1 Sao Phượng Các là gì

Phượng Các là sao chủ khoa giáp và vẻ đẹp, ngũ hành Mộc đới Thổ, đi cặp với Long Trì. Bộ Long Phượng là một trong những bộ cát tinh đẹp của lá số, biểu trưng cho sự đỗ đạt, sang trọng và may mắn.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Phượng Các an theo địa chi năm sinh, và đếm nghịch. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung Tuất rồi đếm ngược chiều kim đồng hồ đi số bước bằng thứ tự chi năm sinh, tính Tý là không bước, Sửu một bước, Dần hai bước, cứ thế. Người tuổi Tý thì Phượng Các đứng nguyên ở Tuất, tuổi Sửu lùi xuống Dậu, tuổi Dần xuống Thân, tuổi Mão xuống Mùi. Vì tham số chỉ là chi năm sinh nên vị trí Phượng Các cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi con giáp thì Phượng Các luôn đóng cùng một cung địa chi.
Kinh văn Long Trì đi cặp với Phượng Các nhưng đếm thuận: khởi từ cung mang tên chi năm sinh đếm xuôi thêm bốn cung. Một sao thuận, một sao nghịch, đó là ý nghĩa thật của câu Long Trì thuận, Phượng Các nghịch. Còn Giải Thần thì trên thuật toán đang chạy của trang dùng đúng công thức của Phượng Các, nên nó luôn ngồi chung cung với Phượng Các, không sót tuổi nào.
| Tuổi chi | Long Trì | Phượng Các | Giải Thần |
|---|---|---|---|
| Tý | Thìn | Tuất | Tuất |
| Sửu | Tỵ | Dậu | Dậu |
| Dần | Ngọ | Thân | Thân |
| Mão | Mùi | Mùi | Mùi |
| Thìn | Thân | Ngọ | Ngọ |
| Tỵ | Dậu | Tỵ | Tỵ |
| Ngọ | Tuất | Thìn | Thìn |
| Mùi | Hợi | Mão | Mão |
| Thân | Tý | Dần | Dần |
| Dậu | Sửu | Sửu | Sửu |
| Tuất | Dần | Tý | Tý |
| Hợi | Mão | Hợi | Hợi |
Bảy điều bất biến của Phượng Các, đã chạy đủ mười hai chi bằng máy
- Phượng Các đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai chi thì Phượng Các lần lượt rơi vào Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, Hợi. Mười hai tuổi cho mười hai cung khác nhau, phủ kín địa bàn, nên mọi lá số đều có Phượng Các. Đây là điều phải nhớ trước tiên trước khi mừng vì có cát tinh chủ dung mạo.
- Phượng Các luôn đồng cung với Giải Thần. Đây là quan hệ chặt nhất của sao này. Hai sao dùng chung đúng một công thức trên thuật toán đang chạy của trang, nên máy cho kết quả trùng khít mười hai trên mười hai tuổi. Hệ quả rất lớn khi luận: không có cung Phượng Các nào mà không mang thêm khí giải trừ tai ách, và ngược lại không có cung Giải Thần nào mà không mang thêm khí khoa giáp dung mạo. Hai lớp nghĩa này rất khác nhau, người luận phải tách ra chứ đừng trộn làm một.
- Phượng Các luôn tam hợp chiếu Thiên Khốc. Cách bốn cung, đúng mười hai trên mười hai tuổi. Thiên Khốc chủ tiếng khóc, sự buồn thương, lời than. Cấu trúc đã gài sẵn một sao buồn vào tam giác của một sao đẹp, và đây là điều đáng suy ngẫm nhất về Phượng Các: cái đẹp trong khoa Tử Vi không bao giờ đứng một mình trong một tam giác toàn vui.
- Phượng Các luôn có Thiên Hỷ ở cung liền kề. Cách đúng một cung, mười hai trên mười hai tuổi. Thiên Hỷ chủ vui mừng, sinh nở. Nhưng kề không phải là hội chiếu, nên hai sao chỉ giáp nhau chứ không bao giờ cộng lực được. Đây là một thế trêu ngươi rất đặc trưng của cấu trúc: sao vui đứng ngay bên cạnh mà không bước sang được.
- Phượng Các có hai điểm bất động là Tỵ và Hợi. Người tuổi Tỵ thì Phượng Các đóng ngay tại Tỵ, người tuổi Hợi thì đóng ngay tại Hợi, tức trùng cung mang tên tuổi mình và trùng luôn cung Thái Tuế. Đây là hai tuổi duy nhất mà Phượng Các đồng cung Thái Tuế. Long Trì thì không có điểm bất động nào vì nó luôn lệch bốn cung.
- Phượng Các vĩnh viễn không hội chiếu với mười sao sau đây. Sáu sao ở vị trí lẻ của vòng Thái Tuế là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù, cùng bốn sao luôn an trùng cung với chúng là Thiên Không trùng Thiếu Dương, Nguyệt Đức trùng Tử Phù, Thiên Đức trùng Phúc Đức, Quán Sách trùng Trực Phù. Lý do thuần túy số học: khoảng cách giữa Phượng Các và mười sao ấy luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Ngoài ra Phượng Các cũng không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ và Đào Hoa, cũng vì lý do ấy.
- Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Phượng Các. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Phượng Các thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại bất cứ cung nào, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Phượng Các vì vậy phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng.
Khoảng cách giữa Phượng Các và Long Trì không cố định
Suy luận Nhiều bài viết nói bộ Long Phượng như thể hai sao luôn đi liền nhau. Cấu trúc không cho phép nói vậy. Long Trì đếm thuận, Phượng Các đếm nghịch, nên khoảng cách giữa hai sao thay đổi theo từng tuổi. Đem hai công thức cộng lại thì ra một tổng cố định, nghĩa là hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Trục ấy là bản lề của cả bộ Long Phượng.
| Tuổi chi | Phượng Các và Giải Thần tại | Long Trì tại | Quan hệ thật giữa hai sao |
|---|---|---|---|
| Tý | Tuất | Thìn | Xung chiếu, hai sao đứng hai đầu một trục |
| Sửu | Dậu | Tỵ | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ |
| Dần | Thân | Ngọ | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa |
| Mão | Mùi | Mùi | Đồng cung, và vì Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có cả Quan Phù |
| Thìn | Ngọ | Thân | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa |
| Tỵ | Tỵ | Dậu | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ |
| Ngọ | Thìn | Tuất | Xung chiếu, hai sao đứng hai đầu một trục |
| Mùi | Mão | Hợi | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ |
| Thân | Dần | Tý | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa |
| Dậu | Sửu | Sửu | Đồng cung, và vì Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có cả Quan Phù |
| Tuất | Tý | Dần | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa |
| Hợi | Hợi | Mão | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ |
Suy luận Bảng cho bốn nhóm rành mạch. Đồng cung ở đúng hai tuổi là Mão cùng tại Mùi và Dậu cùng tại Sửu, tức đúng hai cung nằm trên trục đối xứng; hai tuổi ấy thì một cung chứa cùng lúc Phượng Các, Giải Thần, Long Trì và Quan Phù. Xung chiếu ở đúng hai tuổi Tý và Ngọ, trên trục Thìn Tuất. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Không hội chiếu được ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì lúc ấy hai sao cách nhau đúng hai cung, chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.
Kinh nghiệm Thầy nhấn mạnh con số: tám tuổi hội đủ bộ Long Phượng, bốn tuổi không. Người sinh năm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì trên lá số của mình hai sao đứng cách nhau hai cung và không nhìn thấy nhau; với những lá số ấy câu nói bộ Long Phượng đẹp không dùng được, phải luận từng sao một tại từng cung. Đây là chỗ mà rất nhiều bản luận viết sai vì chép theo trí nhớ chứ không chạy số.
Một hệ quả nhỏ mà tiện: âm dương của ba sao
Suy luận Vì Phượng Các bằng Tuất trừ chi và Long Trì bằng chi cộng bốn, cả hai phép đều giữ nguyên tính chẵn lẻ của chi năm sinh, nên Phượng Các, Giải Thần và Long Trì luôn đóng ở cung cùng âm dương với chi năm sinh. Người tuổi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì cả ba sao nằm trong sáu cung dương; người tuổi Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì cả ba nằm trong sáu cung âm. Đây là mẹo kiểm nhanh: an tay mà thấy Phượng Các rơi vào cung khác âm dương với tuổi mình thì chắc chắn đếm nhầm.
3 Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Phượng Các an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Long Trì, hợp thành bộ khoa giáp Long Phượng.
Vì là phụ tinh, Phượng Các làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
4 Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Phượng Các cùng Long Trì chủ sự thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ; liên quan cưới hỏi, sinh nở; đem nhiều may mắn, làm công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi.
Phượng Các gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu kết thành bộ hiền thần phò Tử Phủ. Gặp Phi Liêm thì đem may mắn vui mừng nhanh chóng. Phượng Các cũng góp vào bộ Tứ Linh khi đi cùng Hổ, Long Trì, Hoa Cái.
5 Quan Hệ Cố Định Của Phượng Các Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm Sinh
Suy luận Phượng Các không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm; Phượng Các không có tên trong bốn danh sách ấy. Nhưng nó dùng chung tham số với vòng Thái Tuế, nên quan hệ giữa nó với mười hai sao của vòng ấy tính được chắc chắn cho cả mười hai tuổi. Kết quả máy trả về chia đôi rất gọn, và cách chia ấy là điểm đặc sắc nhất của sao này.
Kinh văn Vòng Thái Tuế là vòng mười hai sao an theo chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vòng này luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ.
| Tuổi chi | Thái Tuế | Thiếu Dương | Tang Môn | Thiếu Âm | Quan Phù | Tử Phù | Tuế Phá | Long Đức | Bạch Hổ | Phúc Đức | Điếu Khách | Trực Phù |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
| Sửu | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Dần | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Mão | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Thìn | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Tỵ | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngọ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mùi | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Thân | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Dậu | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Tuất | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Hợi | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
Nửa vòng Thái Tuế vĩnh viễn ngoài tầm với của Phượng Các
Suy luận Đây là kết luận riêng của bài này, và nó rất sạch. Phượng Các đếm nghịch từ Tuất, còn vòng Thái Tuế đếm thuận từ cung chi năm sinh, nên khoảng cách giữa Phượng Các và sao thứ n của vòng luôn mang cùng tính chẵn lẻ với n. Sáu sao đứng ở vị trí lẻ của vòng, tức Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức và Trực Phù, vì thế luôn cách Phượng Các một số lẻ cung. Mà đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, toàn số chẵn. Kết luận: Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không hội chiếu với sáu sao ấy bằng bất cứ đường nào, trên bất kỳ lá số nào, của bất kỳ tuổi nào. Kéo theo là bốn sao luôn ngồi chung cung với chúng cũng bị loại: Thiên Không, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Quán Sách.
Kinh nghiệm Trong danh sách bị loại ấy có một cái tên đáng chú ý là Long Đức. Long Đức và Giải Thần là hai ngôi sao được cả Tân Biên lẫn người luận đời sau coi là chủ về cứu giải rõ nhất. Mà cấu trúc lại không cho chúng gặp nhau bao giờ. Thầy nêu điều này ra vì nó đổi hẳn cách luận cứu giải: khi một cung có nạn, đừng đi tìm cho đủ hai sao giải, vì tìm không ra. Hãy xem cung ấy được sao giải nào chạm tới, rồi nhớ rằng cái giải mạnh nhất trong một lá số thường không phải hai sao nhỏ ấy mà là Hóa Khoa, vì Hóa Khoa đi theo chính tinh nên có lực thật.
Suy luận Còn sáu sao đứng ở vị trí chẵn của vòng thì Phượng Các gặp được, nhưng chỉ ở những tuổi nhất định, mỗi thế đúng hai tuổi. Bảng dưới đây liệt kê đủ để quý vị tra thẳng:
| Sao vòng Thái Tuế | Đồng cung ở tuổi | Tam hợp chiếu ở tuổi | Xung chiếu ở tuổi |
|---|---|---|---|
| Thái Tuế | Tỵ, Hợi | Sửu, Mão, Mùi, Dậu | Dần, Thân |
| Tang Môn | Thìn, Tuất | Tý, Dần, Ngọ, Thân | Sửu, Mùi |
| Quan Phù | Mão, Dậu | Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi | Tý, Ngọ |
| Tuế Phá | Dần, Thân | Tý, Thìn, Ngọ, Tuất | Tỵ, Hợi |
| Bạch Hổ | Sửu, Mùi | Mão, Tỵ, Dậu, Hợi | Thìn, Tuất |
| Điếu Khách | Tý, Ngọ | Dần, Thìn, Thân, Tuất | Mão, Dậu |
Suy luận Đọc bảng thì thấy vài điều đáng nhớ. Phượng Các đồng cung Thái Tuế ở tuổi Tỵ và tuổi Hợi, đúng hai điểm bất động của nó, và khi ấy sao chủ dung mạo ngồi ngay trên cung tuổi. Phượng Các đồng cung Bạch Hổ ở tuổi Sửu và tuổi Mùi, hai tuổi ấy bộ Tứ Linh có hai chân chồng lên nhau. Phượng Các đồng cung Điếu Khách ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tức đúng hai tuổi mà nó xung chiếu Long Trì, vì Điếu Khách luôn đối xung Quan Phù mà Quan Phù thì luôn trùng Long Trì. Còn dòng Quan Phù trong bảng chính là dòng Long Trì, hai sao ấy là một chỗ.
Ba quan hệ khóa cứng ngoài vòng Thái Tuế
- Luôn đồng cung Giải Thần. Không tuổi nào tách được. Mọi lời luận về Phượng Các đều phải đọc kèm nghĩa giải trừ, và ngược lại.
- Luôn tam hợp Thiên Khốc. Cách bốn cung, cả mười hai tuổi. Cái đẹp và cái buồn nằm chung một tam giác, đây là cấu trúc chứ không phải điềm. Khi cung Phượng Các gặp việc, sắc thái của việc ấy thường có phần ngậm ngùi chứ ít khi hể hả.
- Luôn kề Thiên Hỷ một cung. Kề mà không chiếu. Sao vui đứng sát bên mà không cộng vào được, nên đừng lấy Thiên Hỷ để tô cho Phượng Các; hai sao ấy chỉ tạo một thế giáp, tức một hoàn cảnh, không tạo một sự việc.
- Không bao giờ hội chiếu Hồng Loan và Đào Hoa. Khoảng cách luôn lẻ. Điều này bác bỏ hẳn lối luận Phượng Các gặp Hồng Loan thì cưới hỏi, vì thế ấy không tồn tại trên bất kỳ lá số nào.
Phượng Các và bảng Tứ Hóa
Suy luận Phượng Các không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và nó cũng không tự phát hóa để bay sang cung khác. Nhưng nó chịu ảnh hưởng rõ từ hóa của chính tinh ngồi cùng cung, và vì Giải Thần luôn ở đó nên cách đọc phải gồm hai lớp:
- Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: thế hợp nhất của Phượng Các. Hóa Khoa chủ tiếng thơm, thi cử, bằng cấp; Phượng Các chủ hình thức đẹp và danh dự; Giải Thần chủ tháo gỡ. Ba lớp cùng chiều, nên chuyện học hành và chuyện danh dự của người này thường suôn, và gặp trắc trở cũng gỡ được.
- Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: quyền có dáng dấp, có nghi thức, coi được mắt. Phượng Các làm cho cái quyền bớt thô. Giải Thần làm cho người cầm quyền dễ hạ giọng khi cần, ít đẩy sự việc tới chỗ vỡ.
- Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: tiền vào theo đường coi được, hình thức chỉnh tề, nhưng bản thân Phượng Các không làm tiền nhiều thêm. Kinh văn Cần nhớ lời Tân Biên về Giải Thần: cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao. Vì hai sao luôn đồng cung nên lời ấy áp luôn cho Phượng Các tại hai cung ấy, đây là điểm mà bản thân trang gốc chưa nối lại với nhau.
- Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: Phượng Các chỉ giữ được cái vẻ ngoài, Giải Thần chỉ làm dịu phần ngọn. Cái nút bên trong vẫn phải tự gỡ. Kinh nghiệm Thầy dặn: gặp thế này thì đừng thấy có hai cát tinh mà chủ quan, hãy xử lý gốc trước rồi mới mừng.
Suy luận Vì sao đọc Phượng Các phải đọc cả nhóm. Bản thân Phượng Các là cát tinh nhỏ, cái nó cho là hình thức đẹp, dung mạo, danh dự, không phải thực lực. Nhưng vị trí của nó bị cấu trúc gài chặt vào Giải Thần, vào tam giác Thiên Khốc, vào thế kề Thiên Hỷ, và bị loại vĩnh viễn khỏi nửa vòng Thái Tuế. Cho nên khi luận một cung có Phượng Các, thứ tự đúng là: xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, cộng lớp Phượng Các vào như một lớp phủ về hình thức, cộng tiếp lớp Giải Thần vào như một lớp giảm nhẹ, rồi mới nhìn sang tam hợp xem Thiên Khốc đang nằm ở cung chức nào.
6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Phượng Các phối với các sao tạo nên bộ cách quý:
| Khi Phượng Các gặp | Ý nghĩa kết hợp |
|---|---|
| Văn Xương, Văn Khúc | Bộ văn tinh, lợi khoa giáp, học hành. |
| Khôi, Việt, Tả, Hữu | Bộ hiền thần phò Tử Phủ, uy quyền hiển hách. |
| Tử Vi, Thiên Phủ | Tăng quý khí, công danh chức vị. |
| Sát tinh, Tuần Triệt | Giảm cái đẹp, công danh trắc trở. |
7 Phượng Các Tại Đủ Mười Hai Cung Chức
Suy luận Phượng Các đi được cả mười hai cung nên không cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy, vì chúng đúng với mọi dòng: cung nào có Phượng Các thì cung ấy luôn có Giải Thần, nên mỗi ô của bảng đều mang thêm một lớp giải trừ nhẹ; tam phương của nó luôn có Thiên Khốc; và cung liền kề luôn có Thiên Hỷ nhưng kề thì không chiếu. Cột giữa là khi Phượng Các gặp chính tinh miếu vượng hoặc gặp văn tinh và cát tinh; cột phải là khi nó bị sát tinh lấn át, bị Hóa Kỵ đè hoặc bị Tuần Triệt án ngữ.
| Cung | Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng | Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ |
|---|---|---|
| Mệnh | Dung mạo dễ coi, dáng đi đứng có nét, biết ăn mặc, biết giữ ý tứ; người khác gặp lần đầu thấy dễ chịu. Có Giải Thần cùng cung nên tính người này thường không đẩy chuyện tới chỗ căng, gặp khó hay tìm được lối ra. | Chuộng vẻ ngoài, nặng sĩ diện, sợ bị chê hơn sợ làm sai; hay lấy sự dễ chịu bề mặt che một mối bận bên trong mà không giải quyết. |
| Huynh Đệ | Anh em bạn bè coi được mặt mũi, quan hệ nhã nhặn, ít to tiếng; có chuyện thì trong nhà tự dàn xếp được, ít khi để vỡ ra ngoài. | Giữ lễ mà nhạt, ai cũng ngại nói thẳng nên chuyện cũ cứ để đó. Cái giải của Giải Thần ở đây hóa thành thói tránh né. |
| Phu Thê | Bạn đời hình thức khá, ăn nói nhẹ nhàng, nhà bên ấy nề nếp; cưới hỏi làm đủ lễ, đám cưới coi được. Vợ chồng cãi nhau rồi hay làm lành nhanh vì có Giải Thần. | Chọn nhau vì cái nhìn thấy được nhiều hơn vì cái hợp tính. Làm lành nhanh mà không nói tới gốc, nên cùng một chuyện lặp đi lặp lại nhiều năm. |
| Tử Tức | Con cái kháu khỉnh dễ nhìn, tính nết dễ chịu, ít quấy; việc sinh nở thường thuận, có trắc trở cũng qua được. | Con được khen mặt mũi mà cha mẹ ít để ý tới cái bên trong. Nuôi con theo lối chiều cho êm thì lớn lên thiếu sức chịu đựng. |
| Tài Bạch | Tiền vào theo đường coi được, hồ sơ tài chính sạch; hợp nghề bán cái đẹp như thiết kế, thời trang, trang trí, làm đẹp, nghệ thuật ứng dụng. | Kinh văn Tân Biên nói cung Tài Bạch có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao hụt. Vì Giải Thần luôn đồng cung Phượng Các nên lời ấy áp thẳng vào đây. Tiền coi thì đẹp mà giữ không lại, hay tiêu vào những khoản làm sang. |
| Tật Ách | Đây là cung Giải Thần có ích nhất, và vì hai sao đồng cung nên cũng là chỗ Phượng Các đáng mừng nhất. Bệnh tới thường phát hiện sớm, gặp đúng thầy đúng thuốc, tai nạn có mà ít khi tới mức nặng. Sách không nói Phượng Các chủ bộ phận cơ thể nào nên bài này không gán bừa. | Vẻ ngoài trông tươi tắn nên chủ quan, khám muộn. Cái giải của Giải Thần chỉ đủ làm nhẹ phần ngọn, không chống nổi một cung Tật Ách nhiều sát tinh, không được lấy nó làm lý do bỏ khám định kỳ. |
| Thiên Di | Ra ngoài được thiện cảm, dễ được mời, hợp việc đối ngoại và việc phải xuất hiện trước đám đông. Đi xa gặp trục trặc thường có người gỡ hộ. | Được quý vì cái vẻ chứ không vì con người thật; ra ngoài phải giữ hình ảnh nên mệt. Việc gỡ được thì gỡ mà không rút ra được bài học. |
| Nô Bộc | Bạn bè cấp dưới lễ độ, dễ nhìn, quan hệ êm; có va chạm thì có người đứng ra hòa giải. | Bạn xã giao nhiều, bạn thật ít. Mọi mâu thuẫn đều được xoa cho qua nên không ai biết ai nghĩ gì. |
| Quan Lộc | Hợp nghề cần hình thức và cần tên tuổi: nghệ thuật, truyền thông, thiết kế, kiến trúc, ngoại giao, dạy học, nghề phải đứng trước người khác. Việc có sự cố thì thường hạ cánh mềm. | Có chức danh coi được mà việc không sâu; nghề trông sang mà thu nhập mỏng. Gặp Tuần Triệt thì đường công danh hay đứt quãng rồi nối lại bằng một nghề khác. |
| Điền Trạch | Kinh văn Tân Biên nói Long Trì Phượng Các làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Nhà cửa khang trang, có thế đẹp, bày biện có mắt; chỗ ở dễ chịu, khách tới thấy thích. | Kinh văn Nhưng cũng chính Tân Biên nói cung Điền Trạch có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Hai lời này rơi vào cùng một cung vì hai sao luôn đồng cung: nhà đẹp mà không giữ được lâu, hoặc sửa sang tốn kém, hoặc mua rồi lại bán. |
| Phúc Đức | Trong lòng ưa cái đẹp, ưa sự nhã, thích chỗ gọn gàng thoáng đãng; tinh thần dễ hồi phục sau chuyện buồn nhờ Giải Thần. | Sống theo con mắt người khác nhìn, ít cho phép mình xuề xòa. Nỗi buồn được xoa dịu nhanh nên không được nhìn thẳng, tích lại thành cái nặng ngầm. Nhớ rằng Thiên Khốc luôn tam hợp về đây. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ coi trọng nề nếp và hình thức, dạy con biết ý tứ; quan hệ với người trên nhẹ nhàng, có chuyện thì hay được bỏ qua. | Cha mẹ nặng thể diện, chuyện trong nhà hay giữ kín cho đẹp mặt. Mâu thuẫn với người trên được xoa chứ không được nói ra. |
Mẹo đọc bảng
Kinh nghiệm Ba mẹo Thầy dùng hàng ngày. Mẹo thứ nhất, đọc Phượng Các thành hai lớp. Lớp trên là hình thức và dung mạo, lớp dưới là Giải Thần tức sự tháo gỡ. Hai lớp này khác hẳn nhau về nghĩa mà lại luôn ở cùng một chỗ, nên khi luận phải hỏi rõ: cái đang xét ở cung này là chuyện hình thức hay chuyện tháo gỡ.
Kinh nghiệm Mẹo thứ hai, ở Tài Bạch và Điền Trạch thì đọc lớp Giải Thần trước. Sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì khó giàu lớn. Trang gốc của cả hai sao đều có câu ấy mà không nối lại với nhau, nên nhiều người luận Phượng Các ở Điền Trạch chỉ thấy phần nhà cao cửa rộng mà bỏ mất phần hao hụt. Cách đọc đủ là: nhà đẹp thì có, mà giữ được lâu hay không thì phải xem chính tinh và Tứ Hóa.
Kinh nghiệm Mẹo thứ ba, xem Long Trì trước khi kết luận. Nếu tuổi của quý vị thuộc nhóm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì Phượng Các đứng một mình, bộ Long Phượng không thành, nghĩa khoa giáp mỏng hẳn và phải trông vào Văn Xương Văn Khúc, Hóa Khoa, Thai Phụ Phong Cáo, Tam Thai Bát Tọa để bù. Nếu tuổi Mão hoặc Dậu thì bốn sao Phượng Các, Giải Thần, Long Trì, Quan Phù chồng lên nhau tại một cung, cung ấy thành cung đáng chú ý nhất lá số.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường ứng thành hoàn cảnh chứ không thành sự việc. Riêng với Phượng Các thì cấu trúc khóa sẵn nhiều thế: Giải Thần chỉ có thể đồng cung, Thiên Khốc chỉ có thể tam hợp chiếu, Thiên Hỷ chỉ có thể giáp, còn Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù cùng Thiên Không, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Quán Sách, Hồng Loan, Đào Hoa thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.
Phượng Các phát huy được khi gặp
- Long Trì (đồng cung ở tuổi Mão và tuổi Dậu là mạnh nhất, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): trọn bộ Long Phượng, cách khoa giáp đẹp. Nhớ rằng Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có thêm khí giấy tờ pháp lý.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất; an theo giờ sinh nên không cố định): bộ văn tinh làm nên khoa giáp thật. Phượng Các cho cái đẹp bề ngoài, Xương Khúc cho cái tài chữ nghĩa để đỡ. Đây là cặp hợp nhất của Phượng Các.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): cùng lĩnh vực tiếng thơm và bằng cấp, lại là sao giải mạnh nhất trong lá số nên cộng rất thuận với lớp Giải Thần đang có sẵn.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân tiến cử, làm cho cái vẻ đẹp bên ngoài có chỗ dùng thật.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh): có người đỡ tay. Bộ Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu hội cùng Long Phượng chính là bộ hiền thần mà Tân Biên nói tới.
- Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung hoặc chiếu; an theo giờ sinh nên không cố định, hai sao ấy luôn cách nhau bốn cung nên luôn tam hợp nhau): chủ sắc phong và chức danh, cùng hướng với nghĩa danh dự của Phượng Các.
- Tam Thai, Bát Tọa (đồng cung hoặc chiếu; an theo ngày sinh phối Tả Hữu nên không có quan hệ cố định nào với Phượng Các): chủ ngôi thứ và chỗ ngồi, hợp với nghĩa khoa giáp.
- Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung): tăng quý khí và làm cho hình thức có nội dung. Đúng như sách nói bộ hiền thần phò Tử Phủ.
- Bạch Hổ và Hoa Cái (Bạch Hổ đồng cung ở tuổi Sửu và Mùi, các tuổi khác thì tùy; Hoa Cái đồng cung ở tuổi Mão và Dậu): góp thành bộ Tứ Linh khi có đủ Long Trì. Thế này cho phong thái và sự được trọng, không cho tiền.
- Thiên Lương (đồng cung hoặc chiếu): Kinh văn Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che, cùng hướng với lớp Giải Thần luôn có sẵn ở cung Phượng Các, nên hai sao cộng vào nhau làm cho sức tháo gỡ rõ hơn.
- Phi Liêm (đồng cung hoặc chiếu; thuộc vòng Bác Sĩ, an theo can năm nên không cố định): Kinh văn Tân Biên nói Phượng Các gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui một cách nhanh chóng.
Phượng Các e ngại khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Phượng Các là nặng nhất): Phượng Các vốn chỉ mạnh về hình thức, mà Tuần Triệt chuyên chặn phần hình thức, nên khoa giáp dở dang, danh đến muộn, và cái đáng tiếc nhất là lớp Giải Thần cũng bị chặn theo, tức mất luôn phần tháo gỡ. Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất.
- Hóa Kỵ đồng cung (mạnh nhất khi đồng cung, xung chiếu cũng đáng ngại): cái vướng hóa dai. Phượng Các giữ được thể diện, Giải Thần làm dịu phần ngọn, mà cái nút vẫn nguyên. Phải xử lý gốc.
- Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất): Kình Dương làm cho chuyện hình thức thành chuyện tranh chấp; Đà La làm mọi việc kéo dài lê thê, đúng chỗ Phượng Các yếu nhất.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái đẹp bị làm cho gấp gáp, dễ có chuyện bùng lên rồi tắt; danh dự dễ tổn thương vì một lời nói lúc nóng.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung): làm rỗng phần hình thức. Người ngoài tưởng quý vị đang lên, chỉ quý vị biết là không.
- Thiên Khốc (vĩnh viễn chỉ có thể tam hợp chiếu, không tránh được): đây là thế cố định nên không nên coi là điềm xấu, chỉ nên nhớ rằng cái đẹp của Phượng Các luôn có một sắc buồn ở trong tam giác của nó.
- Ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch (do lớp Giải Thần đồng cung): Kinh văn sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Đây là chỗ duy nhất mà bản thân vị trí, chứ không phải sao đi kèm, làm cho Phượng Các bất lợi.
- Chính tinh hãm địa (đồng cung): Phượng Các không cứu được chính tinh hãm, nó chỉ làm cho cái hãm ấy trông dễ nhìn hơn.
Tóm lại, Phượng Các là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
9 Phượng Các Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Suy luận Mọi mục phía trên nói về Phượng Các tĩnh: nó nằm ở cung nào, đi với ai. Mục này nói về Phượng Các động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.
Đại vận đi vào cung có Phượng Các
Kinh nghiệm Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Phượng Các bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng dễ nhìn. Người ta để ý tới quý vị nhiều hơn, hình ảnh và tên tuổi được chú ý, chuyện ăn mặc chỗ ở cách sống được nâng lên một bậc. Thầy thấy quãng này hay ứng vào bốn loại việc: sửa sang hoặc đổi chỗ ở cho khang trang hơn, đổi sang một nghề cần xuất hiện trước người khác, có một sự kiện đông người trong nhà như cưới hỏi hoặc mừng thọ, và một chuyện dây dưa cũ được tháo gỡ nhờ lớp Giải Thần đi kèm.
Suy luận Bốn điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Phượng Các. Thứ nhất, cung ấy luôn có Giải Thần, nên mười năm đó là quãng dễ gỡ chuyện cũ; ai đang có việc treo lâu năm thì nên dùng đúng quãng này để dứt điểm. Thứ hai, tam phương luôn có Thiên Khốc, nên quãng ấy hay có một chuyện buồn xen vào giữa những chuyện vui; đừng ngạc nhiên và cũng đừng coi là điềm. Thứ ba, phải xem đại vận đem Tứ Hóa gì vào cung: Hóa Khoa tới thì đúng là mười năm khoa giáp và tháo gỡ; Hóa Kỵ tới thì Phượng Các chỉ giữ được thể diện. Thứ tư, phải xem Long Trì có chiếu tới không, vì với bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì không, bộ Long Phượng không thành.
Kinh nghiệm Mặt trái phải nói cho rõ. Đại vận vào cung Phượng Các mà lá số thiếu thực lực thì mười năm ấy dễ thành mười năm đẹp mã: nhà sửa xong, hình ảnh chỉnh tề, ai nhìn cũng khen, mà tài sản thật và nghề thật thì không dày thêm. Lớp Giải Thần lại làm cho mọi trục trặc đều được xoa dịu kịp thời nên người ta không thấy đau đủ để thay đổi. Thầy gặp thế này nhiều nhất ở những người làm nghề bề nổi. Cách xử là dùng chính mười năm ấy để đổi cái vẻ thành cái nền: học một nghề sâu, dựng một sản phẩm có thật, tích một khoản không đụng tới.
Phượng Các có bản lưu niên không
Suy luận Phải trả lời dứt khoát. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, Phượng Các và Giải Thần chỉ được an một lần theo chi năm sinh và không có bản lưu riêng. Sách cũng không lập bản lưu cho hai sao này. Nhưng vì tham số của chúng là chi năm sinh, mà mỗi năm lại có một chi mới, nên về nguyên tắc cứ thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem là ra ngay cung Phượng Các của năm ấy. Đây khác hẳn vòng Tràng Sinh vốn an theo Cục, mà Cục là con số cố định của một lá số nên vòng ấy không có bản lưu; cũng khác Tả Phụ Hữu Bật an theo tháng sinh và Văn Xương Văn Khúc an theo giờ sinh, hai tham số ấy cố định suốt đời nên cũng không có bản lưu. Riêng vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ thì chắc chắn có bản lưu, vì một vòng bám chi năm và một vòng bám can năm.
| Năm | Lưu Thái Tuế | Cung Phượng Các và Giải Thần của năm | Cung Long Trì của năm | Lưu Thiên Khốc | Lưu Thiên Hỷ |
|---|---|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Ngọ | Thìn | Tuất | Tý | Mão |
| 2027 Đinh Mùi | Mùi | Mão | Hợi | Hợi | Dần |
| 2028 Mậu Thân | Thân | Dần | Tý | Tuất | Sửu |
| 2029 Kỷ Dậu | Dậu | Sửu | Sửu | Dậu | Tý |
| 2030 Canh Tuất | Tuất | Tý | Dần | Thân | Hợi |
| 2031 Tân Hợi | Hợi | Hợi | Mão | Mùi | Tuất |
| 2032 Nhâm Tý | Tý | Tuất | Thìn | Ngọ | Dậu |
| 2033 Quý Sửu | Sửu | Dậu | Tỵ | Tỵ | Thân |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Thân | Ngọ | Thìn | Mùi |
| 2035 Ất Mão | Mão | Mùi | Mùi | Mão | Ngọ |
| 2036 Bính Thìn | Thìn | Ngọ | Thân | Dần | Tỵ |
| 2037 Đinh Tỵ | Tỵ | Tỵ | Dậu | Sửu | Thìn |
Kinh nghiệm Bảng này dùng được theo ba cách. Cách một, tra xem cung Phượng Các của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc; đó là lĩnh vực mà năm ấy chuyện hình thức, chuyện xuất hiện và chuyện tháo gỡ nổi lên. Cách hai, xem cung ấy có trùng cung Phượng Các bản mệnh không; trùng thì đó là năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, tức năm tuổi, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Năm ấy hai lớp Phượng Các và hai lớp Giải Thần chồng lên nhau, nhưng lưu Thái Tuế cũng đè lên cung tuổi nên phải xét cả hai chiều. Cách ba, và đây là cách Thầy dùng nhiều nhất khi khách gặp năm xấu: tra xem cung Giải Thần của năm đang ở đâu, vì đó là chỗ mềm nhất của năm ấy, việc gì nhờ được vào lĩnh vực của cung ấy thì nên nhờ.
Các lưu sao chạm vào cung Phượng Các
Suy luận Ngoài hai cung trên, có bốn nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Phượng Các bị chạm trong một năm cụ thể:
- Lưu Thái Tuế và cả vòng lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ rơi đúng cung Phượng Các bản mệnh thì cái đẹp và cái buồn dồn vào một chỗ; lớp Giải Thần có làm nhẹ nhưng không xóa, phải xem thêm cung Phụ Mẫu và cung Tật Ách.
- Lưu Thiên Khốc và lưu Thiên Hư. Hai sao này an theo chi năm xem. Vì Phượng Các bản mệnh vốn đã luôn tam hợp Thiên Khốc bản mệnh, nên năm nào lưu Khốc lại chồng thêm vào cung ấy thì sắc buồn rõ hơn hẳn; đó thường là năm có chuyện chia ly hoặc chuyện trong họ.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Rơi vào cung Phượng Các thì việc gỡ bị kéo dài, hoặc chuyện hình thức thành chuyện tranh chấp.
- Lưu Văn Xương, lưu Văn Khúc, lưu Khôi Việt, an theo can năm xem. Đây là nhóm lưu sao đáng mừng nhất với Phượng Các vì cùng lĩnh vực chữ nghĩa và tiến cử; năm nào chúng chiếu vào cung Phượng Các thì việc học, việc thi, việc được mời gọi thuận hơn hẳn.
Kinh nghiệm Một câu dặn cuối. Phượng Các là sao nhỏ, đừng bao giờ lấy riêng nó để quyết một năm tốt hay xấu. Thứ tự đúng khi luận hạn là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, xem sát tinh và Tuần Triệt, rồi mới cộng các sao nhỏ như Phượng Các, Giải Thần, Long Trì vào để chỉnh sắc thái. Ai làm ngược thứ tự này thì luận đâu sai đó.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Phượng Các
Suy luận Phượng Các mang cái tên rất đẹp là gác phượng. Tên đẹp thì dễ bị thổi, và bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần.
Hiểu lầm một: có Phượng Các là đẹp người
Kinh nghiệm Không. Vì Phượng Các an theo chi năm sinh nên mọi lá số đều có Phượng Các, mười hai tuổi phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Phượng Các là đẹp thì cả nước đã đẹp hết. Điều sách nói là Phượng Các chủ cái đẹp và cái nhã, tức nó thuộc về lĩnh vực hình thức và dung mạo, chứ không bảo đảm kết quả trong lĩnh vực ấy. Tướng mạo do chính tinh thủ Mệnh và cung Tật Ách quyết định trước, Phượng Các chỉ thêm phần có nét và biết chăm chút. Người có Phượng Các ở Mệnh mà chính tinh hãm, lại thêm sát tinh, thì cái Phượng Các ấy hay ứng thành sự chú ý tới vẻ ngoài chứ không ứng thành vẻ ngoài đẹp.
Hiểu lầm hai: bộ Long Phượng lúc nào cũng có
Suy luận Sai, và đây là hiểu lầm dẫn tới luận bừa nhiều nhất. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả rõ: bộ Long Phượng chỉ hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi, còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung và vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Với bốn tuổi ấy người luận phải nói thẳng là bộ Long Phượng không thành trên lá số này, rồi luận từng sao tại từng cung, chứ không được mượn tiếng của bộ đôi để tô cho một sao lẻ.
Hiểu lầm ba: Phượng Các gặp Hồng Loan là cưới hỏi
Kinh văn Tân Biên có nói bộ Long Phượng liên quan tới việc cưới hỏi và sinh nở, điều ấy đúng và bài này không phủ nhận. Suy luận Nhưng cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa chứ không phải về cấu trúc, và nhiều người đã đẩy nó thành câu Phượng Các gặp Hồng Loan thì cưới. Máy nói rõ điều ngược lại: khoảng cách giữa Phượng Các với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ ở cả mười hai tuổi, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên ba thế ấy không tồn tại trên bất kỳ lá số nào. Riêng Thiên Hỷ thì luôn đứng ngay cung liền kề, gần tới mức tưởng như chạm được, mà kề thì không phải chiếu. Ai luận cho quý vị bằng thế Phượng Các hội Hồng Loan là người chưa từng chạy số.
Hiểu lầm bốn: Phượng Các là sao giải hạn
Suy luận Đây là hiểu lầm sinh ra từ một sự thật. Sự thật là Phượng Các luôn đồng cung Giải Thần, nên cung nào có Phượng Các cũng có khí giải trừ. Nhưng cái giải ấy là của Giải Thần chứ không phải của Phượng Các, và người luận phải tách hai lớp ra. Phượng Các chủ hình thức, dung mạo, danh dự; Giải Thần chủ tháo gỡ tai ách. Trộn hai thứ làm một thì sinh ra câu nói sai là có Phượng Các thì tai qua nạn khỏi. Cách nói đúng phải là: cung có Phượng Các thì đồng thời có một lớp giải nhẹ, và cái giải ấy chỉ đủ làm dịu phần ngọn.
Một ranh giới nữa về cách an
Suy luận Cần nói rõ để quý vị khỏi bối rối khi tra sách khác. Cách an Giải Thần có dị bản: bên cạnh cách an theo chi năm sinh trùng cung Phượng Các mà trang này dùng, một số tài liệu an Giải Thần theo tháng sinh, và khi ấy Giải Thần sẽ không còn dính với Phượng Các nữa. Mọi kết luận về quan hệ Phượng Các với Giải Thần trong bài này chỉ đúng với cách an của thayungkhiem.vn, và bài đã nói rõ điều ấy ở mục Nguồn. Đây là khác biệt giữa các phái, không phải lỗi của bên nào.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Phượng Các Qua Ba Bước
Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Giáp Tý, Tử Vi an tại Ngọ, Mệnh an tại Tuất. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng ba sao của bài này và vòng Thái Tuế thì lưới không vẽ, Thầy ghi rõ ra đây để đối chiếu: tuổi Tý nên Phượng Các tại Tuất, Giải Thần cũng tại Tuất, Long Trì tại Thìn, tức đây đúng là một trong hai tuổi mà bộ Long Phượng đứng xung chiếu nhau. Vòng Thái Tuế thì Thái Tuế tại Tý, Thiếu Dương tại Sửu, Tang Môn tại Dần, Thiếu Âm tại Mão, Quan Phù tại Thìn đúng cung Long Trì, Tử Phù tại Tỵ, Tuế Phá tại Ngọ, Long Đức tại Mùi, Bạch Hổ tại Thân, Phúc Đức tại Dậu, Điếu Khách tại Tuất đúng cung Phượng Các, Trực Phù tại Hợi. Thêm Hoa Cái tại Thìn, Thiên Khốc và Thiên Hư cùng tại Ngọ, Thiên Hỷ tại Dậu, Hồng Loan tại Mão, Đào Hoa tại Dậu, Thiên Mã tại Dần.
Tử Vi tại Ngọ, Mệnh tại Tuất
không phải người thật
tuổi Giáp Tý, Phượng Các tại Tuất
Bước một: Phượng Các nằm ở cung chức nào và đi với ai
Suy luận Mệnh an tại Tuất nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Tuất là Mệnh, Dậu là Huynh Đệ, Thân là Phu Thê, Mùi là Tử Tức, Ngọ là Tài Bạch, Tỵ là Tật Ách, Thìn là Thiên Di, Mão là Nô Bộc, Dần là Quan Lộc, Sửu là Điền Trạch, Tý là Phúc Đức, Hợi là Phụ Mẫu. Vậy Phượng Các rơi đúng vào cung Mệnh tại Tuất, cùng với Giải Thần và Điếu Khách.
Suy luận Chính tinh tại Tuất là Liêm Trinh và Thiên Phủ đồng cung, mà tuổi Giáp thì Liêm Trinh hóa Lộc. Vậy cung Mệnh này có một chính tinh đang hóa Lộc, cộng Thiên Phủ là sao kho tàng, cộng Phượng Các và Giải Thần. Kiểm tiếp cấu trúc: cung liền trước Tuất là Dậu có Thiên Hỷ cùng Đào Hoa và Phúc Đức, đúng thế kề cố định của Phượng Các, mà kề thì không chiếu. Cung đối diện là Thìn tức Thiên Di, có Thất Sát cùng Long Trì, Quan Phù, Hoa Cái. Tam phương chiếu về là Ngọ tức Tài Bạch có Tử Vi cùng Tuế Phá, Thiên Khốc và Thiên Hư, và Dần tức Quan Lộc có Vũ Khúc hóa Khoa cùng Thiên Tướng, Tang Môn, Lộc Tồn tuổi Giáp và Thiên Mã.
Kinh nghiệm Đây là một lá số rất tiện để dạy, vì nó cho thấy đủ ba thế cố định cùng lúc: Giải Thần đồng cung, Thiên Khốc tam hợp, Thiên Hỷ chỉ kề. Và nó cho thấy thế xung chiếu của bộ Long Phượng: Phượng Các ở Mệnh nhìn thẳng sang Long Trì ở Thiên Di. Bộ Long Phượng hội đủ, nhưng hội theo lối đối diện chứ không theo lối ngồi chung, nên nghĩa của nó khác hẳn.
Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì
Suy luận Bốn hóa của tuổi Giáp rải như sau: Liêm Trinh hóa Lộc tại Tuất là cung Mệnh, Phá Quân hóa Quyền tại Thân là cung Phu Thê, Vũ Khúc hóa Khoa tại Dần là cung Quan Lộc, và Thái Dương hóa Kỵ tại Mão là cung Nô Bộc. Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần là Quan Lộc, kéo theo Kình Dương tại Mão là Nô Bộc và Đà La tại Sửu là Điền Trạch.
Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Mệnh có Liêm Trinh hóa Lộc cùng Thiên Phủ, thêm Phượng Các và Giải Thần: người này có duyên ăn nói, hình thức chỉnh tề, biết cách làm cho người khác dễ chịu, và gặp chuyện thì thường tìm được lối ra. Quan Lộc có Vũ Khúc hóa Khoa cùng Lộc Tồn, tức nghề nghiệp có nền, danh có thật chứ không phải danh suông. Đây là lá số mà bộ Long Phượng dùng được, vì nó có thực lực đỡ ở tam phương.
Suy luận Nhưng phải đọc cả chỗ dè. Long Trì cùng Quan Phù ở Thiên Di xung thẳng về Mệnh: người này ra ngoài thì danh phận và giấy tờ là chuyện luôn phải để mắt, và cái danh của họ hình thành ở bên ngoài chứ không tự có ở trong nhà. Thiên Khốc và Thiên Hư cùng nằm tại Tài Bạch, tam hợp chiếu về Mệnh, đây đúng là thế mà máy đã hứa là bất biến với mọi Phượng Các; ở lá số cụ thể này nó rơi vào cung tiền, nên chuyện tiền bạc của người này hay có sắc lo, dù Liêm Lộc ở Mệnh. Thái Dương hóa Kỵ tại Nô Bộc cùng Kình Dương và Hồng Loan: bạn bè và người cộng tác là chỗ dễ sinh chuyện nhất. Và xin để ý: Hồng Loan ở Mão hoàn toàn không chiếu tới cung Tuất, đúng như máy đã nói, nên muốn xem hôn nhân của lá số này phải nhìn cung Phu Thê tại Thân có Phá Quân hóa Quyền cùng Bạch Hổ, chứ không được mượn bộ Long Phượng ở Mệnh.
Bước ba: vận nào chạm tới
Kinh nghiệm Với lá số này ba loại năm đáng chú ý. Năm Tý, tức năm tuổi, lưu Thái Tuế đè lên cung Phúc Đức tại Tý, còn cung Phượng Các của năm rơi đúng vào Tuất tức cung Mệnh, chồng lên Phượng Các bản mệnh; năm ấy chuyện hình ảnh và chuyện tháo gỡ nổi rõ, hợp việc ra mắt, đổi diện mạo, dứt điểm một việc treo lâu. Năm Ngọ, cung Phượng Các của năm rơi vào Thìn tức Thiên Di, đúng cung Long Trì bản mệnh; năm ấy hai sao của bộ dồn về một chỗ ở bên ngoài, hợp việc đi xa, chuyển chỗ làm, nhận một vai có danh. Những năm mà lưu Kình Đà hoặc lưu Tang Hổ rơi vào Tuất thì phải cẩn thận, vì cung Mệnh dù có Lộc vẫn bị Điếu Khách ngồi cùng, thêm sát tinh lưu thì chuyện thị phi dễ nổi; đó là năm giữ lời chứ không phải năm phô trương.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Vẫn tuổi Giáp nhưng đổi chi năm sinh sang Ngọ. Phượng Các và Giải Thần dời về Thìn, Long Trì về Tuất, tức hai sao đảo chỗ cho nhau. Lúc ấy Phượng Các nằm ở cung Thiên Di còn Long Trì cùng Quan Phù nằm ngay cung Mệnh. Đọc khác hẳn: cái danh và chuyện giấy tờ trở thành việc của bản thân chứ không phải việc ở bên ngoài, còn cái vẻ đẹp và sức tháo gỡ thì phát ra khi đi xa, khi giao tiếp với người lạ.
- Đổi sang tuổi Thân. Phượng Các và Giải Thần về Dần tức cung Quan Lộc, Long Trì về Tý tức cung Phúc Đức, hai sao cách nhau đúng hai cung nên bộ Long Phượng không thành. Lúc ấy phải bỏ lối luận bộ đôi: xem Phượng Các ở Quan Lộc như một sao lẻ chủ nghề nghiệp cần hình thức, cộng thêm lớp Giải Thần nghĩa là công việc có sự cố thì hay hạ cánh mềm; còn Long Trì ở Phúc Đức thì luận riêng, và trông vào Vũ Khúc hóa Khoa cùng Xương Khúc để bù phần khoa giáp.
- Vẫn tuổi Tý nhưng đổi can sang Nhâm. Vị trí Phượng Các, Giải Thần, Long Trì không đổi vì chúng chỉ ăn theo chi, vẫn ở Tuất và Thìn. Nhưng Tứ Hóa đổi hẳn: Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Tả Phụ hóa Khoa theo Nam phái hoặc Thiên Phủ hóa Khoa theo Bắc phái, Vũ Khúc hóa Kỵ. Cung Mệnh tại Tuất nay mất Liêm Lộc, còn Quan Lộc tại Dần thì Vũ Khúc hóa Kỵ thay vì hóa Khoa. Cùng một bộ Long Phượng ấy mà đọc ngược hẳn: hình thức vẫn đẹp, mà nghề nghiệp thành chỗ vướng, nên phải trông vào lớp Giải Thần ở Mệnh và vào Tử Vi hóa Quyền ở Tài Bạch để gỡ. Nếu chọn bảng Bắc phái thì Thiên Phủ ngay tại Mệnh hóa Khoa, cung Mệnh lại sáng lên, đây là chỗ hai phái cho hai kết luận khác nhau và bài xin ghi rõ cả hai.
Suy luận Ba bước trên là cách Thầy đọc mọi lá số có Phượng Các: tìm cung, đọc chính tinh và hóa của nó, cộng lớp hình thức của Phượng Các, cộng tiếp lớp giải nhẹ của Giải Thần, rồi nhìn sang tam hợp xem Thiên Khốc rơi vào cung chức nào. Quý vị muốn làm thử trên lá số của chính mình thì an lá số tại mục Tử Vi của trang rồi đi lại đúng ba bước ấy.
12 Lời Khuyên Và Cách Dùng Phượng Các Cho Đúng
Kinh nghiệm Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách biến cái vẻ đẹp thành cái nền thật, và cách không để lớp Giải Thần đi kèm biến thành thói tránh né. Thầy chia làm ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Phượng Các cho
- Cái nó cho là ấn tượng đầu tiên, không phải kết quả cuối cùng. Phượng Các làm cho người khác thấy dễ chịu khi mới gặp, làm cho hồ sơ và chỗ ở của quý vị coi được, làm cho quý vị được mời. Còn giữ được người ta ở lại hay không thì do thực lực. Đã có ấn tượng tốt thì phải có cái thật để tiếp nối.
- Dùng cái duyên hình thức vào đúng nghề. Kinh nghiệm Thầy thấy người có Phượng Các đẹp mà chọn nghề hoàn toàn không cần xuất hiện thì hay thấy mình bị phí, còn chọn nghề có phần trình bày, phần tiếp xúc, phần thẩm mỹ thì làm nhẹ nhàng hơn người khác. Đây là gợi ý chọn hướng chứ không phải lời phán.
- Đừng lạm dụng lớp Giải Thần. Vì Giải Thần luôn ngồi cùng cung, người có Phượng Các thường quen với việc chuyện gì rồi cũng có cách xoa dịu. Cái quen ấy tiện mà nguy: xoa dịu không phải là giải quyết. Mỗi khi thấy một việc lại được cho qua lần nữa, hãy tự hỏi việc ấy đã xong thật chưa.
Nếu Phượng Các của quý vị bị lấn át
- Đếm sát tinh trước khi mừng. Cung có Phượng Các mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có cát tinh, phải luận và phòng bị theo lối bình thường.
- Gặp Tuần Triệt án ngữ thì mất cả hai lớp. Kinh nghiệm Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất, vì Tuần Triệt chặn cả phần hình thức lẫn phần tháo gỡ. Người có thế này nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ, giấy tờ đủ, phương án dự phòng sẵn, chứ đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
- Ở Tài Bạch và Điền Trạch thì đọc kỹ phần hao. Sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao. Người có Phượng Các ở hai cung này nên tách bạch khoản để dành với khoản chi cho hình thức, và nên có một khoản không đụng tới.
- Tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì đừng đi tìm bộ Long Phượng. Cấu trúc không cho, tìm cũng không ra. Hãy trông vào Văn Xương Văn Khúc, Hóa Khoa, Thai Phụ Phong Cáo và Tam Thai Bát Tọa để bù phần khoa giáp.
Điều Thầy muốn nói thẳng
Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Phượng Các, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới, tức lĩnh vực hình thức, danh dự và sự tháo gỡ. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Phượng Các, làm đẹp được lá số, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.
Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra đúng với những người có Phượng Các đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở thói sống cho vừa mắt người khác. Được khen dễ nhìn, được khen biết cư xử, thì rất dễ quen với việc chọn cái coi được thay vì chọn cái đúng. Thêm lớp Giải Thần luôn xoa dịu, người ta lại càng ít khi phải trả giá đủ để tỉnh ra. Thầy khuyên mỗi vài năm nên tự hỏi một câu thô: nếu không ai nhìn thì mình có chọn như thế này không. Trả lời được câu ấy thì Phượng Các mới thành của mình.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người có Phượng Các nên giữ nhà cửa gọn và sáng, vì tinh thần của họ chịu ảnh hưởng của chỗ ở nhiều hơn người khác, và một chỗ ở bừa bộn làm họ mệt mà không biết vì sao. Chi cho hình thức nên có hạn mức rõ ràng đặt trước, đây là việc thực dụng để đối trị phần hao mà sách đã nhắc ở cung Tài và cung Điền. Việc chăm sóc bản thân nên nghiêng về sức khỏe hơn là vẻ ngoài: ngủ đủ, đi bộ đều, khám định kỳ, vì cái đẹp bền nào cũng bắt đầu từ đó. Mỗi năm nên dứt điểm một việc treo, coi như dùng đúng lớp Giải Thần mà lá số đã cho. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Phượng Các và Long Trì: hai sao đi cặp, an theo chi năm sinh, Phượng Các hành Mộc đới Thổ, chủ thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ; liên quan việc cưới hỏi và sinh nở; đem nhiều may mắn, làm công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi; gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu thì kết thành bộ hiền thần phò Tử Phủ; gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui nhanh chóng; góp vào bộ Tứ Linh khi đi cùng Bạch Hổ, Long Trì và Hoa Cái. Cũng mục ấy, phần Giải Thần: chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ, nhưng cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Giải Thần thì không giàu lớn được, của cải hay hao hụt. Vì hai sao luôn đồng cung trên cách an của trang nên bài này dẫn cả hai mục. Sách không lập câu phú riêng cho Phượng Các, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: dùng để kiểm lại phép an Phượng Các đếm nghịch từ cung Tuất theo chi năm sinh, và thứ tự mười hai sao vòng Thái Tuế trình bày ở mục quan hệ cố định.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài được sinh và kiểm bằng chương trình chạy đủ mười hai địa chi năm sinh và mười hai thế Tử Vi. Cụ thể đã kiểm: bảng vị trí Long Trì, Phượng Các, Giải Thần theo mười hai chi; kết luận Giải Thần luôn đồng cung với Phượng Các, đúng mười hai trên mười hai tuổi, vì hai sao dùng chung đúng một công thức trên thuật toán đang chạy; kết luận Long Trì luôn đồng cung với Quan Phù của vòng Thái Tuế, đúng mười hai trên mười hai tuổi; kết luận Phượng Các luôn tam hợp Thiên Khốc và luôn có Thiên Hỷ ở cung liền kề; kết luận Phượng Các có đúng hai điểm bất động là Tỵ và Hợi, và đó cũng là hai tuổi duy nhất Phượng Các đồng cung Thái Tuế; kết luận Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không hội chiếu với Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù cùng bốn sao trùng cung với chúng là Thiên Không, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Quán Sách, vì khoảng cách luôn lẻ; kết luận Phượng Các và Giải Thần không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ và Đào Hoa; bảng sáu sao chẵn của vòng Thái Tuế kèm tuổi nào thì đồng cung, tam hợp, xung chiếu; bảng quan hệ giữa Phượng Các và Long Trì theo từng tuổi, cho ra đồng cung ở tuổi Mão tại Mùi và tuổi Dậu tại Sửu, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ trên trục Thìn Tuất, tam hợp ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi, và cách hai cung không hội chiếu ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất; danh sách chính tinh có thể đồng cung với Phượng Các tại từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể và cung ấy cũng có thể trống. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Phượng Các không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.
Lưu ý về dị bản: phép an Long Trì và Phượng Các thống nhất giữa các bộ sách, nhưng cách an Giải Thần thì có dị bản: một số tài liệu an Giải Thần theo tháng sinh chứ không theo chi năm sinh, và khi ấy Giải Thần không còn trùng cung Phượng Các nữa. Bài này trình bày theo thuật toán đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, tức Giải Thần an theo chi năm sinh và luôn đồng cung Phượng Các; quý vị dùng sách khác thì nên kiểm lại cách an của sách ấy trước khi đối chiếu. Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, hai sao khác nhau và an theo hai tham số khác nhau. Một số tài liệu lưu truyền trong dân gian gán cho Phượng Các những câu phú và những lời ca ngợi mà bài này không dẫn, vì chưa đối chiếu được với bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Phượng Các
Phượng Các là sao chủ khoa giáp và vẻ đẹp trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc đới Thổ, đi cặp với Long Trì. Bộ Long Phượng chủ thông minh, đỗ đạt, cưới hỏi và làm nhà cửa cao đẹp, công danh hưng vượng.
Hai sao cùng bộ khoa giáp, ý nghĩa gần như nhau, chỉ khác chiều an (Long Trì thuận, Phượng Các nghịch). Khi hội đủ thành bộ Long Phượng thì cách càng đẹp.
Phượng Các ở Điền Trạch làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi, lợi cho việc nhà cửa, nhất là khi đi cùng Long Trì và cát tinh.
Phượng Các an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Long Trì trong lá số.
Có, và đây là điều bất biến tuyệt đối trên thuật toán an sao đang chạy của thayungkhiem.vn. Phượng Các và Giải Thần dùng chung đúng một công thức là lấy cung Tuất đếm ngược đi số bước bằng chỉ số chi năm sinh, nên hai sao trùng khít nhau ở cả mười hai tuổi, không có ngoại lệ nào. Hễ thấy Phượng Các là thấy Giải Thần và ngược lại. Hệ quả khi luận rất rõ: cung có Phượng Các bao giờ cũng mang hai lớp nghĩa chồng lên nhau, một lớp là khoa giáp danh dự và dung mạo, một lớp là giải trừ tai ách. Xin lưu ý có dị bản an Giải Thần theo tháng sinh; bài này trình bày theo cách an của trang.
Có. Long Trì an tại cung mang chi năm sinh đếm thuận thêm bốn cung, mà Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế nên cũng cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận. Hai công thức trùng khít, máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả đồng cung mười hai trên mười hai lần. Điều này quan trọng với người đọc bài Phượng Các, vì nó có nghĩa là mỗi khi Long Trì chiếu tới hoặc ngồi cùng Phượng Các thì Quan Phù cũng có mặt ở đó, tức khí giấy tờ pháp lý luôn đi kèm bộ Long Phượng. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ.
Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng tại Mùi, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng tại Sửu. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì Phượng Các tại Tuất và Long Trì tại Thìn, tuổi Ngọ thì đảo lại. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Bốn tuổi còn lại là Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung nên không hội chiếu được, chúng chỉ giáp lấy một cung ở giữa và cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi. Nguyên nhân là Long Trì đếm thuận còn Phượng Các đếm nghịch, nên hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi.
Vì khoảng cách giữa Phượng Các và sáu sao ở vị trí lẻ của vòng Thái Tuế luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Sáu sao ấy là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức và Trực Phù. Kéo theo là bốn sao luôn an trùng cung với chúng: Thiên Không trùng Thiếu Dương, Nguyệt Đức trùng Tử Phù, Thiên Đức trùng Phúc Đức, Quán Sách trùng Trực Phù. Vậy Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với cả mười sao ấy. Đáng chú ý nhất là Long Đức, vì hai ngôi sao được coi là chủ giải trừ rõ nhất của khoa Tử Vi lại vĩnh viễn không cộng lực được với nhau.