1 Sao Trường Sinh là gì

Trường Sinh là sao mở đầu vòng mười hai chặng sinh vượng, ví như một mầm sống vừa nảy. Đây là một trong những sao lành của vòng, chủ về sức sống dồi dào, sự khởi đầu thuận lợi, gốc rễ vững và khả năng phát triển lâu dài.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Trường Sinh không an theo can năm sinh, không an theo chi năm sinh, không an theo tháng, cũng không an theo giờ. Nó an theo Cục của lá số. Trong toàn bộ bảng sao Đẩu Số chỉ mười hai sao vòng Trường Sinh mang đặc điểm ấy, hơn trăm sao còn lại đều buộc vào bốn tham số sinh quen thuộc.
Kinh văn Cục là ngũ hành của cung Mệnh, lấy theo nạp âm của can chi cung Mệnh, chia thành năm bậc: Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục, Hỏa Lục Cục. Con số đi kèm mỗi Cục là số bước dùng để định vị Tử Vi theo ngày sinh, cũng là mốc khởi đại vận. Vì Cục sinh ra từ cung Mệnh, mà cung Mệnh lại sinh ra từ tháng sinh và giờ sinh, nên vòng Trường Sinh là vòng sao duy nhất mọc lên từ chính bộ khung của lá số chứ không mọc từ lịch pháp của năm sinh.
Suy luận Hệ quả rất dễ bị bỏ qua: hai người sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày mà khác giờ thì vòng Thái Tuế của họ giống hệt nhau, nhưng vòng Trường Sinh có thể dời hẳn sang chỗ khác, vì đổi giờ thì đổi cung Mệnh, đổi cung Mệnh thì đổi Cục. Vòng này đo nhịp sinh trưởng của bản thân lá số, không đo thời thế của năm sinh.
Năm Cục, bốn điểm khởi
Kinh văn Điểm khởi của sao Trường Sinh theo từng Cục như bảng dưới. Xin để ý ngay một chi tiết mà nhiều bản chép sách lướt qua: Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng khởi tại Thân, nên tuy có năm Cục nhưng chỉ có bốn điểm khởi khác nhau.
| Cục | Trường Sinh khởi tại | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | khởi cùng cung với Thổ Ngũ Cục |
| Mộc Tam Cục | Hợi | khởi riêng một cung |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | khởi riêng một cung |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | khởi cùng cung với Thủy Nhị Cục |
| Hỏa Lục Cục | Dần | khởi riêng một cung |
Suy luận Bốn điểm khởi ấy là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, tức trọn bộ bốn cung Tứ Sinh của địa bàn, còn gọi là bốn cung dịch mã. Đây không phải sự trùng hợp. Trong thuyết mười hai chặng sinh vượng của mệnh lý Đông phương, Mộc trường sinh tại Hợi, Hỏa trường sinh tại Dần, Kim trường sinh tại Tỵ, Thủy và Thổ cùng trường sinh tại Thân. Vòng Trường Sinh của Đẩu Số bê nguyên bảng ấy sang, chỉ thay ngũ hành của bản mệnh bằng ngũ hành của Cục. Việc Thủy và Thổ dùng chung cung khởi là quy ước cổ, không phải lỗi in sách.
Chiều đếm và chỗ đặc biệt của riêng sao Trường Sinh
Kinh văn Sau khi có điểm khởi, mười hai sao trong vòng an lần lượt theo thứ tự Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Chiều đếm lấy theo âm dương của can năm sinh và giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận theo chiều kim đồng hồ của địa bàn, âm nam và dương nữ đếm nghịch.
Suy luận Ở đây lộ ra một điều chỉ đúng với hai sao trong cả vòng. Trường Sinh đứng ở bước số không, mà bước số không thì cộng hay trừ đều ra cùng một chỗ. Cho nên vị trí sao Trường Sinh hoàn toàn không phụ thuộc chiều đếm: biết Cục là biết ngay Trường Sinh ở đâu, khỏi cần hỏi người xem là nam hay nữ, tuổi âm hay tuổi dương. Sao thứ hai có tính chất ấy là Bệnh, vì Bệnh đứng ở bước thứ sáu, mà cộng sáu hay trừ sáu trên vòng mười hai cung cũng ra một cung. Mười sao còn lại của vòng đều đổi chỗ khi đổi chiều.
| Cục | Trường Sinh khi đếm thuận | Trường Sinh khi đếm nghịch | Đế Vượng (chiều thuận) | Bệnh (hai chiều như nhau) |
|---|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | Thân | Tý | Dần |
| Mộc Tam Cục | Hợi | Hợi | Mão | Tỵ |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | Tỵ | Dậu | Hợi |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | Thân | Tý | Dần |
| Hỏa Lục Cục | Dần | Dần | Ngọ | Thân |
Kinh nghiệm Thầy nhắc điều này vì nó cứu quý vị khỏi một lỗi hay gặp khi tự an lá số bằng tay: an nhầm chiều rồi thấy Trường Sinh vẫn đúng chỗ nên tưởng cả vòng đã đúng. Muốn kiểm chiều thì phải nhìn Mộc Dục hoặc Quan Đới.
Chính tinh nào có thể ngồi cùng Trường Sinh
Suy luận Chạy đủ mười hai thế của Tử Vi trên bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì thấy cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng cùng Trường Sinh, nhưng chúng chỉ tới theo những tổ hợp cố định. Bốn cung Tứ Sinh chính là chỗ tập trung của các cặp sao đi đôi trọn vẹn nhất: Tử Vi cùng Thiên Phủ, Vũ Khúc cùng Thiên Tướng, Thái Dương cùng Cự Môn, Thiên Cơ cùng Thái Âm, Thiên Đồng cùng Thiên Lương, còn Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân thì độc tọa. Ở tám cung kia các cặp ấy tách ra. Vì vậy Trường Sinh là sao của vòng được đứng cạnh những tổ hợp chính tinh trọn vẹn nhất, và đó là một phần lý do sách xếp nó vào hàng sao lành.
Những điều bất biến của Trường Sinh
- Chỉ đóng bốn cung: Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Đây là bốn cung Tứ Sinh, cũng là bốn cung mà Thiên Mã có thể đóng.
- Không bao giờ đóng tám cung: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Người nào nói Trường Sinh của mình ở Tý hay ở Thìn thì chắc chắn đã an nhầm.
- Luôn bị Bệnh xung chiếu. Bệnh đứng cách Trường Sinh đúng sáu cung, cộng hay trừ đều thế, nên cung đối diện Trường Sinh vĩnh viễn là Bệnh, không có ngoại lệ nào trong năm Cục và hai chiều.
- Luôn tam hợp với Đế Vượng và Mộ. Đổi chiều thì hai sao ấy hoán vị cho nhau nhưng bộ ba cung vẫn nguyên. Đây chính là tam hợp Sinh Vượng Mộ của mệnh lý cổ.
- Luôn bị Dưỡng và Mộc Dục giáp hai bên. Hai cung kề Trường Sinh vĩnh viễn là hai sao ấy, chỉ đổi trái phải khi đổi chiều.
- Vĩnh viễn không thể đồng cung với Kình Dương, vì Kình Dương chỉ đóng bốn cung Tứ Chính khi tuổi can dương và bốn cung Tứ Mộ khi tuổi can âm, không lần nào rơi vào Tứ Sinh.
- Vĩnh viễn không thể đồng cung với Đào Hoa, Tướng Tinh (khóa ở Tứ Chính) và Hoa Cái, Quả Tú, Phan An (khóa ở Tứ Mộ). Mấy sao ấy chỉ tới được bằng đường tam hợp hoặc đường giáp.
- Có thể đồng cung với Thiên Mã, Cô Thần và Kiếp Sát, vì cả ba sao ấy cũng khóa ở bốn cung Tứ Sinh. Riêng thế Trường Sinh gặp Thiên Mã là thế đáng chú ý nhất của sao này.
- Đồng cung với Lộc Tồn chỉ xảy ra ở năm tuổi can dương là Giáp tại Dần, Bính và Mậu tại Tỵ, Canh tại Thân, Nhâm tại Hợi. Với năm tuổi can âm thì Lộc Tồn về Tứ Chính, không gặp được Trường Sinh.
- Đồng cung với Đà La chỉ xảy ra ở năm tuổi can âm là Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi. Đây là trường hợp duy nhất Trường Sinh ngồi chung được với một sao thuộc bộ Lộc Tồn Kình Đà.
3 Cách an và vị trí trong lá số

Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.
Trong vòng mười hai chặng, Trường Sinh giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Trường Sinh.
4 Đặc tính và ý nghĩa

Người có Trường Sinh ở cung quan trọng thường có sinh khí tốt, sức khỏe nền tảng khá, gặp việc dễ có khởi đầu thuận và phát triển bền. Trường Sinh mang ý nghĩa của sự sinh sôi, nuôi lớn, nên rất quý ở các cung Mệnh, Phúc, Tật Ách và Tử Tức.
Là sao lành, Trường Sinh làm nền cho chính tinh phát triển. Khi đi cùng chính tinh miếu vượng và cát tinh, nó như đất tốt nuôi cây lớn; khi gặp sát tinh, nó giúp gốc rễ vẫn còn để hồi phục.
5 Vị Trí Của Trường Sinh Trong Vòng Trường Sinh
Kinh văn Đẩu Số có bốn vòng sao lớn: vòng Thái Tuế mười hai sao đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ mười hai sao đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Thần Sát mười hai sao đếm theo tam hợp chi năm sinh, và vòng Trường Sinh mười hai sao đếm theo Cục. Ba vòng đầu đều buộc vào can chi của năm sinh. Vòng Trường Sinh là vòng duy nhất buộc vào Cục, tức buộc vào chính cấu trúc bên trong của lá số.
Suy luận Khác biệt ấy quyết định cách đọc. Vòng Thái Tuế nói về thế của người này trong dòng thời gian của thiên hạ, ai sinh cùng năm thì mang cùng một vòng. Vòng Trường Sinh thì nói về nhịp sinh trưởng của riêng lá số này, giống như đo mạch: đặt tay vào cung nào là biết cung ấy đang nảy mầm, đang sung sức, đang xế bóng hay đã tàn rồi ủ lại.
Trường Sinh đứng ở bước số một của vòng
Kinh văn Trong danh sách mười hai chặng, Trường Sinh giữ vị trí mở đầu, đánh số không nếu tính theo bước cách từ điểm khởi. Điểm khởi của cả vòng chính là chỗ đứng của Trường Sinh, mọi sao còn lại đếm từ nó mà ra, nên đây là sao định vị của cả vòng.
Suy luận Đứng trước nó trong thứ tự là Dưỡng, sao khép lại vòng cũ, mang tượng bào thai đã đủ ngày đủ tháng chờ ra đời. Đứng sau nó là Mộc Dục, sao tắm gội cho đứa trẻ mới sinh. Trên địa bàn, hai sao ấy vĩnh viễn là hai cung kề Trường Sinh, chỉ hoán đổi trái phải khi đổi chiều đếm. Cho nên cung có Trường Sinh luôn được giáp bởi cái vừa xong và cái vừa bắt đầu, một thế giáp rất êm, không có sao dữ nào của vòng chen vào được.
Suy luận Tam hợp của Trường Sinh cố định là Đế Vượng và Mộ. Đây là bộ ba nổi tiếng Sinh Vượng Mộ, tức mầm, đỉnh và kho. Nhìn theo tượng thì rất gọn: chỗ nảy mầm nhìn thấy chỗ rực rỡ nhất và chỗ cất giữ cuối cùng. Xung chiếu của Trường Sinh cố định là Bệnh. Đây là điểm mà Thầy cho là hay nhất của cả vòng: ngay đối diện cái mới sinh là cái đã ốm, cổ nhân đặt vòng như vậy để nhắc rằng sinh và bệnh vốn là hai mặt của một mạch khí, không tách rời.
| Cục | Tràng Sinh | Mộc Dục | Quan Đới | Lâm Quan | Đế Vượng | Suy | Bệnh | Tử | Mộ | Tuyệt | Thai | Dưỡng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Mộc Tam Cục | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Hỏa Lục Cục | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
Suy luận Bảng trên tính theo chiều thuận, tức cho dương nam và âm nữ. Với âm nam và dương nữ thì đọc ngược lại: cột Trường Sinh và cột Bệnh giữ nguyên, mười cột còn lại lật gương qua trục Trường Sinh. Xin lưu ý bảng do máy sinh nên viết theo lối chữ Hán Việt Tràng Sinh, còn thân bài dùng lối viết Trường Sinh quen thuộc hơn với người Việt. Hai cách viết cùng chỉ một sao, sách vở lưu hành ở nước ta dùng lẫn cả hai.
Trường Sinh và Tứ Hóa
Kinh văn Trường Sinh không nằm trong bảng Tứ Hóa. Bảng Tứ Hóa của mười thiên can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Vòng Trường Sinh không có sao nào được gọi tên, nên Trường Sinh vĩnh viễn không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ.
Suy luận Nhưng nó vẫn dự phần vào Tứ Hóa theo lối gián tiếp, bằng cách đứng chung cung với chính tinh đang hóa. Cách đọc như sau. Chính tinh đồng cung hóa Lộc thì Trường Sinh cho biết nguồn lộc ấy còn ở chặng gây dựng, tiền đến từ việc mới mở chứ chưa phải từ nền cũ, nên chớ vội tiêu như thể nó đã bền. Chính tinh hóa Quyền thì Trường Sinh nói quyền ấy mới nhận, uy chưa đủ dày, phải lấy việc làm ra uy chứ không lấy chức làm ra uy. Chính tinh hóa Khoa thì hợp nhất, vì Khoa chủ tiếng thơm và đường học, gặp chặng khởi sinh thì là người học được, dạy được, mở lớp mở nghề đúng lúc.
Kinh nghiệm Riêng trường hợp chính tinh đồng cung hóa Kỵ, Thầy khuyên đọc kỹ hơn một nhịp. Trường Sinh không gỡ được Kỵ, sách không hề nói nó có phép giải, và Thầy cũng chưa thấy lá số nào Trường Sinh làm nhẹ được Kỵ. Cái nó cho là sức bật lại: việc vẫn vướng, người vẫn mệt, nhưng gốc chưa đứt nên làm lại được. Nói với khách thì nói đúng chừng ấy, không nói quá thành ra hứa hão.
Vì sao đọc Trường Sinh phải đọc cả vòng
Kinh nghiệm Một sao trong vòng, tách khỏi vòng, gần như không nói được gì. Trường Sinh ở cung Mệnh mà Đế Vượng rơi vào Nô Bộc còn Mộ rơi vào Điền Trạch thì đọc khác hẳn Trường Sinh ở Mệnh mà Đế Vượng rơi vào Quan Lộc còn Mộ rơi vào Tài Bạch, dù hai lá số đều có Trường Sinh thủ Mệnh. Trường hợp thứ hai là người tự mình lên đỉnh rồi tự mình cất của. Trường hợp thứ nhất là người khởi sự cho mình nhưng đỉnh cao lại thuộc về bạn bè cộng sự, còn của cải thì đọng ở nhà đất.
Kinh nghiệm Vì vậy quy trình Thầy dạy học trò là chấm cả mười hai chặng lên mười hai cung trước, đọc một lượt xem cung nào đang lên cung nào đang xuống, rồi mới quay lại luận từng cung.
6 Ý nghĩa tại các cung
Trường Sinh đóng ở cung nào thì nhuốm sắc thái của chặng này vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Trường Sinh |
|---|---|
| Mệnh | Sinh khí tốt, khởi đầu thuận, nền tảng vững, dễ phát triển. |
| Phúc Đức | Phúc dày, sức sống bền, hậu vận có gốc. |
| Tật Ách | Sức khỏe nền tảng khá, hồi phục tốt. |
| Tử Tức | Lợi đường con cái, sinh nở, nối dõi. |
7 Trường Sinh An Tại 12 Cung Chức
Suy luận Trường Sinh khóa vào bốn địa chi, nhưng bốn địa chi ấy rơi vào cung chức nào thì tùy nơi an Mệnh, nên nó vẫn có thể xuất hiện ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới tách rõ hai cảnh: khi được chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi bị sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ kéo xuống.
| Cung | Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh | Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ |
|---|---|---|
| Mệnh | Sinh khí dày, dáng người tươi tỉnh, hồi sức nhanh. Việc gì cũng có khởi đầu thuận, hợp nghề gây dựng từ đầu: mở tiệm, lập nhóm, dựng nghề mới. | Khởi đầu vẫn thuận nhưng chỉ dừng ở khởi đầu, hay bỏ dở giữa chừng rồi lại mở cái khác. Người dễ mến mà thiếu bền, ai nói cũng nghe nên hướng đi thay đổi luôn. |
| Huynh Đệ | Anh em bạn bè có sức, có nghề, giúp nhau được lúc mới lập thân. Người hùn hạp buổi đầu thường ở lại lâu dài. | Anh em đông mà mỗi người một ngả, tình thân chỉ đậm đoạn đầu. Hợp tác lúc mở thì hăng, tới lúc chia phần thì rời. |
| Phu Thê | Bạn đời trẻ trung trong nết, biết chăm, hôn nhân có sức sống, cãi xong lại lành. Duyên thường nảy ở chỗ cùng bắt đầu một việc. | Tình yêu nồng ở đoạn đầu rồi nhạt dần, dễ mắc kiểu quen ai cũng thấy mới mẻ, cưới rồi mới thấy chưa hiểu nhau. Không phải điềm ly tán, chỉ là cái nhiệt chỉ đủ cho chặng mở. |
| Tử Tức | Đường con cái thuận, con khỏe, nuôi nhẹ tay. Đây là cung sách khen Trường Sinh nhiều nhất, cũng ứng vào học trò và sản phẩm do mình tạo ra. | Con cái vẫn có nhưng chặng đầu vất vả, thai nghén hoặc năm đầu đời nhiều lo. Sản phẩm làm ra thì hay dở dang ở bản đầu tiên. |
| Tài Bạch | Tiền vào theo lối sinh sôi chứ không theo lối trúng lớn. Hợp buôn bán vòng vốn nhanh, nghề nuôi trồng, dạy học, dịch vụ lặp lại. | Nguồn tiền hay ở dạng mầm, mở nhiều mà chưa kịp lớn đã phải đóng. Vốn cứ phải bơm thêm, thu về chậm hơn dự tính. |
| Tật Ách | Nền sức khỏe tốt, bệnh đến rồi đi, phục hồi nhanh hơn người khác. Đây là chỗ Trường Sinh có giá trị thực tế rõ nhất. | Sức đề kháng vẫn khá nhưng bệnh hay tái đi tái lại, khỏi rồi lại lên, vì gốc còn thì mầm bệnh cũng còn. Chớ đọc thành bệnh nặng, sách không nói thế. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp đất lành, đi xa thì mở được đường, dễ được người lạ giúp lúc mới tới. Hợp người lập nghiệp xa quê. | Đi đâu cũng bắt đầu lại từ đầu, chỗ nào cũng chỉ ở được đoạn đầu rồi phải chuyển. Cần chọn một chỗ rồi cắm rễ, đừng dời liên tục. |
| Nô Bộc | Bạn bè, nhân viên trẻ và có sức, nhóm mình gây dựng thì gắn bó. Người dưới học nhanh, dạy là làm được. | Người quanh mình thay đổi liên tục, tuyển vào thì hăng, chưa quen việc đã đi. Phải mất công dạy lại nhiều lần. |
| Quan Lộc | Sự nghiệp có đà, càng làm càng mở, hợp vị trí sáng lập, gây dựng bộ phận mới. Giao việc từ con số không thì làm tốt. | Nghề nghiệp cứ ở mãi giai đoạn khởi động, đổi việc nhiều, mỗi chỗ chỉ ở tới lúc việc bắt đầu chạy thì lại đi. |
| Điền Trạch | Nhà đất có từ sớm và tăng dần, đất ở chỗ đang lên. Sản nghiệp tự gây dựng chứ không trông vào của để lại. | Nhà đất mua đi bán lại nhiều, chỗ nào cũng ở chưa lâu. Đất mua thì ở vùng còn phôi thai, chờ lên thì lâu. |
| Phúc Đức | Phúc phần có gốc, tổ tiên để lại nếp lành, tinh thần dễ hồi. Đây là cung sách khen Trường Sinh chỉ sau Tử Tức. | Trong lòng lúc nào cũng muốn bắt đầu lại, khó yên với cái đang có. Phúc vẫn còn nhưng phải tự bồi chứ không được hưởng sẵn. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ khỏe, sống thọ, gia đình từ tay trắng đi lên. Được bậc trên nâng đỡ ở buổi đầu lập thân. | Cha mẹ vất vả đoạn gây dựng, mình lớn lên trong lúc nhà còn đang dựng nghiệp. Không phải điềm xấu về song thân, chỉ là chặng khó rơi vào đoạn đầu. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng. Thầy dạy học trò ba nguyên tắc khi dùng bảng này. Một, Trường Sinh không đổi bản chất của cung, nó chỉ nói cung ấy đang ở đoạn nào của đường cong, cho nên bao giờ cũng đọc chính tinh trước rồi mới thêm Trường Sinh vào như một trạng từ. Hai, hễ thấy Trường Sinh ở một cung thì lập tức tìm Bệnh ở cung đối diện và Đế Vượng, Mộ ở hai cung tam hợp, vì ba cung ấy chắc chắn có, và ba cung ấy mới cho biết cái mầm này rồi sẽ lớn tới đâu, cất vào đâu, gãy ở chỗ nào. Ba, khi cung có Trường Sinh mà bị Tuần Triệt án ngữ thì đừng đọc thành hỏng, hãy đọc thành chậm: mầm vẫn có mà đất bị che, thời tới muộn hơn người khác chừng một đại vận.
8 Sao hợp và sao kỵ
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực. Cùng một sao mà đứng đồng cung với Trường Sinh thì mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất rõ với sát tinh mà mờ với cát tinh. Với Trường Sinh phải nhớ thêm một tầng nữa: vì nó khóa ở bốn cung Tứ Sinh nên có những sao về mặt cấu trúc không thể ngồi chung với nó, dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu hoặc đường giáp. Vị thế khả dĩ của từng sao đã ghi rõ trong ngoặc.
Trường Sinh hợp khi gặp
- Đế Vượng và Mộ (tam hợp, luôn luôn có, không lá số nào thiếu): đủ bộ Sinh Vượng Mộ, mầm có đỉnh để vươn tới và có kho để cất về. Đây là quan hệ bất biến, không phải điều may rủi.
- Thiên Mã (đồng cung được, vì cả hai cùng khóa ở Tứ Sinh): thế sinh khí gặp chân đi, hợp người lập nghiệp xa, mở chi nhánh, làm nghề dịch chuyển. Nếu cung ấy có thêm Lộc Tồn thì thành thế Lộc Mã đứng trên nền Trường Sinh, rất đáng quý.
- Lộc Tồn (đồng cung, chỉ ở năm tuổi can dương Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; các tuổi khác chỉ chiếu hoặc giáp): mầm mọc trên đất có kho, khởi sự có vốn, biết giữ.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): hợp nhất trong bốn hóa, vì Khoa chủ đường học và tiếng thơm, gặp chặng khởi sinh thì học được, dạy được, mở nghề đúng lúc.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung được ở vài tuổi can, còn lại là chiếu): quý nhân đến đúng đoạn mới mở.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung được vì an theo tháng nên đi khắp mười hai cung): có người phụ tá ngay từ buổi đầu, đây là thứ Trường Sinh cần nhất vì chặng mở bao giờ cũng thiếu tay.
Trường Sinh e ngại khi gặp
- Tuần và Triệt (án ngữ ngay cung): đây là điều đáng ngại nhất. Mầm có mà đất bị lấp, khởi sự bị chặn ở nhịp đầu, việc gì cũng phải làm hai lần mới xong. Không phải hỏng, mà là chậm.
- Đà La (đồng cung được, chỉ ở năm tuổi can âm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý): đây là sát tinh duy nhất của bộ Lộc Tồn có thể ngồi chung với Trường Sinh. Đà La chủ dây dưa kéo dài, đặt lên chặng khởi sinh thì thành mở việc rất lâu mới chạy, chuyện cũ chưa dứt đã mở chuyện mới.
- Kình Dương (vĩnh viễn không đồng cung, chỉ có thể tam hợp hoặc giáp): sách chép Kình Dương làm hỏng cái tốt, nhưng với Trường Sinh phải hiểu là hỏng qua đường chiếu, nên đọc nhẹ hơn một bậc so với các cung khác.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được, vì an theo giờ nên đi khắp mười hai cung): gốc tốt mà hao, gây dựng được rồi mất, hoặc công sức đổ vào chỗ không thành. Đây là cặp làm Trường Sinh mất giá nhiều nhất.
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): Trường Sinh không giải được Kỵ. Nó chỉ cho sức làm lại sau khi vấp, không cho phép tránh vấp.
- Kiếp Sát (đồng cung được, vì cũng khóa ở Tứ Sinh): tên nghe dữ nhưng là phụ tinh nhỏ, đọc là chặng mở có kẻ tranh, không đọc thành tai họa.
- Đào Hoa, Hoa Cái, Tướng Tinh, Quả Tú, Phan An (vĩnh viễn không đồng cung): năm sao này khóa ở Tứ Chính hoặc Tứ Mộ nên không bao giờ ngồi chung với Trường Sinh. Ai luận thấy chúng đồng cung thì chắc chắn có chỗ an nhầm.
Trường Sinh là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.
9 Trường Sinh Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Suy luận Vòng Trường Sinh an một lần trên bản mệnh rồi nằm yên suốt đời. Khi đại vận mười năm đi vào cung có Trường Sinh, người ta không thêm sao nào cả, chỉ là mười năm ấy được đọc trên nền một cung đang ở chặng khởi sinh. Đó là mười năm của mở và dựng: hợp bắt đầu nghề mới, mở cơ sở, học lại một môn, sinh con, chuyển tới vùng đất mới, xây nhà. Việc gì cần gây từ gốc thì đặt vào đây.
Kinh nghiệm Thầy quan sát trên lá số thật thì thấy đại vận Trường Sinh có một nét rất đều: nó không cho thu hoạch. Người trong vận này thường bận rộn, đông việc, tinh thần tốt, nhưng tổng kết mười năm lại thấy tiền của chưa dày lên bao nhiêu, cái dày lên là nền móng và quan hệ. Ai kỳ vọng vận này phải giàu ngay thì thất vọng, ai hiểu đúng và chịu gieo thì tới vận Lâm Quan và Đế Vượng phía sau mới gặt. Ngược lại, đại vận Trường Sinh mà ngồi không thì phí hơn mọi vận khác, vì bỏ mất đúng đoạn đất tốt nhất để gieo.
Suy luận Cần phân biệt hai chiều. Vòng và đại vận cùng đổi chiều theo một quy tắc, nên dù thuận hay nghịch thì sau vận Trường Sinh vẫn lần lượt tới Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, chỉ khác hướng trên mặt địa bàn. Câu nói quen tai rằng đi vòng xuôi thì đời lên, đi vòng ngược thì đời xuống là không đúng.
Vòng Trường Sinh không có bản lưu niên
Kinh văn Đây là chỗ phải nói cho rõ vì rất nhiều người nhầm. Vòng Thái Tuế có bản lưu, mỗi năm lấy chi của năm xem mà an lại đủ mười hai sao, nên mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ. Vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu, lấy can của năm xem mà an lại theo lưu Lộc Tồn. Vòng Trường Sinh thì không. Cục của lá số là con số cố định từ lúc chào đời, không có Cục của năm, cho nên không tồn tại lưu Trường Sinh, lưu Mộc Dục hay lưu Đế Vượng. Ai bán bản luận có mục lưu Trường Sinh thì nên hỏi lại họ lấy Cục ở đâu ra.
Suy luận Vậy trong một năm cụ thể, sao Trường Sinh tham gia bằng cách nào? Bằng cách đứng yên chờ các lưu sao đi qua. Cung có Trường Sinh vẫn nhận đủ lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Thiên Mã, cùng bộ lưu Tứ Hóa theo can năm. Cách đọc là lấy chặng khởi sinh làm nền rồi xem năm ấy ai tới.
Suy luận Có hai điều tính được chắc chắn về các lưu sao chạm vào Trường Sinh. Thứ nhất, lưu Kình Dương vĩnh viễn không tới được cung có Trường Sinh, vì lưu Kình Dương cũng an theo lưu Lộc Tồn, mà lưu Lộc Tồn của can dương nằm ở Tứ Chính còn của can âm nằm ở Tứ Mộ, không năm nào rơi vào Tứ Sinh. Thứ hai, lưu Lộc Tồn chỉ tới cung Trường Sinh trong những năm can dương: năm 2026 Bính Ngọ lưu Lộc Tồn tại Tỵ, năm 2028 Mậu Thân cũng tại Tỵ, năm 2030 Canh Tuất tại Thân, năm 2032 Nhâm Tý tại Hợi, năm 2034 Giáp Dần tại Dần. Ai có Trường Sinh đúng cung ấy thì năm đó là năm mầm gặp kho, rất hợp để khởi sự việc cần vốn.
Kinh nghiệm Lưu Thiên Mã thì ngược lại, năm nào cũng đứng ở một trong bốn cung Tứ Sinh, nên cứ bốn năm một lần nó về đúng cung có Trường Sinh. Năm Lộc Mã cùng về thì đi được; năm chỉ có Mã mà không có Lộc thì đi rồi phải gây lại từ đầu.
Suy luận Khi lưu Tứ Hóa bay vào cung có Trường Sinh thì đọc theo đúng lối đã nói ở mục vòng, và chỉ ứng trong một năm chứ không kéo dài.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Trường Sinh
Một, Trường Sinh không phải là sao thọ mệnh
Kinh văn Cái tên hai chữ trường sinh khiến rất nhiều người đọc thành sống lâu, thậm chí thành trường sinh bất tử. Sách không nói thế. Trong thuyết mười hai chặng, trường sinh là tên của một giai đoạn, đúng nghĩa lúc khí vừa mới sinh ra. Nó nói về chất lượng của chặng khởi đầu, không nói về độ dài của cả đời. Tuổi thọ phải xem cung Tật Ách, cung Phúc Đức, chính tinh thủ Mệnh cùng Tuần Triệt và sát tinh.
Kinh nghiệm Thầy đã gặp không ít lá số có Trường Sinh thủ Mệnh mà thân thể yếu, và cũng gặp lá số có Tuyệt thủ Mệnh mà sống rất thọ.
Hai, Trường Sinh không phải là bảo đảm cho thành công
Suy luận Trường Sinh là phụ tinh nhỏ, không có sức tự mình định đoạt một cung. Cái nó cho là điều kiện nền: sinh khí, sức hồi, khởi đầu thuận. Còn việc gieo xuống có thành cây hay không thì do chính tinh, do Tứ Hóa, do cách cục, do người ấy có chịu làm hay không. Cung Mệnh có Trường Sinh mà chính tinh hãm, lại gặp Không Kiếp đồng cung, thì đọc là người có sức bắt đầu nhưng khó giữ thành quả, chứ tuyệt đối không đọc thành người phát đạt.
Ba, sao Trường Sinh của Đẩu Số khác với trường sinh trong Bát Tự
Suy luận Bên Tứ Trụ Bát Tự cũng có bảng mười hai chặng trường sinh, tính theo Nhật Can gặp địa chi của từng trụ. Bên Đẩu Số thì tính theo Cục của lá số. Hai bảng dùng chung tên gọi và chung nguyên lý ngũ hành, nhưng tham số đầu vào khác nhau hoàn toàn, nên kết quả không việc gì phải trùng nhau. Người xem cả hai môn hay lấy chặng bên này để bênh vực cho chặng bên kia, đó là một lối lập luận vòng tròn, không có giá trị kiểm chứng.
Bốn, chiều thuận không tốt hơn chiều nghịch
Suy luận Có người nghe câu dương nam âm nữ đi thuận rồi kết luận rằng người đi thuận thì đời xuôi, người đi nghịch thì đời ngược. Điều này sai về mặt cấu trúc. Hai chiều chỉ khác nhau ở chỗ mười hai chặng trải trên địa bàn theo hướng nào, còn thứ tự mà một người đi qua các chặng trong đời thì vẫn y hệt, vì đại vận cũng đổi chiều theo cùng một quy tắc. Vị trí sao Trường Sinh thậm chí không hề đổi khi đổi chiều. Cái thay đổi là chặng nào rơi vào cung chức nào, và đó mới là chỗ đáng luận.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Trường Sinh Qua Ba Bước
Suy luận Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số đã chọn: tuổi Giáp Thân, dương nam, Mệnh an tại Dần, Hỏa Lục Cục, Tử Vi an tại Dần. Vì là dương nam nên vòng Trường Sinh đếm thuận; vì là Hỏa Lục Cục nên vòng khởi tại Dần. Từ đó tính ra: Trường Sinh tại Dần, Mộc Dục tại Mão, Quan Đới tại Thìn, Lâm Quan tại Tỵ, Đế Vượng tại Ngọ, Suy tại Mùi, Bệnh tại Thân, Tử tại Dậu, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Hợi, Thai tại Tý, Dưỡng tại Sửu. Lưới dưới đây chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La, nên mười hai sao của vòng được ghi bằng chữ ở đây và ở ô giữa.
Tử Vi tại Dần, Mệnh tại Dần
không phải người thật
tuổi Giáp Thân, dương nam
Hỏa Lục Cục, vòng đếm thuận
Trường Sinh tại Dần, Đế Vượng tại Ngọ
Mộ tại Tuất, Bệnh tại Thân
Bước một: Trường Sinh đứng ở đâu và đứng cùng ai
Suy luận Trường Sinh tại Dần, rơi đúng cung Mệnh, đồng cung với Tử Vi và Thiên Phủ. Cung Dần thuộc Tứ Sinh, đúng như quy luật đã nêu ở mục cơ chế an sao, và trong bảng mười hai thế Tử Vi thì đây chính là thế duy nhất có Tử Phủ đồng cung tại Dần. Tuổi Giáp có Lộc Tồn cũng an tại Dần, tức cũng ngay cung Mệnh, đây là một trong năm tuổi can dương mà Lộc Tồn có thể gặp Trường Sinh. Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên Kình Dương tại Mão và Đà La tại Sửu giáp lấy cung Mệnh, đúng với điều đã nói là Kình Dương vĩnh viễn không ngồi chung được với Trường Sinh mà chỉ giáp hoặc chiếu.
Suy luận Tuổi chi Thân thuộc tam hợp Thân Tý Thìn nên Thiên Mã an tại Dần, cũng ngay cung Mệnh. Vậy cung Mệnh của lá số này có đủ Trường Sinh, Lộc Tồn, Thiên Mã cùng Tử Phủ: mầm sinh, kho lộc và chân đi cùng đứng trên một nền đế tinh. Đây là hình thái đẹp nhất mà cấu trúc cho phép của sao Trường Sinh, và nó chỉ thành được vì cả ba sao ấy đều khóa ở Tứ Sinh. Cũng vì vậy, cung này không thể có Đào Hoa, Hoa Cái, Quả Tú hay Tướng Tinh dù tuổi nào.
Bước hai: hóa gì và cả vòng trải ra sao
Suy luận Tuổi Giáp nên Liêm Trinh hóa Lộc ở Ngọ tức Quan Lộc, Phá Quân hóa Quyền ở Tý tức Phu Thê, Vũ Khúc hóa Khoa ở Tuất tức Tài Bạch, Thái Dương hóa Kỵ ở Hợi tức Tử Tức. Cung Mệnh không có sao nào hóa, nên cái mạnh của nó thuần là cái mạnh của nền: Tử Phủ, Lộc Tồn, Thiên Mã và Trường Sinh.
Suy luận Bây giờ trải cả vòng lên mười hai cung chức. Mệnh tại Dần có Trường Sinh, Phụ Mẫu tại Mão có Mộc Dục, Phúc Đức tại Thìn có Quan Đới, Điền Trạch tại Tỵ có Lâm Quan, Quan Lộc tại Ngọ có Đế Vượng, Nô Bộc tại Mùi có Suy, Thiên Di tại Thân có Bệnh, Tật Ách tại Dậu có Tử, Tài Bạch tại Tuất có Mộ, Tử Tức tại Hợi có Tuyệt, Phu Thê tại Tý có Thai, Huynh Đệ tại Sửu có Dưỡng. Đọc một lượt là thấy ngay hình dáng của đời này: ba cung mạnh nhất của vòng rơi đúng vào Mệnh, Quan Lộc và Điền Trạch, còn ba chặng yếu nhất là Bệnh, Tử, Tuyệt rơi vào Thiên Di, Tật Ách và Tử Tức.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Suy luận Cung Mệnh tại Dần có tam hợp là Ngọ và Tuất, xung chiếu là Thân. Ngọ là Quan Lộc có Liêm Trinh hóa Lộc và Thiên Tướng, cũng chính là chỗ của Đế Vượng. Tuất là Tài Bạch có Vũ Khúc hóa Khoa, cũng chính là chỗ của Mộ. Thân là Thiên Di có Thất Sát, cũng chính là chỗ của Bệnh. Nói cách khác, bộ Sinh Vượng Mộ của lá số này rơi trọn vào tam phương Mệnh, Quan, Tài, còn Bệnh nằm ở Thiên Di đối diện. Đây không phải sự may mắn hiếm có mà là hệ quả tất yếu: khi Trường Sinh trùng cung Mệnh thì Đế Vượng và Mộ bắt buộc rơi vào Quan Lộc và Tài Bạch, còn Bệnh bắt buộc rơi vào Thiên Di, vì khoảng cách trong vòng là cố định.
Kinh nghiệm Luận thành lời thì đây là người gốc dày, khởi sự thuận, sự nghiệp là chỗ rực rỡ nhất còn tiền bạc là chỗ cất giữ. Điểm phải giữ nằm ở Thiên Di có Bệnh cùng Thất Sát: ra ngoài hao sức, đi xa dễ ốm. Lời khuyên cụ thể là gây dựng tại chỗ, mở rộng bằng người khác đi thay mình.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên mọi thứ, đổi từ dương nam sang dương nữ: vòng đổi sang đếm nghịch. Trường Sinh vẫn ở Dần vì nó không đổi theo chiều, Bệnh vẫn ở Thân vì nó cũng không đổi theo chiều, nhưng mười sao còn lại lật gương: Đế Vượng dời từ Ngọ về Tuất, Mộ dời từ Tuất về Ngọ, Mộc Dục dời từ Mão về Sửu, Quan Đới từ Thìn về Tý. Tam hợp Sinh Vượng Mộ vẫn là Dần Ngọ Tuất, nhưng đỉnh và kho hoán chỗ cho nhau: bây giờ Đế Vượng ở Tài Bạch còn Mộ ở Quan Lộc. Cùng một lá số mà thành người mạnh về tiền hơn là mạnh về chức.
- Giữ tuổi Giáp và Mệnh tại Dần, đổi Cục sang Mộc Tam Cục: vòng khởi tại Hợi thay vì Dần, nên Trường Sinh về Tử Tức, Đế Vượng về Mão tức Phụ Mẫu, Mộ về Mùi tức Nô Bộc, Bệnh về Tỵ tức Điền Trạch. Cung Mệnh bây giờ nhận chặng Lâm Quan chứ không còn Trường Sinh: người này vào đời ở tư thế đã sung sức sẵn, còn sức sống của lá số thì dồn sang đường con cái. Cần nhớ Cục không tự chọn được, nó do can chi cung Mệnh sinh ra, nên đổi Cục thực chất là đổi sang một lá số khác.
- Giữ nguyên Hỏa Lục Cục và chiều thuận, đổi tuổi sang Ất: Trường Sinh vẫn tại Dần cùng cung Mệnh, cả vòng không xê dịch một cung nào, vì vòng này không nhìn tới can năm. Nhưng Lộc Tồn tuổi Ất về Mão nên rời khỏi Mệnh, còn Đà La tuổi Ất lại về đúng Dần, ngồi chung với Trường Sinh. Cùng một chặng khởi sinh mà đọc ra hai người khác hẳn: bên kia là mầm mọc trên kho lộc, bên này là mầm mọc trên đất có đá, khởi sự lâu chạy, việc gì cũng dây dưa hơn dự tính.
Ba trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Trường Sinh mà bỏ qua Cục, chiều đếm và nơi an Mệnh là mới đọc được một phần. Muốn biết Trường Sinh của chính mình đứng ở cung chức nào, cả vòng trải ra sao và cung nào của mình đang ở chặng lên, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Trường Sinh trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Khi Lá Số Có Trường Sinh
Kinh nghiệm Trường Sinh không phải sao cần hóa giải. Nó là sao lành, và việc của người có nó không phải là trấn yểm mà là dùng cho đúng chỗ. Thầy tóm vào bốn lời khuyên thực tế.
Kinh nghiệm Một, gieo vào đúng cung có Trường Sinh. Xem lá số xong, tìm cung nào mang Trường Sinh rồi dồn công sức vào lĩnh vực của cung ấy trong những năm còn sức. Trường Sinh ở Quan Lộc thì đầu tư vào nghề, đừng đầu tư vào đất. Trường Sinh ở Điền Trạch thì ngược lại. Trường Sinh ở Tử Tức thì việc dạy, việc truyền nghề, việc nuôi người sẽ trả lại nhiều hơn mọi khoản đầu tư khác. Đây là cách dùng vòng Trường Sinh có ích nhất mà lại ít người dùng.
Kinh nghiệm Hai, đừng đòi thu hoạch ở chặng gieo. Người đang ở đại vận Trường Sinh thường sốt ruột vì làm nhiều mà chưa thấy thành. Chặng này vốn không sinh ra để gặt: hãy đếm số nền đã dựng, số nghề đã học được, đừng đếm tiền.
Kinh nghiệm Ba, giữ cái gốc. Giá trị lớn nhất của Trường Sinh là sức hồi, mà sức hồi thì có thật nhưng không vô hạn. Người có nó rất hay ỷ vào nó mà thức khuya, làm quá, cậy trẻ. Ngủ đủ, ăn đúng bữa, khám định kỳ là cách duy nhất giữ được cái sao này cho.
Kinh nghiệm Bốn, nhìn sang cung Bệnh đối diện mà phòng. Vì Bệnh vĩnh viễn ở cung xung chiếu, hãy đọc kỹ cung ấy và phòng đúng lĩnh vực của nó. Bệnh ở Thiên Di thì cẩn thận khi đi xa. Bệnh ở Phu Thê thì để ý sức khỏe bạn đời. Bệnh ở Tài Bạch thì đừng để dòng tiền đứt. Phòng đúng chỗ vẫn hơn cầu cúng chung chung.
Về phong thủy bổ trợ. Những gợi ý dưới đây là gợi ý chung theo tượng của sao, không phải phép trấn yểm, không thay được việc phải làm trong đời thật, và không cần mua bán vật phẩm gì. Trường Sinh mang tượng mầm và nước nuôi mầm, nên hợp với cây xanh sống thật trong nhà, hợp ánh sáng buổi sớm, hợp không gian thoáng khí. Ai có Trường Sinh ở Điền Trạch thì trồng được cây là tốt cho tâm tính. Ai có Trường Sinh ở Tật Ách thì việc bổ trợ đúng nhất là đi bộ buổi sáng và ngủ sớm. Ngoài chừng ấy, sách không nói gì thêm về phép hóa giải cho sao này, vì nó vốn không phải sao cần giải.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên: phép an vòng Trường Sinh theo Cục, thứ tự mười hai chặng Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng, quy tắc dương nam âm nữ đếm thuận và âm nam dương nữ đếm nghịch, cùng phần đặc tính chép Trường Sinh là sao lành chủ sức sống và sự sinh sôi.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn): bảng khởi Trường Sinh theo năm Cục, trong đó Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng khởi tại Thân; thuyết mười hai chặng sinh vượng tử tuyệt làm gốc cho cả vòng.
- Sách không lập phú riêng cho sao Trường Sinh. Hai bộ sách trên chép Trường Sinh trong phần liệt kê đặc tính các sao chứ không có câu phú độc lập như các chính tinh và một số sao lớn. Bài này vì vậy không dẫn câu phú nào, và quý vị gặp trang nào chép phú cho sao này thì nên hỏi lại xuất xứ.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc của bài đã chạy đối chiếu với thuật toán đang dùng trên trang an lá số. Đã kiểm bốn cung Trường Sinh có thể an và tám cung không bao giờ an qua năm Cục nhân hai chiều đếm; việc Trường Sinh và Bệnh không đổi chỗ theo chiều đếm còn mười sao kia thì đổi; ba quan hệ cố định xung Bệnh, tam hợp Đế Vượng và Mộ, giáp bởi Dưỡng và Mộc Dục; chính tinh có thể đồng cung tại bốn cung Tứ Sinh qua mười hai thế Tử Vi; danh sách sao vĩnh viễn không đồng cung gồm Kình Dương, Đào Hoa, Hoa Cái, Quả Tú, Tướng Tinh, Phan An, Tai Sát, Thiên Sát, Nguyệt Sát, Tức Thần; các tuổi can đưa Lộc Tồn và Đà La vào Tứ Sinh.
Về dị bản. Ba chỗ khác biệt giữa các bản lưu hành. Một, tên sao viết cả hai lối Trường Sinh và Tràng Sinh, cùng chỉ một sao; công cụ an sao của trang dùng lối viết Tràng Sinh nên bảng do máy sinh hiện chữ ấy. Hai, vài bản chép tay gọi vòng này là vòng Sinh Vượng, nội dung không đổi. Ba, có phái an cả vòng theo chiều thuận cho mọi lá số; trang thayungkhiem.vn theo lối phân chiều như đã trình bày.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Trường Sinh
Trường Sinh là sao mở đầu vòng mười hai chặng sinh vượng trong Tử Vi Đẩu Số, ví như mầm sống vừa nảy. Đây là sao lành, chủ sức sống, khởi đầu thuận lợi, gốc rễ vững và khả năng phát triển bền.
Trường Sinh an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà nó khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi cả vòng an theo.
Trường Sinh quý ở các cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách và Tử Tức, vì mang sinh khí, sức sống, khởi đầu thuận và lợi đường con cái, sức khỏe.
Trong lưu niên hay đại hạn, cung gặp Trường Sinh thường là giai đoạn khởi sự thuận, hợp bắt đầu việc mới, dựng nền, mở mang. Cần xem cùng chính tinh để biết khởi đầu phát triển tới đâu.
Vì vòng Trường Sinh khởi theo Cục, mà năm Cục chỉ có bốn điểm khởi: Hỏa Lục Cục khởi tại Dần, Kim Tứ Cục tại Tỵ, Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng tại Thân, Mộc Tam Cục tại Hợi. Trường Sinh đứng ngay điểm khởi nên nó chỉ có thể ở một trong bốn cung Tứ Sinh ấy. Thấy Trường Sinh của mình nằm ở tám cung còn lại thì chắc chắn lá số đã an nhầm.
Không. Trường Sinh đứng ở bước số không của vòng nên cộng hay trừ đều ra cùng một cung, vị trí của nó chỉ phụ thuộc Cục chứ không phụ thuộc chiều đếm. Trong cả vòng chỉ có Trường Sinh và Bệnh mang tính chất này, vì Bệnh cách sáu cung mà cộng sáu hay trừ sáu trên vòng mười hai cung cũng ra một chỗ. Mười sao còn lại đều đổi chỗ, nên muốn kiểm chiều đếm thì nhìn Mộc Dục hoặc Quan Đới.
Không có. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì chúng an theo can chi của năm xem, còn vòng Trường Sinh an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số từ lúc sinh, không có Cục của năm. Cung có Trường Sinh vẫn nhận đủ các lưu sao khác, nhưng bản thân sao Trường Sinh thì đứng yên suốt đời.
Cả Trường Sinh lẫn Thiên Mã đều bị khóa ở bốn cung Tứ Sinh nên chúng có thể ngồi chung, đây là thế đáng chú ý nhất của sao này. Nghĩa của nó là sinh khí gặp chân đi: hợp người lập nghiệp xa quê, mở chi nhánh, làm nghề dịch chuyển. Nếu cung ấy có thêm Lộc Tồn, tức người tuổi can dương, thì thành thế Lộc Mã đứng trên nền Trường Sinh, khởi sự có vốn và có đường đi. Chỉ có Mã mà không có Lộc thì đi được nhưng tới nơi phải gây dựng lại từ đầu.