungẢnh minh họa cập nhật sau Bảng miếu vượng đắc hãm của sao Thiên Phủ qua 12 cung địa chi
Cùng một kho tàng, ở mỗi cung lại đầy vơi khác nhau theo sinh khắc ngũ hành

Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Giống như Tử Vi, Thiên Phủ là chủ tinh nên ở đâu cũng giữ được nét cốt lõi của mình, ít khi rơi vào thế suy bại hoàn toàn.

Dù vậy, vẫn có nơi Thiên Phủ kho đầy, tài lộc dồi dào, và có nơi kho vơi hơn, cần phụ tá và sao tài lộc đi kèm mới phát.

Cung địa chiĐồng cungTheo Tân BiênTheo Toàn Thư
Vũ KhúcMiếuMiếu
SửuĐơn thủBình hòaMiếu
DầnTử ViMiếuMiếu
MãoĐơn thủBình hòaVượng
ThìnLiêm TrinhVượngVượng
TỵĐơn thủĐắcBình
NgọVũ KhúcMiếuVượng
MùiĐơn thủĐắcMiếu
ThânTử ViMiếuBình
DậuĐơn thủBình hòaBình
TuấtLiêm TrinhVượngVượng
HợiĐơn thủĐắcBình

Hai trường phái về miếu vượng

Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp Thiên Phủ miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ; vượng tại Thìn, Tuất; đắc tại Tỵ, Hợi, Mùi; bình hòa tại Mão, Dậu, Sửu. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục lại ghi Thiên Phủ miếu tại Tý, Sửu, Dần, Mùi; vượng tại Ngọ, Mão, Thìn, Tuất; bình thường tại Dậu, Tỵ, Thân, Hợi. Sự khác nhau này là do hai trường phái dùng cách xét vị trí khác nhau, không phải lỗi. Cốt lõi cả hai phái cùng thống nhất là Thiên Phủ vốn là kho tàng, an ở cung nào cũng có nét giữ của và ổn định, hiếm khi suy bại tận cùng. Khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.

Mẹo nhớ: Thiên Phủ độc tọa, đứng một mình, ở sáu cung Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Sáu cung còn lại Thiên Phủ luôn đi cùng một chính tinh khác, tạo thành các cặp Vũ Phủ tại Tý Ngọ, Tử Phủ tại Dần Thân, Liêm Phủ tại Thìn Tuất. Muốn luận đúng, ở các cung đồng cung phải đọc cả hai sao trong cặp.

5 Tứ Hóa Của Thiên Phủ Theo Tuổi Can

Với phần lớn chính tinh, mục này liệt kê tuổi nào sao ấy hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa, hóa Kỵ. Với Thiên Phủ thì phải nói ngay điều khác thường: theo bảng Tứ Hóa Nam phái mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng, Thiên Phủ không hóa với bất kỳ tuổi nào trong mười can. Không Lộc, không Quyền, không Khoa, không Kỵ. Bắc phái Trung Châu thì cho Thiên Phủ hóa Khoa với tuổi Nhâm, thay chỗ Tả Phụ của Nam phái. Vì thế đọc Tứ Hóa của Thiên Phủ chủ yếu là đọc Tứ Hóa của những sao chiếu về nó, mà theo mục 2 những sao ấy chỉ có thể là Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát. Đây là mục dài nhất bài, vì đây chính là chỗ người mới bỏ qua nhiều nhất khi gặp một sao "không hóa gì".

Thiên Phủ theo bảng Tứ Hóa Nam phái và Bắc phái
Tuổi canThiên Phủ hóa (Nam phái, bảng trang đang dùng)Thiên Phủ hóa (Bắc phái)Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ)
Nhâmkhông hóaHóa KhoaNam phái: Thiên Lương · Tử Vi · Tả Phụ · Vũ Khúc. Bắc phái: Thiên Lương · Tử Vi · Thiên Phủ · Vũ Khúc.
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Quýkhông hóakhông hóaThiên Phủ giữ nguyên độ đầy vơi gốc theo miếu vượng; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của các sao chiếu về (bảng dưới).

Bảng thứ hai mới là bảng cần thuộc. Nó liệt kê năm sao có thể đứng trong tam phương tứ chính của Thiên Phủ và tuổi nào chúng hóa gì, chép đúng bảng máy chủ đang an sao. Cột cuối nói sao ấy đứng ở đâu so với Thiên Phủ, lấy từ bảng cấu trúc mục 2, vì đồng cung, xung và tam hợp cho ba mức lực khác nhau.

Tứ Hóa của các sao có thể chiếu về Thiên Phủ
Sao chiếu vềHóa LộcHóa QuyềnHóa KhoaHóa KỵĐứng ở đâu so với Thiên Phủ
Vũ KhúcKỷCanhGiápNhâmĐồng cung tại Tý, Ngọ; tam hợp khi Thiên Phủ ở Dần, Thân, Thìn, Tuất; xung khi ở Mão, Dậu; vắng mặt khi ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi.
Liêm TrinhGiápkhôngkhôngBínhĐồng cung tại Thìn, Tuất; tam hợp khi Thiên Phủ ở Tý, Ngọ, Dần, Thân; xung khi ở Sửu, Mùi; vắng mặt khi ở Mão, Dậu, Tỵ, Hợi.
Tử VikhôngNhâmẤtkhôngĐồng cung tại Dần, Thân; tam hợp khi Thiên Phủ ở Tý, Ngọ, Thìn, Tuất; xung khi ở Tỵ, Hợi; vắng mặt khi ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu.
Thiên TướngkhôngkhôngkhôngCanh (Nam phái; Bắc phái Thiên Tướng không hóa)Luôn nằm trong tam hợp, ở mọi vị trí của Thiên Phủ.
Thất SátkhôngkhôngkhôngkhôngLuôn xung chiếu. Thất Sát không hóa ở cả hai phái, nên đối cung của Thiên Phủ không bao giờ tự mang Tứ Hóa; chỉ mang Tứ Hóa khi có Tử Vi, Vũ Khúc hay Liêm Trinh đồng cung với nó.

Vì sao Thiên Phủ không hóa

Kinh văn Sách gọi Thiên Phủ là kho tàng, là lệnh tinh, là chủ tinh của Nam Đẩu. Tứ Hóa lại là bốn cách khí chuyển động: Lộc là cái đang chảy tới, Quyền là cái đang được nắm lấy, Khoa là cái đang hiện ra cho người thấy, Kỵ là cái đang vướng lại. Bốn hóa ấy theo bảng Nam phái an cho mười sáu sao, trong đó có cả Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Phá Quân thuộc chuỗi Nam Đẩu, chỉ trừ đúng hai sao là Thiên Phủ và Thất Sát. Suy luận Thầy giải thích cho học trò theo tượng: cái kho là vật chứa, không phải dòng chảy; kho không tự sinh lộc, không tự nắm quyền, không tự phô ra, cũng không tự vướng. Cái kho chỉ đầy hay vơi tùy thứ được đổ vào và người trông coi nó. Thất Sát cũng vậy, tướng xung trận chỉ có một việc là xông lên, không biến hóa. Nên hai sao đứng đối nhau ấy là hai sao "cứng" nhất bàn Tử Vi. Đó là lý do đọc Tứ Hóa cho Thiên Phủ bao giờ cũng là đọc Tứ Hóa của Vũ Khúc, Liêm Trinh, Tử Vi, Thiên Tướng đang chiếu về kho.

Thiên Phủ hóa Khoa (Bắc phái, tuổi Nhâm)

Kinh văn Bắc phái Trung Châu xếp tuổi Nhâm là Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Thiên Phủ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ. Khoa là danh tiếng và sự minh bạch. Thiên Phủ hóa Khoa khi miếu vượng (Tý, Ngọ, Dần, Thân theo Tân Biên; thêm Sửu, Mùi theo Toàn Thư) là kho được niêm phong và có sổ sách rõ ràng: người nổi tiếng là đáng tin cậy, được giao giữ tiền, giữ quỹ, giữ tài sản của người khác, tiếng thơm về sự liêm khiết. Thiên Phủ hóa Khoa ở vị trí bình hòa (Mão, Dậu) thì Khoa cho danh mà chưa cho của: được tiếng là người giữ của giỏi nhưng của để giữ chưa nhiều, hợp làm nghề quản lý tài sản cho người khác hơn là tự tích lũy. Kinh nghiệm Điều cần nhớ với tuổi Nhâm theo Bắc phái là cùng tuổi ấy Vũ Khúc hóa Kỵ, mà Vũ Khúc đồng cung với Thiên Phủ tại Tý, Ngọ. Vũ Phủ Tý Ngọ tuổi Nhâm theo Bắc phái là Khoa và Kỵ nằm chung một cung: kho có sổ sách rõ mà tướng giữ kho lại vướng, biểu hiện thường thấy là người rất minh bạch về tiền nhưng chính vì minh bạch mà bị soi, bị kiện tụng về tiền, hoặc giữ của cho người mà mang tiếng oan. Với Thiên Phủ độc tọa Tỵ, Hợi tuổi Nhâm thì Tử Vi hóa Quyền từ đối cung chiếu về, Khoa của kho gặp Quyền của vua, là thế được cấp trên giao giữ tài sản lớn. Trang an lá số của thayungkhiem.vn mặc định dùng bảng Nam phái, muốn thấy Thiên Phủ hóa Khoa thì chọn tùy chọn Bắc phái khi an.

Thiên Phủ không có Lộc, Quyền, Kỵ của riêng mình thì đọc cách nào

Kinh nghiệm Với Lộc: Thiên Phủ không hóa Lộc, nên "Phủ gặp Lộc" mà sách khen chỉ có hai đường, một là Lộc Tồn đồng cung hay chiếu về, hai là Hóa Lộc của Vũ Khúc (tuổi Kỷ) hoặc Liêm Trinh (tuổi Giáp) đồng cung hay chiếu về. Ở đây có một điều cấu trúc ít người để ý: Lộc Tồn không bao giờ an ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nghĩa là Liêm Phủ Thìn Tuất và Thiên Phủ độc tọa Sửu Mùi không bao giờ có Lộc Tồn đồng cung, chỉ có thể được Lộc Tồn chiếu (tuổi Giáp Lộc Tồn ở Dần chiếu Thiên Phủ Tuất, tuổi Canh Lộc Tồn ở Thân chiếu Thiên Phủ Thìn) hoặc dựa vào Hóa Lộc. Với Quyền: kho không nắm quyền, quyền đến từ Tử Vi hóa Quyền (tuổi Nhâm) hay Vũ Khúc hóa Quyền (tuổi Canh) chiếu về, là quyền được ủy thác chứ không phải quyền tự có. Với Kỵ: Thiên Phủ không hóa Kỵ, nên Thiên Phủ chỉ "tối" vì hai lẽ, hoặc kho bị Không Kiếp, Tuần Triệt phá, hoặc một trong ba sao Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu về. Sách nói Thiên Phủ không có hãm địa, kinh nghiệm của Thầy là Thiên Phủ có "hãm nhân tạo" do Kỵ chiếu, và hãm nhân tạo ấy đọc được đúng năm đúng tuổi, còn hãm trời cho thì không.

Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)

Kinh nghiệm Vì tam phương tứ chính của Thiên Phủ luôn là Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát, nên trên lá số thật Thiên Phủ "ăn" Tứ Hóa của bốn sao đầu là chính. Năm tình huống hay gặp nhất:

  • Tuổi Kỷ, Vũ Khúc hóa Lộc chiếu Thiên Phủ. Tướng giữ kho mang lộc về kho, là thế Thiên Phủ mong nhất. Đồng cung tại Tý Ngọ là mạnh nhất: kho và người giữ kho cùng một chỗ, tiền vào có người quản. Tam hợp chiếu (Dần Thân Thìn Tuất) và xung chiếu (Mão Dậu) nhẹ hơn nhưng vẫn là của thật chảy về. Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi thì tuổi Kỷ không được hưởng, vì Vũ Khúc không nhìn thấy nó.
  • Tuổi Nhâm, Vũ Khúc hóa Kỵ chiếu Thiên Phủ, cùng lúc Tử Vi hóa Quyền. Tướng giữ kho vướng mà vua lại ra lệnh. Vũ Phủ Tý Ngọ tuổi Nhâm: Kỵ ngay trong kho, tiền có mà hay bị đọng, bị kẹt, bị đòi; Thầy hay dặn tuổi này tránh đứng tên tài sản hộ người. Liêm Phủ Thìn Tuất và Tử Phủ Dần Thân tuổi Nhâm: Vũ Kỵ chỉ tam hợp chiếu, là tiền của cộng sự, của cơ quan gặp vướng, mình bị vạ lây chứ không mất của riêng.
  • Tuổi Canh, Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu Thiên Phủ (Nam phái). Đây là tình huống mọi Thiên Phủ đều gặp, vì Thiên Tướng luôn nằm trong tam hợp của nó. Ấn tín bị vướng chiếu vào kho: giấy tờ tài sản, hợp đồng, sổ đỏ, con dấu là chỗ dễ trục trặc; kho đầy mà chứng từ không sạch. Cùng tuổi ấy Vũ Khúc hóa Quyền, nên Vũ Phủ Tý Ngọ tuổi Canh vừa nắm quyền tiền vừa bị Tướng Kỵ chiếu, là người quản lý tài chính hay bị thanh tra. Bắc phái tuổi Canh Thiên Đồng hóa Kỵ, mà Thiên Đồng không bao giờ chiếu Thiên Phủ, nên theo Bắc phái tình huống này không có.
  • Tuổi Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ chiếu Thiên Phủ. Quan hình vướng chiếu vào kho: tiền bạc dính chuyện pháp lý, thuế, kiện tụng, hoặc tình cảm làm hao của. Liêm Phủ Thìn Tuất tuổi Bính là nặng nhất vì Kỵ đồng cung; Vũ Phủ Tý Ngọ và Tử Phủ Dần Thân chỉ bị tam hợp chiếu; Thiên Phủ độc tọa Sửu Mùi bị Liêm Sát Kỵ xung chiếu, là thế kho bị kiện từ bên ngoài.
  • Tuổi Giáp, Liêm Trinh hóa Lộc và Vũ Khúc hóa Khoa cùng chiếu. Với Vũ Phủ, Tử Phủ, Liêm Phủ, tuổi Giáp cho cả Lộc lẫn Khoa đổ về kho: của đến bằng đường quan hệ, giao tế, và người giữ của có tiếng minh bạch. Nhưng cùng tuổi ấy Thái Dương hóa Kỵ, mà Thái Dương kề sát Thiên Phủ ở Sửu Mùi và kề Vũ Phủ ở Tý Ngọ, nên kho được Lộc chiếu mà bị Kỵ kẹp bên vách: được của mà mất lòng cha, hoặc được của mà hao danh.

Bắc phái còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.

6 Thiên Phủ Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi

Thiên Phủ qua 12 chiẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Phủ thủ Mệnh tại 12 cung địa chi từ Tý đến Hợi
Từ Vũ Phủ tài chính, Tử Phủ quân thần tới Liêm Phủ và Thiên Phủ độc tọa

Cùng một sao Thiên Phủ nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do địa chi đó sinh hay khắc với hành Thổ, và quan trọng nhất là do sao chính tinh đi kèm trong các cung đồng cung.

Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.

Vũ Phủ đồng cung tại Tý và Ngọ (miếu)

Thiên Phủ gặp Vũ Khúc là cách tài tinh gặp tài tinh, hai kho tàng và một tướng tài chính cùng tụ về. Người có cách này cực giỏi việc tiền bạc, biết kiếm lại biết giữ, hợp tài chính, ngân hàng, kinh doanh lớn. Tính quyết đoán của Vũ Khúc bổ khuyết cho sự thận trọng của Thiên Phủ, khiến họ vừa chắc chắn vừa dám hành động. Đây là một trong những vị trí đẹp nhất của Thiên Phủ, ở cả Tý và Ngọ đều miếu theo Tân Biên, là mẫu người dễ giàu có và có địa vị trong giới tài chính.

Tử Phủ đồng cung tại Dần và Thân (miếu)

Đây là cách cực quý khi đế tinh Tử Vi gặp kho tàng Thiên Phủ. Người vừa có khí chất đế vương, vừa có sự giàu có và ổn trọng, lại có cả uy lẫn đức. Được Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Lộc Mã hội tụ thì thành cách quân thần khánh hội, đại quý hiển, sự nghiệp lớn, tài lộc dồi dào. Tại Thân, do Thổ sinh Kim nên khí có phần tiết bớt theo cách luận của một số sách, song vẫn là cách rất tốt, đặc biệt hợp ngành tài chính, ngân hàng và quản lý doanh nghiệp lớn.

Liêm Phủ đồng cung tại Thìn và Tuất (vượng)

Thiên Phủ gặp Liêm Trinh cho người vừa có tài quản lý tiền bạc, vừa có sự khôn khéo trong giao tế và xử lý công việc. Liêm Trinh thêm phần linh hoạt, biết tùy cơ ứng biến, làm cho cái kho Thiên Phủ bớt cứng nhắc. Hợp các ngành cần vừa giỏi tài chính vừa giỏi quan hệ như kinh doanh, hành chính, quản trị nhân sự. Điểm cần lưu ý là Liêm Trinh có mặt đào hoa và dễ thị phi, nên cần giữ mình trong giao tế và tiền bạc cho minh bạch.

Thiên Phủ độc tọa tại Sửu và Mùi

Khi đứng một mình ở Sửu Mùi, Thiên Phủ phát huy trọn vẹn bản chất kho tàng của mình mà không bị pha trộn bởi chính tinh khác. Người có cách này điềm đạm, đáng tin, giỏi tích lũy, sống có nền nếp. Sửu Mùi đều là Thổ địa, đồng khí với Thiên Phủ nên sao này càng dày dặn, ổn định. Theo Toàn Thư hai cung này còn được xếp khá cao, là chỗ kho đầy. Cần Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đi cùng để cái kho thật sự sung mãn, tránh cảnh có kho mà ít của.

Thiên Phủ độc tọa tại Mão và Dậu

Ở Mão Dậu, đối cung là Vũ Khúc với Thất Sát, nên người có cách này vừa giữ được nét ổn trọng của Thiên Phủ, vừa nhận được khí quyết đoán và uy mãnh chiếu sang. Họ làm việc có kỷ luật, biết tính toán, thích hợp với những vị trí cần sự cẩn trọng và bản lĩnh. Mão Dậu theo Tân Biên ở mức bình hòa, nên cần phụ tá và sao tài lộc trợ giúp thì mới phát mạnh, một mình thì hơi chật vật.

Thiên Phủ độc tọa tại Tỵ và Hợi

Ở Tỵ Hợi, Thiên Phủ đối cung là Tử Vi với Thất Sát, được khí đế vương và tướng tinh chiếu về. Người có cách này thường có chí tiến thủ, biết gây dựng cơ nghiệp từ nền tảng vững chắc, không phiêu lưu nhưng cũng không nhút nhát. Theo Tân Biên hai cung này đắc địa, là vị trí khá tốt cho Thiên Phủ độc tọa. Hợp các nghề quản lý tài sản, kho vận, kinh doanh ổn định lâu dài. Cần dè chừng tính thận trọng quá mức dễ thành ngại đổi mới.

Một câu để nhớ

Vũ Phủ là kho tàng có tướng tài chính canh giữ, dễ giàu. Tử Phủ là kho báu của nhà vua, đại quý. Liêm Phủ là kho tàng có người khéo giao tế trông coi. Còn Thiên Phủ độc tọa ở Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là cái kho đứng riêng, đầy vơi tùy thuộc rất nhiều vào Lộc Tồn, Hóa Lộc và bộ phụ tá đi cùng.

7 Thiên Phủ An Tại 12 Cung Chức

Thiên Phủ ở 12 cung chứcẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Phủ an tại 12 cung chức trong lá số như Tài Bạch, Điền Trạch, Phúc Đức
Thiên Phủ đóng cung nào thì rọi khí kho tàng, tích lũy vào lĩnh vực ấy

Thiên Phủ không chỉ ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì rọi khí kho tàng, sự ổn định và khả năng tích lũy vào lĩnh vực đó của cuộc đời.

Vì là tài tinh, hễ Thiên Phủ ở vị trí miếu vượng đắc lại được Lộc đi kèm thì cung ấy thường sung túc, no đủ và bền vững.

Ý nghĩa của Thiên Phủ tại từng cung chức và tổ hợp đặc trưng
CungThiên Phủ kho đầy (miếu vượng đắc, có Lộc)Thiên Phủ kho vơi (bình hòa, thiếu Lộc, hoặc gặp Không Kiếp, Tuần Triệt)Tổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhĐôn hậu, thận trọng, giỏi tích lũy, được tin cậy giao giữ của; đời ổn định, ít sóng gió lớn.Vẫn cẩn trọng nhưng hay lo xa quá thành do dự, giữ chặt mà không dày lên; kho bị phá thì giữ cho người chứ mình không có.Vũ Phủ Tý Ngọ gặp Lộc Tồn là kho có tướng và có của, dễ giàu. Thiên Phủ độc tọa Sửu Mùi gặp Địa Không, Địa Kiếp là "không khố", kho rỗng, tiêu biểu cho người có tiếng giữ của mà đời không dư.
Phụ MẫuCha mẹ có của, nền nếp, biết lo cho con, để lại gia sản; mình được cha mẹ che chở về vật chất.Cha mẹ giữ của kỹ, ít cho con; hoặc gia sản có mà con không được hưởng vì Không Kiếp phá kho.Thiên Phủ ở Phụ Mẫu là Thái Âm ở Phúc Đức (bất biến mục 2): cha giữ của, mẹ giữ phúc. Phụ Mẫu có Thiên Phủ gặp Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu (tuổi Canh) là chuyện thừa kế, giấy tờ nhà đất của cha mẹ hay vướng.
Phúc ĐứcPhúc dày, tâm an, biết hưởng phúc, dòng họ có của để lại; hậu vận yên ổn.Phúc có mà không "mở", hay lo về tiền dù không thiếu; họ hàng giữ của nhưng không đùm bọc nhau.Thiên Phủ ở Phúc Đức thì Thất Sát ở Tài Bạch xung chiếu (bất biến mục 2): phúc muốn yên mà tiền phải tranh. Phúc có Tử Phủ đồng cung là dòng họ có người làm quan và có của.
Điền TrạchCung sở trường của Thiên Phủ: nhà đất khang trang, được thừa kế, mua được nhà sớm và giữ được lâu.Có nhà nhưng hay phải sửa, phải bán đi mua lại; Không Kiếp tại đây là nhà đất bị mất vì nợ, vì đứng tên hộ.Điền có Vũ Phủ Lộc Tồn là cách giàu về bất động sản. Điền có Thiên Phủ thì Thất Sát ở Tử Tức xung chiếu (bất biến mục 2): nhà giữ được nhưng con cái là người muốn bán, muốn chia.
Quan LộcSự nghiệp gắn với tài chính, kho quỹ, ngân hàng, quản lý tài sản; thăng tiến chậm mà chắc, giữ được ghế lâu.Công việc ổn định nhưng ít phát, dễ thành người "giữ ghế"; kho bị phá thì hay phải đổi chỗ làm dù có năng lực.Quan có Tử Phủ đồng cung là cách của người quản trị tổ chức lớn. Quan có Liêm Phủ gặp Liêm Trinh hóa Kỵ (tuổi Bính) là công việc dính pháp lý, kiểm toán, thuế.
Nô BộcBạn bè, cấp dưới tử tế, có của, đáng tin; được người trung thành giữ việc, giữ tiền cho mình.Bạn bè khá giả mà không giúp; cấp dưới giữ tiền của mình mà hay thâm hụt khi có Không Kiếp.Nô có Thiên Phủ mà Vũ Khúc hóa Kỵ chiếu (tuổi Nhâm) là bị cộng sự làm kẹt vốn. Nô có Thiên Phủ gặp Tả Hữu là có người quản gia trung thành đúng nghĩa.
Thiên DiRa ngoài gặp may về tiền, đất khách có chỗ dựa vật chất, hợp làm ăn xa, xuất ngoại có tích lũy.Ra ngoài vất vả giữ của, hoặc phải trông coi tài sản cho người khác ở nơi xa.Thiên Di có Thiên Phủ thì Mệnh có Thất Sát (bất biến mục 2): người xông pha mà bên ngoài luôn có kho chờ, là cách hay của người khởi nghiệp. Di có Thiên Phủ gặp Thiên Mã tại Dần Thân Tỵ Hợi là tiền nhờ đi xa.
Tật ÁchThể chất dày, ít bệnh nặng, hồi phục tốt; điểm yếu là tỳ vị, dạ dày, tiêu hóa, cân nặng.Hay đầy bụng, khó tiêu, tích mỡ, sỏi; bệnh do ăn uống và ít vận động.Thiên Phủ gặp Kình Dương tại Tật Ách là bệnh dạ dày phải can thiệp. Gặp Hỏa Linh là viêm loét tiêu hóa. Gặp Không Kiếp là bệnh âm thầm khó tìm, nên khám định kỳ.
Tài BạchCung đắc địa của Thiên Phủ: tiền vào đều, biết giữ, của cải dày lên theo năm tháng, hợp nghề quản lý tiền.Kiếm được mà giữ không dày, hoặc giữ của cho người; Không Kiếp tại đây là "kho thủng đáy" đúng nghĩa.Tài có Thiên Phủ thì Phúc Đức có Thất Sát xung: tiền giữ được nhưng tâm không yên vì tiền. Tài có Vũ Phủ hóa Lộc (tuổi Kỷ) là cách phú thật, kiếm được và giữ được.
Tử TứcCon ngoan, biết lo toan, biết giữ gia sản; về sau có con thành đạt về kinh tế.Con giữ của kỹ tới mức khép kín, hoặc muộn con; kho bị phá là lo tiền cho con nhiều.Tử Tức có Thiên Phủ gặp Thiên Hỷ, Long Phượng là con đầu là con gái đảm. Tử có Liêm Phủ hóa Kỵ (tuổi Bính) cần xem chuyện sinh nở và pháp lý liên quan tới con.
Phu ThêBạn đời đảm đang, biết vun vén, giữ được tiền cho nhà; hôn nhân bền, ít sóng gió về kinh tế.Bạn đời giữ của kỹ tới mức khắt khe, hoặc bạn đời có của mà mình không được dùng; Không Kiếp là hôn nhân hao tài.Phu Thê có Thiên Phủ thì Quan Lộc có Thất Sát xung (bất biến mục 2): vợ giữ nhà, chồng xông pha, hoặc ngược lại. Phu có Tử Phủ đồng cung là lấy được người có địa vị lẫn của.
Huynh ĐệAnh em có của, biết đùm bọc, có người khá giả nâng đỡ; ít tranh chấp gia sản.Anh em mỗi người giữ một phần, có của mà không giúp nhau; Không Kiếp là tranh chấp thừa kế.Huynh có Thiên Phủ thì Thái Âm thủ Mệnh (bất biến mục 2): mình mềm mỏng, anh em là kho của nhà. Huynh có Vũ Phủ hóa Kỵ (tuổi Nhâm) là anh em vướng nhau vì tiền.

Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Thiên Phủ ở cung nào thì Thất Sát ở cung đối diện và Thiên Tướng ở cung tam hợp, đó là cấu trúc không đổi. Nên Thiên Phủ ở Tài Bạch thì đọc luôn Thất Sát ở Phúc Đức, Thiên Phủ ở Phu Thê thì đọc luôn Thất Sát ở Quan Lộc, Thiên Phủ ở Điền Trạch thì đọc luôn Thất Sát ở Tử Tức. Cách đọc "kho ở đâu thì tướng ở đối diện" giúp Thầy trả lời khách nhanh những câu như "vợ tôi giữ tiền, sao tôi cứ phải đi xa". Câu trả lời nằm sẵn trong cấu trúc: Thiên Phủ ở Phu Thê thì Thất Sát ở Quan Lộc, người bạn đời là kho, người có Mệnh là tướng phải ra trận.

8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Thiên Phủ

Cách cục kho tàngẢnh minh họa cập nhật sau Các cách cục quý của sao Thiên Phủ như Tử Phủ Vũ Tướng, Phủ Tướng triều viên
Kho đầy lại có vua và tướng phò trợ thì cách cục mới thành đại quý

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.

Thiên Phủ là một mắt xích quan trọng trong nhiều cách cục quý nổi tiếng của khoa Đẩu Số.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Với Thiên Phủ, điều kiện phá gần như luôn là một trong ba: kho bị Không Kiếp, Tuần Triệt làm rỗng; kho không có Lộc để chứa; hoặc một sao chiếu về hóa Kỵ. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai mặt, câu phú chỉ dẫn khi Thầy chắc chắn nó có trong Toàn Thư hoặc Tân Biên.

Tử Phủ đồng cung (Dần, Thân)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi và Thiên Phủ cùng thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân, là hai vị trí duy nhất hai chủ tinh Bắc Đẩu và Nam Đẩu gặp nhau. Cốt Tủy Phú viết "Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu": vua và kho ở chung một chỗ, cả đời phúc dày. Theo mục 2, tam phương của cách này đủ Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, xung có Thất Sát, tức trọn bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Đủ đẹp: có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung hay giáp, thêm Khôi Việt, Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc chiếu về; tuổi Kỷ (Vũ Khúc hóa Lộc tam hợp chiếu) và tuổi Giáp (Liêm Trinh hóa Lộc tam hợp chiếu, Lộc Tồn tại Dần đồng cung nếu Mệnh ở Dần) là hai tuổi dễ thành cách nhất. Tại Dần trội hơn Thân vì Dần là nơi Mộc sinh Hỏa dưỡng Thổ, còn tại Thân Thổ sinh Kim nên khí kho bị tiết bớt. Phá cách: Tuần Triệt án ngữ cung Dần hoặc Thân, Không Kiếp đồng cung, hoặc tuổi Bính Liêm Trinh hóa Kỵ chiếu về. Tử Phủ mà không có Tả Hữu và không có Lộc thì sách gọi là vua cô đơn ngồi trên kho rỗng, có khí độ mà thiếu thực lực.

Vũ Phủ đồng cung (Tý, Ngọ)

Kinh văn Thành cách: Vũ Khúc và Thiên Phủ cùng thủ Mệnh tại Tý hoặc Ngọ, cả hai sách đều xếp miếu (Toàn Thư ghi Ngọ là vượng). Tướng giữ kho ngồi ngay trong kho, là cách tài tinh gặp tài tinh. Tam phương có Tử Vi Thiên Tướng và Liêm Trinh, xung có Thất Sát. Đủ đẹp: tuổi Kỷ, Vũ Khúc hóa Lộc ngay tại Mệnh, lại có Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ: Mệnh ở Ngọ thì Lộc Tồn đồng cung với Vũ Phủ Lộc, Mệnh ở Tý thì Lộc Tồn từ Ngọ xung chiếu về, cả hai đều là thế song Lộc mà sách rất khen về của cải. Tuổi Canh có Vũ Khúc hóa Quyền và Lộc Tồn tại Thân tam hợp chiếu cũng đẹp về quyền quản tiền. Phá cách: tuổi Nhâm Vũ Khúc hóa Kỵ ngay trong kho; Không Kiếp đồng cung; Tuần Triệt án ngữ. Kinh nghiệm Vũ Phủ phá cách vẫn là người giỏi tiền, nhưng giỏi tiền của người khác: kế toán trưởng, thủ quỹ, quản lý quỹ, chứ không phải chủ kho. Với nữ mệnh, Vũ Phủ tại Mệnh dù thành cách vẫn cần xem Phu Thê, vì Phu Thê của cách này luôn có Phá Quân, hôn nhân là chỗ bị phá nhiều hơn tiền bạc.

Liêm Phủ đồng cung (Thìn, Tuất) và Thiên Phủ lâm Tuất

Kinh văn Thành cách: Liêm Trinh và Thiên Phủ cùng thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất, hai sách đều xếp vượng. Quan hình trông kho, là người vừa giữ của vừa giữ phép. Tam phương có Vũ Khúc Thiên Tướng và Tử Vi, xung Thất Sát, đủ bộ như hai cách trên. Riêng vị trí Tuất, Cốt Tủy Phú có câu "Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, yêu kim y tử": Thiên Phủ ở Tuất mà có sao phò trợ thì đeo đai vàng mặc áo tía, tức làm quan lớn. Thiên Phủ ở Tuất theo bảng cấu trúc mục 2 là Liêm Phủ đồng cung, Tử Vi ở Ngọ tam hợp chiếu, Vũ Khúc Thiên Tướng ở Dần tam hợp chiếu, Thất Sát ở Thìn xung: kho ở Tuất nhìn thấy vua ở Ngọ miếu và tướng ở Dần, nên sách mới khen riêng vị trí này. Đủ đẹp: "hữu tinh phù" trong phú là Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc chầu về; thêm tuổi Giáp Liêm Trinh hóa Lộc ngay tại Mệnh và Lộc Tồn tại Dần chiếu về là trọn vẹn. Phá cách: tuổi Bính Liêm Trinh hóa Kỵ đồng cung, kho dính pháp lý; Không Kiếp, Tuần Triệt tại Thìn Tuất. Kinh nghiệm Cần nhớ Lộc Tồn không bao giờ an ở Thìn Tuất, nên Liêm Phủ không có "Phủ gặp Lộc Tồn đồng cung", chỉ có Lộc chiếu hay Hóa Lộc; ai thấy Liêm Phủ mà không thấy Lộc Tồn đồng cung thì đừng vội bảo kho vơi, phải nhìn Dần và Thân.

Phủ Tướng triều viên (kho và ấn cùng chầu về Mệnh)

Kinh văn Thành cách: Thiên Phủ và Thiên Tướng cùng chiếu về cung Mệnh từ tam phương. Cốt Tủy Phú viết "Phủ Tướng đồng lai hội Mệnh cung, toàn gia thực lộc": kho và ấn cùng đến hội ở Mệnh thì cả nhà được ăn lộc. Thái Vi Phú cũng gọi "Thiên Phủ Thiên Tướng nãi vi y lộc chi thần", hai sao là thần của cơm áo và bổng lộc. Vì Thiên Phủ và Thiên Tướng luôn cách nhau bốn cung (mục 2), nên Mệnh muốn được cả hai chiếu về thì phải nằm ở cung thứ ba của tam hợp ấy, tức Mệnh cách Thiên Phủ tám cung: Thiên Phủ ở Tý thì Mệnh ở Thân có Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Dần thì Mệnh ở Tuất có Vũ Khúc, Thiên Phủ ở Sửu thì Mệnh ở Dậu trống. Đủ đẹp: Mệnh không phải cung trống mà có Tử Vi, Vũ Khúc hay Liêm Trinh thủ, thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc ở một trong ba cung của tam hợp. Phá cách: Mệnh trống lại thêm Không Kiếp, hoặc Thiên Tướng hóa Kỵ (tuổi Canh) chiếu về. Kinh nghiệm Thầy phân biệt hai loại Phủ Tướng triều viên: loại Mệnh có chính tinh là người tự làm mà được kho và ấn phò; loại Mệnh trống là người "được nhờ" kho và ấn của người khác, thường là làm cho cơ quan lớn, hưởng lộc của tổ chức chứ không tự có.

Tử Phủ triều viên (vua và kho cùng chầu về Mệnh)

Kinh văn Thành cách: Tử Vi và Thiên Phủ cùng chiếu về cung Mệnh từ tam phương, chứ không thủ Mệnh. Cốt Tủy Phú viết "Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung": vua và kho cùng chầu về thì ăn lộc muôn chung. Theo bảng cấu trúc mục 2, Tử Vi và Thiên Phủ cùng nằm trong một tam hợp khi Thiên Phủ ở Tý, Ngọ, Thìn, Tuất (Tử Vi tam hợp) hoặc Dần, Thân (đồng cung). Cung còn lại của tam hợp ấy là nơi Mệnh phải đóng: Thiên Phủ Tuất, Tử Vi Ngọ thì Mệnh ở Dần có Vũ Khúc Thiên Tướng; Thiên Phủ Thìn, Tử Vi Tý thì Mệnh ở Thân có Vũ Khúc Thiên Tướng. Vì thế Tử Phủ triều viên đúng nghĩa thường là Vũ Tướng thủ Mệnh tại Dần Thân, được Tử Vi và Liêm Phủ chiếu về, và là cách trọn bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm mà Thiên Phủ đứng ở vai kho phía sau. Đủ đẹp: Lộc Tồn tại Dần (tuổi Giáp) hoặc Thân (tuổi Canh) đồng cung với Mệnh, thêm Tả Hữu Khôi Việt. Phá cách: Mệnh gặp Không Kiếp, Kình Đà, hoặc Vũ Khúc hóa Kỵ tại Mệnh (tuổi Nhâm), Thiên Tướng hóa Kỵ tại Mệnh (tuổi Canh).

Thiên Phủ kho trống: Không Khố, Lộ Khố

Kinh văn Thành cách (đây là cách xấu): Thiên Phủ đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, hoặc bị Tuần, Triệt án ngữ. Toàn Thư ghi Thiên Phủ rất kỵ Không Kiếp vì làm "lộ khố", kho bị lộ, bị thủng; Tân Biên gọi Thiên Phủ gặp Tuần Triệt, Thiên Không là "không khố", kho rỗng. Người rơi vào cách này có đủ nét của Thiên Phủ, thận trọng, đáng tin, giỏi tính toán, nhưng của cải không ở lại: kiếm được rồi mất, giữ hộ người thì mất phần mình. Nặng nhất: Thiên Phủ độc tọa Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi gặp Không Kiếp đồng cung, vì cấu trúc mục 2 đã cho những vị trí ấy một cung tam hợp trống, nay kho cũng trống nốt. Nhẹ hơn: Vũ Phủ, Tử Phủ, Liêm Phủ gặp Không Kiếp, vì còn tướng, vua hay quan hình đứng chung kho để giữ. Kinh nghiệm Thầy thấy trên lá số thật, không khố hay đi với nghề: người có Thiên Phủ Không Kiếp thủ Mệnh làm nghề quản lý tài sản, thủ kho, kế toán, thu ngân rất nhiều, và họ giữ của cho người khác rất giỏi, chỉ riêng của mình là không tích được. Cách hóa giải thực tế không phải bùa chú, mà là đổi chỗ đứng: đừng làm chủ kho, hãy làm người giữ kho ăn lương.

Cách hay cũng có mặt cần dè chừng

Mọi cách quý của Thiên Phủ đều có Thất Sát đứng đối diện, đó là cấu trúc không tránh được. Tử Phủ, Vũ Phủ, Liêm Phủ dù thành cách vẫn là kho có tướng xung trận nhìn vào, nên đời người ấy có một mặt phải "ra trận" ở cung Thiên Di: đi xa, đổi chỗ, cạnh tranh. Kho càng đầy thì tướng ngoài cửa càng phải mạnh. Thứ hai, Thiên Phủ chế được Kình Đà Hỏa Linh nhưng không chế được Không Kiếp, nên cách nào cũng phải xem hai sao ấy trước. Thứ ba, Thiên Phủ không hóa, nên cách "đủ đẹp" của nó bao giờ cũng mượn Lộc của Vũ Khúc, Liêm Trinh hay Lộc Tồn; mượn thì có tuổi được, có tuổi không, đừng thấy Tử Phủ đồng cung đã kết luận giàu khi chưa hỏi tuổi can.

9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Sao hợp, sao kỵẢnh minh họa cập nhật sau Sao hợp và sao kỵ với sao Thiên Phủ trong lá số Đẩu Số
Kho có Lộc thì sung mãn, kho gặp Không Kiếp thì thủng đáy hao tài

Thiên Phủ là cái kho, nên hợp nhất với những sao mang của tới đổ đầy kho, và kỵ nhất những sao làm thủng kho, làm lộ kho.

Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Thiên Phủ mừng được gặp và những sao Thiên Phủ e ngại.

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thiên Phủ là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với cái kho, quy tắc ấy còn có một sắc thái riêng: sao đổ của vào kho (Lộc Tồn, Hóa Lộc) phải đồng cung hay xung chiếu mới thật sự "vào", tam hợp chỉ là của đi ngang; còn sao phá kho (Không Kiếp) thì đồng cung là thủng đáy, giáp là bị vây, tam hợp chiếu chỉ là hao lặt vặt.

Thiên Phủ rất thích gặp

  • Lộc Tồn (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế): của thật đổ vào kho. Chỉ có thể đồng cung khi Thiên Phủ ở Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi; ở Sửu Mùi Thìn Tuất chỉ được chiếu.
  • Hóa Lộc của Vũ Khúc (tuổi Kỷ), Liêm Trinh (tuổi Giáp) (đồng cung tại Tý Ngọ, Thìn Tuất mạnh nhất; tam hợp chiếu vẫn tốt): tướng giữ kho hay quan hình mang lộc về.
  • Tử Vi (đồng cung Dần Thân thành Tử Phủ; tam hợp chiếu tại Tý Ngọ Thìn Tuất; xung chiếu tại Tỵ Hợi): vua ngồi trên kho, kho có chủ.
  • Thiên Tướng (luôn tam hợp, không bao giờ đồng cung): ấn tín đi cùng kho, thành Phủ Tướng; thêm Lộc ở một trong ba cung là toàn gia thực lộc.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng quý): thêm người giữ kho, cách Tử Phủ nhờ đó mới thành đại cuộc.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân giao cho giữ của lớn; Thiên Phủ Tuất có Khôi Việt là "hữu tinh phù" trong phú.

Thiên Phủ e ngại khi gặp

  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất: kho thủng; giáp Mệnh: kho bị vây; tam hợp chiếu: hao lặt vặt). Thiên Phủ không chế được hai sao này.
  • Tuần, Triệt án ngữ (chỉ có thế đồng cung): kho bị niêm phong, có của mà không lấy ra được; Thiên Phủ độc tọa gặp là nặng hơn Thiên Phủ đồng cung.
  • Vũ Khúc hóa Kỵ (tuổi Nhâm) (đồng cung tại Tý Ngọ nặng nhất, xung tại Mão Dậu kế, tam hợp nhẹ): tướng giữ kho vướng, tiền đọng, tiền bị đòi.
  • Liêm Trinh hóa Kỵ (tuổi Bính) (đồng cung Thìn Tuất nặng nhất, xung tại Sửu Mùi kế): kho dính pháp lý, thuế, kiện tụng.
  • Thiên Tướng hóa Kỵ (tuổi Canh, Nam phái) (luôn tam hợp): giấy tờ tài sản trục trặc; nhẹ về lực nhưng không tuổi Canh nào tránh được.
  • Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): Thiên Phủ chế được từng sao lẻ, nhưng hội đủ cả bốn hoặc ba trong bốn cùng một tam phương thì kho bị vây, sức cứu giải không kham.

Nguyên tắc xuyên suốt rất đơn giản: Thiên Phủ là kho, cần có của và cần kho được lành lặn. Một cái kho lớn mà đầy ắp của cải, lại được canh giữ cẩn thận thì làm nên sự giàu sang bền vững. Cũng cái kho đó nếu trống rỗng hoặc bị thủng đáy thì dù to lớn đến đâu cũng vô ích. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi: cái kho này có của để chứa không, và nó có lành lặn không.

10 Thiên Phủ Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Thiên Phủ "tĩnh": kho nằm ở đâu, đầy hay vơi. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm. Thiên Phủ không hóa nên không có năm nào "kho tự đổi áo", nhưng các sao chiếu về nó đổi áo mỗi năm, và cái kho đầy hay vơi theo đó. Đây là chỗ khách hay hỏi: năm nay tôi có mua được nhà không, năm nay tiền có giữ được không.

Đại vận đi vào cung có Thiên Phủ

Kinh văn Đại vận đến cung Thiên Phủ miếu vượng có Lộc là mười năm tích lũy: mua nhà, lập gia sản, ổn định công việc, được giao giữ tài sản, việc gì cũng chắc chắn và bền. Nếu cung ấy là Điền Trạch hay Tài Bạch của bản mệnh thì đây thường là đại vận có nhà có đất của đời. Đại vận đến cung Thiên Phủ bình hòa, thiếu Lộc là mười năm yên ổn nhưng không dày lên: đủ ăn đủ mặc, không phát mà cũng không mất. Đại vận đến cung Thiên Phủ có Không Kiếp, Tuần Triệt là mười năm giữ của cho người, hoặc mười năm kho mở ra mà không đóng lại được, cần giữ mình trước mọi lời rủ hùn vốn. Kinh nghiệm Thầy thấy có hai kiểu người đi vào đại vận Thiên Phủ. Người Mệnh có Sát Phá Tham, quen xông pha, vào đại vận Thiên Phủ thấy tù túng, hay than "mười năm này chẳng làm được gì", nhưng nhìn lại thì đó là mười năm họ mua được nhà và có gia đình. Người Mệnh có Cơ Nguyệt Đồng Lương, quen ổn định, vào đại vận Thiên Phủ thì hợp khí, sống rất yên. Còn người Mệnh Thiên Phủ mà đại vận đi tới cung có Thất Sát là mười năm phải ra khỏi kho mà chiến, thường là giai đoạn tự làm chủ hay chuyển nghề lớn.

Lưu niên: năm nào kho được đổ của, năm nào kho bị soi

Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Thiên Phủ không có trong bảng, nên bảng lưu niên của Thiên Phủ là bảng lưu niên của Vũ Khúc, Liêm Trinh, Tử Vi, Thiên Tướng, những sao có thể chiếu về nó. Cột cuối nhắc lại Thiên Phủ ở vị trí nào thì được hưởng hay bị chạm, lấy từ bảng Tứ Hóa mục 5:

Các năm can làm các sao chiếu về Thiên Phủ lưu hóa
Can nămSao chiếu về Thiên Phủ lưu hóaCác năm gần đây và sắp tớiĐọc thế nào cho Thiên Phủ
KỷVũ Khúc lưu Lộc2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ MùiNăm của đổ vào kho. Thiên Phủ ở Tý, Ngọ (đồng cung), Dần, Thân, Thìn, Tuất (tam hợp), Mão, Dậu (xung) đều hưởng; ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi không hưởng. Hợp mua tài sản, gửi tiết kiệm, nhận thừa kế.
GiápLiêm Trinh lưu Lộc · Vũ Khúc lưu Khoa2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp DầnNăm kho được lộc từ quan hệ, giao tế, và người giữ kho được tiếng minh bạch. Thiên Phủ ở Thìn Tuất hưởng mạnh nhất, Tý Ngọ Dần Thân kế, Sửu Mùi được Liêm Lộc xung chiếu. Lưu Lộc Tồn năm Giáp an tại Dần, nên Tử Phủ Dần và Thiên Phủ Tuất năm ấy còn được cả Lộc Tồn lưu.
CanhVũ Khúc lưu Quyền · Thiên Tướng lưu Kỵ2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh ThânNăm được giao quyền quản tiền nhưng giấy tờ tài sản bị soi: mọi Thiên Phủ đều bị Tướng Kỵ lưu chiếu vì Thiên Tướng luôn ở tam hợp. Năm nên rà sổ sách, hợp đồng, sổ đỏ trước khi có việc.
NhâmTử Vi lưu Quyền · Vũ Khúc lưu Kỵ · Bắc phái: Thiên Phủ lưu Khoa2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm TuấtNăm vua ra lệnh mà tướng giữ kho vướng. Vũ Phủ Tý Ngọ là năm tiền đọng, tiền bị kẹt; Thiên Phủ Tỵ Hợi được Tử Vi Quyền xung chiếu, là năm được cấp trên giao việc lớn về tài sản. Theo Bắc phái, đây cũng là năm Thiên Phủ lưu Khoa, kho được tiếng.
BínhLiêm Trinh lưu Kỵ2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính ThìnNăm kho dính chuyện pháp lý, thuế, kiện tụng. Liêm Phủ Thìn Tuất nặng nhất, Vũ Phủ và Tử Phủ nhẹ hơn, Thiên Phủ Sửu Mùi bị xung. Năm nên tránh ký giấy tờ tài sản mà chưa đọc kỹ.
ẤtTử Vi lưu Khoa2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất MãoNăm kho được vua khen: Tử Phủ Dần Thân, Vũ Phủ Tý Ngọ, Liêm Phủ Thìn Tuất, Thiên Phủ Tỵ Hợi được Khoa chiếu, hợp thi cử, xét tuyển vào ngành tài chính, được ghi nhận về sự tin cậy.

Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Thiên Phủ bản mệnh nằm ở cung nào và đi với sao nào, rồi hỏi năm nay sao đi cùng nó lưu hóa gì. Vũ Phủ tuổi Kỷ (Vũ Lộc bản mệnh) gặp năm Kỷ lưu Lộc nữa là Lộc chồng Lộc, thường là năm mua được tài sản lớn. Vũ Phủ tuổi Nhâm (Vũ Kỵ bản mệnh) gặp năm Nhâm lưu Kỵ là Kỵ chồng Kỵ, là năm phải cẩn thận thật sự về tiền đọng, nợ khó đòi, đứng tên hộ. Còn một lớp nữa là lưu Lộc Tồn: mỗi năm Lộc Tồn lưu an theo can năm, năm Giáp tại Dần, Ất tại Mão, Bính Mậu tại Tỵ, Đinh Kỷ tại Ngọ, Canh tại Thân, Tân tại Dậu, Nhâm tại Hợi, Quý tại Tý. Năm nào lưu Lộc Tồn rơi đúng cung Thiên Phủ là năm kho được đổ của thật, không cần Tứ Hóa; Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Thìn, Tuất thì không bao giờ có năm ấy, chỉ có năm được lưu Lộc Tồn chiếu. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.

Các sao lưu chạm vào cung Thiên Phủ

  • Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Thiên Phủ: năm có việc dính tới tài sản và giấy tờ, kiểm kê, sang tên, thừa kế, thanh tra kho quỹ; kho đầy thì việc xong xuôi, kho bị Không Kiếp thì việc lôi thôi kéo dài.
  • Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Thiên Phủ: Thiên Phủ chế được Kình Đà nên năm ấy không nặng như với sao khác, nhưng vẫn là năm kho bị soi, tranh chấp tài sản nhỏ, hoặc chi tiêu bất ngờ cho sức khỏe. Lưu Kình chạm Thiên Phủ tại Tật Ách là năm hay đau dạ dày, phải can thiệp tiêu hóa.
  • Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Thiên Phủ ở Điền Trạch hay Phụ Mẫu: đây là tổ hợp Thầy dặn khách để ý chuyện chia gia sản, sang tên nhà đất trong năm, thường đi kèm việc hiếu hỉ trong họ; không kết luận tang, nhưng năm ấy đừng để giấy tờ nhà đất treo.
  • Kinh văn Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung Thiên Phủ có Lộc: năm được cất nhắc lên vị trí giữ tiền, giữ quỹ, thi đỗ vào ngành tài chính, được cấp trên tin giao tài sản.
  • Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Thiên Phủ tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi: năm của đi ra ngoài, mua bán tài sản, chuyển nhà, hoặc tiền từ nơi xa về; Tử Phủ Dần Thân gặp lưu Mã là cách Phủ Mã, đi xa mà có tích lũy.

11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Thiên Phủ

Nam mệnh, nữ mệnhẢnh minh họa cập nhật sau Nam mệnh và nữ mệnh có sao Thiên Phủ thủ Mệnh
Cùng là kho tàng nhưng nam và nữ mệnh Thiên Phủ có nét hay và nét cần giữ riêng

Nam mệnh Thiên Phủ thường là người chững chạc, đáng tin, có tài quản lý và biết lo toan cho gia đình. Họ ít phiêu lưu, làm ăn chắc chắn, dễ tích lũy được cơ nghiệp bền vững theo năm tháng.

Điều cần giữ là tránh bảo thủ và quá thận trọng tới mức ngại đổi mới, đồng thời nên rộng lượng hơn trong chuyện tiền bạc để phúc khí được dày.

Nữ mệnh Thiên Phủ được xem là một trong những cách đẹp cho người nữ. Họ đảm đang, hiền thục, biết vun vén, lo trong lo ngoài đều chu toàn, là mẫu người vợ hiền dâu thảo mà vẫn có bản lĩnh riêng. Nếu được Lộc và phụ tá đi cùng thì là mệnh phú quý, gia đình êm ấm, sung túc. Người nữ Thiên Phủ thường mang lại sự ổn định và của cải cho gia đình, là chỗ dựa vững chắc cho chồng con. Điểm cần lưu ý là đừng quá ôm đồm và đừng để tính tiết kiệm thành ra khắt khe, hãy biết cân bằng giữa giữ của và tận hưởng cuộc sống.

Người Thiên Phủ giàu vì biết giữ, nhưng phúc dày hay mỏng lại nằm ở chỗ biết cho. Cái kho mở ra đúng lúc, đúng người, mới là cái kho thật sự đáng quý.

12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Phủ

Thiên Phủ là sao được khen nhiều, mà khen nhiều thì bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Thiên Phủ không chủ về gì, để người đọc khỏi mừng hụt hay lo oan.

Thiên Phủ thủ Mệnh không đồng nghĩa với giàu

Kinh văn Sách gọi Thiên Phủ là kho tàng, là tài tinh, nhưng chữ "kho" chỉ nói về sức chứa, không nói về lượng của trong kho. Cả Tân Biên lẫn Toàn Thư đều dặn Thiên Phủ cần Lộc Tồn hay Hóa Lộc mới sung mãn, tức là sách đã ngầm nói kho không có Lộc thì là kho vơi. Kinh nghiệm Thầy gặp rất nhiều lá Thiên Phủ thủ Mệnh mà đời sống chỉ đủ ăn, họ giữ tiền rất giỏi nhưng tiền để giữ không nhiều, vì Vũ Khúc, Liêm Trinh của tuổi họ không hóa Lộc và Lộc Tồn nằm ở chỗ không chiếu tới. Ngược lại, Thiên Phủ ở Tài Bạch hay Điền Trạch có Lộc thì người ấy có thể giàu dù Mệnh là Sát Phá Tham. Đọc "giàu" phải đọc ở kho có của hay không, không đọc ở việc có kho.

Thiên Phủ không có hãm địa, nên đừng nói "Thiên Phủ hãm"

Kinh văn Tra bảng miếu hãm mục 4: Tân Biên xếp Thiên Phủ thấp nhất là bình hòa (Sửu, Mão, Dậu), Toàn Thư thấp nhất là bình thường (Tỵ, Thân, Dậu, Hợi). Không sách nào có cung "hãm" cho Thiên Phủ. Người nói "Thiên Phủ hãm địa" là đang dùng chữ của sao khác. Cái mà người ta cảm thấy là "hãm" ở Thiên Phủ thực ra là ba chuyện khác: kho ở vị trí bình hòa mà không có Lộc; kho bị Không Kiếp, Tuần Triệt; hoặc kho bị Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu. Ba chuyện ấy đọc được đúng tuổi đúng năm (mục 5 và mục 10), còn "hãm địa" thì không có để mà đọc.

Thiên Phủ chế được sát tinh không có nghĩa là miễn nhiễm

Kinh văn Tân Biên nói Thiên Phủ giải được bệnh tật tai ương và chế được tính hung của Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, nhưng cũng nói ngay rằng bốn sát tinh hội đủ thì Thiên Phủ không kham nổi. Và sách không hề nói Thiên Phủ chế được Địa Không, Địa Kiếp; ngược lại Toàn Thư nói rất kỵ hai sao ấy. Suy luận Suy theo tượng thì hợp lý: kho có tường có khóa nên tướng dữ (Kình Đà) và lửa (Hỏa Linh) khó phá từ ngoài, nhưng Không Kiếp là đào hầm từ dưới đáy, tường khóa không ngăn được. Vì thế khi thấy Thiên Phủ có Kình Đà thì đừng vội lo, mà thấy Thiên Phủ có Không Kiếp thì đừng chủ quan vì "Thiên Phủ giải được".

Thiên Phủ không hóa không có nghĩa là Tứ Hóa không ảnh hưởng

Kinh văn Bảng Tứ Hóa Nam phái không có Thiên Phủ, nhiều người đọc tới đó thì bỏ qua mục Tứ Hóa khi luận sao này. Nhưng sách vẫn dạy cách Phủ gặp Lộc, Phủ bị Kỵ, và Lộc ấy Kỵ ấy chỉ có thể là của Vũ Khúc, Liêm Trinh, Tử Vi, Thiên Tướng theo bảng cấu trúc mục 2. Kinh nghiệm Thầy hay ví: Thiên Phủ là người không tự đổi áo, nhưng ai đến kho cũng mặc áo của họ. Tuổi Kỷ đến kho mặc áo Lộc của Vũ Khúc, tuổi Nhâm đến kho mặc áo Kỵ của Vũ Khúc, tuổi Canh đến kho mặc áo Kỵ của Thiên Tướng. Nói "Thiên Phủ của tôi không hóa gì nên tuổi nào cũng như nhau" là hiểu lầm lớn nhất về sao này, và là lý do mục 5 của bài dài như vậy.

Thiên Phủ không phải "Tử Vi hạng hai"

Kinh văn Sách gọi Tử Vi là chủ tinh Bắc Đẩu, Thiên Phủ là chủ tinh Nam Đẩu, hai sao ngang vai chứ không phải chính và phụ. Tử Vi chủ quyền, Thiên Phủ chủ của; vua cần kho như kho cần vua. Kinh nghiệm Thầy thấy trên lá số thật, Thiên Phủ độc tọa có Lộc Tồn đồng cung nhiều khi vững hơn Tử Vi độc tọa không có Tả Hữu: vua cô đơn thì lệnh không ai theo, còn kho đầy thì tự nó là chỗ dựa. Nữ mệnh Thiên Phủ cũng vậy, sách khen là cách đẹp cho người nữ không phải vì "hiền thục ở nhà giữ tiền", mà vì người ấy là chỗ dựa vật chất của cả nhà, nhiều người là chủ doanh nghiệp gia đình đúng nghĩa. Gán Thiên Phủ vào vai phụ, vai nội trợ, là thu nhỏ một chủ tinh.

13 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiên Phủ Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Thìn, nên theo quy tắc đối xứng qua trục Dần Thân, Thiên Phủ rơi vào Tý và đồng cung với Vũ Khúc; Mệnh an tại Tý; tuổi Kỷ. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Đà lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn (bảng Nam phái). Thầy chọn thế Vũ Phủ Tý vì đây là vị trí cả hai sách đều xếp miếu, và tuổi Kỷ là tuổi duy nhất cho Vũ Khúc hóa Lộc ngay trong kho.

Bước một: sáng hay tối

Thiên Phủ tại Tý, đồng cung Vũ Khúc, miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư. Thiên Phủ không phân biệt sinh ngày hay đêm như Nhật Nguyệt, nên bước này chỉ cần nhìn vị trí và sao đi cùng: kho đầy khí, có tướng giữ kho ngồi chung. Ngay bước này đã biết người có khí chất ổn trọng, giỏi tiền bạc, đáng tin, hợp nghề quản lý tài sản. Bước một chưa nói được kho có của hay không, phải sang bước hai.

Bước hai: hóa gì

Thiên Phủ không hóa với tuổi Kỷ (và không hóa với tuổi nào theo Nam phái), nhưng Vũ Khúc đồng cung với nó hóa Lộc: tướng giữ kho mang lộc về đúng kho, là thế đồng cung mạnh nhất trong quy tắc lực ở mục 9. Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ, rơi vào cung Thiên Di cùng Thất Sát, xung chiếu thẳng về Mệnh: kho vừa có Hóa Lộc trong nhà vừa có Lộc Tồn từ cửa ngoài chiếu vào, là thế song Lộc mà sách khen về của cải. Cả bộ Tứ Hóa tuổi Kỷ rải ra như sau: Tham Lang hóa Quyền ở Phúc Đức (dòng họ có người nắm quyền, và bản thân có ham muốn tiến thủ trong tâm), Thiên Lương hóa Khoa ở Nô Bộc (bạn bè, cấp dưới là người có học, che chở cho mình), Văn Khúc hóa Kỵ là phụ tinh, vị trí tùy giờ sinh, cần xem nó rơi vào cung nào trên lá số thật. Kình Dương tại Mùi rơi vào Tật Ách trống, Đà La tại Tỵ rơi vào Nô Bộc cùng Thiên Lương Khoa: điểm cần giữ của lá số này là sức khỏe tiêu hóa và chuyện tiền bạc với bạn bè, không phải kho.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì

Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Vũ Phủ Tý có Tử Vi Thiên Tướng tại Thìn (cung Quan Lộc) hợp chiếu, Liêm Trinh tại Thân (cung Tài Bạch) hợp chiếu, Thất Sát tại Ngọ (cung Thiên Di) xung chiếu. Vậy tam phương của Mệnh là trọn bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm cùng Thất Sát, không có cung nào trống: vua và ấn ở Quan Lộc (sự nghiệp trong tổ chức lớn, có chức), quan hình ở Tài Bạch (tiền đến từ việc có phép tắc, hợp đồng, pháp lý), tướng xung trận cùng Lộc Tồn ở Thiên Di (ra ngoài phải chiến, nhưng chiến thì có lộc). Cung Mệnh bị giáp bởi Thiên Đồng (Hợi, Huynh Đệ) và Nhật Nguyệt đồng cung (Sửu, Phụ Mẫu): một bên là phúc và anh em hiền, một bên là cha mẹ một sáng một tối, đúng thế giáp bất biến của Vũ Phủ Tý đã nói ở mục 2. Ba bước cộng lại: kho miếu, có tướng giữ, có song Lộc, được trọn bộ Tử Phủ Vũ Tướng chầu, là lá số của người làm quản trị tài chính trong tổ chức lớn và tự tích lũy được gia sản.

Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào

  • Đổi sang tuổi Nhâm: Vũ Khúc hóa Kỵ ngay tại Mệnh cùng Thiên Phủ, Tử Vi ở Quan Lộc hóa Quyền chiếu về, Thiên Lương ở Nô Bộc hóa Lộc. Lộc Tồn tuổi Nhâm an tại Hợi (Huynh Đệ), nên Kình Dương rơi đúng vào Mệnh tại Tý. Kho có tướng vướng và có gươm kề: vua giao quyền mà tiền đọng, dễ vướng nợ vì bạn bè, là người quản tiền hay bị kiện. Theo Bắc phái tuổi Nhâm Thiên Phủ còn hóa Khoa cùng cung với Vũ Kỵ, thành người minh bạch mà vẫn mang tiếng.
  • Đổi sang tuổi Giáp: Thiên Phủ vẫn không hóa, Vũ Khúc hóa Khoa tại Mệnh, Liêm Trinh ở Tài Bạch hóa Lộc chiếu về, Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần rơi vào Phúc Đức cùng Tham Lang. Kho được tiếng minh bạch, tiền đến từ hợp đồng và quan hệ, phúc dày. Nhưng Thái Dương hóa Kỵ ở Phụ Mẫu kề sát Mệnh: được của mà lo cho cha, và Đà La tuổi Giáp cũng rơi vào Sửu cùng Nhật Nguyệt Kỵ, nên chuyện cha mẹ là chỗ cần giữ nhất.
  • Đổi sang tuổi Canh: Vũ Khúc hóa Quyền tại Mệnh, Thái Dương hóa Lộc ở Phụ Mẫu kề bên, Lộc Tồn tuổi Canh an tại Thân rơi vào Tài Bạch cùng Liêm Trinh chiếu về Mệnh. Kho có tướng nắm quyền, tiền có Lộc Tồn ở Tài. Nhưng Thiên Tướng ở Quan Lộc hóa Kỵ chiếu về (Nam phái): quyền quản tiền lớn mà giấy tờ, con dấu, chứng từ ở cơ quan là chỗ dễ bị soi, người tuổi này làm tài chính phải giữ hồ sơ sạch hơn ai hết.

Đó là lý do bài này dành mục dài nhất cho Tứ Hóa của một sao "không hóa gì". Muốn thấy Thiên Phủ của chính mình đứng ở đâu, đi với ai và được sao nào mang Lộc hay Kỵ tới, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Thiên Phủ trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu vượng và Tứ Hóa của riêng quý vị.

14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Phát huy và tiết chếẢnh minh họa cập nhật sau Lời khuyên và cách hóa giải cho người có sao Thiên Phủ nổi bật
Thiên Phủ là sao tốt, việc cần làm là phát huy mặt mạnh và tiết chế mặt yếu

Thiên Phủ vốn là sao tốt, một trong những tài tinh đáng quý nhất, nên việc cần làm không phải là lo sợ mà là biết phát huy mặt mạnh và tiết chế mặt yếu.

Dưới đây là vài điều người có Thiên Phủ nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.

  1. Vừa biết giữ, vừa biết cho. Thế mạnh của bạn là tích lũy, nhưng phúc khí thật sự đến từ sự rộng lượng. Biết chia sẻ đúng lúc thì cái kho mới sinh phúc.
  2. Đừng để thận trọng thành chần chừ. Cân nhắc kỹ là tốt, nhưng đôi khi cơ hội không chờ ai. Tập quyết đoán hơn khi thời cơ đã rõ.
  3. Giữ cho kho luôn lành lặn. Hãy quản lý tài chính minh bạch, tránh đầu tư mạo hiểm theo phong trào, nhất là khi lá số có Không Kiếp hoặc Tuần Triệt chiếu tới.
  4. Phát huy sở trường tích lũy và quản lý. Người Thiên Phủ sống đúng khí chất khi làm việc liên quan tới tiền bạc, tài sản, hậu cần, nơi cần sự cẩn trọng và đáng tin.
  5. Xem kỹ cả lá số trước khi mừng. Có Thiên Phủ đẹp chưa đủ, phải xem sao tài lộc, sát tinh và đại vận lưu niên. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.

Về phong thủy bổ trợ: người mệnh có Thiên Phủ vốn hành Thổ, hợp các gam màu vàng đất, nâu, be và không gian sống ấm cúng, gọn gàng, có nơi cất giữ ngăn nắp. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.

15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần III Đặc Tính Các Sao, mục Thiên Phủ: Nam Đẩu chủ tinh, tài tinh kiêm quyền tinh, là kho tàng và lệnh tinh; tính nhân hậu, từ thiện, ổn trọng, thận trọng, giỏi tích lũy giữ của; cứu giải được bệnh tật tai ương, chế được tính hung của Kình Đà Hỏa Linh nhưng không kham nổi khi bốn sát hội đủ; miếu tại Dần, Thân, Tý, Ngọ; vượng tại Thìn, Tuất; đắc tại Tỵ, Hợi, Mùi; bình hòa tại Mão, Dậu, Sửu; gặp Tuần Triệt, Thiên Không là không khố. Phần cách an Thiên Phủ đối xứng Tử Vi qua trục Dần Thân và thứ tự chuỗi Nam Đẩu lấy từ phần an sao của cùng sách; bảng Tứ Hóa Nam phái theo cùng sách và trùng với bảng máy chủ.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Sao Thiên Phủ: Thiên Phủ thuộc Thổ, chủ tinh Nam Đẩu, là kho của trời, chủ tài lộc; miếu tại Tý, Sửu, Dần, Mùi; vượng tại Ngọ, Mão, Thìn, Tuất; bình thường tại Dậu, Tỵ, Thân, Hợi; rất kỵ Không Kiếp làm lộ khố. Các câu phú "Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu", "Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung", "Phủ Tướng đồng lai hội Mệnh cung, toàn gia thực lộc", "Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, yêu kim y tử" dẫn theo Cốt Tủy Phú và câu "Thiên Phủ Thiên Tướng nãi vi y lộc chi thần" dẫn theo Thái Vi Phú trong bản dịch này.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp) và bốn điều bất biến (Thái Âm luôn kề sau, Thất Sát luôn xung, Thiên Tướng luôn tam hợp, tam phương chỉ gặp Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát) được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Bảng Tứ Hóa ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), có ghi chỗ Bắc phái khác; vị trí Lộc Tồn theo mười can cũng lấy từ bảng máy chủ. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.

Lưu ý về dị bản: hai bộ sách trên xếp miếu vượng của Thiên Phủ khác nhau ở khá nhiều cung (Sửu, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Hợi), do hai trường phái dùng cách xét vị trí khác nhau. Về Tứ Hóa, Nam phái (bảng trang an lá số đang dùng) không cho Thiên Phủ hóa với tuổi nào; Bắc phái Trung Châu cho Thiên Phủ hóa Khoa tuổi Nhâm thay chỗ Tả Phụ, và tuổi Canh Bắc phái lấy Thái Âm hóa Khoa, Thiên Đồng hóa Kỵ thay cho Thiên Đồng hóa Khoa, Thiên Tướng hóa Kỵ của Nam phái, nên tình huống "Thiên Tướng Kỵ chiếu Thiên Phủ tuổi Canh" chỉ có ở Nam phái. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, phần cấu trúc và Tứ Hóa kiểm bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc hiểu đúng bản chất từng sao, phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiên Phủ

Thiên Phủ là chủ tinh của chòm Nam Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành thuộc Âm Thổ. Đây là tài tinh kiêm quyền tinh, được ví như kho tàng của trời, chủ về tài lộc, tích lũy, giữ của và uy quyền. Thiên Phủ tính nhân hậu, ổn trọng, thận trọng, có thể chế hóa tính hung của một số sát tinh.

Thiên Phủ được gọi là kho tàng vì nó tượng cho cái kho chứa của cải của trời đất, người có sao này giỏi tích lũy và giữ của. Gọi là lệnh tinh vì Thiên Phủ có quyền điều phối tài vật, có uy đứng đầu một phương, chế được tính hung ác của Kình Đà Hỏa Linh giống như quan giữ kho có lệnh trong tay.

Đó là cách khi Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc và Thiên Tướng cùng hội về tam phương tứ chính, lá số có đủ vua, kho tàng, tướng tài chính và hiền thần. Đây là bộ sao của người làm việc lớn, quản trị giỏi, giữ được cả quyền lẫn của, hợp lãnh đạo doanh nghiệp và quản lý tài chính.

Thiên Phủ là cái kho, nên rất sợ kho bị phá hoặc bị lộ. Khi gặp Tuần Triệt án ngữ, Thiên Không, Địa Không, Địa Kiếp thì kho như bị thủng đáy, gọi là khố lộ hay không khố, tiền của hao tán, tài lộc đến rồi đi, uy quyền và phúc khí đều bị chiết giảm.

Tử Vi là đế tinh của Bắc Đẩu, chủ uy quyền và sự lãnh đạo, ví như ngôi vua. Thiên Phủ là chủ tinh Nam Đẩu, tài tinh kiêm quyền tinh, ví như kho tàng và quan giữ của. Tử Vi nghiêng về quyền, Thiên Phủ nghiêng về tài và sự ổn định. Khi hai sao đồng cung thành cách Tử Phủ, vừa có uy vua vừa có kho báu, là cách cực quý.

Theo bảng Tứ Hóa Nam phái mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng, Thiên Phủ không hóa với bất kỳ tuổi nào trong mười can. Bắc phái Trung Châu cho Thiên Phủ hóa Khoa với tuổi Nhâm, thay chỗ Tả Phụ của Nam phái. Vì Thiên Phủ không hóa, muốn biết kho đầy hay vơi theo tuổi thì xem Tứ Hóa của các sao chiếu về nó: Vũ Khúc hóa Lộc tuổi Kỷ, hóa Kỵ tuổi Nhâm; Liêm Trinh hóa Lộc tuổi Giáp, hóa Kỵ tuổi Bính; Tử Vi hóa Quyền tuổi Nhâm, hóa Khoa tuổi Ất; Thiên Tướng hóa Kỵ tuổi Canh.

Không. Tân Biên xếp Thiên Phủ thấp nhất là bình hòa tại Sửu, Mão, Dậu; Toàn Thư xếp thấp nhất là bình thường tại Tỵ, Thân, Dậu, Hợi. Không sách nào có cung hãm cho Thiên Phủ, vì đây là chủ tinh Nam Đẩu, ở đâu cũng giữ được cốt lõi kho tàng. Cái người ta hay gọi nhầm là Thiên Phủ hãm thực ra là kho ở vị trí bình hòa mà thiếu Lộc, kho gặp Không Kiếp hoặc Tuần Triệt, hoặc kho bị Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu về.

Do cách an sao, tam phương tứ chính của Thiên Phủ chỉ có thể gặp Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát hoặc cung trống. Thất Sát luôn xung chiếu Thiên Phủ và Thiên Tướng luôn nằm trong tam hợp của nó, ở cả 12 vị trí. Thiên Phủ không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Lương hay Phá Quân chiếu về; Thái Âm chỉ có thể đứng ở cung liền sau Thiên Phủ chứ không chiếu.

Thiên Phủ không hóa nên xem lưu niên qua các sao chiếu về nó. Năm can Kỷ (2029 Kỷ Dậu) Vũ Khúc lưu hóa Lộc, năm can Giáp (2034 Giáp Dần) Liêm Trinh lưu hóa Lộc, là những năm của đổ vào kho, hợp mua tài sản. Năm can Nhâm (2032 Nhâm Tý) Vũ Khúc lưu hóa Kỵ, năm can Bính (2026 Bính Ngọ) Liêm Trinh lưu hóa Kỵ, năm can Canh (2030 Canh Tuất) Thiên Tướng lưu hóa Kỵ, là những năm nên rà giấy tờ tài sản, tránh đứng tên hộ và cho vay lớn. Ngoài ra năm nào lưu Lộc Tồn rơi đúng cung có Thiên Phủ là năm kho được đổ của thật.

Sao Thiên Phủ Của Bạn Đang Ngồi Ở Đâu

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết Thiên Phủ trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay đắc, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.