Tổ sư Quách Phác trong kiệt tác Táng Thư đã viết câu định nghĩa làm nền tảng cho toàn bộ lịch sử Phong Thủy học: 'Táng giả, thừa sinh khí dã. Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ. Cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy' (An táng là để đón nhận Sinh Khí của đất trời. Khí gặp gió thổi thì tán, gặp nước ngăn thì dừng lại. Cổ nhân làm cho khí tụ mà không tán, dẫn cho khí đi và có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy). Chuyên khảo này tổng hợp trọn vẹn học thuyết Loan Đầu Hình Thế và Lý Khí Âm Trạch của Dương Quân Tùng Cổ Phái.
I. Nguyên Lý Đồng Khí Tương Cầu Trong Âm Trạch Và Ngũ Quyết Địa Lý
Tại sao ngôi mộ của tổ tiên được an táng đúng Chân Huyệt đắc sinh khí lại có thể đem lại sự bình an, hanh thông cho con cháu đời sau? Trong Táng Thư, Quách Phác giải thích bằng định luật 'Đồng Khí Tương Cầu' (Quantum / Bio-Resonance cổ đại): Hài cốt của tổ tiên và cơ thể của con cháu mang cùng một mã di truyền huyết thống; giống như ở núi đồng phía Tây bị sập thì quả chuông đồng đúc từ mỏ đồng đó treo trong cung điện phía Đông tự nhiên ngân vang ('Đồng sơn tây băng, Linh chung đông ứng'). Khi di cốt của tiền nhân nằm trong lòng đất ấm áp, khô ráo, hội tụ từ trường hài hòa của sơn thủy (Tàng Phong Tụ Khí), con cháu đồng huyết thống tự nhiên được hưởng trường năng lượng an lành, trí tuệ minh mẫn.
Để tìm được một cuộc đất quý, bậc thầy Địa Lý bắt buộc phải thẩm định đủ Ngũ Quyết: (1) Tầm Long (xem mạch núi đến sống hay chết, chân hay giả), (2) Sát Sa (xem Tả Thanh Long bên trái, Hữu Bạch Hổ bên phải, Tiền Án Hậu Chẩm có ôm ấp che gió không), (3) Quan Thủy (xem Minh Đường trước mặt và dòng nước đến - đi tại Thủy Khẩu), (4) Điểm Huyệt (tìm đúng điểm Thái Cực kết huyệt theo 4 hình Oa, Kiềm, Nhũ, Đột), và (5) Lập Hướng (xoay độ số la kinh để thu đúng khí vượng của Long và Thủy).
II. Tam Bàn La Kinh Dương Quân Tùng Và Tứ Đại Cục 12 Trường Sinh Thủy Pháp
Trên chiếc La Kinh Phong Thủy Tam Hợp Dương Công luôn có 3 vòng 24 Sơn cốt lõi với chức năng hoàn toàn khác nhau mà người học tuyệt đối không được dùng lẫn lộn:
1. Địa Bàn Chính Châm (Vòng trong): Lấy hướng Chính Bắc - Chính Nam từ trường làm chuẩn (Tý 352,5° - 7,5°), dùng để Cách Long (đo mạch núi nhập thủ) và Lập Hướng (định tọa hướng nhà hoặc mộ).
2. Nhân Bàn Trung Châm (Vòng giữa, do Lại Bố Y thiết lập): Lệch sang trái (ngược chiều kim đồng hồ) đúng 7,5 độ (nửa sơn) so với Địa Bàn, dùng để Tiêu Sa (đo các ngọn núi, tòa nhà cao xung quanh để xét Sinh, Vượng, Nô, Sát, Tiết theo ngũ hành Tọa sơn).
3. Thiên Bàn Phùng Châm (Vòng ngoài, do Dương Quân Tùng thiết lập): Lệch sang phải (thuận chiều kim đồng hồ) đúng 7,5 độ so với Địa Bàn, dùng để Nạp Thủy (đo phương vị nước đến Lai Thủy và phương vị nước thoát ra tại Thủy Khẩu).
Trong phép Tam Hợp Thủy Pháp, người thầy đứng tại Huyệt dùng vòng Thiên Bàn Phùng Châm đo xem Thủy Khẩu (nơi dòng nước chảy khuất khỏi tầm mắt) rơi vào cặp sơn nào để định Tứ Đại Cục: Thủy thoát ra ở Ất Thìn (hoặc Tốn Tỵ, Bính Ngọ) là Thủy Cục (Trường Sinh tại Thân, Đế Vượng tại Tý); thoát ở Đinh Mùi (hoặc Khôn Thân, Canh Dậu) là Mộc Cục (Trường Sinh tại Hợi, Đế Vượng tại Mão); thoát ở Tân Tuất (hoặc Càn Hợi, Nhâm Tý) là Hỏa Cục (Trường Sinh tại Dần, Đế Vượng tại Ngọ); thoát ở Quý Sửu (hoặc Cấn Dần, Giáp Mão) là Kim Cục (Trường Sinh tại Tỵ, Đế Vượng tại Dậu). Nguyên tắc vàng là: Thu nước đến từ các phương Trường Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng và cho nước thoát đi tại phương Mộ Khố.
III. Phép Phân Kim 120 Long Và Mười Điều Đại Kỵ Khi Chọn Đất Đặt Mộ
Mỗi sơn trong 24 Sơn rộng 15 độ lại được chia thành 5 ô Phân Kim (mỗi ô 3 độ, tổng cộng 24 × 5 = 120 Phân Kim trên La Kinh). Trong 5 ô của mỗi sơn, hai ô ngoài cùng và ô chính giữa thuộc Giáp, Nhâm, Ất, Quý, Mậu, Kỷ là khí Cô Hư và Quy Giáp Không Vong (không dùng); chỉ lấy đúng 2 ô có Thiên Can là Bính, Đinh (thuộc Hỏa khí Dương ấm) hoặc Canh, Tân (thuộc Kim khí thanh thuần) làm Vượng Tướng Phân Kim để đặt kim tĩnh và lập bia mộ.
Mười điều đại kỵ (Thập Bất Táng) khi chọn đất Âm Trạch cần tuyệt đối tránh gồm: (1) Đỉnh núi trơ trọi gió thổi bốn bề (Cô phong độc lĩnh), (2) Vùng đất trũng thấp ngập úng nước bùn lạnh lẽo, (3) Nơi đất đá lởm chởm cằn cỗi không một ngọn cỏ mọc, (4) Nơi bị dòng nước hoặc con đường đâm thẳng vào chính diện hoặc cắt sau lưng, (5) Nơi từng là bãi chiến trường, lò mổ, bãi rác hoặc hầm mỏ khai thác cạn kiệt, (6) Nơi dưới lòng đất có rễ cây cổ thụ lớn đâm xuyên hoặc có hang chuột tổ mối, (7) Nơi trước mặt bị ngọn núi cao dựng đứng chắn sát làm tối tăm áp bức (Áp huyệt), (8) Nơi hai bên Thanh Long Bạch Hổ quay mũi nhọn đâm vào huyệt, (9) Nơi đặt mộ chênh vênh sát mép vực sạt lở, và (10) Lập hướng phạm Đại Không Vong hoặc Hoàng Tuyền Bát Sát.
Bảng Chuẩn Ngũ Quyết Địa Lý (Long · Huyệt · Sa · Thủy · Hướng) Và Ba Bàn La Kinh Dương Công
| Yếu Tố Địa Lý | Chức Năng Trong Phong Thủy | Vòng La Kinh Sử Dụng Chuẩn | Tiêu Chuẩn Cát Cách (Đắc Khí) | Đại Kỵ Cần Tuyệt Đối Tránh |
|---|---|---|---|---|
| 1. Long (Long Mạch) | Dãy núi/mạch đất dẫn truyền sinh khí từ Tổ Sơn qua Thiếu Tổ Sơn tới Phụ Mẫu Sơn | Địa Bàn Chính Châm (0° làm chuẩn) kết hợp 72 Xuyên Sơn Hổ Long | Long mạch uốn lượn sinh động, qua eo Thắt Cổ Bầu (Quá Hiệp) có hộ tống, cây cỏ xanh tươi | Núi đá trơ trọi khô cằn (Tử Long / Ngoan Sơn), mạch bị đào xẻ đứt đoạn |
| 2. Huyệt (Chân Huyệt) | Điểm hội tụ tinh hoa Âm Dương giao cảm (nơi đặt phần mộ hoặc tâm nhà) | 60 Thấu Địa Long & Phân Kim 120 Long (thu Bính Đinh Canh Tân vượng tướng) | Đất ngũ sắc mịn dẻo, ấm áp không ngập nước (Oa, Kiềm, Nhũ, Đột tứ đại huyệt hình) | Đất đá cứng lạnh, mạch nước ngầm chảy xiết dưới đáy huyệt hoặc tổ mối trùng kiến |
| 3. Sa (Sa Sơn Bao Bọc) | Các ngọn núi/công trình che chắn gió xung quanh: Thanh Long, Bạch Hổ, Án Sơn, Triều Sơn | Nhân Bàn Trung Châm (Lệch trái -7,5° ngược kim đồng hồ so với Địa Bàn) | Tả Thanh Long cao dài ôm vòng, Hữu Bạch Hổ thấp thuần phục, Án Sơn ngang ngực hữu tình | Sa phản bối quay lưng, đỉnh núi nhọn sắc chiếu thẳng vào huyệt (Tiễn Xạ / Đao Sát) |
| 4. Thủy (Lai Thủy & Khứ Thủy) | Dòng sông, suối, hồ nước hoặc đường giao thông dẫn khí tới và thoát khí đi | Thiên Bàn Phùng Châm (Lệch phải +7,5° thuận kim đồng hồ so với Địa Bàn) | Nước đến từ phương Trường Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng uốn khúc ôm Minh Đường; thoát ra tại Mộ Khố | Nước chảy thẳng xối vào huyệt rồi vọt đi (Phản Cung Thủy, Xung Tâm Thủy, Hoàng Tuyền Thủy) |
| 5. Hướng (Lập Hướng Thu Khí) | Góc độ tọa sơn và hướng bia mộ / mặt tiền công trình | Địa Bàn Chính Châm + Huyền Không Phi Tinh / Huyền Không Đại Quái | Tọa hướng thuần khiết (9 độ Chính Tuyến), thu được Vượng Tinh Đương Vận và hợp Long hợp Thủy | Phạm Đại Không Vong (giữa 2 quái), Tiểu Không Vong (giữa 2 sơn) hoặc Âm Dương Sai Thạc |
Câu Hỏi Thường Gặp (FAQ Học Thuật & Thực Chứng)
Tại sao khi đứng ở Huyệt nhìn ra, bên Trái lại là Thanh Long và bên Phải lại là Bạch Hổ?
Vì cổ nhân phương Đông vẽ bản đồ và đặt chuẩn phương vị theo tư thế Hoàng Đế ngồi ở phương Bắc nhìn về phương Nam (Tọa Bắc Hướng Nam): lúc đó bên tay Trái (Tả) là phương Đông thuộc hành Mộc (Thanh Long), bên tay Phải (Hữu) là phương Tây thuộc hành Kim (Bạch Hổ), trước mặt là phương Nam (Chu Tước) và sau lưng là phương Bắc (Huyền Vũ). Do đó trong Phong Thủy, Tả Thanh Long luôn là bên tay Trái khi ta đứng tại tâm nhà hoặc tâm mộ nhìn thẳng ra phía trước.
Nếu hỏa táng (đặt bình tro cốt tại chùa hoặc công viên nghĩa trang) thì Phong Thủy Âm Trạch còn tác dụng không?
Khi đã hỏa táng ở nhiệt độ cao thì phần hữu hình được thanh tịnh hóa nhanh chóng; nếu gửi hũ tro cốt tại tháp chùa hoặc nhà lưu cốt tập trung thì chủ yếu hưởng trường năng lượng tâm linh thanh tịnh của Tam Bảo. Nếu đưa bình tro cốt về an táng tại khuôn viên nghĩa trang gia tộc thì các nguyên tắc chọn vị trí khô ráo, Minh Đường thoáng sáng, tránh đường đâm và lập hướng bia mộ đúng độ số cát lành vẫn giữ nguyên giá trị.
Sự khác nhau giữa cách dùng La Kinh cho Âm Trạch (Mộ phần) và Dương Trạch (Nhà ở) là gì?
Cả Âm Trạch và Dương Trạch đều tuân theo nguyên lý Tàng Phong Tụ Khí và không phạm Không Vong, Bát Sát. Tuy nhiên, Âm Trạch đặt giữa thiên nhiên rộng lớn nên trọng tâm hàng đầu là Loan Đầu Hình Thế (Long, Huyệt, Sa, Thủy tự nhiên) kết hợp Tam Hợp Thủy Pháp và Huyền Không Đại Quái; còn Dương Trạch trong đô thị hiện đại thì lấy Cổng, Cửa Chính, Phòng Ngủ, Bếp (Môn - Chủ - Táo) kết hợp Tinh Bàn Huyền Không Phi Tinh và Bát Trạch làm trọng tâm.
Hệ Sinh Thái 12 Chuyên Khảo Bổ Khuyết UK MASTER ACADEMY
Khám phá trọn bộ các chuyên khảo toàn thư thuộc chương trình đào tạo truyền nghề chính tông tại UK Master Academy: