Sao Mộ trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Mộ

Chặng thứ chín của vòng, còn gọi là Khố, ví như kho chứa. Mộ chủ sự thu tàng, tích trữ, cất giữ, mang ý nghĩa của kho tàng và sự bền chặt.

Chặng thu tàngVòng Trường SinhKho tàng, tích trữTheo Cục
Tên sao: Mộ
Ngũ hành/Chặng: Chặng Thu Tàng
Nhóm: Vòng Trường Sinh
Cách an: Theo Cục của lá số
Cai quản: thu tàng, tích trữ, giữ của
Tính chất: Kho tàng, tích trữ
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Mộ là gì

Một chặng trong vòng Trường SinhẢnh minh họa cập nhật sau Sao Mộ trong Tử Vi Đẩu Số
Một chặng trong vòng Trường Sinh

Mộ là chặng thứ chín của vòng Trường Sinh, còn gọi là Khố, tức kho chứa. Khác với cái tên gợi mồ mả, ý nghĩa cốt lõi của Mộ là sự thu tàng, tích trữ, cất giữ. Đây là chặng của kho tàng và sự bền chặt, có tính giữ của.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Mộ an theo Cục, tức theo Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục hay Hỏa Lục Cục. Cục rút từ nạp âm của can chi cung Mệnh, mà can chi ấy sinh ra từ tháng sinh, giờ sinh và can năm hợp lại. Điều này cần nắm trước tiên: Mộ không phải một sao gán từ năm sinh vào lá số như Tang Môn hay Bạch Hổ, nó mọc lên từ chính bộ khung của lá số và chỉ đo nhịp của khí, không mang lực họa phúc riêng.

Kinh văn Phép an gồm hai bước. Bước một, đặt Tràng Sinh vào cung khởi theo Cục: Thủy Nhị Cục khởi tại Thân, Mộc Tam Cục khởi tại Hợi, Kim Tứ Cục khởi tại Tỵ, Thổ Ngũ Cục khởi tại Thân, Hỏa Lục Cục khởi tại Dần. Bước hai, từ cung ấy an tiếp theo thứ tự Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng; đi thuận với dương nam và âm nữ, đi nghịch với âm nam và dương nữ. Mộ đứng ở ô thứ chín, tức cách cung Tràng Sinh đúng tám cung.

Suy luận Con số tám ấy là con số đẹp nhất của cả vòng, và cả trang này xoay quanh nó. Tám cung tính từ cung khởi thì bằng đúng hai lần bốn cung, mà bốn cung là khoảng cách của thế tam hợp. Cho nên Mộ luôn nằm trong tam hợp với Tràng Sinh, và cũng luôn nằm trong tam hợp với Đế Vượng, bởi Đế Vượng đứng ở ô thứ năm tức cách cung khởi đúng bốn cung. Ba chặng ấy chia đều một vòng địa bàn thành ba phần, đứng thành một bộ tam hợp hoàn chỉnh, với mọi Cục và cả hai chiều an, không có ngoại lệ. Đây chính là thế Sinh Vượng Mộ mà mệnh lý Đông phương gọi tên, và nó sẽ được nói kỹ ở mục vòng phía dưới.

Suy luận Hệ quả thứ hai. Bốn cung khởi Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Tứ Sinh; cộng tám cung theo chiều thuận thì rơi vào Tuất, Thìn, Sửu, Mùi tức bốn cung Tứ Mộ; trừ tám cung theo chiều nghịch thì rơi vào Ngọ, Tý, Dậu, Mão tức bốn cung Tứ Chính. Nói gọn: người đi vòng thuận có Mộ ở Tứ Mộ, người đi vòng nghịch có Mộ ở Tứ Chính, và không ai có Mộ ở Tứ Sinh. Xin quý vị để ý điều đầu tiên cho kỹ: sao Mộ đi vòng thuận rơi đúng vào bốn cung mà bản thân địa bàn cũng gọi là Tứ Mộ, tức bốn cung kho. Tên gọi trùng nhau không phải ngẫu nhiên, cả hai đều lấy từ một nghĩa gốc là chỗ thu chứa. Bảng dưới là kết quả chạy đủ mười trường hợp.

Vị trí sao Mộ theo từng Cục và từng chiều an vòng Tràng Sinh
CụcTràng Sinh khởi tạiMộ khi vòng đi thuậnMộ khi vòng đi nghịch
Thủy Nhị CụcThânThìn
Mộc Tam CụcHợiMùiMão
Kim Tứ CụcTỵSửuDậu
Thổ Ngũ CụcThânThìn
Hỏa Lục CụcDầnTuấtNgọ

Sáu điều bất biến của Mộ, đã kiểm bằng máy

  1. Chỉ đóng tám cung, không bao giờ tới Tứ Sinh. Mộ có thể ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất; nó không bao giờ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, vì bốn cung ấy luôn thuộc về Tràng Sinh, Lâm Quan, Bệnh và Tuyệt.
  2. Tam hợp vĩnh viễn là Tràng Sinh và Đế Vượng. Đây là điều quan trọng nhất của cả trang. Cung giữ Mộ luôn được chặng mở đầu và chặng đỉnh của vòng chiếu về, không có Cục nào và chiều nào phá được quy luật này.
  3. Xung chiếu vĩnh viễn là Quan Đới. Cung đối diện Mộ luôn giữ chặng đội mũ áo bước vào đời, chặng của sự trưởng thành và ra mắt. Cái cất vào kho luôn nhìn thẳng vào cái đang bày ra.
  4. Hai cung kề luôn là Tử và Tuyệt. Một bên là chặng vừa khép lại, một bên là chặng khí cạn hẳn. Mộ nằm giữa hai chặng ấy đúng như cái kho nằm giữa lúc gặt xong và lúc đồng trống.
  5. Không bao giờ đồng cung và không bao giờ xung chiếu với Thiên Mã, Kiếp Sát hay Cô Thần. Ba sao ấy chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh mà Mộ không bao giờ tới đó. Riêng chi tiết Thiên Mã đáng nhớ: sao của di chuyển và chặng của cất giữ không bao giờ ngồi chung một cung, cấu trúc không cho phép, và điều ấy rất hợp với nghĩa của hai sao.
  6. Bộ Lộc Tồn Kình Đà gặp Mộ theo hai kiểu tùy chiều an. Vòng đi thuận, Mộ ở Tứ Mộ: có thể đồng cung với Kình Dương và với Đà La, nhưng không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, vì Lộc Tồn không hề có mặt ở Tứ Mộ. Vòng đi nghịch, Mộ ở Tứ Chính: có thể đồng cung với Lộc Tồn và với Kình Dương, nhưng không bao giờ đồng cung với Đà La. Đào Hoa chỉ gặp Mộ của người đi vòng nghịch; Quả Tú và Hoa Cái chỉ gặp Mộ của người đi vòng thuận.

Kinh nghiệm Điều thứ sáu có ích ngay khi luận, và với sao Mộ thì nó đặc biệt đáng nói. Người đi vòng nghịch có Mộ ở Tứ Chính và có thể trùng Lộc Tồn, thành thế kho có của: cái kho ấy thật sự có thứ để chứa, đây là thế đẹp nhất mà chặng Mộ có được. Người đi vòng thuận có Mộ ở Tứ Mộ, tức kho nằm đúng cung kho, nhưng vĩnh viễn không có Lộc Tồn ngồi cùng, mà lại có thể có Đà La, thành thế kho đóng: chứa được nhiều nhưng lấy ra thì chậm, phải có sao khai mở. Hai kiểu ấy cho hai lời khuyên khác hẳn nhau, mà nếu không xét chiều an thì luận sai ngay từ đầu.

Suy luận Về chính tinh đồng cung, chạy đủ mười hai thế Tử Vi tại tám cung khả dĩ cho thấy cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng chung cung với Mộ, không sao nào bị loại. Đây là chỗ sách nói kỹ nhất về chặng này: cổ nhân bảo chính tinh tốt nhập Mộ thì như của quý cất trong kho, chờ đúng lúc mở ra lại càng quý. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi vốn là chỗ đứng của Vũ Khúc độc tọa, của bộ Nhật Nguyệt cùng cung, của Tử Vi đi cặp với Phá Quân hoặc Thiên Tướng; bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu là chỗ Tử Vi độc tọa và Thái Dương miếu địa. Nghĩa là một cung có Mộ vẫn có thể là cung dày nhất lá số.

3 Mười Hai Chặng Của Vòng Và Cách An Theo Cục

Mộ an theo Cục, đứng tại một trong mười hai cungẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và vị trí sao Mộ
Mộ an theo Cục, đứng tại một trong mười hai cung

Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.

Trong vòng mười hai chặng, Mộ giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Mộ.

4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Chặng Mộ

Mộ chủ thu tàng, tích trữ, kho tàngẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và ý nghĩa của Mộ
Mộ chủ thu tàng, tích trữ, kho tàng

Mộ mang khí của sự cất giữ và tích lũy. Ở cung Tài, Điền, nó có thể mang ý nghĩa kho tàng, biết tích trữ, giữ của bền; ở cung Mệnh, người có Mộ thường kín đáo, biết thu vén, đôi khi hơi bảo thủ. Mộ còn gắn với mộ phần, gia tộc, nền tảng tổ tiên.

Mộ là chặng đặc biệt: chính tinh tốt nhập Mộ thì như của quý cất kho, gặp thời mở ra lại quý; nhưng cũng có khi nhập Mộ là bị giam, cần Tuần Triệt hay sao khai mở. Đây là chỗ cần luận kỹ theo chính tinh.

5 Chỗ Đứng Của Mộ Trong Vòng Tràng Sinh

Kinh văn Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh: vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Thần Sát đếm theo tam hợp chi năm, và vòng Tràng Sinh đếm theo Cục. Ba vòng đầu lấy mốc từ năm sinh, riêng vòng Tràng Sinh lấy mốc từ Cục, mà Cục cũng là con số khởi đại vận, nên vòng này là nhịp sinh trưởng của bản thân lá số. Mười hai chặng của nó mượn hình ảnh một đời người: Tràng Sinh là lúc sinh ra, Mộc Dục là lúc tắm gội còn non, Quan Đới là lúc đội mũ áo vào đời, Lâm Quan là lúc ra làm quan, Đế Vượng là đỉnh, Suy là lúc bắt đầu xuống, Bệnh là lúc thân phải nghỉ, Tử là lúc một chu kỳ khép lại, Mộ là lúc thu hết vào kho, rồi Tuyệt là khí cạn, còn Thai và Dưỡng là mầm mới. Mười hai sao lấp kín mười hai cung, mỗi cung đúng một sao.

Suy luận Hình ảnh đúng nhất cho chặng này là bốn mùa của nhà nông. Tràng Sinh là gieo hạt đầu xuân, Đế Vượng là lúa chín rộ giữa hạ, Suy và Bệnh là lúc đồng đã gặt xong và người phải nghỉ, Tử là lúc cây trút hết lá, Mộ là lúc thóc vào bồ và nhựa rút hết về gốc, Tuyệt là ngày đông chí đồng trống, còn Thai và Dưỡng là mầm nằm dưới đất chờ xuân. Trong cả vòng, Mộ là chặng duy nhất mang nghĩa có được cái gì đó và giữ lấy nó. Người xưa đặt tên nó là Khố, tức kho, và chữ Mộ chỉ là chữ mượn cùng âm cùng nghĩa gốc là chỗ chôn giữ, chôn ở đây là chôn thóc chứ không phải chôn người.

Suy luận Mộ đứng ở ô thứ chín, tính Tràng Sinh là ô thứ nhất; kề nó trong dãy là Tử ở ô thứ tám và Tuyệt ở ô thứ mười. Vị trí ấy quyết định toàn bộ ý nghĩa: Mộ là chỗ cất giữ thành quả của cả một vòng vừa qua, ngay trước lúc khí cạn để sinh lại. Nó là bồ thóc của cả mùa, và cũng là thứ để sống qua đoạn đồng trống phía sau.

Vị trí mười hai sao vòng Tràng Sinh theo từng Cục khi vòng đi thuận
CụcTràng SinhMộc DụcQuan ĐớiLâm QuanĐế VượngSuyBệnhTửMộTuyệtThaiDưỡng
Thủy Nhị CụcThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
Mộc Tam CụcHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
Kim Tứ CụcTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
Thổ Ngũ CụcThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
Hỏa Lục CụcDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu

Suy luận Bảng trên là chiều thuận, dùng cho dương nam và âm nữ; với âm nam và dương nữ thì vòng chạy ngược từ đúng cung khởi ấy, nên đọc bảng theo hàng ngược lại là ra. Bảng bốn chặng liền nhau ở cuối mục ghi sẵn cả hai chiều.

Bốn quan hệ cố định của Mộ trong vòng

Suy luận Khoảng cách giữa hai chặng trong dãy là con số cứng, nên mọi quan hệ chiếu của Mộ tính chắc chắn được. Chạy đủ mười trường hợp cho kết quả sau, không có trường hợp lệch.

Quan hệ cố định giữa Mộ và các chặng khác trong vòng Tràng Sinh
Vị thếChặng luôn ở đóNghĩa của thế ấy
Đồng cungkhông có chặng nào khácMỗi cung chỉ chứa đúng một sao của vòng, nên Mộ không bao giờ ngồi chung với một chặng khác. Ai luận "Mộ gặp Tuyệt cùng cung" là đã an sai vòng.
Tam hợp chiếuTràng Sinh và Đế VượngThế Sinh Vượng Mộ, quan hệ quý nhất mà một chặng của vòng có thể có. Chỗ cất giữ luôn được chỗ sinh ra và chỗ mạnh nhất chiếu về, nghĩa là kho này có nguồn để đầy và có sức để giữ.
Xung chiếuQuan ĐớiCung đối diện luôn giữ chặng đội mũ áo vào đời, chặng của sự bày ra và ra mắt. Cất và bày là hai mặt của một việc: muốn bày ra chỗ kia thì phải có cái đã cất ở chỗ này.
Kề hai bên (giáp)Tử và TuyệtMột bên vừa khép lại, một bên khí cạn. Mộ là chỗ giữ lại thành quả giữa hai chặng trống ấy, nên lời luận phải mang nghĩa tích chứa và bảo toàn.

Thế Sinh Vượng Mộ tam hợp, đọc cho đúng

Suy luận Xin nói kỹ dòng thứ hai của bảng, vì đây là phần đáng giá nhất của trang. Tràng Sinh đứng ở ô thứ nhất, Đế Vượng ở ô thứ năm, Mộ ở ô thứ chín; ba số ấy cách đều nhau bốn đơn vị, mà bốn cung chính là khoảng cách tam hợp trên địa bàn. Cho nên ba chặng này luôn luôn đứng thành một bộ tam hợp hoàn chỉnh. Kiểm bằng máy đủ năm Cục nhân hai chiều thì thấy rõ: Kim Tứ Cục cho bộ Tỵ, Dậu, Sửu; Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cho bộ Thân, Tý, Thìn; Mộc Tam Cục cho bộ Hợi, Mão, Mùi; Hỏa Lục Cục cho bộ Dần, Ngọ, Tuất. Đúng bốn bộ tam hợp cục quen thuộc của mệnh lý Đông phương, không sai một trường hợp nào.

Kinh nghiệm Nghĩa của bộ ba ấy rất gọn và rất dùng được. Tràng Sinh là nguồn, Đế Vượng là sức, Mộ là kho. Ba cung chức giữ ba chặng này hợp thành một mạch khép kín: lĩnh vực ở cung Tràng Sinh là chỗ sinh ra cái mới, lĩnh vực ở cung Đế Vượng là chỗ mạnh nhất đời, và lĩnh vực ở cung Mộ là chỗ thành quả của hai cái kia đọng lại. Thầy thường bảo học trò: muốn biết một người tích được cái gì thì tìm cung Mộ, còn muốn biết cái ấy từ đâu ra thì nhìn hai cung tam hợp với nó. Ba cung đọc một mạch mới thành câu, đọc rời thì mỗi cung chỉ là một chữ.

Kinh nghiệm Một cách dùng cụ thể hơn. Nếu cung Mộ rơi vào Điền Trạch mà Đế Vượng ở Quan Lộc thì đọc là: sức mạnh nhất của người này nằm ở sự nghiệp, và cái đọng lại từ sự nghiệp ấy là nhà cửa đất đai. Nếu cung Mộ rơi vào Phúc Đức mà Tràng Sinh ở Phu Thê thì đọc là: cái người này tích được cả đời là sự an trong lòng, và nó bắt nguồn từ đời sống vợ chồng. Rất cụ thể, rút thẳng từ cấu trúc chứ không phải đoán, và đây chính là chỗ vòng Tràng Sinh góp phần thật vào lời luận.

Ba cung liền nhau: Tử, Mộ, Tuyệt

Kinh nghiệm Ba chặng này nằm liền ba cung trên địa bàn. Đọc liền một mạch: cung giữ Tử là lĩnh vực nên khép lại cho gọn, cung giữ Mộ là lĩnh vực để cất giữ và tích chứa, cung giữ Tuyệt là lĩnh vực đã cạn và nên buông. Ba cung ấy nói ba việc khác nhau, và giữa hai chặng trống thì Mộ chính là chỗ có của.

Bốn chặng liền nhau từ Bệnh tới Tuyệt theo từng Cục và từng chiều an
Cục và chiều anBệnhTửMộTuyệt
Thủy Nhị Cục, đi thuậnDầnMãoThìnTỵ
Thủy Nhị Cục, đi nghịchDầnSửuHợi
Mộc Tam Cục, đi thuậnTỵNgọMùiThân
Mộc Tam Cục, đi nghịchTỵThìnMãoDần
Kim Tứ Cục, đi thuậnHợiSửuDần
Kim Tứ Cục, đi nghịchHợiTuấtDậuThân
Thổ Ngũ Cục, đi thuậnDầnMãoThìnTỵ
Thổ Ngũ Cục, đi nghịchDầnSửuHợi
Hỏa Lục Cục, đi thuậnThânDậuTuấtHợi
Hỏa Lục Cục, đi nghịchThânMùiNgọTỵ

Mộ không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc Tứ Hóa thế nào

Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cộng Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, và ở Bắc phái thêm Thiên Phủ. Mộ không có tên trong bảng ấy, nên nó không bao giờ tự hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và sách cũng không nói gì tới việc Mộ chịu hóa. Chỗ này ghi thẳng là không có.

Suy luận Đường ảnh hưởng là gián tiếp, qua chính tinh đồng cung, và với chặng Mộ thì bốn hóa cho bốn cảnh rất khác nhau. Chính tinh cùng cung hóa Lộc là cảnh đẹp nhất: kho có của, thứ cất vào là thứ đáng cất, lĩnh vực ấy tích được thật. Hóa Quyền thì kho có người trông: người này giữ được cái mình đã tích và có tiếng nói trong lĩnh vực ấy, không dễ bị lấy mất. Hóa Khoa thì cái cất vào là danh tiếng và tri thức chứ không phải của cải, thường ứng vào người tích chữ nghĩa, tích kinh nghiệm, tích uy tín nghề. Hóa Kỵ là cảnh phải nói kỹ nhất: kho bị khóa, của thì có mà lấy ra không được, tiền nằm trong tài sản không thanh khoản, tình cảm giữ trong lòng không nói ra, kiến thức tích mãi mà không dùng. Cách xử không phải là sợ, mà là tìm cách mở: chuyển đổi tài sản, nói ra điều đang giữ, đem cái đã học ra dùng.

Kinh nghiệm Sách xưa có một ý rất hay về chặng này mà Thầy muốn nhắc lại cho đúng mức. Cổ nhân nói chính tinh tốt nhập Mộ thì như của quý cất trong kho, gặp thời mở ra lại càng quý; nhưng nếu kho không bao giờ được mở thì của quý cũng nằm đó suốt. Vì vậy khi thấy một cung mạnh mà giữ chặng Mộ, việc của người luận là chỉ ra cái gì đang mở kho ấy: Tuần Triệt án ngữ có tác dụng khai mộ, Hóa Lộc và Lộc Tồn làm kho sinh lợi, đại vận đi vào cung ấy cũng là một lần mở. Nói được chỗ mở thì lời luận mới có ích.

Suy luận Vì mọi lẽ trên, đọc Mộ mà không đọc cả vòng là đọc thiếu. Bản thân Mộ chỉ nói một điều: chỗ này là kho. Kho có gì thì phải xem chính tinh và Tứ Hóa cùng cung; của trong kho từ đâu ra thì phải xem hai cung tam hợp giữ Tràng Sinh và Đế Vượng; kho ấy dùng để bày ra việc gì thì xem cung Quan Đới đối diện. Cắt một chặng ra khỏi vòng để phán là mất hết nghĩa.

6 Bốn Cung Sách Nhắc Tới Trước Tiên

Mộ đóng ở cung nào thì nhuốm sắc thái của chặng này vào lĩnh vực đó.

CungÝ nghĩa khi có Mộ
MệnhKín đáo, biết thu vén, đôi khi bảo thủ.
Tài BạchBiết tích trữ, giữ của bền, có kho.
Điền TrạchLợi tích lũy nhà đất, có nền tảng tổ tiên.
Phúc ĐứcHướng về cội nguồn, gia tộc, mồ mả tổ tiên.

7 Mộ An Tại 12 Cung Chức

Mộ bị khóa vào tám địa chi ngoài Tứ Sinh, nhưng tám địa chi ấy rơi vào cung chức nào là tùy nơi an Mệnh, nên nó xuất hiện được ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới tách hai cảnh: khi Mộ được chính tinh miếu vượng và cát tinh đỡ, tức kho có của và kho mở được, và khi nó bị sát tinh, Hóa Kỵ hoặc chính tinh hãm kéo xuống, tức kho rỗng hoặc kho khóa. Xin nhớ một câu trước khi đọc: cột bên phải là điều cần chủ động mở ra, không phải điều sẽ xảy ra.

Ý nghĩa của sao Mộ tại từng cung chức trong hai cảnh cát và hung
CungKhi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinhKhi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm
MệnhNgười kín đáo, biết thu vén, tích lũy giỏi, nói ít mà giữ được nhiều; càng lớn tuổi càng dày vốn cả về của lẫn về hiểu biết. Mẫu người đáng tin để gửi gắm.Bảo thủ, ôm giữ quá mức, khó chia sẻ và khó thay đổi; dễ tiếc cái cũ tới mức bỏ lỡ cái mới. Cần tập nói ra và tập buông.
Phụ MẫuGia đình có nền, có nếp, có thứ để lại; bậc trên kỹ tính và biết dành dụm cho con cháu.Chuyện của cha mẹ hay giữ kín không nói, dễ thành hiểu lầm; nên chủ động hỏi về việc nhà và giấy tờ khi còn kịp.
Phúc ĐứcPhúc dày và bền, tâm tính điềm đạm, biết đủ; hưởng phúc muộn nhưng hưởng lâu, hay hướng về cội nguồn và gia tộc.Hay giữ tâm sự trong lòng, nghĩ nhiều mà không nói ra, dồn lâu thành nặng. Cần người để trò chuyện và cần cho phép mình buông bớt.
Điền TrạchĐây là chỗ hợp nhất của chặng Mộ. Có nhà đất bền, tích lũy được bất động sản, giữ được của hương hỏa; nhà thường rộng chỗ chứa và có kho.Nhà chất nhiều đồ không dùng, tài sản nằm im không sinh lợi, giấy tờ nhà đất còn vướng. Nên dọn bớt và làm rõ giấy tờ, đó là cách mở kho.
Quan LộcHợp nghề tích lũy và lưu giữ: kho vận, tài chính, lưu trữ, bảo tàng, nông sản, xây dựng, bất động sản, nghiên cứu lâu dài. Càng làm lâu càng có giá.Công việc đọng lại, công sức bỏ ra chưa quy đổi được thành kết quả thấy được. Nên tổng kết và công bố cái mình đã làm, đừng để nằm im.
Nô BộcBạn ít mà bền, giữ được mối quan hệ lâu năm; người quen cũ chính là vốn của mình.Giữ quan hệ trong lòng mà không liên lạc, lâu ngày thành xa. Nên chủ động hỏi thăm, quan hệ cũng là thứ cần lấy ra khỏi kho.
Thiên DiRa ngoài để gom về, hợp việc mua bán tích trữ và việc đi lấy hàng; đi ít mà mỗi lần đi đều mang được cái gì đó về.Ngại ra ngoài, quanh quẩn chỗ quen nên bỏ lỡ cơ hội. Nên chủ động mở rộng vòng quen biết dù chỉ từng bước nhỏ.
Tật ÁchSức khỏe kiểu tích trữ tốt, sức bền cao, ít khi ốm nặng nếu giữ nếp điều độ.Cần chú ý các chứng do tích tụ và ứ đọng, chuyển hóa chậm, cùng những căng thẳng dồn nén lâu ngày. Đây là lời nhắc khám định kỳ và điều chỉnh nếp sinh hoạt, tuyệt đối không phải lời phán bệnh.
Tài BạchRất hợp: biết giữ của, tích lũy đều, có khoản dành dụm bền; tiền vào thì ở lại chứ không trôi đi.Tiền nằm chết trong thứ khó bán, thiếu tiền mặt xoay xở dù tổng tài sản không nhỏ. Nên cơ cấu lại cho có phần linh hoạt.
Tử TứcCon cái tính kín, chắc chắn, biết dành dụm; việc mình gây dựng đã tới độ có nền, hợp giữ chất hơn tăng lượng.Con cái ít bộc lộ, cha mẹ phải chủ động lắng nghe; việc mình gây dựng nằm im, cần một lần làm mới để mở ra.
Phu ThêBạn đời kiểu biết vun vén, giữ nhà giữ của; tình cảm bền theo kiểu tích lũy từng ngày chứ không rực rỡ.Hai bên đều giữ trong lòng, ít nói ra, lâu ngày thành khoảng cách. Nên tập nói thẳng những điều nhỏ trước khi thành chuyện lớn.
Huynh ĐệAnh chị em gắn bó qua việc chung của gia đình, giữ được của hương hỏa và nếp nhà.Việc chung để lâu không bàn, nhất là chuyện tài sản thừa kế. Nên bàn sớm và ghi rõ ràng, tránh để lâu thành khúc mắc.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng. Bốn điều. Một, chặng Mộ nói cung ấy là kho, còn kho có gì thì do chính tinh và Tứ Hóa quyết định; không có chính tinh sáng thì kho vẫn là kho, chỉ là kho rỗng. Hai, cột bên phải hầu hết đều quy về một việc: mở kho ra, tức đem cái đang giữ ra dùng, ra nói, ra quy đổi. Ba, luôn đọc kèm hai cung tam hợp giữ Tràng Sinh và Đế Vượng, vì đó là nguồn và là sức làm đầy cái kho này. Bốn, riêng dòng Tật Ách xin đọc thật chừng mực: một phụ tinh nhỏ không định được bệnh gì và không thay được lời thầy thuốc.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Mộ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Mộ còn một tầng riêng: vì nó bị khóa ngoài bốn cung Tứ Sinh và đổi chỗ theo chiều an vòng, có những sao chỉ gặp được nó ở một trong hai chiều, có sao thì cấu trúc không cho gặp bao giờ. Mỗi dòng dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ, đã kiểm bằng thuật toán an sao.

Mộ hợp khi gặp

  • Chính tinh miếu vượng (đồng cung; cả mười bốn chính tinh đều có thể tới): đây là điều kiện quan trọng nhất, và với chặng Mộ thì nó quyết định tất cả. Chính tinh sáng nhập Mộ là của quý cất trong kho, chờ thời mở ra lại càng quý.
  • Lộc Tồn (đồng cung chỉ khi vòng đi nghịch, tức Mộ ở Tứ Chính; đi thuận thì chỉ chiếu được): kho có của, đây là thế đẹp nhất mà chặng Mộ đạt tới.
  • Hóa Lộc (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): thứ cất vào là thứ đáng cất, lĩnh vực ấy tích được thật chứ không tích hình thức.
  • Tuần và Triệt (án ngữ ngay cung Mộ): đây là chỗ khác hẳn mọi sao khác. Với chặng Mộ, Tuần Triệt được cổ nhân coi là sao khai mộ, tức mở kho, làm lộ ra cái quý đang cất bên trong. Cùng một Tuần Triệt mà ở cung khác là trở ngại, ở cung Mộ lại thành lợi, và đây là điều đáng nhớ nhất trong hai cột này.
  • Tràng Sinh và Đế Vượng (luôn tam hợp chiếu): thế Sinh Vượng Mộ. Kho này có nguồn để đầy và có sức để giữ, đây là quan hệ có sẵn của cấu trúc chứ không phải điều may rủi.
  • Hóa Quyền (đồng cung qua chính tinh, hoặc chiếu): kho có người trông, giữ được cái mình đã tích và không dễ bị lấy mất.
  • Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh, hoặc chiếu): cái cất vào là danh tiếng, chữ nghĩa và uy tín nghề, thứ càng để lâu càng có giá.
  • Thiên Phủ, Thái Âm (đồng cung được ở nhiều vị trí): hai sao vốn chủ kho tàng và chủ điền sản, gặp chặng Mộ là gặp đúng nghĩa của mình, thường ứng vào người có của chìm.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Đức, Nguyệt Đức (đồng cung được hoặc chiếu): có người đỡ và có sao giải thì kho vừa đầy vừa dễ mở.

Mộ e ngại khi gặp

  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được vì hai sao đi đủ mười hai cung; giáp hai bên còn nặng hơn chiếu): kho bị phá, đây là tổ hợp đáng ngại nhất của chặng Mộ vì nó đánh thẳng vào cái mà Mộ chủ, tức của tích được.
  • Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất): kho bị khóa, của có mà lấy ra không được. Cách xử là tìm cách mở chứ không phải sợ.
  • Đà La (đồng cung chỉ khi vòng đi thuận, tức Mộ ở Tứ Mộ; đi nghịch thì không thể ngồi chung): kho đóng chặt, cất vào thì dễ mà lấy ra thì dây dưa kéo dài.
  • Kình Dương (đồng cung được ở cả hai chiều an): có người tranh phần trong kho, thường ứng vào chuyện chia chác tài sản hoặc thừa kế không thuận.
  • Đại Hao, Tiểu Hao (đồng cung hoặc chiếu): kho rò rỉ, cất vào bao nhiêu hao đi bấy nhiêu; nên rà lại các khoản chi cố định.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung được): nóng ruột mà bán tháo cái đáng giữ, hoặc gom vội cái không đáng gom.
  • Chính tinh hãm địa (đồng cung): kho rỗng, cất mãi mà không có gì để cất. Đây là trường hợp cung Mộ thật sự cần chú ý, và cũng phải nói cho đúng: cần gây dựng chứ không phải cần lo sợ.
  • Tuyệt cùng vòng (luôn ở cung kề): chặng ngay sau Mộ là chặng khí cạn, nhắc rằng của trong kho là để dùng cho quãng trống phía sau, không phải để cất mãi.
  • Thiên Mã: xin ghi vào đây một dòng ngược lại, cho quý vị khỏi bị dọa. Thiên Mã không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu với Mộ, vì nó chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh. Ai luận "Mộ gặp Mã nên của cải chạy mất" là đã an sai lá số.

Mộ là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.

9 Mộ Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Kinh văn Mộ không có bản lưu niên. Phải nói rõ ngay đầu mục. Vòng Thái Tuế có bản lưu, mỗi năm an lại theo chi của năm xem; vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu, mỗi năm an lại theo can của năm xem. Vòng Tràng Sinh thì không có: nó an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số, cả đời không đổi. Cho nên không hề có chuyện năm nay ai đó bị sao Mộ chiếu. Sao Mộ của một người nằm nguyên một cung suốt đời, và trang an lá số của thayungkhiem.vn cũng không sinh ra bản lưu nào cho vòng này.

Suy luận Cái chuyển động là đại vận và tiểu hạn đi qua chỗ Mộ đứng. Giáp vận nào trùng cung Mộ thì mười năm ấy được đọc thêm một lớp nghĩa: đây là quãng của tích lũy và bảo toàn, hợp gom về hơn hợp bung ra. Và vì Mộ luôn kề Tử và Tuyệt, giáp vận Mộ luôn nằm giữa quãng khép lại và quãng khí cạn, nghĩa là nó là quãng dành dụm cho đoạn sau. Biết trước trật tự ấy là biết lúc nào nên tích, đây là công dụng thực tế lớn nhất của sao này.

Kinh nghiệm Đại vận vào cung Mộ mà chính tinh miếu vượng, lại có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, thì mười năm ấy thường là quãng người ta mua được nhà, gom được vốn, hoặc gây dựng được cái để lại. Thầy gặp nhiều lá số mà đây chính là giáp vận người ta chuyển từ làm công sang có tài sản riêng. Ngược lại, đại vận vào cung Mộ mà chính tinh hãm, có Không Kiếp hoặc Hóa Kỵ, thì đây là mười năm phải cẩn thận với thứ mình đang giữ: đừng dồn hết vào một chỗ khó bán, đừng đứng tên hộ, và nên giữ một phần linh hoạt. Nói vậy là nói việc cần làm, không phải nói tai họa sẽ tới.

Suy luận Còn các lưu sao chạm vào cung Mộ thì có thật và phải xét. Mỗi năm, lưu Thái Tuế đóng tại cung của chi năm ấy; lưu Lộc Tồn theo can năm, kéo lưu Kình Dương và lưu Đà La kẹp hai bên; lưu Tang Hổ, lưu Khốc Hư, lưu Khôi Việt cũng an lại theo năm. Lưu Lộc Tồn về cung Mộ thì năm ấy kho được thêm của, rất hợp cho việc mua sắm tài sản lâu dài. Lưu Kình Đà hay lưu Khốc Hư về cung Mộ thì năm ấy nên cẩn thận với chuyện chia chác và giấy tờ tài sản.

Suy luận Ba năm gần đây tiện đối chiếu: lưu niên 2026 là năm Bính Ngọ với lưu Thái Tuế tại Ngọ và lưu Lộc Tồn tại Tỵ; lưu niên 2027 là năm Đinh Mùi với lưu Thái Tuế tại Mùi và lưu Lộc Tồn tại Ngọ; lưu niên 2028 là năm Mậu Thân với lưu Thái Tuế tại Thân và lưu Lộc Tồn tại Tỵ. Vì Mộ không bao giờ ở Tứ Sinh, người có Mộ chắc chắn không gặp lưu Thái Tuế về đúng cung ấy trong lưu niên 2028; còn người có Mộ tại Ngọ, tức người đi vòng nghịch với Hỏa Lục Cục, thì lưu niên 2027 có lưu Lộc Tồn về đúng cung kho của mình.

Kinh nghiệm Một lưu ý cuối. Mộ đứng yên còn vận thì chạy, nên nó là địa hình chứ không phải thời tiết: trên đường có một cái kho, biết chỗ thì gửi đồ vào, không biết thì đi qua tay không.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Mộ

Đây là mục quan trọng nhất của trang này. Chữ Mộ trong tiếng Việt gợi ngay tới mồ mả, và chỉ vì một chữ ấy mà một trong những chặng lành nhất của vòng Tràng Sinh bị đọc thành điềm gở. Bốn mục dưới đây tách cho thật rõ chỗ sách có nói và chỗ sách không nói.

Một: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra

Kinh văn Mộ là tên một chặng khí trong vòng mười hai chặng, đặt theo lối ẩn dụ, cùng lối với Mộc Dục mượn hình ảnh tắm gội và Quan Đới mượn hình ảnh đội mũ áo. Sách gọi chặng này bằng hai tên: MộKhố, mà Khố nghĩa là kho. Nghĩa gốc của nó là "khí thu về và cất lại", giống như cuối mùa nhựa rút hết về gốc cây, như thóc gặt xong thì vào bồ. Suy luận Không sách nào nói rằng người có Mộ thủ Mệnh thì gặp chuyện tang tóc hay liên quan mồ mả. Chữ mộ trong nghĩa chôn giữ là chôn của cải xuống đất cho yên, không phải chôn người. Đây là phụ tinh nhỏ, không ai được phép phán họa từ một chặng.

Kinh nghiệm Thầy xin nói thẳng: trong mười hai chặng, Mộ là chặng duy nhất mang nghĩa có được và giữ lấy. Trang gốc của bộ 121 sao đã ghi đúng ý này ngay từ dòng đầu, và Thầy nhắc lại cho rõ hơn: đọc Mộ là đọc về kho tàng, tích chứa, thu về, giữ của, nền tảng. Ai đọc chữ Mộ thành tang sự là đọc theo âm chữ tiếng Việt chứ không đọc theo nghĩa mệnh lý, và làm vậy là bỏ mất chính cái hay của sao này.

Hai: Mộ nằm ở giữa một bộ tam hợp rất mạnh, không nằm một mình

Suy luận Đây là lập luận từ cấu trúc, đã kiểm bằng máy đủ mười trường hợp. Cung giữ Mộ luôn luôn được cung giữ Tràng Sinh và cung giữ Đế Vượng chiếu về, vì ba chặng ấy cách nhau đúng bốn cung. Nói cách khác, chặng cất giữ luôn có chặng mở đầu và chặng đỉnh của cả vòng làm hai chân còn lại của thế tam hợp. So cho rõ: cung Suy có Mộc Dục và Tuyệt trong tam hợp, cung Tuyệt có Mộc Dục và Suy; còn cung Mộ thì có hai chặng mạnh nhất của vòng. Xét riêng về vòng, đây là cung được đỡ tốt nhất trong cả mười hai chặng. Cấu trúc nói vậy, và cấu trúc thì không nói theo cảm giác về chữ nghĩa.

Ba: nhập Mộ không phải là bị chôn, mà là được cất

Kinh văn Cổ nhân có nói tới chuyện chính tinh nhập Mộ, và đây là chỗ hay bị hiểu lệch nhất trong giới học Đẩu Số. Suy luận Ý của sách là: một chính tinh sáng đứng ở cung có chặng Mộ thì giống như của quý cất trong kho, chưa lộ ra ngoài, nên người ấy phát muộn và kín tiếng; nhưng khi kho được mở, thí dụ Tuần Triệt án ngữ, hoặc Hóa Lộc về, hoặc đại vận đi tới, thì cái quý ấy hiện ra và thường rất đáng kể. Đó là lời nói về thời điểm phát, không phải lời nói về mất mát. Đọc "nhập Mộ" thành "bị chôn vùi, hết đường" là đọc sai hẳn ý sách.

Kinh nghiệm Cũng vì lẽ ấy mà Tuần Triệt ở cung Mộ được cổ nhân gọi là khai mộ, tức mở kho, và đây là trường hợp hiếm hoi mà Tuần Triệt đóng vai có lợi. Thầy nhắc điều này vì rất nhiều người vừa thấy Tuần hoặc Triệt là lo, mà không biết rằng ở đúng cung này nó lại là chìa khóa.

Bốn: Mộ của Đẩu Số không phải mộ phần phong thủy, cũng không phải Mộ trong Bát Tự

Suy luận Ba thứ hay bị trộn làm một. Thứ nhất, mộ phần và phong thủy âm trạch là một khoa riêng, bàn về nơi chôn cất của người đã khuất và ảnh hưởng tới con cháu; nó không liên quan gì tới chặng Mộ của vòng Tràng Sinh, và không ai xem được mồ mả từ một phụ tinh trên lá số. Thứ hai, Bát Tự Tứ Trụ cũng có chặng cùng tên trong vòng mười hai trường sinh, nhưng ở đó nó tính theo thiên can Nhật Chủ đối chiếu địa chi từng trụ để đo cường nhược, còn trong Tử Vi thì an theo Cục và trải trên mười hai cung để đọc nhịp của từng cung chức. Thứ ba, bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi của địa bàn cũng được gọi là Tứ Mộ; đó là tên của cung, còn Mộ ở đây là tên của sao. Hai thứ trùng tên và có lúc trùng chỗ khi vòng đi thuận, nhưng vẫn là hai khái niệm khác nhau.

Kinh nghiệm Và một lời cuối cho mục này. Không có vật phẩm nào, lễ nào "giải" được sao Mộ, bởi vì không có gì để giải, và cũng chẳng ai muốn giải bỏ cái kho của chính mình. Việc cần làm với chặng này chỉ có một: biết mình đang cất cái gì, ở lĩnh vực nào, và mở nó ra đúng lúc.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Mộ Qua Ba Bước

Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số đã chọn: tuổi Tân Mùi, sinh tháng mười, ngày hai mươi sáu, giờ Tỵ, nam mệnh. Từ tháng và giờ ra cung Mệnh tại Ngọ; can chi cung Mệnh là Giáp Ngọ, nạp âm Sa Trung Kim, cho Kim Tứ Cục; tuổi Tân là âm can, nam mệnh, nên vòng Tràng Sinh đi nghịch; Kim Tứ Cục khởi Tràng Sinh tại Tỵ, đếm nghịch tám cung thì Mộ an tại Dậu. Lưới dưới vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao vòng Tràng Sinh không nằm trong nhóm được vẽ nên ghi bằng chữ ở ô giữa.

Bước một: Mộ đứng ở cung nào và đứng cùng ai

Mộ tại Dậu, mà Dậu trên lá số này là cung Điền Trạch, đồng cung với Thiên Cơ và Cự Môn, lại thêm Lộc Tồn cũng an tại Dậu vì tuổi Tân, và Cự Môn hóa Lộc cũng ngay tại đó. Đây là một minh họa gần như hoàn hảo cho nghĩa của chặng Mộ: cung kho của lá số rơi đúng vào cung nhà đất, lại có cả Lộc Tồn lẫn Hóa Lộc cùng đóng. Đọc thẳng ra là kho có của, và cái kho ấy là nhà cửa đất đai.

Xét tiếp bốn quan hệ cố định. Hai cung tam hợp là Tỵ giữ Tràng Sinh, tức cung Huynh Đệ có Thiên Đồng, và Sửu giữ Đế Vượng, tức cung Tật Ách, cung này không có chính tinh nên khi luận phải mượn sao của cung Mùi đối diện. Ba cung Tỵ, Dậu, Sửu đứng thành đúng một bộ tam hợp, và đó chính là thế Sinh Vượng Mộ đã nói ở mục vòng, hiện ra ngay trên lá số này. Cung đối diện Dậu là Mão giữ Quan Đới, tức cung Tử Tức. Hai cung kề là Tuất giữ Tử, tức cung Quan Lộc có Tử Vi cùng Thiên Tướng và có Kình Dương, và Thân giữ Tuyệt, tức cung Phúc Đức có Tham Lang và có Đà La.

Xin dừng lại ở hai chi tiết. Thứ nhất, Lộc Tồn ngồi được cùng Mộ vì vòng này đi nghịch, đúng như quy luật đã kiểm bằng máy: Mộ đi nghịch nằm ở Tứ Chính, mà Dậu là một cung Tứ Chính, nên Lộc Tồn tới được. Nếu người này là nữ mệnh thì vòng đi thuận, Mộ dời vào Tứ Mộ, và khi ấy Lộc Tồn vĩnh viễn không thể ngồi cùng. Thứ hai, Đà La đóng tại Thân là cung Tuyệt chứ không phải cung Mộ, cũng đúng quy luật, vì Đà La chỉ đồng cung được với Mộ khi vòng đi thuận.

Bước hai: Tứ Hóa và Lộc Tồn Kình Đà rơi vào đâu

Tuổi Tân có bộ Tứ Hóa là Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền, Văn Khúc hóa Khoa, Văn Xương hóa Kỵ. Đối chiếu lên lá số: Cự Môn hóa Lộc tại Dậu tức đúng cung Mộ, Thái Dương hóa Quyền tại Mùi tức cung Phụ Mẫu và đi cùng Thái Âm, còn Văn Khúc cùng Văn Xương là phụ tinh nên không vẽ trên lưới, vị trí của chúng tùy giờ sinh. Lộc Tồn tuổi Tân an tại Dậu, kéo Kình Dương về Tuất là cung Quan Lộc và Đà La về Thân là cung Phúc Đức.

Bố cục này gói gọn bài học của trang. Cung Điền Trạch tại Dậu có Thiên Cơ, Cự Môn hóa Lộc, Lộc Tồn và chặng Mộ. Đọc thành một câu: nhà đất là kho của người này, kho ấy có của thật, và Cự Môn hóa Lộc chủ tài lộc đến từ lời nói, từ nghề miệng lưỡi hoặc từ việc mua bán thương lượng, tức của trong kho là do biết nói mà có. Rất cụ thể, và không có một chữ nào là hù dọa.

Nhìn thêm hai cung tam hợp để biết của ấy từ đâu ra. Tràng Sinh ở cung Huynh Đệ với Thiên Đồng, Đế Vượng ở cung Tật Ách. Theo cách đọc thế Sinh Vượng Mộ: nguồn của cái kho này bắt đầu từ quan hệ anh chị em và người ngang hàng, còn sức để giữ nó nằm ở chính thân thể và nền sức khỏe của người này. Nói cho dễ hiểu, đây là người gây dựng được nhà cửa nhờ có anh em bạn bè cùng làm và nhờ sức bền của bản thân. Đó là điều mà riêng vòng Tràng Sinh nói ra được, các sao khác không nói.

Bước ba: đọc liền ba cung Tử, Mộ, Tuyệt

Ba cung liền nhau của lá số này là Tuất giữ Tử ở Quan Lộc với Tử Vi Thiên Tướng cùng Kình Dương, Dậu giữ Mộ ở Điền Trạch với Cơ Cự cùng Lộc Tồn, Thân giữ Tuyệt ở Phúc Đức với Tham Lang cùng Đà La. Đọc liền một mạch: sự nghiệp là chỗ đang khép lại một giai đoạn và có va chạm tranh phần, nhà đất là chỗ tích chứa và là phần được nhất, còn đời sống tinh thần là chỗ đã cạn và hay dây dưa nên cần được nuôi lại. Ba cung ấy nói ba việc khác nhau, và lời khuyên rút ra rất rõ: cái người này nên giữ là tài sản, cái nên khép lại cho gọn là giai đoạn công việc hiện thời, cái nên chăm sóc là lòng mình.

Và cung Quan Đới đối diện tại Mão là cung Tử Tức. Theo cách đọc cặp Mộ với Quan Đới: cái kho này rồi sẽ được bày ra ở lĩnh vực con cái, nghĩa là tài sản tích được sau cùng dùng cho con, hoặc chính con cái là chỗ người này đem thành quả của mình ra trình. Cặp cung đối nhau luôn cho một lời khuyên gọn như vậy.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang nữ mệnh. Tuổi Tân là âm can, nữ mệnh thì vòng đi thuận. Kim Tứ Cục vẫn khởi Tràng Sinh tại Tỵ, nhưng đếm xuôi tám cung nên Mộ dời sang Sửu, tức cung Tật Ách; Đế Vượng dời về Dậu là cung Điền Trạch, còn Tràng Sinh vẫn ở Tỵ. Ba cung Tỵ, Dậu, Sửu vẫn giữ nguyên thế tam hợp Sinh Vượng Mộ, chỉ đổi vai cho nhau, và đó là bằng chứng đẹp nhất rằng bộ ba này không bao giờ rời nhau. Nhưng lời luận đổi hẳn: kho của người này chuyển từ nhà đất sang thân thể, tức cái tích được là sức khỏe và sức bền; mà Mộ lúc này ở Tứ Mộ nên không thể đồng cung Lộc Tồn nữa, và quả thật Lộc Tồn vẫn dừng ở Dậu, nay rơi vào cung Đế Vượng.
  • Giữ nguyên tuổi Tân Mùi, nam mệnh, tháng và giờ sinh, chỉ đổi ngày sinh sang ngày mồng ba. Cung Mệnh và Cục đều tính từ tháng, giờ và can năm nên không đổi, vòng vẫn đi nghịch, Mộ vẫn nằm nguyên tại Dậu tức cung Điền Trạch, vẫn có Lộc Tồn. Cái đổi là vị trí Tử Vi, vì Tử Vi an theo Cục cộng ngày sinh: nay Tử Vi về Sửu, cả lưới chính tinh xoay theo, và cung Dậu lúc này là Vũ Khúc cùng Thất Sát thay cho Cơ Cự, còn Cự Môn hóa Lộc dời về cung Mệnh tại Ngọ. Cùng một cái kho, cùng có Lộc Tồn, mà chất đổi hẳn: từ kho của người làm nghề nói và thương lượng sang kho của người làm nghề cứng rắn, quyết đoán, có phần khắc nghiệt. Chất của cung do chính tinh và Tứ Hóa quyết định, không do tên chặng.
  • Đổi tuổi để đổi Cục. Cùng cung Mệnh tại Ngọ và vòng vẫn đi nghịch, nhưng đổi sang một tuổi khác thì Cục khác và cả vòng dời chỗ. Thí dụ một lá số nam mệnh tuổi Đinh, Mệnh cũng tại Ngọ, cho Thủy Nhị Cục: Tràng Sinh khởi tại Thân và Mộ dời về Tý, tức cung Thiên Di, kho của người ấy nằm ở đường đi và ở môi trường bên ngoài. Một lá số nam mệnh tuổi Quý, Mệnh cũng tại Ngọ, cho Hỏa Lục Cục: Tràng Sinh khởi tại Dần và Mộ dời về đúng cung Mệnh, tức chính bản thân người ấy là cái kho, mẫu người kín đáo và tích lũy giỏi. Cả ba trường hợp, thế Sinh Vượng Mộ vẫn nguyên vẹn, chỉ đổi bộ tam hợp.

Muốn biết Mộ của mình đứng ở cung nào, tức lĩnh vực nào là cái kho của đời mình, quý vị an lá số miễn phí tại trang lập lá số Tử Vi rồi tra theo bảng Cục ở mục cơ chế an sao phía trên.

12 Lời Khuyên Khi Lá Số Có Mộ

Kinh nghiệm Mộ không cần hóa giải, nó cần được dùng đúng. Điều thứ nhất: xác định cho được cung chức nào giữ Mộ, rồi coi lĩnh vực ấy là kho của đời mình và đối xử với nó cho xứng. Nghĩa là dồn phần tích lũy vào đúng lĩnh vực ấy, đừng rải đều, vì đó là chỗ mình giữ được lâu nhất. Mộ ở Điền Trạch thì tích vào nhà đất, Mộ ở Phúc Đức thì tích vào phúc phần và sự an trong lòng, Mộ ở Quan Lộc thì tích vào nghề và uy tín nghề.

Suy luận Điều thứ hai: nhớ rằng kho nào cũng phải có lúc mở. Chặng Mộ chỉ ra chỗ cất, và cái bẫy duy nhất của nó là cất mãi mà không lấy ra dùng. Hãy tự hỏi mỗi năm một lần: trong lĩnh vực này, mình đang giữ cái gì mà lẽ ra nên đem ra dùng. Đó có thể là một khoản tiền nằm im, một kinh nghiệm chưa truyền lại, một lời chưa nói với người thân, một thứ đã học mà chưa bao giờ đem ra làm.

Kinh nghiệm Điều thứ ba: nhìn hai cung tam hợp giữ Tràng Sinh và Đế Vượng, vì đó là nguồn và là sức làm đầy cái kho. Nếu kho đang vơi thì đừng chỉ nhìn vào kho, hãy nhìn hai chỗ kia. Thí dụ Mộ ở Tài Bạch mà Đế Vượng ở Quan Lộc thì muốn tiền vào kho phải mạnh tay đầu tư cho nghề, chứ không phải ngồi tiết kiệm thêm. Thế Sinh Vượng Mộ đọc như vậy mới ra lời khuyên.

Kinh nghiệm Điều thứ tư. Nếu quý vị vừa đọc thấy chữ Mộ trên lá số mình và thấy lo vì cái tên, xin dừng lại và đọc lại mục ranh giới phía trên. Đây là một phụ tinh nhỏ trong bộ 121 sao, nó không phán được điều gì cả, và tên của nó nghĩa là kho chứ không phải mồ mả. Trong cả vòng, đây lại là chặng lành nhất về mặt cấu trúc, vì nó luôn được Tràng Sinh và Đế Vượng chiếu về. Xin đừng để một cái tên làm hỏng cách đọc cả lá số, và xin đừng mua bất cứ vật phẩm nào để "giải sao Mộ".

Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung

Những gợi ý dưới đây không phải phép trấn yểm và cũng không đổi được lá số, chúng chỉ là cách sắp xếp đời sống cho hợp với một nhịp thu tàng: giữ trong nhà một chỗ cất đồ gọn gàng và biết trong đó có gì, vì kho lộn xộn thì cất bao nhiêu cũng như không; mỗi năm dọn bỏ một lần những thứ đã hết vai trò để chỗ cho cái đáng giữ; lập một khoản dành dụm cố định và đừng động tới, đó là cái kho thật của mình; ghi lại những gì mình học được thay vì để trong đầu, vì tri thức không ghi thì không tích được; và giữ giấy tờ nhà đất, thừa kế cho rõ ràng từ sớm, đây là việc rất hợp với chặng này và tránh được nhiều phiền phức về sau.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài này chỉ ghi sách trang này thật sự dẫn, và nói rõ phần nào kiểm bằng máy.

  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (bản Việt ngữ Vũ Tài Lục): phép an vòng Tràng Sinh theo Cục, cung khởi của Tràng Sinh ứng với từng Cục, quy tắc đi thuận hay nghịch theo âm dương của tuổi cùng giới tính.
  • Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang): phần luận mười hai chặng sinh vượng tử tuyệt, trong đó có nghĩa của Mộ là chặng thu tàng, còn gọi là Khố tức kho chứa, và ý chính tinh tốt nhập Mộ như của quý cất trong kho.
  • Đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài. Cụ thể là bảng vị trí Mộ theo năm Cục nhân hai chiều an; khẳng định Mộ chỉ đóng tám cung ngoài Tứ Sinh, ở Tứ Mộ khi vòng đi thuận và ở Tứ Chính khi vòng đi nghịch; thế Sinh Vượng Mộ tam hợp với Tràng Sinh và Đế Vượng, đúng với cả mười trường hợp và cho ra đúng bốn bộ tam hợp cục Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi; quan hệ xung chiếu cố định với Quan Đới và hai cung kề là Tử cùng Tuyệt; và các kết luận về việc Mộ không bao giờ đồng cung hay xung chiếu với Thiên Mã, Kiếp Sát, Cô Thần, chỉ đồng cung được với Lộc Tồn khi vòng đi nghịch, chỉ đồng cung được với Đà La khi vòng đi thuận, còn cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng chung cung với nó.
  • Không có câu phú riêng cho Mộ. Cả Toàn Thư lẫn Tân Biên đều không lập phú cho từng chặng của vòng Tràng Sinh; các câu liên quan đều nói về cả vòng hoặc nói về việc chính tinh nhập Mộ. Bài này vì thế không dẫn câu phú nào, và cũng không đặt ra câu mới.

Ghi chú về dị bản và về chỗ dễ lẫn

Bốn chỗ xin nêu rõ để quý vị không nghĩ là lỗi của trang. Thứ nhất, tên vòng: sách in cả Trường Sinh lẫn Tràng Sinh, cùng một chữ Hán, trang này dùng Tràng Sinh cho khớp bảng an sao. Thứ hai, tên chặng: một số sách gọi chặng này là Khố thay vì Mộ, hai tên cùng một nghĩa là kho chứa, trang này dùng Mộ cho khớp bảng an sao. Thứ ba, chiều an vòng: đa số sách Việt theo quy tắc dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi nghịch, và trang an lá số theo đúng quy tắc ấy; nếu quý vị đối chiếu phần mềm khác mà thấy Mộ lệch từ Tứ Mộ sang Tứ Chính thì gần như chắc chắn là do chỗ này. Thứ tư, xin đừng lẫn sao Mộ của vòng Tràng Sinh với bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi của địa bàn; một bên là sao, một bên là cung, tuy trùng tên và có lúc trùng chỗ.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc, riêng trang này dựa trên cách an vòng Tràng Sinh theo Cục trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và phần luận mười hai chặng sinh vượng của Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, đối chiếu với kinh nghiệm luận giải thực tế và kiểm lại toàn bộ phần cấu trúc bằng chính thuật toán an sao đang chạy trên thayungkhiem.vn.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Mộ

Mộ là chặng thứ chín của vòng Trường Sinh trong Tử Vi Đẩu Số, còn gọi là Khố tức kho chứa. Ý nghĩa cốt lõi là sự thu tàng, tích trữ, cất giữ, mang tính kho tàng và bền chặt, có tính giữ của.

Tùy trường hợp. Chính tinh tốt nhập Mộ như của quý cất trong kho, gặp thời khai mở lại rất quý; nhưng cũng có khi nhập Mộ là bị giam, cần Tuần Triệt hay sao khai mở. Đây là chỗ phải luận kỹ theo từng chính tinh.

Mộ an theo Cục, đứng liền sau Tử trong vòng mười hai chặng. Biết Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra vị trí Mộ.

Mộ ở Tài Bạch hay Điền Trạch mang ý nghĩa kho tàng, biết tích trữ, giữ của bền, lợi tích lũy nhà đất. Gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc thì kho đầy; gặp Không Kiếp thì kho bị phá.

Không. Chữ Mộ ở đây là chữ Khố, nghĩa là kho chứa. Đây là tên chặng thứ chín của vòng Tràng Sinh, chỉ trạng thái khí thu về và cất lại, giống như cuối mùa nhựa rút hết về gốc cây hay như thóc gặt xong thì vào bồ. Nghĩa cốt lõi của nó là tích chứa, thu tàng, giữ của, chứ không phải mồ mả. Đây là phụ tinh nhỏ, không ai được phép phán họa từ một chặng, và tên sao không phải là điều sẽ xảy ra.

Là quan hệ cố định giữa ba chặng Tràng Sinh, Đế Vượng và Mộ: chúng luôn cách nhau đúng bốn cung nên luôn đứng thành một bộ tam hợp trên địa bàn, với mọi Cục và cả hai chiều an. Đây chính là bộ tam hợp cục quen thuộc của mệnh lý Đông phương, thí dụ vòng khởi tại Tỵ thì ba chặng ấy rơi đúng vào Tỵ, Dậu, Sửu. Nghĩa của bộ ba là một mạch khép kín: sinh ra, lên tới đỉnh, rồi thu vào kho.

Không. Chạy đủ năm Cục và cả hai chiều an, Mộ chỉ rơi vào tám cung Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Vòng đi thuận thì Mộ rơi đúng vào bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức bốn cung mà chính địa bàn cũng gọi là kho; vòng đi nghịch thì Mộ rơi vào bốn cung Tứ Chính.

Không có. Vòng Tràng Sinh an theo Cục của lá số gốc, mà Cục cả đời không đổi, nên Mộ nằm nguyên một chỗ suốt đời. Không có Mộ lưu niên. Cái chạy qua nó là cung đại vận, cung tiểu hạn và các lưu sao của từng năm.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.