1 Sao Tham Lang Là Sao Gì

Trong Tử Vi Đẩu Số, Tham Lang là một trong những sao có cá tính mạnh nhất. Sách xếp nó thuộc chòm Bắc Đẩu, là đào hoa tinh kiêm hung tinh, chủ về họa phúc, dục vọng và uy quyền. Hai chữ Tham Lang gợi ngay tới lòng tham và sự tinh ranh nhanh nhạy như loài lang, cho thấy đây là sao của ham muốn và sức sống dồi dào.
Tham Lang là chính đào hoa của Đẩu Số. Ham muốn ở đây không chỉ là chuyện tình cảm, mà gồm cả tửu sắc, danh lợi, hưởng thụ và khát vọng vươn lên. Chính lòng ham muốn ấy là động cơ khiến người Tham Lang xông xáo, dám làm, biết tận hưởng.
Về ngũ hành, Tham Lang thuộc Âm Thủy mà kiêm cả Mộc, vì thế vừa có nét uyển chuyển, mềm dẻo, dễ thích nghi của Thủy, vừa có sức vươn lên không ngừng của Mộc. Sự pha trộn này tạo nên một con người linh hoạt, đa diện, lúc cương lúc nhu, rất khó đoán định. Tham Lang khi đắc cách thì chủ uy quyền và tài lộc lớn, nhưng khi hãm địa lại dễ ngả về phía dâm, tham, hung bạo, hay nhầm lẫn và chuyên gây họa.
Đặc điểm cốt lõi của Tham Lang là sức hút và tài giao tế. Người mang sao này biết cách làm hài lòng người khác, ăn nói khéo léo, ứng xử linh hoạt, dễ tạo quan hệ và mở rộng vòng tròn xã hội. Bởi vậy Tham Lang rất hợp những nghề cần đối ngoại và quan hệ như kinh doanh, ngoại giao, giải trí, nghệ thuật. Nhưng cũng chính vì đa dục và ưa chơi bời mà nếu không tiết chế, người Tham Lang dễ sa đà, hao tổn cả tiền của lẫn sức khỏe.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Tham Lang thuộc chuỗi sao đi theo Thiên Phủ, không đi theo Tử Vi. Khi đã định được vị trí Thiên Phủ thì Thái Âm tiến một cung, Tham Lang tiến hai cung, Cự Môn tiến ba, Thiên Tướng tiến bốn, Thiên Lương tiến năm, Thất Sát tiến sáu, Phá Quân tiến mười. Còn Thiên Phủ thì đối xứng với Tử Vi qua trục Dần Thân: Tử Vi ở Dần thì Thiên Phủ cũng ở Dần, Tử Vi ở Tỵ thì Thiên Phủ ở Hợi. Vì cách an cứng như vậy nên có những điều về Tham Lang không bao giờ thay đổi, bất kể tuổi nào, giờ nào. Nắm được chúng thì đọc lá số nhanh hơn rất nhiều, và tránh được lỗi mà người mới hay mắc là "thấy tên sao trong sách rồi gán bừa vào lá số".
Bốn điều bất biến của Tham Lang
- Luôn có Thái Âm ở cung liền trước và Cự Môn ở cung liền sau. Tham Lang đóng Thìn thì Thái Âm ở Mão, Cự Môn ở Tỵ; đóng Sửu thì Thái Âm ở Tý, Cự Môn ở Dần. Nghĩa là Tham Lang luôn bị giáp bởi mặt trăng một bên và cái miệng lớn bên kia, ở mọi lá số. Đây là hệ quả trực tiếp của thứ tự chuỗi Thiên Phủ: Âm, Tham, Cự đi liền nhau.
- Tam phương luôn có Thất Sát và Phá Quân. Thất Sát nằm đúng ở cung tam hợp thứ nhất, Phá Quân ở cung tam hợp thứ hai, không bao giờ lệch. Vì thế bộ Sát Phá Tham không phải một cách cục "may thì gặp", mà là cấu trúc cố định: nói Tham Lang thủ Mệnh là đã ngầm nói Thất Sát và Phá Quân chiếu về.
- Tam phương tứ chính chỉ gặp Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân hoặc cung trống. Tham Lang không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Tướng hay Thiên Lương chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Ai nói "Tham Lang hội Cơ Nguyệt Đồng Lương" hay "Tham Lang gặp Thiên Phủ chiếu" là đã an sai lá số.
- Đồng cung chỉ có bốn khả năng. Tham Lang độc tọa tại Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất; đi cặp với Vũ Khúc tại Sửu, Mùi; với Tử Vi tại Mão, Dậu; với Liêm Trinh tại Tỵ, Hợi. Không có cặp nào khác. Và khi độc tọa, cung xung chiếu luôn có một sao trong chuỗi Tử Vi: Tử Vi (Tý Ngọ), Liêm Trinh (Dần Thân), Vũ Khúc (Thìn Tuất); khi đi cặp thì cung xung chiếu luôn trống.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí, sinh bằng chương trình an sao chứ không chép tay. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.
| Tham Lang tại | Đồng cung | Tam hợp chiếu | Xung chiếu | Giáp hai bên |
|---|---|---|---|---|
| Tý | độc tọa | Thất Sát (Thìn) · Phá Quân (Thân) | Tử Vi (Ngọ) | Thái Âm (Hợi) · Thiên Đồng, Cự Môn (Sửu) |
| Sửu | Vũ Khúc | Tử Vi, Thất Sát (Tỵ) · Liêm Trinh, Phá Quân (Dậu) | trống (Mùi) | Thiên Đồng, Thái Âm (Tý) · Thái Dương, Cự Môn (Dần) |
| Dần | độc tọa | Thất Sát (Ngọ) · Phá Quân (Tuất) | Liêm Trinh (Thân) | Thái Dương, Thái Âm (Sửu) · Thiên Cơ, Cự Môn (Mão) |
| Mão | Tử Vi | Liêm Trinh, Thất Sát (Mùi) · Vũ Khúc, Phá Quân (Hợi) | trống (Dậu) | Thiên Cơ, Thái Âm (Dần) · Cự Môn (Thìn) |
| Thìn | độc tọa | Thất Sát (Thân) · Phá Quân (Tý) | Vũ Khúc (Tuất) | Thái Âm (Mão) · Cự Môn (Tỵ) |
| Tỵ | Liêm Trinh | Vũ Khúc, Thất Sát (Dậu) · Tử Vi, Phá Quân (Sửu) | trống (Hợi) | Thái Âm (Thìn) · Cự Môn (Ngọ) |
| Ngọ | độc tọa | Thất Sát (Tuất) · Phá Quân (Dần) | Tử Vi (Tý) | Thái Âm (Tỵ) · Thiên Đồng, Cự Môn (Mùi) |
| Mùi | Vũ Khúc | Tử Vi, Thất Sát (Hợi) · Liêm Trinh, Phá Quân (Mão) | trống (Sửu) | Thiên Đồng, Thái Âm (Ngọ) · Thái Dương, Cự Môn (Thân) |
| Thân | độc tọa | Thất Sát (Tý) · Phá Quân (Thìn) | Liêm Trinh (Dần) | Thái Dương, Thái Âm (Mùi) · Thiên Cơ, Cự Môn (Dậu) |
| Dậu | Tử Vi | Liêm Trinh, Thất Sát (Sửu) · Vũ Khúc, Phá Quân (Tỵ) | trống (Mão) | Thiên Cơ, Thái Âm (Thân) · Cự Môn (Tuất) |
| Tuất | độc tọa | Thất Sát (Dần) · Phá Quân (Ngọ) | Vũ Khúc (Thìn) | Thái Âm (Dậu) · Cự Môn (Hợi) |
| Hợi | Liêm Trinh | Vũ Khúc, Thất Sát (Mão) · Tử Vi, Phá Quân (Mùi) | trống (Tỵ) | Thái Âm (Tuất) · Cự Môn (Tý) |
Suy luận Từ bảng này rút ra một quy luật đọc rất tiện: Tham Lang độc tọa thì đủ bộ Sát Phá Tham chiếu về và có thêm một sao chuỗi Tử Vi đối diện, còn Tham Lang đi cặp thì bộ Sát Phá Tham vẫn đủ nhưng cung xung chiếu trống. Hệ quả là hai loại Tham Lang cho hai kiểu người khác nhau. Loại độc tọa (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) bị kéo bởi bốn phía đầy sao, năng lượng tỏa ra ngoài, hợp người làm ăn lớn, đi xa, dấn thân. Loại đi cặp (Sửu, Mùi, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi) dồn cả cục diện vào cung Mệnh, sao đồng cung quyết định tất cả: Vũ Khúc kèm thì thành người giữ kho biết làm giàu, Tử Vi kèm thì thành người phong lưu sang trọng, Liêm Trinh kèm thì thành người đa tình nồng nhiệt. Với loại đi cặp, cung xung chiếu trống nên Tuần Triệt hay sát tinh rơi vào cung đối diện ấy sẽ "chiếu ngược" về Mệnh rất rõ, cần đọc kỹ.
Kinh văn Vì Tham Lang chỉ hội với Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, nên các cách cục có tên của Tham Lang cũng chỉ xoay quanh những sao ấy cùng với phụ tinh: Vũ Tham (Sửu Mùi), Tử Tham (Mão Dậu), Liêm Tham (Tỵ Hợi), Hỏa Tham và Linh Tham (Tham Lang gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh), Phiếm Thủy Đào Hoa (Tham Lang ở Hợi Tý gặp Kình Đà), Phong Lưu Thải Trượng (Tham Lang gặp Đà La ở Dần). Không có cách nào ghép Tham Lang với Thái Dương, Thiên Lương hay Thiên Phủ chiếu, đó không phải thiếu sót của sách mà là hệ quả của cách an sao. Riêng bộ Sát Phá Tham, sách gọi là cách của người "phá cũ lập mới", chính là vì ba sao này luôn đứng thành tam giác cố định.
3 Đặc Tính Người Có Tham Lang Thủ Mệnh

Người có Tham Lang đóng ở cung Mệnh thường nhanh nhẹn, hoạt bát, ăn nói có duyên, biết quan sát và nắm bắt tâm lý người khác. Họ có một sức hút tự nhiên khiến người xung quanh dễ có thiện cảm, nhất là với người khác phái.
Đây là mẫu người đa tài đa nghệ, thích học hỏi đủ thứ, biết nhiều lĩnh vực, ưa cái mới và rất giỏi xoay xở. Họ thích giao tế, thích chơi bời, thích tửu sắc và những thú vui làm cho cuộc sống thêm phần sôi động.
Về tính cách, người Tham Lang tham vọng, dám ước mơ lớn và dám hành động để đạt được điều mình muốn. Họ thực tế, biết nhìn vào lợi ích, linh hoạt trong ứng xử và rất giỏi nắm cơ hội. Trong làm ăn, đây là tuýp người dám đầu tư, dám mạo hiểm, có máu liều và thường gặp may trong những cuộc chơi lớn. Mặt trái là họ dễ tham nhiều thứ cùng lúc, ham vui mà thiếu kiên định, đôi khi lươn lẹo hoặc thiếu thật thà nếu hãm địa và gặp sao xấu.
Một điểm rất đặc biệt của Tham Lang là biên độ tốt xấu cực rộng, rộng hơn hẳn nhiều sao khác. Cùng là Tham Lang thủ Mệnh, người gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh tạo thành cách phát đột ngột có thể vụt lên đại phú đại quý, còn người hãm địa gặp Đà La, sao đào hoa khác thì dễ phong lưu sa đọa, hao tài tổn danh vì tửu sắc. Vì vậy khi xem một lá số có Tham Lang, tuyệt đối không nhìn riêng sao này, mà phải xem nó đắc hay hãm, đi cùng sao gì, có Hỏa Linh hay không, rồi mới luận cho đúng.
4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Tham Lang

Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Với Tham Lang, vị trí đẹp nhất là tứ Mộ, tức bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, vì ở đó lòng ham muốn được nén lại, hóa thành ý chí và uy quyền.
Ngược lại, ở các cung Thủy và đào hoa như Tý, Hợi, Tỵ, hay tại các cung Mão, Dậu, Ngọ, Tham Lang dễ trôi nổi, đào hoa lộ liễu, dễ sa đà vào tửu sắc.
| Cung địa chi | Đồng cung | Theo Tân Biên | Theo Toàn Thư |
|---|---|---|---|
| Tý | Đơn thủ | Hãm | Vượng |
| Sửu | Vũ Khúc | Miếu | Miếu |
| Dần | Đơn thủ | Đắc | (không nêu) |
| Mão | Tử Vi | Hãm | Hãm |
| Thìn | Đơn thủ | Vượng | Miếu |
| Tỵ | Liêm Trinh | Hãm | Hãm |
| Ngọ | Đơn thủ | Hãm | Vượng |
| Mùi | Vũ Khúc | Miếu | Miếu |
| Thân | Đơn thủ | Đắc | (không nêu) |
| Dậu | Tử Vi | Hãm | Hãm |
| Tuất | Đơn thủ | Vượng | Miếu |
| Hợi | Liêm Trinh | Hãm | Hãm |
Hai trường phái về miếu vượng
Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp Tham Lang miếu tại Sửu, Mùi; vượng tại Thìn, Tuất; đắc tại Dần, Thân; hãm tại Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ghi miếu tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; vượng tại Tý, Ngọ; hãm tại Tỵ, Hợi, Mão, Dậu. Ô ghi không nêu nghĩa là Toàn Thư không liệt kê cung đó. Khác biệt rõ nhất nằm ở hai cung Tý và Ngọ: Tân Biên cho là hãm, Toàn Thư lại xếp vượng. Cốt lõi mà cả hai cùng thừa nhận là Tham Lang đẹp nhất ở tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, và khi gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thì thành cách phát lớn. Khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.
Mẹo nhớ: Tham Lang độc tọa, tức đứng một mình, chỉ ở sáu cung Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Sáu cung còn lại Tham Lang luôn đi cùng một chính tinh khác, tạo thành các cặp Vũ Tham tại Sửu Mùi, Tử Tham tại Mão Dậu, Liêm Tham tại Tỵ Hợi. Muốn luận đúng, phải đọc cả hai sao trong cặp chứ không chỉ riêng Tham Lang.
5 Tứ Hóa Của Tham Lang Theo Tuổi Can
Miếu hãm là cái lò chứa ngọn lửa ham muốn của Tham Lang. Tứ Hóa là bàn tay mà tuổi can của người ấy đặt lên ngọn lửa: Lộc là thêm củi, Quyền là quạt gió, Kỵ là đậy nắp. Cùng một Vũ Tham cư Sửu, người tuổi Mậu đọc khác hẳn người tuổi Quý, vì một bên lửa được nuôi thành tài lộc, bên kia lửa bị chặn thành bứt rứt. Không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao. Với Tham Lang, điều này còn quan trọng hơn sao khác, vì đây là sao có biên độ tốt xấu rộng nhất trong mười bốn chính tinh.
| Tuổi can | Tham Lang hóa | Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ) |
|---|---|---|
| Mậu | Hóa Lộc | Tham Lang · Thái Âm · Hữu Bật · Thiên Cơ. Nam phái (bảng trang an lá số đang dùng) và Bắc phái thống nhất. |
| Kỷ | Hóa Quyền | Vũ Khúc · Tham Lang · Thiên Lương · Văn Khúc. Hai phái thống nhất. |
| Quý | Hóa Kỵ | Phá Quân · Cự Môn · Thái Âm · Tham Lang. Hai phái thống nhất. |
| Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm | không hóa | Tham Lang giữ nguyên tính chất gốc theo miếu hãm; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân chiếu về (xem phần phi hóa bên dưới). Tham Lang không hóa Khoa với bất kỳ tuổi nào theo cả hai phái. |
Suy luận Có một điểm đáng để ý ngay trong bảng: Tham Lang không bao giờ hóa Khoa. Khoa là danh tiếng thanh cao, là sự công nhận về học vấn; Tham Lang là dục vọng, là sức hút đời thường. Bảng Tứ Hóa như vậy phù hợp với tượng sao: ngọn lửa ham muốn có thể được nuôi (Lộc), được quạt (Quyền), bị chặn (Kỵ), nhưng không có tuổi nào biến nó thành ngọn đèn thanh tao. Muốn Tham Lang có "Khoa" thì phải mượn Khoa của sao khác chiếu về, chẳng hạn Vũ Khúc hóa Khoa tuổi Giáp hay Tử Vi hóa Khoa tuổi Ất.
Tham Lang hóa Lộc (tuổi Mậu)
Kinh văn Lộc là bổng lộc, là cái được. Tham Lang vốn là sao ham muốn tài lộc, nay chính nó hóa Lộc thì ham muốn có chỗ về: kiếm tiền bằng giao tế, bằng quan hệ, bằng tài xoay xở, và tiền vào tay có phần dồi dào hơn người. Tham Lang miếu vượng hóa Lộc (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) là thế đẹp nhất trong mọi thế của sao này: lòng ham muốn được nén trong lò lại được thêm củi, cháy đều và bền, người ấy vừa có tham vọng vừa có phương tiện, làm ăn lớn mà không nóng vội. Nếu lại gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh đồng cung thì Hỏa Tham Linh Tham có thêm Lộc, sách xếp vào hàng phát phú nhanh nhất. Kinh nghiệm Tham Lang hãm địa hóa Lộc (Tý, Hợi, Mão, Dậu, Tỵ, Ngọ theo Tân Biên) thì Lộc vẫn có nhưng là lộc của thú vui: tiền đến qua chốn ăn chơi, giải trí, giao đãi, và đến bao nhiêu thường tiêu bấy nhiêu vì hóa Lộc ở đây nuôi cả phần đào hoa lẫn phần tài. Thầy gặp nhiều lá Liêm Tham Tỵ Hợi tuổi Mậu làm nhà hàng, quán xá, nghệ thuật biểu diễn: thu nhập tốt, nhưng phải có Lộc Tồn hoặc Vũ Khúc chiếu về mới giữ được. Thêm một điều ít người để ý: tuổi Mậu có Thái Âm hóa Quyền, mà Thái Âm luôn ở cung liền trước Tham Lang (mục 2), nên người tuổi Mậu có Tham Lang thủ Mệnh gần như luôn có một cung kề mang Quyền của mặt trăng, tức mẹ hoặc vợ là người có thực quyền trong nhà.
Tham Lang hóa Quyền (tuổi Kỷ)
Kinh văn Quyền là quyền uy, là cái nắm được. Tham Lang hóa Quyền thì tính quyết đoán trội hẳn, ham muốn biến thành tham vọng có tổ chức, người ấy muốn cầm trịch chứ không chỉ muốn hưởng. Sách xếp Tham Lang là sao chủ uy quyền khi đắc cách; hóa Quyền là làm rõ mặt uy quyền ấy: hợp nghề quản lý kinh doanh, chỉ huy, điều phối, những việc cần vừa giao tế khéo vừa ra quyết định nhanh. Đáng chú ý là tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc cùng bộ, mà Vũ Khúc lại là sao đồng cung với Tham Lang tại Sửu Mùi và xung chiếu tại Thìn Tuất (mục 2). Vì thế người tuổi Kỷ có Tham Lang ở tứ Mộ gần như luôn được cặp Lộc Quyền đồng cung hoặc chiếu nhau: tướng giữ kho hóa Lộc, sói ham muốn hóa Quyền, đây là một trong những thế làm giàu bền nhất của Tham Lang. Kinh nghiệm Tham Lang hãm địa hóa Quyền thì quyền hóa thành áp đặt, người ấy hay lấn lướt trong quan hệ, nhất là quan hệ tình cảm, và nếu thêm Kình Dương thì dễ tranh chấp vì ghen. Tham Lang Quyền ở Mão Dậu cùng Tử Vi là người rất thích được tôn xưng, phải có Tả Hữu hay Khoa chiếu về mới bớt kiêu.
Tham Lang hóa Kỵ (tuổi Quý)
Kinh văn Kỵ là cái vướng, cái bị chặn. Tham Lang hóa Kỵ là ngọn lửa ham muốn bị đậy nắp: muốn mà không toại, tình cảm dễ rối, cầu tài hay bị lỡ, và cần đề phòng họa do dục vọng như tửu sắc, cờ bạc, đầu tư theo cảm hứng. Nhưng phải tách hai trường hợp. Tham Lang miếu vượng hóa Kỵ (tuổi Quý, sao ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi): lò vẫn kín, lửa bị đậy chỉ cháy chậm hơn, biểu hiện là phát muộn hơn người, hay tiếc nuối những cơ hội đã qua, làm ăn lên chậm nhưng ít đổ vỡ; với Vũ Tham Sửu Mùi thì Vũ Khúc không hóa nên cung Mệnh vẫn có tướng giữ kho đứng vững. Tham Lang hãm địa hóa Kỵ (tuổi Quý, sao ở Tý, Hợi, Mão, Dậu, Tỵ, Ngọ): đây mới là thế nặng thật, đào hoa đã trôi nổi lại còn bị chặn, dễ thành chuyện tình cảm không lối ra, hoặc ham vui mà mang tiếng; cần xem kỹ cung Phu Thê và cung Tật Ách về gan, thận. Kinh nghiệm Tuổi Quý có Phá Quân hóa Lộc cùng bộ, mà Phá Quân luôn nằm trong tam hợp của Tham Lang (mục 2). Vì thế người tuổi Quý có Tham Lang thủ Mệnh luôn có Kỵ tại Mệnh mà Lộc chiếu về: cái muốn thì vướng, cái phá cũ lập mới thì được lộc. Thầy hay dặn khách tuổi Quý có Tham Lang thủ Mệnh: đừng cố giữ cái đang có, hãy dám đổi, vì Lộc của họ nằm ở Phá Quân chứ không nằm ở Tham Lang. Thêm nữa, tuổi Quý Lộc Tồn an tại Tý nên Đà La ở Hợi và Kình Dương ở Sửu: Tham Lang ở Hợi tuổi Quý vừa hóa Kỵ vừa đồng cung Đà La, thành đúng thế Phiếm Thủy Đào Hoa mà sách cảnh báo (mục 8); Tham Lang ở Sửu tuổi Quý thì Kỵ đi cùng Kình Dương, phải nhờ Vũ Khúc đồng cung và Lộc Tồn ở Tý kề bên đỡ lại.
Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)
Kinh nghiệm Tham Lang không hóa với tuổi mình vẫn có thể "ăn" Tứ Hóa của các sao chiếu về, vì tam phương tứ chính của nó chỉ có thể là Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân. Thất Sát không hóa với tuổi nào, nên phần phi hóa của Tham Lang xoay quanh bốn sao còn lại. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:
- Tuổi Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ chiếu Tham Lang. Liêm Trinh đồng cung với Tham Lang tại Tỵ Hợi, xung chiếu tại Dần Thân, tam hợp chiếu tại Sửu Mùi và Mão Dậu; chỉ ở Tý Ngọ và Thìn Tuất Tham Lang mới không gặp Liêm Trinh. Liêm Kỵ là đào hoa thứ hai bị chặn, bay vào đào hoa thứ nhất: chuyện tình cảm sinh thị phi, hoặc vướng giấy tờ, pháp lý vì quan hệ. Liêm Tham Tỵ Hợi tuổi Bính là thế Thầy luôn dặn phải giữ mình nhất trong mọi thế của Tham Lang, vì cả hai sao đào hoa cùng cung mà một sao đã hóa Kỵ.
- Tuổi Nhâm, Vũ Khúc hóa Kỵ chiếu Tham Lang. Vũ Khúc đồng cung tại Sửu Mùi, xung chiếu tại Thìn Tuất, tam hợp tại Mão Dậu và Tỵ Hợi. Tướng giữ kho hóa Kỵ là tiền bị kẹt, bị chôn vào một chỗ; bay vào Tham Lang thì thành "muốn nhiều mà vốn không xoay được", người tuổi Nhâm có Vũ Tham đồng cung cần tránh vay để đầu tư theo cảm hứng. Bù lại tuổi Nhâm có Tử Vi hóa Quyền, mà Tử Vi nằm trong tam phương tứ chính của Tham Lang ở tám trong mười hai vị trí (chỉ trừ Dần, Thân, Thìn, Tuất), nên phần lớn vẫn có chỗ dựa về uy tín.
- Tuổi Giáp, Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa cùng chiếu Tham Lang. Đây là thế rất đẹp mà ít người để ý: cả ba sao hóa Lộc, Quyền, Khoa của tuổi Giáp đều thuộc nhóm sao có thể gặp của Tham Lang. Kiểm trên bảng cấu trúc thì tại sáu vị trí đi cặp (Sửu, Mùi, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi) Tham Lang nhận đủ cả ba hóa trong tam phương tứ chính, thành thế tam kỳ gia hội dù chính Tham Lang không hóa gì; tại sáu vị trí độc tọa thì nhận ít hơn: Dần, Thân, Thìn, Tuất nhận hai, Tý, Ngọ chỉ nhận Phá Quân hóa Quyền. Chỉ cần nhớ tuổi Giáp có Thái Dương hóa Kỵ, mà Thái Dương không bao giờ chiếu Tham Lang, nên Kỵ của tuổi Giáp không chạm vào Mệnh Tham Lang, nó rơi vào cung khác của lá số.
Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.
6 Tham Lang Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi

Cùng một sao Tham Lang nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do địa chi đó sinh hay khắc, và do sao đi kèm trong từng cặp.
Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Tử Vi Tinh Điển và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.
Tham Lang cư Tý và Hợi (Phiếm thủy đào hoa)
Tham Lang ở Tý là độc tọa, ở Hợi đi cùng Liêm Trinh thành Liêm Tham. Cả hai đều là Thủy địa, khiến tính đào hoa trở nên trôi nổi, gọi là cách Phiếm thủy đào hoa. Người ở cách này rất có sức hút, lãng mạn, đa tình, nhưng dễ sa đà vào tình cảm và tửu sắc, tình duyên nhiều mà rối, cần tu dưỡng để tránh phiền lụy. Nếu gặp thêm Đà La hay sao đào hoa khác thì càng phải giữ mình. Theo Tân Biên cả hai cung này đều hãm, theo Toàn Thư thì Tý vượng còn Hợi hãm.
Vũ Tham đồng cung tại Sửu và Mùi (miếu, đẹp nhất)
Đây là vị trí đẹp nhất của Tham Lang. Sửu Mùi thuộc tứ Mộ, Tham Lang miếu địa, lại đi cùng tài tinh Vũ Khúc thành cách Vũ Tham nổi tiếng. Người có cách này giỏi kiếm tiền, có chí làm giàu, biết kết hợp tài giao tế của Tham Lang với sự quyết đoán của Vũ Khúc. Cổ nhân nói Vũ Tham phát muộn, nghĩa là thường giàu có ở tuổi trung niên về sau, càng đứng tuổi càng vững. Nếu hội thêm Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thì phát rất lớn, có thể đại phú.
Tham Lang cư Dần và Thân (đắc)
Tham Lang độc tọa ở Dần và Thân đều ở mức đắc địa theo Tân Biên. Người ở đây năng động, tháo vát, đa tài, giỏi xoay xở và mở rộng quan hệ, hợp kinh doanh, dịch vụ, môi giới, ngành cần đi lại giao thiệp nhiều. Tính đào hoa vẫn rõ nhưng đỡ trôi nổi hơn so với khi ở cung Thủy. Nếu được Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đi kèm thì tài lộc vững, biết giữ của hơn.
Tử Tham đồng cung tại Mão và Dậu (hãm)
Tham Lang gặp đế tinh Tử Vi thành cách Tử Tham. Người ở cách này phong lưu, lãng mạn, đa tài đa nghệ, mê nghệ thuật và hưởng thụ, có khí chất sang trọng. Tuy nhiên Mão Dậu là đào hoa địa, Tham Lang hãm, nên tính đào hoa rất nổi trội, dễ ham vui mà chểnh mảng việc lớn. Cổ nhân lưu ý Tử Tham nếu gặp thêm sao đào hoa và Đà La thì dễ sa đọa. Ngược lại, nếu có Không Kiếp hoặc người tu hành thì lại hướng được vào con đường nghệ thuật, tâm linh, bớt phần buông thả.
Tham Lang cư Thìn và Tuất (vượng tới miếu)
Đây là hai cung Mộ còn lại, Tham Lang độc tọa, rất đẹp. Theo Tân Biên là vượng, theo Toàn Thư là miếu. Lòng ham muốn ở đây được nén lại, hóa thành ý chí và bản lĩnh. Người ở cách này kiên định hơn, biết kiềm chế, dồn năng lượng vào sự nghiệp nên dễ thành công lớn và bền. Đặc biệt Tham Lang ở Thìn, Tuất mà gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh là chính cách Hỏa Tham, Linh Tham đẹp nhất, chủ phát đột ngột, công thành danh toại.
Liêm Tham đồng cung tại Tỵ và Hợi (hãm)
Tham Lang gặp Liêm Trinh thành cách Liêm Tham, hai sao đều mang tính đào hoa và dục vọng nên khí đào hoa rất mạnh. Người ở cách này đa tình, ưa giao tế, sống tình cảm và phóng khoáng, nhưng cũng dễ vướng thị phi tình ái, hao tài vì chơi bời nếu không tiết chế. Cả hai cung đều hãm theo cả hai phái, nên Liêm Tham được xem là cách cần tu dưỡng nhiều. Có Lộc và sao giải thì hướng được năng lượng vào nghệ thuật, kinh doanh giải trí, đối ngoại.
Một câu để nhớ
Tham Lang ở tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi là lửa được nén trong lò, hóa thành uy quyền và tài lộc. Tham Lang ở Tý Hợi là nước trôi mang theo đào hoa. Vũ Tham là ham muốn biết làm giàu, Tử Tham là ham muốn phong lưu sang trọng, còn Liêm Tham là ham muốn nồng nhiệt nhất, dễ rực cháy mà cũng dễ thiêu mình.
7 Tham Lang An Tại 12 Cung Chức

Tham Lang không chỉ ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì rọi lòng ham muốn, sức hút và tính đào hoa vào lĩnh vực đó của cuộc đời.
Vì là sao của dục vọng, hễ Tham Lang đắc địa lại có Hỏa Linh, Lộc thì cung ấy phát mạnh, nhưng nếu hãm và gặp sao xấu thì cung ấy dễ rối vì ham muốn quá độ.
| Cung | Tham Lang sáng | Tham Lang hãm | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Đa tài, có sức hút, giỏi giao tế, tham vọng có kỷ luật; ở tứ Mộ là người làm ăn lớn, phát ở trung niên. | Vẫn có duyên và khéo nhưng ham nhiều thứ, thiếu kiên định, dễ sa vào thú vui, tình cảm rối. | Sáng gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung là Hỏa Tham, Linh Tham, phát đột ngột. Hãm gặp Đà La, Thiên Riêu, Mộc Dục là đào hoa buông thả. Gặp Không Kiếp hay Tuần Triệt là dục vọng đổi hướng, ngả về tâm linh, nghệ thuật. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ phóng khoáng, giao thiệp rộng, có duyên với đời, thường là người làm ăn hay có địa vị nhờ quan hệ. | Cha hoặc mẹ đa đoan, nhiều mối bận tâm tình cảm; hai thế hệ hợp nhau ở chỗ vui mà khó nói chuyện nghiêm túc. | Tham Lang hãm gặp Đà La, Thiên Riêu tại Phụ Mẫu là dấu hiệu cha hoặc mẹ có chuyện riêng tư ngoài gia đình. Tham Lang hóa Lộc tại Phụ Mẫu là được cha mẹ cho tiền hoặc cho quan hệ để khởi nghiệp. |
| Phúc Đức | Phúc phần dồi dào, tinh thần ham sống, thích thú vui tao nhã lẫn náo nhiệt; bên nội có người phong lưu mà hào phóng. | Tâm bất an vì ham nhiều, ước muốn đổi liên tục, phúc bên nội mỏng và có tiếng về chuyện tửu sắc. | Tham Lang ở Phúc gặp Hỏa Linh là phúc phát đột ngột từ tổ tiên, hay trúng lớn một lần. Tham Lang Kỵ ở Phúc là đời hay tiếc nuối, cần tu tâm. Tham Lang gặp Không Kiếp ở Phúc là người có duyên với đạo. |
| Điền Trạch | Nhà đất đến nhanh nhờ đầu tư, môi giới, quan hệ; hợp mua đi bán lại, đất có sinh khí, nhà nhiều khách khứa. | Mua bán nhà theo cảm hứng, hao vì sửa sang, nhà gần chốn ăn chơi hoặc nhà là nơi tụ hội bạn bè hơn là nơi nghỉ. | Tham Lang tứ Mộ gặp Hỏa Linh và Lộc tại Điền là điền sản phát đột ngột. Tham Lang hãm gặp Đại Tiểu Hao tại Điền là mua đắt bán rẻ. Vũ Tham Sửu Mùi tại Điền là nhà đất phát muộn mà bền. |
| Quan Lộc | Sự nghiệp dựa vào quan hệ, đối ngoại, sức hút: kinh doanh, ngoại giao, giải trí, truyền thông, ẩm thực, bất động sản. Thăng tiến nhanh nhờ người. | Nghề nghiệp đổi nhiều, hay dính chốn ăn chơi, làm việc theo hứng; hợp nghề tự do hơn là công chức. | Tham Lang Quyền tại Quan là nắm quyền điều hành thật. Hỏa Tham tại Quan là lên chức đột ngột. Tham Lang gặp Xương Khúc tại Quan trong thế hãm là "chính sự điên đảo", việc chính bỏ bê vì chuyện phụ. |
| Nô Bộc | Bạn bè đông, giao du rộng, có bạn làm ăn lớn; cấp dưới khéo léo, giỏi đối ngoại, biết chiều ý chủ. | Nhiều bạn nhậu ít bạn tri kỷ, cấp dưới hay kéo mình vào chốn ăn chơi, dễ bị lôi vào chuyện tình cảm qua bạn bè. | Tham Lang hãm gặp Đà La, Thiên Riêu tại Nô là bạn bè hoặc người dưới gây rối tình cảm gia đình. Tham Lang Lộc tại Nô là bạn bè mang tiền tới, hợp làm ăn chung nhưng phải rõ giấy tờ. |
| Thiên Di | Ra ngoài có sức hút, dễ kết giao, có nhiều cơ hội nơi xa; hợp đối ngoại, xuất khẩu, du lịch, làm việc với người nước ngoài. | Ra ngoài hay bị cuốn vào thú vui, tốn tiền nơi đất khách vì giao đãi, dễ gặp chuyện tình cảm khi đi xa. | Tham Lang ở Di gặp Thiên Mã là đi xa mà có lộc, hợp buôn bán liên tỉnh, quốc tế. Tham Lang hãm ở Di gặp Kình Đà là ra đường dễ va chạm vì rượu hay vì tình. |
| Tật Ách | Sức sống dồi dào, hồi phục nhanh; chỗ yếu là gan (Mộc) và thận, bàng quang (Thủy), cùng chứng do ăn uống thừa. | Bệnh do sinh hoạt không điều độ: gan nhiễm mỡ, thận, đường tiết niệu, bệnh lây qua đường tình dục, chứng rối loạn do rượu. | Tham Lang gặp Hóa Kỵ tại Tật là gan thận trước hết, và là bệnh hay tái phát vì không kiêng được. Tham Lang gặp Hỏa Linh tại Tật là viêm nhiễm, sốt, nóng gan. Tham Lang gặp Thiên Riêu, Đà La tại Tật là bệnh kín, bệnh do tình. |
| Tài Bạch | Tiền vào theo quan hệ, đầu tư, buôn bán linh hoạt; kiếm tiền nhanh và nhiều nguồn, có lộc bất ngờ. | Tiền vào tiền ra vì ăn chơi, đầu tư theo cảm hứng, hay "được lớn rồi mất lớn"; cần người giữ tiền thay. | Tham Lang tứ Mộ gặp Hỏa Linh tại Tài là hoạnh phát, tiền đến một lúc rất nhiều. Tham Lang Lộc tại Tài mà có Lộc Tồn chiếu là vừa kiếm vừa giữ. Tham Lang Kỵ tại Tài là cầu tài hay lỡ, tránh cờ bạc và đầu cơ. |
| Tử Tức | Con thông minh lanh lợi, có duyên, đa tài, biết giao thiệp sớm; con dễ theo nghề kinh doanh hay nghệ thuật. | Con ham chơi, cần dạy về chừng mực từ nhỏ; hoặc muộn con vì cha mẹ mải vui, hoặc có con ngoài ý muốn. | Tham Lang gặp Thiên Hỷ, Hồng Loan tại Tử là dễ có con sớm, có khi trước hôn nhân. Tham Lang hãm gặp Kình Đà, Hỏa Linh tại Tử là khó nuôi con đầu hoặc con ngỗ nghịch. Tham Lang gặp Không Kiếp tại Tử là ít con hoặc con theo đạo. |
| Phu Thê | Bạn đời hấp dẫn, giỏi giao tế, biết hưởng thụ, thường là người làm ăn; đời sống tình cảm phong phú, hôn nhân có nhiều tiệc tùng bạn bè. | Bạn đời đa tình, hoặc chính mình đa tình; hôn nhân dễ có người thứ ba, hay ghen, hay đổi đối tượng trước khi kết hôn. | Tham Lang hãm gặp Đà La, Thiên Riêu tại Phu Thê là thế sách cảnh báo mạnh nhất về chuyện ngoại tình, cần luận kỹ. Tham Lang gặp Hóa Lộc và Lộc Tồn tại Phu là bạn đời mang tài lộc về. Tham Lang gặp Không Kiếp ở Phu là hôn nhân muộn hoặc bạn đời sống đạm. |
| Huynh Đệ | Anh em phóng khoáng, giỏi xã giao, có người làm ăn lớn, giúp nhau về quan hệ hơn là về tiền mặt. | Anh em mỗi người một cuộc chơi, quan hệ vui mà nông, có người lận đận vì tửu sắc. | Tham Lang gặp Hỏa Linh tại Huynh là có anh em phát đột ngột. Tham Lang Kỵ tại Huynh là anh em vay mượn khó đòi. Tham Lang hãm gặp Kình Dương tại Huynh là anh em bất hòa vì chuyện tình cảm hoặc chia chác. |
Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Tham Lang ở bất kỳ cung nào cũng kéo theo ba thứ vào lĩnh vực của cung ấy, là quan hệ, thú vui và sự đột biến. Tham Lang ở Tài Bạch thì tiền đến qua quan hệ và tiêu vào thú vui, lên xuống đột ngột; ở Phu Thê thì bạn đời là người của giao đãi và hôn nhân có những khúc quanh bất ngờ; ở Tật Ách thì bệnh đến từ thú vui và phát ra đột ngột. Khi luận, hãy hỏi ba câu ấy cho cung có Tham Lang, rồi mới xét Hỏa Linh có làm cái đột biến ấy thành phát, hay Đà La Thiên Riêu có làm cái thú vui ấy thành họa. Đây là cách người luận có kinh nghiệm dùng Tham Lang để hỏi ngược khách, chứ không chỉ đọc xuôi.
8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Tham Lang

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về một chỗ, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.
Tham Lang là trung tâm của vài cách cục phát lớn vào hàng nổi tiếng nhất trong khoa Đẩu Số.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai, vì đây là chỗ người mới hay mừng hụt: thấy Tham Lang với Hỏa Tinh đã gọi là Hỏa Tham trong khi Tham Lang ấy đang hãm ở Hợi và người ấy tuổi Quý.
Hỏa Tham và Linh Tham (Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh)
Kinh văn Thành cách: Tham Lang đồng cung với Hỏa Tinh (Hỏa Tham) hoặc Linh Tinh (Linh Tham) tại cung miếu vượng, tức tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Phú viết "Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng, danh trấn chư bang": lửa của Hỏa Linh đổ vào ngọn lửa ham muốn đang được nén trong lò, thành sức bùng nổ, người hợp cách phát đột ngột về tiền và danh, thường nhờ một cơ hội lớn, một thương vụ, một bước ngoặt. Đủ đẹp: tuổi Mậu (Tham Lang hóa Lộc) hoặc tuổi Kỷ (Tham Lang hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Lộc), thêm Lộc Tồn hoặc Vũ Khúc đồng cung để cái phát ấy có chỗ giữ; Vũ Tham Sửu Mùi thêm Hỏa Linh là thế được cả hai sách khen nhất. Phá cách: Tham Lang hãm địa (Tý, Hợi, Mão, Dậu, Tỵ, Ngọ) mà gặp Hỏa Linh thì không phải Hỏa Tham mà là lửa cháy lan, sách không gọi là cách, người ấy nóng nảy, được nhanh mất nhanh; gặp thêm Không Kiếp đồng cung thì phát rồi tan; tuổi Quý (Tham Lang hóa Kỵ) thì lửa bị đậy nắp, phát muộn và không trọn. Kinh nghiệm Thầy thấy trên lá số thật, Hỏa Tham Linh Tham phát mạnh nhất khi đại vận hoặc lưu niên đi vào đúng cung ấy, còn bình thường thì người hợp cách chỉ "tiềm tàng"; ai có cách này nên biết năm nào của mình là năm lửa cháy (mục 10) để dồn sức đúng lúc.
Vũ Tham đồng cung tại Sửu, Mùi (Tham Vũ đồng hành)
Kinh văn Thành cách: Tham Lang đồng cung Vũ Khúc tại Sửu hoặc Mùi thủ Mệnh, đương nhiên có Tử Sát và Liêm Phá tam hợp chiếu, cung xung chiếu trống (mục 2). Phú viết "Tham Vũ đồng hành, uy trấn biên di": tướng giữ kho đi cùng sói ham muốn thành người vừa biết làm giàu vừa có uy, hợp cầm quân, cầm doanh nghiệp, đi mở đất nơi xa. Một câu khác cũng trong Toàn Thư: "Tham Vũ mộ trung cư, tam thập tài phát phúc", Vũ Tham ở cung Mộ thì ngoài ba mươi mới phát, nên ai có cách này mà tuổi trẻ chưa lên cũng đừng vội nản. Đủ đẹp: tuổi Kỷ (Vũ Khúc hóa Lộc, Tham Lang hóa Quyền cùng một cung, Lộc Quyền đồng cung hiếm có), tuổi Mậu (Tham Lang hóa Lộc, lại có Lộc Tồn an tại Tỵ chiếu về Sửu), thêm Hỏa Linh thì thành Hỏa Tham Linh Tham tại Mộ, hàng đại phú. Phá cách: tuổi Nhâm (Vũ Khúc hóa Kỵ ngay tại Mệnh, tiền bị kẹt), tuổi Quý (Tham Lang hóa Kỵ, lại có Kình Dương an tại Sửu nếu Mệnh ở Sửu), hoặc Không Kiếp, Tuần Triệt án ngữ cung Mệnh. Khi phá cách, người vẫn giỏi làm ăn nhưng phát rồi mất, hoặc phát rất muộn.
Tử Tham đồng cung tại Mão, Dậu (Đào hoa phạm chủ)
Kinh văn Thành cách (đây là cách cần dè chừng): Tham Lang đồng cung Tử Vi tại Mão hoặc Dậu, hai cung đào hoa địa, Tham Lang hãm theo cả hai sách. Phú viết "Đào hoa phạm chủ vi chí dâm": đào hoa xâm phạm vào vua, vua bị dục vọng dẫn đi, người có cách này phong lưu sang trọng, đa tài, mê nghệ thuật, nhưng dễ vì tình mà lụy. Cùng trong Toàn Thư có câu "Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục tăng nhân": Tử Vi (Bắc Cực) ở Mão Dậu phần nhiều là người rời đời sống thế tục. Hai câu tưởng ngược nhau mà thật ra là hai lối thoát của cùng một dục vọng: hoặc cháy vào tình, hoặc dồn vào đạo. Đủ đẹp: có Tả Hữu, Khôi Việt hoặc Không Kiếp, Tuần Triệt đi cùng thì cái phong lưu thành phong nhã, hợp nghệ thuật, tôn giáo, nghiên cứu; tuổi Nhâm Tử Vi hóa Quyền, tuổi Ất Tử Vi hóa Khoa đều nâng phần vua lên. Phá cách: gặp Đà La, Thiên Riêu, Mộc Dục, Hồng Loan đồng cung là đào hoa phạm chủ đúng nghĩa; tuổi Quý Tham Lang hóa Kỵ ở đây là tình cảm rối và mang tiếng. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít lá Tử Tham Mão Dậu có Không Kiếp là người làm nghệ thuật hoặc tu tại gia, sống rất tử tế, nên đừng thấy chữ "chí dâm" mà kết luận vội.
Liêm Tham đồng cung tại Tỵ, Hợi
Kinh văn Thành cách (cách cần tu dưỡng): Tham Lang đồng cung Liêm Trinh tại Tỵ hoặc Hợi, cả hai sao đều hãm, đào hoa thứ nhất và đào hoa thứ hai cùng một cung. Sách xếp đây là thế đào hoa nồng nhất của Đẩu Số: người đa tình, sống hết mình cho cảm xúc, có sức hút mạnh, nhưng dễ vướng thị phi tình ái và hao tài vì giao đãi. Toàn Thư có câu "Tham Lang Liêm Trinh đồng cung, nam lãng đãng nữ đa dâm", lời rất nặng, nhưng phải đọc kèm điều kiện phá cách bên dưới chứ không áp cho mọi lá. Đủ đẹp: có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung (tuổi Mậu Tham Lang hóa Lộc, tuổi Giáp Liêm Trinh hóa Lộc), có Tuần Triệt hoặc Không Kiếp chế bớt, thì năng lượng dồn vào nghệ thuật, giải trí, ẩm thực, ngoại giao, thành người làm nghề đối ngoại rất giỏi. Phá cách: tuổi Bính (Liêm Trinh hóa Kỵ đồng cung), tuổi Quý (Tham Lang hóa Kỵ, và tại Hợi thêm Đà La), gặp Thiên Riêu, Mộc Dục, Hồng Loan: khi ấy lời phú trên mới ứng. Suy luận Hợi thuộc Thủy, Tỵ thuộc Hỏa; Liêm Tham ở Hợi trôi nổi hơn (đào hoa gặp nước), Liêm Tham ở Tỵ bốc hơn (đào hoa gặp lửa), người ở Tỵ dễ nóng nảy vì tình hơn người ở Hợi.
Phiếm Thủy Đào Hoa (Tham Lang ở Hợi, Tý gặp Kình Dương, Đà La)
Kinh văn Thành cách (cách xấu): phú viết "Tham Lang Hợi Tý ngộ Dương Đà, danh vi Phiếm Thủy Đào Hoa": Tham Lang ở Hợi hoặc Tý, hai cung Thủy, lại gặp Kình Dương hoặc Đà La đồng cung, thành đào hoa trôi trên nước, tình duyên nhiều mà không bến, dễ vì sắc mà tổn tài, tổn danh. Kiểm bằng cách an Lộc Tồn: Kình Dương chỉ đến Tý với tuổi Nhâm (Lộc Tồn Hợi), Đà La chỉ đến Hợi với tuổi Quý (Lộc Tồn Tý); Kình Dương không bao giờ an tại Hợi, Đà La không bao giờ an tại Tý. Vậy cách này thật sự chỉ có hai tuổi: Tham Lang cư Tý tuổi Nhâm (Kình Dương đồng cung) và Liêm Tham cư Hợi tuổi Quý (Đà La đồng cung, mà Tham Lang lại hóa Kỵ). Ai có Tham Lang ở Tý Hợi mà không thuộc hai tuổi ấy thì chỉ là đào hoa ở cung Thủy, không phải Phiếm Thủy Đào Hoa đúng nghĩa. Đủ xấu thêm: gặp Thiên Riêu, Mộc Dục, Hồng Loan, Đào Hoa đồng cung. Giải: Tuần Triệt án ngữ, Không Kiếp đồng cung, hoặc Hóa Lộc (tuổi Mậu) đưa dục vọng về đường làm ăn; sinh ban ngày hay đêm sách không nói với sao này.
Phong Lưu Thải Trượng (Tham Lang gặp Đà La tại Dần)
Kinh văn Thành cách (cách xấu): phú viết "Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu vi phong lưu thải trượng", Tham Lang độc tọa ở Dần gặp Đà La đồng cung là "cây gậy hoa phong lưu", người ưa chơi bời, tình duyên lắm mối, hay bị tai tiếng vì tình. Đà La an tại Dần chỉ với tuổi Ất (Lộc Tồn Mão), nên cách này là cách của người tuổi Ất có Tham Lang cư Dần. Giải: Tham Lang ở Dần đắc địa theo Tân Biên, lại có Liêm Trinh xung chiếu từ Thân, nên nếu có Lộc Tồn ở Mão kề bên (đương nhiên với tuổi Ất) và thêm Tả Hữu, Tuần Triệt thì cái phong lưu thành tài giao tế, hợp nghề giải trí, tiếp thị. Suy luận Thầy xếp cách này nhẹ hơn Phiếm Thủy Đào Hoa một bậc, vì Dần là Mộc địa, Tham Lang ở đó có gốc, còn Hợi Tý là Thủy địa, đào hoa không có chỗ bám.
Tham Lang gặp Không Kiếp, Tuần Triệt (dục vọng đổi hướng)
Kinh văn Sách nói Tử Vi ở Mão Dậu phần nhiều là người thoát tục, và Tham Lang gặp sát tinh đồng cung thì "nữ thâu hương nhi nam thử thiết", tức nam nữ đều vụng trộm; nhưng với Địa Không, Địa Kiếp và Tuần, Triệt thì lối đọc khác hẳn. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Tham Lang gặp Không Kiếp đồng cung hoặc Tuần Triệt án ngữ là ngọn lửa ham muốn bị rút mất đối tượng: người ấy vẫn ham nhưng không ham tiền, không ham sắc, mà ham cái vô hình như đạo, nghệ thuật, huyền học, chữa lành. Thầy gọi đây là Tham Lang đổi tính thành tu hành, gặp nhiều nhất ở Tử Tham Mão Dậu và ở Tham Lang độc tọa Thìn Tuất có Tuần Triệt. Điều kiện đủ để thành người tu thật: Không Kiếp hoặc Tuần Triệt phải đóng ngay cung Mệnh hoặc cung Phúc Đức có Tham Lang, kèm Thiên Lương hay Thiên Cơ ở cung Phúc, và không có Hóa Lộc tại Mệnh kéo ngược về đường tiền. Không thành: Không Kiếp chỉ chiếu từ tam hợp thì mới là "hay thất bại trong thú vui", chưa đủ để đổi tính; và Tham Lang miếu ở tứ Mộ gặp Không Kiếp đồng cung mà lại có Hỏa Linh thì thành phát rồi tan chứ không thành tu. Vì vậy thấy Tham Lang với Không Kiếp thì hỏi khách trước: ông bà có thích chùa chiền, thiền, xem tướng số không, rồi hãy luận tiếp.
Tham Lang hóa Kỵ (tuổi Quý)
Kinh văn Thành thế: người tuổi Quý có Tham Lang thủ Mệnh hoặc thủ Thân, Tham Lang hóa Kỵ; Phá Quân hóa Lộc cùng tuổi luôn ở tam hợp chiếu về (mục 2), Cự Môn hóa Quyền luôn ở cung liền sau. Đây không phải cách có tên trong sách mà là một thế Tứ Hóa cố định của Tham Lang, đáng để tách riêng vì gặp rất nhiều. Ý nghĩa: cái muốn thì bị chặn, cái phá thì được lộc; đời hay đổi nghề, đổi chỗ, đổi mối, và lần đổi nào cũng được hơn lần trước. Nhẹ: Tham Lang ở tứ Mộ (Kỵ chỉ làm phát chậm), có Vũ Khúc đồng cung (Sửu Mùi) hoặc Tử Vi đồng cung (Mão Dậu) đỡ, có Lộc Tồn ở Tý chiếu hoặc kề. Nặng: Tham Lang ở Hợi (thêm Đà La đồng cung thành Phiếm Thủy Đào Hoa hóa Kỵ), ở Sửu (thêm Kình Dương đồng cung), hoặc gặp Thiên Riêu, Hỏa Linh ở cung hãm: khi ấy dục vọng bị chặn mà bốc, dễ làm liều vì tình hay vì tiền. Kinh nghiệm Với tuổi Quý Tham Lang Kỵ, Thầy luôn khuyên: đừng đầu cơ, đừng đánh bạc, và đừng giữ mối quan hệ đã hết duyên; Lộc của họ nằm ở chỗ dám buông.
Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh (thọ khảo Bành Tổ)
Kinh văn Thành cách: phú viết "Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh, thọ khảo vĩnh như Bành Tổ": Tham Lang đóng cùng sao Trường Sinh của vòng Tràng Sinh, có cát tinh (Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, Lộc Tồn) đi cùng, là cách sống thọ. Trường Sinh chỉ an tại bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi tùy cục, nên cách này chỉ xảy ra khi Tham Lang độc tọa Dần Thân hoặc Liêm Tham Tỵ Hợi. Phá cách: Tham Lang ấy gặp Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp đồng cung, hay hóa Kỵ tuổi Quý, thì sức sống dồi dào lại thành tiêu hao sức vì thú vui. Suy luận Sở dĩ sao dục vọng lại chủ thọ là vì Tham Lang thuộc Thủy kiêm Mộc, là sức sống nguyên thủy; được Trường Sinh nuôi và cát tinh giữ thì sức sống ấy thành tuổi thọ, không được giữ thì thành tiêu hao. Người có cách này nên chú ý nhất ở tuổi trung niên, là lúc thú vui dễ lấn át.
Cách hay cũng có mặt cần dè chừng
Hỏa Tham Linh Tham phát nhanh thì cũng tan nhanh nếu không có Lộc Tồn, Vũ Khúc giữ, nhất là khi Không Kiếp chiếu về; sách gọi thế ấy là hoạnh phát hoạnh phá. Vũ Tham phát muộn, người có cách này mà nóng ruột lao vào cuộc chơi lớn trước ba mươi tuổi thường mất vốn. Tử Tham và Liêm Tham dù có Lộc vẫn giữ nguyên phần đào hoa, chỉ là đào hoa có tiền. Ngược lại, Tham Lang hãm địa nếu gặp Tuần, Triệt, Không Kiếp lại được đỡ xấu phần nào, vì cái ham muốn vốn trôi nổi nay bị rút bớt đối tượng. Bởi vậy luận Tham Lang phải xét cả lò (miếu hãm), củi (Tứ Hóa), gió (Hỏa Linh) lẫn nắp (Không Kiếp Tuần Triệt), không thể vội mừng hay vội lo.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Tham Lang tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào dàn sao vây quanh. Cùng một ngọn lửa ham muốn, gặp sao tốt thì cháy thành tài lộc, gặp sao xấu thì cháy thành sa đọa.
Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Tham Lang mừng được gặp và những sao Tham Lang e ngại.
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tham Lang là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Tham Lang, quy tắc này quan trọng gấp đôi: Hỏa Tinh đồng cung mới là Hỏa Tham, Hỏa Tinh tam hợp chiếu chỉ là thêm chút nóng; Đà La đồng cung mới là phong lưu hãm địa, Đà La chiếu chỉ là chậm chạp trong tình cảm. Sao đào hoa với Tham Lang cũng vậy: đồng cung là "phạm", chiếu là "vướng".
Tham Lang rất thích gặp
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, và Tham Lang phải ở tứ Mộ): thành Hỏa Tham, Linh Tham, phát đột ngột. Chiếu từ tam hợp chỉ thêm sức nóng, không thành cách.
- Vũ Khúc (đồng cung tại Sửu Mùi mạnh nhất, xung chiếu tại Thìn Tuất kế đó): thành Vũ Tham, biết làm giàu, phát muộn mà bền; tuổi Kỷ Vũ Khúc hóa Lộc thì càng đẹp.
- Lộc Tồn, Hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp chiếu vẫn tốt): vừa kiếm vừa giữ, đưa dục vọng về đường tài. Hóa Lộc tuổi Mậu ngay trên Tham Lang là đẹp nhất.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp): thêm người phò tá, làm dịu phần ham vui; tuổi Mậu Hữu Bật hóa Khoa là cái Khoa mà Tham Lang không tự có.
- Tử Vi (xung chiếu tại Tý Ngọ tốt hơn đồng cung tại Mão Dậu): vua đứng đối diện thì kiềm được sói, vua ngồi cùng cung thì bị sói dẫn.
- Tuần, Triệt, Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung, chỉ khi Tham Lang hãm địa): rút bớt đối tượng của dục vọng, đổi tính thành tu hành, nghệ thuật. Đây là sát tinh duy nhất mà Tham Lang hãm "thích".
Tham Lang e ngại khi gặp
- Đà La (đồng cung nặng nhất): phong lưu hãm địa, tại Dần là Phong Lưu Thải Trượng, tại Hợi là Phiếm Thủy Đào Hoa. Đà La chiếu chỉ là tình cảm dây dưa.
- Kình Dương (đồng cung): tại Tý thành Phiếm Thủy Đào Hoa, ở cung khác là tranh chấp vì ghen, vì chia chác; tuổi Quý gặp thêm Tham Lang Kỵ tại Sửu là nặng.
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): Tham Lang tự hóa Kỵ tuổi Quý là ham muốn bị chặn; Liêm Kỵ tuổi Bính hay Vũ Kỵ tuổi Nhâm bay tới là thị phi tình cảm hay tiền bị kẹt.
- Thiên Riêu, Mộc Dục, Hồng Loan, Đào Hoa (đồng cung, khi Tham Lang hãm): đào hoa chồng đào hoa, dễ buông thả; chiếu từ tam hợp chỉ là có duyên.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung, trong thế Tham Lang hãm): sách gọi "chính sự điên đảo", ham vui bỏ việc; tuổi Kỷ Văn Khúc hóa Kỵ đồng cung càng rõ.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh khi Tham Lang hãm (đồng cung): không thành Hỏa Tham mà thành lửa cháy lan, được nhanh mất nhanh, nóng nảy vì tình; cùng một sao mà miếu hãm khác nhau cho hai kết quả trái ngược.
Nguyên tắc xuyên suốt rất đơn giản: Tham Lang cần được hướng năng lượng đúng chỗ. Lòng ham muốn dồn vào sự nghiệp, làm ăn, sáng tạo thì thành đại phú đại quý. Cũng lòng ham muốn ấy buông trôi vào tửu sắc, cờ bạc, chơi bời thì thành đại họa. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi: ngọn lửa Tham Lang này đang được dẫn về phía nào.
10 Tham Lang Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Tham Lang "tĩnh": nó nằm ở đâu, sáng hay tối, hóa gì. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Đây là chỗ Tham Lang "động", và với sao này thì phần động còn quan trọng hơn phần tĩnh, vì Tham Lang là sao của đột biến: người có Hỏa Tham cả đời chỉ phát thật sự trong vài năm, ai biết trước năm nào thì gặt được, ai không biết thì để vuột.
Đại vận đi vào cung có Tham Lang
Kinh văn Đại vận đến cung Tham Lang miếu vượng là mười năm mở rộng: quan hệ rộng ra, cơ hội làm ăn đến dồn dập, có tiền từ nguồn bất ngờ, đời sống vui vẻ nhiều tiệc tùng; nếu cung ấy có Hỏa Linh thì đây chính là đại vận hoạnh phát mà sách nói, và nếu có Lộc theo tuổi thì thường là đại vận đỉnh của đời. Đại vận đến cung Tham Lang hãm là mười năm ham vui: tiền vào tiền ra, tình cảm nhiều biến động, dễ đổi nghề đổi chỗ vì hứng, cần giữ gan thận và giữ gia đạo. Kinh nghiệm Người có Mệnh vốn là Cơ Nguyệt Đồng Lương an phận mà đại vận đi tới Tham Lang miếu thì mười năm ấy như đổi người: dám làm, dám chơi, dám đầu tư, và thường phát thật; Thầy gặp nhiều ca công chức mấy chục năm, sang đại vận Vũ Tham thì bỏ việc ra làm ăn và khá lên. Ngược lại Mệnh Tham Lang miếu mà đại vận rơi vào Tử Tham Mão Dậu hay Liêm Tham Tỵ Hợi là giai đoạn dễ sa vào tình cảm ngoài luồng nhất, nên lui về giữ gia đình. Một điều nữa: vì Sát Phá Tham luôn thành tam giác (mục 2), nên đại vận nào chạm Tham Lang thì hai đại vận cách nó bốn cung cũng chạm Thất Sát và Phá Quân; ba đại vận ấy hợp thành một chu kỳ "phá, lập, hưởng" mà người có Sát Phá Tham nào cũng đi qua.
Lưu niên: năm nào ngọn lửa đổi củi
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế mỗi mười năm, Tham Lang trong lá số của mọi người lần lượt được thêm củi (Lộc), được quạt (Quyền) rồi bị đậy nắp (Kỵ):
| Can năm | Tham Lang lưu hóa | Các năm gần đây và sắp tới | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Mậu | Lưu Lộc | 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ | Năm quan hệ sinh tiền, có lộc bất ngờ, hợp mở rộng làm ăn, cưới hỏi; cung nào có Tham Lang thì lĩnh vực ấy có lộc trong năm. Cùng năm Thái Âm lưu Quyền ở cung kề trước, mẹ hoặc vợ được việc. |
| Kỷ | Lưu Quyền | 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi | Năm được giao quyền, mở doanh nghiệp, cầm trịch một việc lớn; cùng năm Vũ Khúc lưu Lộc, nên Vũ Tham và Tham Lang Thìn Tuất được cả Lộc lẫn Quyền. Tham Lang hãm thì là năm lấn lướt, dễ tranh chấp vì ghen. |
| Quý | Lưu Kỵ | 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi | Năm ham muốn bị chặn: cầu tài lỡ nhịp, tình cảm rối, tránh đầu cơ và cờ bạc, giữ gan thận. Cùng năm Phá Quân lưu Lộc chiếu về, nên năm này hợp dứt bỏ cái cũ hơn là cố giữ. |
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Tham Lang bản mệnh nằm ở cung nào, rồi hỏi năm nay Tham Lang lưu hóa gì. Tham Lang bản mệnh hóa Kỵ (tuổi Quý) mà gặp năm Quý lưu Kỵ nữa là Kỵ chồng Kỵ, năm ấy tuyệt đối không mở mối tình mới và không vay để đầu tư. Tham Lang bản mệnh hóa Lộc (tuổi Mậu) gặp năm Mậu lưu Lộc là Lộc chồng Lộc, thường là năm làm ăn phát rõ, và nếu cung ấy có Hỏa Linh thì đây là năm hoạnh phát đúng nghĩa. Với người có Hỏa Tham Linh Tham, Thầy dặn ghi sẵn ba loại năm: năm can Mậu, can Kỷ, và năm lưu niên đi đúng vào cung có Hỏa Tham; năm nào trùng hai trong ba là năm phải dồn sức. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các sao lưu chạm vào cung Tham Lang
- Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Tham Lang: năm có việc dính tới giao đãi, tiệc tùng, quan hệ mới; sáng thì mở rộng được mối làm ăn, hãm thì dính thị phi vì rượu hay vì tình.
- Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Tham Lang: lưu Đà La chạm Tham Lang ở Hợi Tý, Dần là năm tái hiện thế Phiếm Thủy Đào Hoa hoặc Phong Lưu Thải Trượng trong một năm, cần giữ mình trong tình cảm; lưu Kình Dương chạm Tham Lang là năm tranh chấp vì ghen, vì chia chác, hoặc phẫu thuật gan thận nếu ở Tật Ách.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Tham Lang hãm, nhất là ở Tật Ách hay Phúc Đức: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách bỏ rượu trong năm, vì Tham Lang là bệnh do thú vui và Tang Hổ là năm bệnh phát; không kết luận nặng nhẹ nhưng phải đi khám gan.
- Kinh văn Lưu Xương Khúc đến cung Tham Lang: sáng thì năm học thêm nghề, thi lấy chứng chỉ có lợi cho làm ăn; hãm thì là năm "chính sự điên đảo" tái hiện, ham chuyện phụ bỏ việc chính. Lưu Khôi Việt đến cung Tham Lang sáng: năm có quý nhân giới thiệu mối lớn.
- Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Tham Lang tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm đi xa mà có lộc, hợp mở chi nhánh, xuất ngoại làm ăn; Liêm Tham Tỵ Hợi gặp lưu Mã cần giữ mình nơi đất khách.
- Kinh nghiệm Lưu Hỏa Tinh, lưu Linh Tinh (an theo chi năm và giờ sinh) đến cung Tham Lang miếu: Hỏa Tham Linh Tham "lưu", năm ấy có cơ hội phát nhanh dù bản mệnh không có cách; đây là điểm Thầy hay dùng để tìm năm khởi nghiệp cho khách có Tham Lang ở tứ Mộ.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Tham Lang

Nam mệnh Tham Lang thường năng động, tham vọng, giỏi giao tế và có sức hút với phái nữ. Nếu cách cục đẹp, gặp Hỏa Linh hoặc Vũ Tham, họ là mẫu người làm ăn lớn, dám đầu tư, biết tận hưởng thành quả.
Điều cần giữ là tránh sa đà vào tửu sắc, cờ bạc và đừng tham nhiều thứ cùng lúc, vì lòng ham muốn không kiểm soát dễ làm hao tài và rạn nứt gia đạo.
Nữ mệnh Tham Lang thường có nhan sắc, duyên ngầm, ăn nói khéo léo và rất thu hút. Nếu đắc cách, được Lộc và sao tốt phò trợ thì là người phụ nữ tài hoa, giỏi giao tế, có thể thành công trong kinh doanh, nghệ thuật, ngành đối ngoại. Tuy nhiên nếu hãm địa, nhất là ở Tý, Hợi thành Phiếm thủy đào hoa, hoặc gặp Đà La, sao đào hoa khác, thì tình duyên dễ phức tạp, đa đoan, dễ vướng thị phi tình cảm. Với nữ mệnh Tham Lang, biết tiết chế và chọn người tương xứng, chung thủy quan trọng hơn nhiều so với chạy theo những mối hấp dẫn nhất thời.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tham Lang
Một sao càng có cá tính càng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Tham Lang là sao bị gán nhiều nhất, vì chỉ cái tên đã gợi "tham" và "dâm". Mục này nói rõ Tham Lang không chủ về gì, để người đọc khỏi mừng hụt hay lo oan.
Tham Lang không đồng nghĩa với dâm đãng
Kinh văn Sách gọi Tham Lang là đào hoa tinh, chủ dục vọng, và chỉ nói tới dâm khi có điều kiện kèm theo: hãm địa ở Hợi Tý gặp Kình Đà (Phiếm Thủy Đào Hoa), gặp Đà La ở Dần (Phong Lưu Thải Trượng), đồng cung Tử Vi ở Mão Dậu gặp đào hoa (Đào hoa phạm chủ), đồng cung Liêm Trinh gặp sát. Không có chỗ nào sách nói Tham Lang thủ Mệnh là dâm. Dục vọng trong sách bao gồm cả ham tiền, ham danh, ham hưởng thụ, ham cái mới; tình dục chỉ là một phần. Kinh nghiệm Trên lá số thật, phần lớn Tham Lang ở tứ Mộ là người làm ăn đứng đắn, thậm chí khá kỷ luật với bản thân, chỉ là họ thích sống vui và thích có nhiều bạn. Đọc "Tham Lang" ra "dâm" là lỗi phổ biến nhất khi người ta xem lá số cho vợ chồng, con cái, và nó đã phá hỏng không ít gia đình vì nghi ngờ oan.
Có Hỏa Tinh không tự động thành Hỏa Tham
Kinh văn Phú nói rõ điều kiện: "Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng", tức Tham Lang phải ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và Hỏa Tinh phải đồng cung. Tham Lang hãm gặp Hỏa Tinh sách không gọi là cách, và Hỏa Tinh chiếu từ tam hợp cũng không phải cách. Kinh nghiệm Trong số lá được đưa tới Thầy với lời "con có Hỏa Tham", quá nửa là Tham Lang ở Tỵ Hợi Mão Dậu có Hỏa Tinh chiếu; những người ấy nóng nảy, được nhanh mất nhanh, chứ không hoạnh phát. Hỏa Tham thật sự hiếm hơn nhiều so với lời đồn.
Tham Lang trong Tử Vi không phải sao Tham Lang trong phong thủy Bát Trạch, Huyền Không
Kinh văn Trong phong thủy Bát Trạch, Sinh Khí được gọi là Tham Lang, và trong Huyền Không phi tinh sao Nhất Bạch cũng mang tên Tham Lang; đó là tên gọi của cửu tinh Bắc Đẩu dùng để đặt tên phương vị và niên tinh, không liên quan tới chính tinh Tham Lang của Đẩu Số an theo vị trí Thiên Phủ. Người có Tham Lang thủ Mệnh không vì thế mà "hợp hướng Sinh Khí" hay "hợp số một", và nhà có hướng Tham Lang không vì thế mà sinh đào hoa. Hai hệ cùng mượn tên bảy sao Bắc Đẩu (Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân) nhưng nội dung khác hẳn. Muốn xem hướng nhà thì dùng công cụ phong thủy, không phải bài này.
Tham Lang hóa Kỵ không phải là mất tiền
Kinh văn Kỵ của Tham Lang là dục vọng bị chặn, sách nói về cầu không toại, tình cảm vướng, họa do ham muốn; sách không nói Tham Lang Kỵ là phá sản. Tiền bạc trong lá số do Tài Bạch, Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ quyết định nhiều hơn. Kinh nghiệm Tham Lang Kỵ tuổi Quý ở Mệnh mà Tài Bạch có Vũ Khúc hay Lộc Tồn vẫn giàu, họ chỉ hay tiếc nuối và chậm phát; và nhờ Phá Quân hóa Lộc chiếu về, họ thường được lộc khi dám đổi. Ngược lại nhiều người đổ lỗi cho Tham Lang Kỵ khi thật ra lá số họ thua vì Vũ Khúc Kỵ ở Tài. Đọc bệnh ở Tật, đọc tiền ở Tài, đọc từ Mệnh sang chỉ được phép nói khuynh hướng.
Tham Lang gặp Không Kiếp không bắt buộc phải đi tu
Kinh văn Sách chỉ nói Tử Vi ở Mão Dậu "phần nhiều là người thoát tục", tức là khuynh hướng, và chỉ với Tử Tham Mão Dậu. Sách không nói mọi Tham Lang gặp Không Kiếp đều xuất gia, càng không nói người ấy phải bỏ đời. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Tham Lang gặp Không Kiếp Tuần Triệt là người có căn với cái vô hình: học huyền học, làm nghệ thuật, nghiên cứu, chữa lành, làm thiện nguyện, tu tại gia; số người thật sự xuất gia rất ít. Điều Thầy khuyên là đừng ép người ấy chạy theo tiền, vì dục vọng của họ không nằm ở đó; nhưng cũng đừng khuyên họ bỏ hết, vì lá số có thể còn Vũ Khúc, Lộc Tồn ở cung khác nuôi họ. Với sao này, chữ "tu" trước hết là tu tâm, không phải cạo đầu.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Tham Lang Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Tỵ, nên Thiên Phủ ở Hợi và Tham Lang tiến hai cung rơi vào Sửu cùng Vũ Khúc, đúng như quy tắc chuỗi Thiên Phủ ở mục 2. Mệnh an tại Sửu, tuổi Mậu. Chính tinh, Tứ Hóa và Lộc Tồn Kình Đà lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn. Đây là thế Vũ Tham tại Mộ, một trong những thế đẹp nhất của Tham Lang, chọn để quý vị thấy rõ cả ba bước đọc.
Tử Vi tại Tỵ, Mệnh tại Sửu
không phải người thật
Bước một: sáng hay tối
Tham Lang đồng cung Vũ Khúc tại Sửu, miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư, là thế Tham Vũ đồng hành ở cung Mộ. Ngay bước này đã biết người có ngọn lửa ham muốn được nén trong lò và có tướng giữ kho ngồi cạnh: hợp làm ăn lớn, phát muộn mà bền, sách hẹn ngoài ba mươi mới phát. Vì Tham Lang ở đây đi cặp nên cung xung chiếu (Mùi, cung Thiên Di) trống, cả cục diện dồn vào cung Mệnh, và Vũ Khúc là sao quyết định màu sắc của người này: ham muốn có mục tiêu tiền bạc rõ ràng.
Bước hai: hóa gì
Tuổi Mậu nên Tham Lang hóa Lộc ngay tại Mệnh: ngọn lửa được thêm củi, kiếm tiền bằng quan hệ và tài xoay xở, tiền vào dồi dào. Cả bộ Tứ Hóa tuổi Mậu rải ra như sau: Thái Âm hóa Quyền ở Huynh Đệ tại Tý cùng Thiên Đồng (anh chị em, nhất là chị em gái, hoặc cộng sự nữ có thực quyền, và cung này kề ngay Mệnh nên quyền ấy giáp vào mình), Hữu Bật hóa Khoa (phụ tinh, không vẽ trên lưới), Thiên Cơ hóa Kỵ ở Điền Trạch tại Thìn cùng Thiên Lương, mà Điền Trạch lại có Đà La tuổi Mậu an tại Thìn: đây là điểm cần giữ nhất của lá số, nhà đất là chỗ dễ vướng giấy tờ, tranh chấp, mua bán chậm, chớ đứng tên hộ. Lộc Tồn tuổi Mậu an tại Tỵ, rơi vào Quan Lộc cùng Tử Vi Thất Sát và chiếu thẳng về Mệnh: Hóa Lộc tại Mệnh gặp Lộc Tồn tam hợp là thế Lộc hợp Lộc, sự nghiệp là nơi sinh ra và giữ được tiền. Kình Dương tại Ngọ rơi vào Nô Bộc trống, bạn bè cấp dưới là chỗ dễ va chạm nhưng không chạm trực tiếp vào Mệnh.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Tham Lang Sửu có Tử Vi Thất Sát tại Tỵ (cung Quan Lộc) và Liêm Trinh Phá Quân tại Dậu (cung Tài Bạch) hợp chiếu, cung Mùi (Thiên Di) trống nên mượn ngược cung Mệnh. Vậy tam phương của Mệnh là Vũ Tham, Tử Sát, Liêm Phá: đủ bộ Sát Phá Tham có vua đứng ở Quan Lộc và Lộc Tồn đứng cùng vua, tức nghề nghiệp có uy và có lộc; Liêm Phá ở Tài Bạch là tiền đến từ việc phá cũ lập mới, đầu tư, mở mang, và với tuổi Mậu cả Liêm Trinh lẫn Phá Quân đều không hóa nên Tài Bạch ổn định, không có Kỵ. Cung Mệnh bị giáp bởi Đồng Âm có Thái Âm Quyền (Tý) và Nhật Cự (Dần, cung Phụ Mẫu): một bên là mặt trăng có quyền, một bên là mặt trời và cái miệng lớn, tức cha mẹ là người có tiếng nói và hay nói, người này lớn lên trong nhà nhiều ý kiến. Cộng ba bước lại: Vũ Tham miếu hóa Lộc, Lộc Tồn chiếu từ Quan, Sát Phá Tham đủ bộ không Kỵ, chỉ vướng Cơ Kỵ Đà La ở Điền, là lá số của người làm ăn lớn phát sau ba mươi, nên đầu tư vào việc kinh doanh hơn là vào nhà đất.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Kỷ: Vũ Khúc hóa Lộc và Tham Lang hóa Quyền cùng ngồi tại Mệnh, Lộc Quyền đồng cung, tướng giữ kho có lộc và sói có quyền: người này không chỉ giàu mà cầm trịch, hợp làm chủ doanh nghiệp. Thiên Lương hóa Khoa ở Điền Trạch, nhà đất sáng sủa hơn hẳn tuổi Mậu. Nhưng Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ nên Kình Dương rơi vào Mùi, đúng cung Thiên Di trống xung chiếu Mệnh, và Đà La rơi vào Tỵ cùng Tử Sát ở Quan Lộc: ra ngoài dễ va chạm, sự nghiệp có uy nhưng chậm, phải nhẫn.
- Đổi sang tuổi Quý: Tham Lang hóa Kỵ tại Mệnh dù đang miếu, lại thêm Kình Dương tuổi Quý an ngay tại Sửu đồng cung: ngọn lửa bị đậy nắp và có dao kề, người này ham muốn mà hay lỡ, dễ tranh chấp vì chia chác, và Vũ Tham coi như phá cách, phát rất muộn. Bù lại Phá Quân hóa Lộc ở Tài Bạch chiếu về và Lộc Tồn ở Tý kề bên Mệnh: tiền vẫn có khi dám đổi, nên khuyên người này làm nghề đổi mới, tái cấu trúc hơn là giữ nghề cũ. Đà La rơi vào Hợi cùng Thiên Phủ ở Phu Thê, hôn nhân chậm và dây dưa.
- Đổi sang tuổi Nhâm: Tham Lang không hóa, nhưng Vũ Khúc đồng cung hóa Kỵ: tướng giữ kho bị khóa, tiền có mà không xoay được, tránh vay để đầu tư. Tử Vi hóa Quyền ở Quan Lộc chiếu về, Thiên Lương hóa Lộc ở Điền Trạch, Lộc Tồn an tại Hợi cùng Thiên Phủ ở Phu Thê: người này uy tín nghề nghiệp tốt, nhà đất có lộc, bạn đời giữ tiền giỏi hơn mình, nên để vợ hoặc chồng quản quỹ.
Đó là lý do bài này nói "không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao". Cùng một Vũ Tham cư Sửu mà bốn tuổi can cho bốn con người khác nhau. Muốn thấy Tham Lang của chính mình đứng ở đâu và hóa gì, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Tham Lang trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu hãm và Tứ Hóa của riêng quý vị.
14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Tham Lang là sao có sức sống và năng lượng rất mạnh, nên việc cần làm không phải là sợ hãi hay trấn yểm, mà là biết hướng lòng ham muốn vào đúng chỗ và tiết chế những phần dễ sa đà.
Dưới đây là vài điều người có Tham Lang nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.
- Hướng ham muốn vào sự nghiệp. Dồn năng lượng dồi dào của mình vào học hỏi, làm ăn, sáng tạo. Khi lửa Tham Lang có chỗ cháy lành, nó trở thành động cơ làm nên đại nghiệp.
- Tiết chế tửu sắc và chi tiêu. Đây là điểm yếu cố hữu của Tham Lang. Biết dừng đúng lúc trong ăn chơi, cờ bạc, tình cảm sẽ giữ được cả tiền của lẫn gia đạo.
- Giữ lòng chung thủy và sự thật thà. Nhất là khi đào hoa mạnh hoặc ở cách Phiếm thủy đào hoa, cần giữ mình trong chuyện tình cảm để tránh thị phi và đổ vỡ.
- Tập kiên định, đừng tham nhiều thứ. Người Tham Lang dễ ôm đồm, làm nhiều mà không sâu. Chọn một vài mục tiêu trọng yếu và theo đến cùng sẽ thành công hơn.
- Xem kỹ cả lá số trước khi luận. Tham Lang đắc hay hãm, có Hỏa Linh hay Đà La, kết quả khác nhau một trời một vực. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.
Về phong thủy bổ trợ: người có Tham Lang nổi bật vốn năng lượng mạnh, hợp lối sống điều độ, không gian gọn gàng và những thú vui lành mạnh như nghệ thuật, thể thao để giải tỏa. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần III Đặc Tính Các Sao, mục Tham Lang: đào hoa tinh kiêm hung tinh thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Thủy kiêm Mộc, chủ họa phúc, dục vọng, uy quyền; miếu tại Sửu, Mùi; vượng tại Thìn, Tuất; đắc tại Dần, Thân; hãm tại Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Khi đắc cách thì uy quyền tài lộc, đa tài đa nghệ, giỏi giao tế; khi hãm thì đa dục, hay nhầm lẫn, dễ sa tửu sắc. Phần Tứ Hóa và các cách Vũ Tham, Hỏa Tham, Linh Tham, Phiếm Thủy Đào Hoa lấy từ phần cách cục của cùng sách.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Sao Tham Lang: miếu tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; vượng tại Tý, Ngọ; hãm tại Tỵ, Hợi, Mão, Dậu; các cung Dần, Thân Toàn Thư không liệt kê rõ. Các câu phú "Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng, danh trấn chư bang", "Tham Vũ đồng hành, uy trấn biên di", "Tham Vũ mộ trung cư, tam thập tài phát phúc", "Đào hoa phạm chủ vi chí dâm", "Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục tăng nhân", "Tham Lang Liêm Trinh đồng cung, nam lãng đãng nữ đa dâm", "Tham Lang Hợi Tý ngộ Dương Đà, danh vi Phiếm Thủy Đào Hoa", "Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu vi phong lưu thải trượng", "Tham Lang gia sát đồng hương, nữ thâu hương nhi nam thử thiết", "Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh, thọ khảo vĩnh như Bành Tổ" và nhận xét Tham Lang gặp Xương Khúc chính sự điên đảo dẫn theo bản dịch này.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp) và bốn điều bất biến được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số; bảng Tứ Hóa ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái) và đối chiếu Bắc phái; vị trí Kình Dương, Đà La theo từng tuổi can nêu ở mục 5 và mục 8 (Kình Dương không bao giờ an tại Hợi, Đà La không bao giờ an tại Tý) kiểm bằng cách an Lộc Tồn của cùng thuật toán. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: hai bộ sách trên xếp miếu vượng của Tham Lang khác nhau rõ ở hai cung Tý và Ngọ (Tân Biên cho là hãm, Toàn Thư xếp vượng), và Toàn Thư không liệt kê riêng cung Dần, Thân. Ngũ hành Tham Lang cũng có sách ghi Thủy, có sách ghi Thủy kiêm Mộc. Về Tứ Hóa, Tham Lang hóa Lộc tuổi Mậu, hóa Quyền tuổi Kỷ, hóa Kỵ tuổi Quý là chỗ Nam phái và Bắc phái thống nhất, không có dị bản; các tuổi Canh, Nhâm hai phái khác nhau ở sao khác chứ không ở Tham Lang. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tham Lang
Tham Lang là đào hoa tinh kiêm hung tinh trong Tử Vi Đẩu Số, thuộc chòm Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Thủy kiêm Mộc. Sao này chủ họa phúc, dục vọng và uy quyền. Người có Tham Lang thường đa tài đa nghệ, đa dục, ưa giao tế và có sức hút, khi đắc cách thì uy quyền tài lộc, khi hãm thì dễ sa đà tửu sắc.
Tham Lang là chính đào hoa của Đẩu Số, chủ về ham muốn nói chung gồm tình cảm, tửu sắc, danh lợi và hưởng thụ. Vì là sao của ham muốn và giao tế nên người có Tham Lang giỏi quan hệ, có duyên, dễ thành công ở các nghề cần đối ngoại, nhưng cũng dễ buông thả nếu không tiết chế.
Khi Tham Lang gặp Hỏa Tinh thành cách Hỏa Tham, gặp Linh Tinh thành cách Linh Tham. Đây là hai cách quý nổi tiếng, chủ phát đột ngột, có thể đại phú đại quý trong thời gian ngắn, đặc biệt đẹp khi Tham Lang đóng ở tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Phiếm thủy đào hoa chỉ trường hợp Tham Lang đóng tại Tý hoặc Hợi, là Thủy địa, khiến tính đào hoa trôi nổi, dễ sa đà vào tình cảm và tửu sắc. Người có cách này hấp dẫn người khác phái nhưng cần tu dưỡng để tránh phiền lụy, nhất là khi gặp thêm Đà La hay sao đào hoa khác.
Vì là sao của ham muốn và giao tế nên Tham Lang hợp các nghề cần quan hệ và sức hút như kinh doanh, ngoại giao, giải trí, nghệ thuật, truyền thông, môi giới, dịch vụ và ngành cần đối ngoại. Khi đắc cách Hỏa Tham hoặc Vũ Tham thì rất hợp làm ăn lớn, đầu tư mạo hiểm.
Theo bảng Tứ Hóa mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng, và cả Nam phái lẫn Bắc phái đều thống nhất: tuổi Mậu Tham Lang hóa Lộc, tuổi Kỷ hóa Quyền, tuổi Quý hóa Kỵ. Tham Lang không hóa Khoa với tuổi nào. Các tuổi còn lại Tham Lang không hóa, giữ tính chất gốc theo miếu hãm và chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân chiếu về.
Do cách an sao, Tham Lang luôn có Thất Sát và Phá Quân ở hai cung tam hợp, cung xung chiếu là Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc hoặc trống, và luôn có Thái Âm ở cung liền trước, Cự Môn ở cung liền sau. Tham Lang không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Tướng hay Thiên Lương chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu.
Không. Phú ghi rõ Tham Lang Hỏa Tinh phải cư miếu vượng, tức Tham Lang ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung, mới thành Hỏa Tham, Linh Tham phát đột ngột. Tham Lang hãm địa ở Tý, Hợi, Mão, Dậu, Tỵ, Ngọ gặp Hỏa Linh không phải cách, thường là nóng nảy, được nhanh mất nhanh. Hỏa Linh chỉ chiếu từ tam hợp cũng không thành cách.
Năm có can Quý thì Tham Lang lưu hóa Kỵ, gần đây là 2023 Quý Mão, sắp tới là 2033 Quý Sửu. Năm ấy ham muốn dễ bị chặn, nên tránh đầu cơ, cờ bạc, không mở mối tình mới và giữ gan thận; người tuổi Quý có Tham Lang bản mệnh đã hóa Kỵ thì là Kỵ chồng Kỵ, càng phải giữ. Ngược lại năm can Mậu Tham Lang lưu hóa Lộc (2028 Mậu Thân), năm can Kỷ lưu hóa Quyền (2029 Kỷ Dậu), là những năm thuận cho làm ăn và mở rộng quan hệ.