Sao Ân Quang trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Ân Quang

Sao chủ thông minh, trọng ân nghĩa, nhân hậu từ thiện, cứu khổ phò nguy; đi liền Thiên Quý.

Hành MộcPhụ tinhÂn nghĩa, cứu khổTheo Văn Xương
恩光Ēn Guāng
Tên sao: Ân Quang
Ngũ hành: Mộc
Nhóm: Phụ Tinh Quý Hiển
Cách an: Ân quang an theo văn xương và ngày sinh, đi cặp với thiên quý
Cai quản: thông minh, ân nghĩa, nhân hậu, cứu khổ
Tính chất: Ân nghĩa, cứu khổ
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Ân Quang là gì

Sao Ân Quang trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Ân Quang trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Ân Quang trong lá số Tử Vi

Ân Quang là sao chủ ân nghĩa và lòng nhân, ngũ hành Mộc, đi cặp với Thiên Quý. Tên Ân Quang nghĩa là ánh sáng của ân đức, nên sao gắn với sự trọng nghĩa, hay giúp người và đem may mắn.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Ân Quang an theo hai tham số cùng lúc: trước hết theo giờ sinh để tìm cung Văn Xương, rồi theo ngày sinh âm lịch để đếm đi từ cung ấy. Phép an của sách có ba nhịp: lấy cung có Văn Xương làm mùng một, đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới ngày sinh, rồi lùi lại một cung mà an Ân Quang. Sao đi cặp với nó là Thiên Quý làm gương lại: lấy cung Văn Khúc làm mùng một, đếm nghịch cho tới ngày sinh, rồi cũng lùi lại một cung.

Suy luận Viết thành công thức cho gọn thì Ân Quang đứng cách Văn Xương đúng số ngày sinh trừ hai cung, tính theo chiều thuận. Sinh mùng hai thì hai sao trùng khít; sinh mùng một thì Ân Quang đứng ngay cung liền trước Văn Xương; sinh mùng tám thì cách sáu cung, tức đứng đối diện Văn Xương; sinh ngày mười bốn và ngày hai mươi sáu lại trùng khít vì mười hai cung là trọn một vòng. Chính vì có tham số ngày mà Ân Quang không có mặt trong bảng an sao theo can, chi, tháng, giờ mà các trang khác hay chép lại; muốn có bảng vị trí của nó thì phải dựng riêng, và bảng ấy có tới ba trăm sáu mươi ô.

Bước một: cung Văn Xương và cung Văn Khúc theo giờ sinh

Kinh văn Văn Xương khởi từ cung Tuất cho giờ Tý rồi đếm nghịch, mỗi giờ lùi một cung. Văn Khúc khởi từ cung Thìn cho giờ Tý rồi đếm thuận. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai giờ, kèm luôn Địa Không và Địa Kiếp vì hai sao ấy cũng an theo giờ và sẽ dùng tới ở mục sau.

Vị trí an của Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không và Địa Kiếp theo giờ sinh
Giờ sinhVăn XươngVăn KhúcĐịa KhôngĐịa Kiếp
Giờ TýTuấtThìnHợiHợi
Giờ SửuDậuTỵTuất
Giờ DầnThânNgọDậuSửu
Giờ MãoMùiMùiThânDần
Giờ ThìnNgọThânMùiMão
Giờ TỵTỵDậuNgọThìn
Giờ NgọThìnTuấtTỵTỵ
Giờ MùiMãoHợiThìnNgọ
Giờ ThânDầnMãoMùi
Giờ DậuSửuSửuDầnThân
Giờ TuấtDầnSửuDậu
Giờ HợiHợiMãoTuất

Suy luận Bảng cho thấy ba điều. Một, trong nhóm sao an theo giờ có hai sao đếm nghịch là Văn Xương và Địa Không, còn Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo thì đếm thuận. Hai, vì Văn Xương đi ngược mà Văn Khúc đi xuôi nên hai sao ấy luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi và tổng vị trí của chúng không đổi; chúng đồng cung đúng hai lần trong ngày, giờ Mão cùng tại Mùi và giờ Dậu cùng tại Sửu. Ba, Văn Xương và Địa Không chỉ cách nhau đúng một cung ở mọi giờ, vì cả hai cùng đếm nghịch và chỉ khác điểm khởi.

Bước hai: bảng vị trí Ân Quang đủ mười hai giờ và ba mươi ngày

Suy luận Bảng dưới đây do chương trình sinh ra, chạy đủ mười hai giờ nhân ba mươi ngày. Quý vị dò hàng theo ngày sinh âm lịch, dò cột theo giờ sinh, giao nhau ở ô nào thì Ân Quang của quý vị đóng tại cung ấy. Người sinh tháng thiếu chỉ có hai mươi chín ngày thì bỏ hàng cuối.

Vị trí an sao Ân Quang theo giờ sinh và ngày sinh âm lịch
Ngày sinhGiờ TýGiờ SửuGiờ DầnGiờ MãoGiờ ThìnGiờ TỵGiờ NgọGiờ MùiGiờ ThânGiờ DậuGiờ TuấtGiờ Hợi
Ngày 1DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 2TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 3HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 4HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 5SửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDần
Ngày 6DầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMão
Ngày 7MãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìn
Ngày 8ThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵ
Ngày 9TỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọ
Ngày 10NgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùi
Ngày 11MùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThân
Ngày 12ThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậu
Ngày 13DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 14TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 15HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 16HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 17SửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDần
Ngày 18DầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMão
Ngày 19MãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìn
Ngày 20ThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵ
Ngày 21TỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọ
Ngày 22NgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùi
Ngày 23MùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThân
Ngày 24ThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậu
Ngày 25DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 26TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 27HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 28HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 29SửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDần
Ngày 30DầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMão

Bảy điều bất biến của Ân Quang

  1. Ân Quang an được cả mười hai cung. Ngày sinh chạy từ một tới ba mươi mà vòng chỉ có mười hai cung, nên với bất kỳ giờ nào cũng đủ ngày để đưa Ân Quang đi khắp địa bàn. Không có cung nào nó không tới được. Mọi lá số đều có Ân Quang, không sót ai.
  2. Ân Quang và Thiên Quý luôn đối xứng qua trục Tý Ngọ. Đây là điều bất biến quan trọng nhất của cả bộ. Văn Xương đi nghịch theo giờ, Văn Khúc đi thuận theo giờ, nên tổng vị trí của chúng không đổi; Ân Quang đi thuận thêm số ngày, Thiên Quý lùi đúng số ngày ấy, nên tổng vị trí Ân Quang cộng Thiên Quý cũng không đổi. Chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp bằng chương trình thì đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần.
  3. Trục của bộ Quang Quý lệch một cung so với trục của bộ Xương Khúc. Xương Khúc soi gương qua trục Sửu Mùi, còn Quang Quý soi gương qua trục Tý Ngọ. Nguyên nhân là nhịp lùi một cung trong phép an: cả hai sao con đều lùi, mà một lùi thuận một lùi nghịch nên trục bị đẩy đi. Đây là chỗ khác hẳn bộ Tam Thai Bát Tọa, vốn dùng chung trục Sửu Mùi với bộ Tả Hữu sinh ra chúng.
  4. Hai sao chỉ có thể đồng cung tại Tý hoặc tại Ngọ, và chỉ xung chiếu tại Mão và Dậu. Muốn đồng cung thì cả hai phải đứng ngay trên trục, mà trục chỉ đi qua hai cung. Mão Dậu là cặp cung duy nhất vừa đối diện nhau vừa cân đối qua trục Tý Ngọ. Ai nói lá số của mình có Quang Quý đồng cung tại Dần hay tại Mùi thì lá số ấy đã an sai.
  5. Thế tam hợp của bộ Quang Quý chỉ có hai cặp: Dần với Tuất, hoặc Thân với Thìn. Nghĩa là bộ này chỉ hội tam hợp được trong tam hợp Dần Ngọ Tuất và tam hợp Thân Tý Thìn. Điều thú vị là bộ Tam Thai Bát Tọa lại ngược hẳn, chỉ hội được trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu và tam hợp Hợi Mão Mùi. Hai bộ quý hiển của khoa Tử Vi chia nhau hai nửa địa bàn.
  6. Khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn, nên chúng vĩnh viễn không đứng liền kề nhau. Khoảng cách bằng hai lần tổng của ngày sinh trừ giờ sinh cộng hai. Vì luôn chẵn nên không bao giờ bằng một hay mười một, tức không bao giờ có thế Ân Quang và Thiên Quý giáp hai bên một cung. Thế giáp bằng bộ Quang Quý là điều không tồn tại.
  7. Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Ân Quang. Vì sao tới được cả mười hai cung, mà mỗi cung qua mười hai thế Tử Vi đều có thể chứa nhiều chính tinh khác nhau, nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Ân Quang, và cung ấy cũng có thể trống. Ân Quang không kén chính tinh, và cũng vì thế nó không tự định được cục diện.

Khoảng cách cố định giữa Ân Quang và Thiên Quý, tính bằng máy

Suy luận Chương trình chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp giờ và ngày cho ra một phân bố rất đều, và Thầy nghĩ quý vị nên biết con số này trước khi đọc bất cứ lời luận nào về bộ Quang Quý.

Phân bố khoảng cách giữa Ân Quang và Thiên Quý trên ba trăm sáu mươi tổ hợp giờ sinh và ngày sinh
Khoảng cáchThế hội chiếuCung có thể xảy raTỷ lệ
Không cungĐồng cung, bộ trọn vẹn và mạnh nhấtChỉ Tý hoặc NgọMột phần sáu
Hai cungKhông hội chiếu, bộ không thành bộNhiều cungMột phần sáu
Bốn cungTam hợp chiếuDần với Tuất, hoặc Thân với ThìnMột phần sáu
Sáu cungXung chiếu, hai sao nhìn thẳng nhauChỉ Mão và DậuMột phần sáu
Tám cungTam hợp chiếuDần với Tuất, hoặc Thân với ThìnMột phần sáu
Mười cungKhông hội chiếu, bộ không thành bộNhiều cungMột phần sáu

Kinh nghiệm Cộng lại thì hai phần ba số lá số có bộ Quang Quý hội được với nhau bằng đồng cung, xung chiếu hoặc tam hợp, còn một phần ba thì hai sao đứng lẻ, cách nhau hai cung hoặc mười cung, không nhìn thấy nhau. Thầy nêu con số này ra vì trong nghề có một thói quen tai hại: cứ thấy tên Ân Quang trên lá số là nói ngay có bộ Quang Quý. Phải nhìn xem Thiên Quý đứng ở đâu đã. Một phần ba số người không có bộ, và với họ thì Ân Quang chỉ là một ngôi sao lẻ tô nhẹ cho cung nó đóng.

3 Cách An Và Vị Trí Của Ân Quang Trong Lá Số

Cách an và đặc tính sao Ân QuangẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Ân Quang
Cách an và đặc tính sao Ân Quang

Ân Quang an theo Văn Xương và ngày sinh, đi cặp với Thiên Quý. Hai sao Ân Quang Thiên Quý chủ ân nghĩa và may mắn.

Vì là phụ tinh, Ân Quang làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Ân Quang: thông minh, trọng ân nghĩa, cứu khổẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Ân Quang
Ân Quang: thông minh, trọng ân nghĩa, cứu khổ

Theo Tân Biên, Ân Quang cùng Thiên Quý chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn, và chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Đặc biệt, gặp Sát tinh thì vô hại.

Ân Quang là cát tinh phụ trợ, làm dịu và làm sáng cung nó đóng. Đi cùng Thiên Quý và các sao quý thì nét nhân hậu, được quý nhân giúp càng rõ.

5 Ân Quang Không Thuộc Vòng Nào: Quan Hệ Cố Định Với Văn Xương Và Địa Không

Suy luận Khoa Tử Vi có bốn vòng sao lớn, mỗi vòng mười hai sao phủ kín mười hai cung: vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức thiên can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục của lá số, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm sinh. Đọc một sao thuộc vòng thì phải đọc cả vòng.

Suy luận Ân Quang không thuộc vòng nào trong bốn vòng ấy, cũng không thuộc chòm Tử Vi hay chòm Thiên Phủ. Nó là một sao lẻ, an bám vào Văn Xương. Nhưng chính vì bám vào Văn Xương mà nó thừa hưởng một hệ quan hệ cố định rất chặt với nhóm sao an theo giờ, và đó mới là chỗ để luận sâu.

Ân Quang gắn với Văn Xương, Thiên Quý gắn với Văn Khúc

Kinh văn Sách xếp Ân Quang và Thiên Quý thành một bộ, gọi tắt là bộ Quang Quý, cùng chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn, và chế được tính hoa nguyệt của Đào Hoa Hồng Loan; gặp Sát tinh thì vô hại. Tên hai sao đều nói về ơn trên ban xuống: Ân Quang là ánh sáng của ân đức, Thiên Quý là sự quý hiển do trời cho. Cả hai không nói về tài lực, mà nói về phần được ghi nhận và được trao cho.

Suy luận Cấu trúc an sao dựng đúng cái nghĩa ấy. Văn Xương Văn Khúc là văn chương và tài học, tức cái mình có. Ân Quang Thiên Quý là cái ơn mà tài học ấy đem về, tức cái người khác trao lại. Ân Quang sinh ra từ cung Văn Xương nên nó là bóng của ngòi bút; Thiên Quý sinh ra từ cung Văn Khúc nên là bóng của tiếng nói. Thi cử, ban thưởng, xét duyệt, trao giải, tất cả những việc ấy đều là hình thức của ơn ban, và đó là lý do vì sao câu nói dân gian gắn Ân Quang với chuyện thi đỗ, dù bản thân sách không dùng chữ thi đỗ.

Kinh nghiệm Có ích thật khi luận. Thấy một cung có cả Văn Xương và Ân Quang thì biết ngay đó là người sinh mùng hai, ngày mười bốn hoặc hai mươi sáu, và cung ấy có cả ngòi bút lẫn ơn ban dồn vào một chỗ; thế này rất đáng nói nếu cung ấy là Mệnh, Quan Lộc hay Phúc Đức. Ngược lại khi Ân Quang đứng lẻ xa Văn Xương thì hiểu là ơn có mà không đến qua đường chữ nghĩa, phải tìm nguồn khác trên lá số.

Quan hệ với nhóm sao an theo giờ, và một chi tiết đáng giật mình

Suy luận Trong nhóm sao an theo giờ sinh, hai sao đếm nghịch là Văn Xương và Địa Không; bốn sao đếm thuận là Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ và Phong Cáo. Ân Quang bám vào Văn Xương tức bám vào một sao đếm nghịch, nên nó dịch cùng chiều với nhóm nghịch và khoảng cách của nó tới Văn Xương và Địa Không là cố định, chỉ phụ thuộc ngày sinh; còn với bốn sao đếm thuận thì khoảng cách đổi theo từng giờ. Bảng dưới đây do chương trình chạy đủ mười hai giờ nhân ba mươi ngày mà lập.

Sao nào an theo giờ sinh có khoảng cách cố định với Ân Quang và ngày sinh nào cho từng thế hội chiếu
Sao an theo giờ sinhChiều đếmKhoảng cách với Ân Quang có cố định khôngNgày sinh cho từng thế
Văn XươngĐếm nghịchCó, chỉ phụ thuộc ngày sinhĐồng cung ngày 2, 14, 26; xung chiếu ngày 8, 20; tam hợp ngày 6, 10, 18, 22, 30
Địa KhôngĐếm nghịchCó, chỉ phụ thuộc ngày sinhĐồng cung ngày 3, 15, 27; xung chiếu ngày 9, 21; tam hợp ngày 7, 11, 19, 23
Văn KhúcĐếm thuậnKhông, đổi theo giờ sinhPhải tra trên lá số cụ thể, không suy từ ngày sinh được
Địa KiếpĐếm thuậnKhông, đổi theo giờ sinhPhải tra trên lá số cụ thể, không suy từ ngày sinh được
Thai PhụĐếm thuậnKhông, đổi theo giờ sinhPhải tra trên lá số cụ thể, không suy từ ngày sinh được
Phong CáoĐếm thuậnKhông, đổi theo giờ sinhPhải tra trên lá số cụ thể, không suy từ ngày sinh được

Kinh nghiệm Dòng đáng chú ý nhất trong bảng là dòng Địa Không. Đây là một sát tinh nặng, mà khoảng cách của nó với Ân Quang lại cố định tuyệt đối theo ngày sinh: sinh ngày mùng ba, mười lăm hoặc hai mươi bảy thì Ân Quang luôn ngồi chung cung với Địa Không, không có ngoại lệ, dù sinh giờ nào. Thầy cho rằng đây chính là chỗ để hiểu đúng câu của Tân Biên rằng Ân Quang gặp Sát tinh thì vô hại. Cấu trúc an sao đã sắp đặt sẵn một tỷ lệ người nhất định phải mang cảnh ấy, nên nếu sao này bị sát tinh làm hỏng thì lời sách đã không đứng vững được. Cách đọc đúng: cung ấy vẫn nặng vì có Địa Không, nhưng nét nhân hậu và phần may mắn của người ấy không mất; thường ứng vào người trải qua một lần mất trắng rồi vẫn giữ được lòng tử tế, và về sau hay được người khác đưa tay giúp lại.

Suy luận Ngược lại, phải nói rõ để quý vị không suy sai. Thiên Quý mới là sao giàu quan hệ cố định, vì nó bám vào Văn Khúc là sao đếm thuận, cùng chiều với bốn sao trong nhóm; khoảng cách của Thiên Quý tới Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ và Phong Cáo đều cố định theo ngày sinh. Ân Quang chỉ có hai quan hệ như vậy. Đây là chỗ hai sao trong cùng một bộ không đối xứng nhau về mặt cấu trúc, dù đối xứng nhau về mặt vị trí. Khi cần suy cấu trúc mà chưa có lá số trong tay thì Thiên Quý suy được nhiều hơn; còn khi đã có lá số thì hai sao đọc như nhau.

Ân Quang và bảng Tứ Hóa

Kinh văn Ân Quang không nằm trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào, ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Nó không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ. Thiên Quý cũng vậy. Trong toàn bộ nhóm phụ tinh, chỉ có bốn phụ tinh được vào bảng Tứ Hóa là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ và Hữu Bật.

Suy luận Nhưng đúng ở chỗ ấy lại có mối liên hệ đáng chú ý nhất của bài này: Văn Xương, ngôi sao gốc sinh ra Ân Quang, có mặt trong bảng Tứ Hóa hai lần. Tuổi Bính thì Văn Xương hóa Khoa, tuổi Tân thì Văn Xương hóa Kỵ. Hai tuổi ấy cho hai cảnh rất khác nhau. Với người tuổi Bính, nếu Ân Quang lại đóng đúng cung có Văn Xương, tức sinh mùng hai, ngày mười bốn hoặc hai mươi sáu, thì cung ấy có Văn Xương hóa Khoa cộng Ân Quang, một trong những thế đẹp nhất cho đường khoa bảng và cho việc được xét duyệt, được trao giải. Với người tuổi Tân thì cùng vị trí ấy lại thành Văn Xương hóa Kỵ cộng Ân Quang: ơn có mà đến chậm, hồ sơ hay vướng, giấy tờ hay phải làm lại, thi cử hay hỏng ở khâu thủ tục chứ không hỏng ở kiến thức. Cần nói thêm cho đủ: bên kia bộ thì tuổi Kỷ Văn Khúc hóa Kỵ và tuổi Tân Văn Khúc hóa Khoa, ảnh hưởng tương tự lên Thiên Quý.

Suy luận Còn khi Ân Quang đứng cùng cung với một chính tinh đang hóa thì đọc thế nào. Đồng cung chính tinh hóa Lộc: ơn ban có phần vật chất, hay ứng vào tiền thưởng, học bổng, khoản trợ cấp, phần được biếu. Đồng cung chính tinh hóa Quyền: được trao cả quyền lẫn ơn, tức được cất nhắc chứ không chỉ được khen. Đồng cung chính tinh hóa Khoa: thế hợp nhất với tượng của sao, vì Khoa là danh tiếng và khoa bảng, cùng gốc với Văn Xương; hợp thi cử, bảo vệ đề tài, xét chức danh, nhận giải thưởng chuyên môn. Đồng cung chính tinh hóa Kỵ: ơn thành nợ. Kinh nghiệm Trường hợp cuối Thầy dặn kỹ, vì nó rất hay đúng: người mang thế này thường được giúp thật, mà cái được giúp ấy về sau thành ràng buộc, thành món phải trả, thành lý do khó từ chối. Ân Quang không gỡ được Hóa Kỵ, nó chỉ làm cho cái vướng ấy đến dưới hình thức một ân huệ.

6 Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung

Ân Quang phối với các sao cho kết quả tốt lành:

Khi Ân Quang gặpÝ nghĩa kết hợp
Thiên QuýCặp Ân Quang Thiên Quý, tăng ân nghĩa, may mắn.
Khôi, Việt, Quang QuýQuý nhân phù trợ, cứu khổ phò nguy.
Đào Hoa, Hồng LoanChế bớt hoa nguyệt, giữ đoan chính.
Sát tinhVô hại, vẫn giữ được phúc.

7 Ân Quang Tại Đủ Mười Hai Cung Chức

Suy luận Ân Quang an được cả mười hai cung nên không có cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng, xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy ở mục cấu trúc: Ân Quang là phụ tinh nhỏ mang tượng ơn ban, nó nói về phần được trao cho chứ không nói về thực lực; sức của nó tăng hẳn khi có Thiên Quý hội về, mà điều ấy chỉ xảy ra với hai phần ba số lá số; và nó không kén chính tinh nên nghĩa của nó luôn phải đọc sau khi đã biết chính tinh của cung. Cột giữa là khi Ân Quang gặp chính tinh miếu vượng, có Thiên Quý hội về hoặc có cát tinh nâng. Cột phải là khi nó bị Tuần Triệt án ngữ, gặp Hóa Kỵ, hoặc đứng lẻ không có Thiên Quý.

Ý nghĩa của Ân Quang tại từng cung chức, khi đủ thế và khi thất thế
CungÂn Quang đủ thế, có Thiên Quý hội hoặc cát tinh nângÂn Quang thất thế, đứng lẻ hoặc bị Tuần Triệt và Hóa Kỵ
MệnhNgười ôn hòa, dễ gần, hay giúp người mà không kể công; cả đời thường có vài lần được ai đó đưa tay đúng lúc. Nét mặt sáng, nói năng nhã.Nhân hậu tới mức cả nể, hay nhận việc giúp rồi tự làm khổ mình; chờ được người khác ghi nhận thay vì tự lên tiếng.
Huynh ĐệAnh em bạn bè tử tế, lúc ngặt có người trong nhóm đứng ra; mình cũng hay là người đi hòa giải và cho vay không tính lãi.Giúp anh em nhiều mà ít khi được trả lại; tình cảm thì có mà lúc cần thì mỗi người một hoàn cảnh.
Phu ThêBạn đời hiền hòa, biết ơn và biết nhường; hôn nhân hay thành từ một dịp mình được người ấy giúp hoặc mình giúp người ấy. Sách chép Ân Quang chế được tính hoa nguyệt của Đào Hồng, nên đây là cung sao này có ích rõ.Ơn nghĩa lấn tình cảm, ở với nhau vì mang ơn chứ không vì thương; dễ sinh cảm giác mắc nợ, và cái nợ ấy khó nói ra.
Tử TứcCon cái ngoan, biết thương người, được thầy cô quý; việc học của con hay có người ngoài giúp đỡ, có học bổng hoặc có người dạy thêm không lấy công.Con quen được cho nên khó tự xoay; cha mẹ nên để con tự làm phần việc của mình thay vì lo hộ.
Tài BạchTiền tới có phần do người khác đưa: thưởng, biếu, học bổng, trợ cấp, hoa hồng giới thiệu, phần thừa kế. Lúc túng thường có chỗ xoay mà không phải hạ mình.Trông vào phần được cho nên chậm dựng nguồn thu của riêng mình; hoặc cho người khác vay rồi khó đòi. Sách không nói Ân Quang làm ra tiền.
Tật ÁchĐây là cung Ân Quang có ích rõ nhất theo lời sách, vì Tân Biên nói tới việc giải trừ bệnh tật và tai họa. Bệnh thường phát hiện kịp, gặp đúng thầy đúng thuốc, có người mách chỗ chữa.Vẫn có nghĩa đỡ nhưng không đủ chống một cung Tật Ách nhiều sát tinh. Không được lấy Ân Quang làm lý do bỏ khám định kỳ.
Thiên DiRa ngoài gặp người tử tế, đi xa có người đón; hay được người lạ giúp mà không cầu. Hợp người làm nghề phải nhờ quan hệ, làm việc thiện nguyện, làm đối ngoại.Người ngoài quý mến mà không ai đứng ra chịu trách nhiệm; sự giúp đỡ dừng ở lời nói và lời hứa.
Nô BộcBạn bè trung hậu, cấp dưới biết ơn; ít bị phản, ít bị nói sau lưng. Đây là cung mà nghĩa ơn nghĩa của Ân Quang hiện qua người khác rõ nhất.Cho đi nhiều mà nhận lại ít; bạn nhiều mà không sâu. Nên chọn người để giúp thay vì giúp tràn lan.
Quan LộcCông việc hay có người đỡ, cấp trên bênh; hợp nghề y, nghề dạy học, công tác xã hội, từ thiện, thẩm định, xét duyệt hồ sơ. Đây cũng là cung nói rõ nhất chuyện thi cử và xét chức danh.Được khen mà chậm được cất nhắc; hoặc thăng tiến nhờ ơn người khác nên khó tự chủ. Muốn tiến phải trông vào chính tinh và Hóa Quyền.
Điền TrạchNhà cửa có phần do người trên cho lại, hoặc mua được nhờ người quen mách mối; xóm giềng lành, ở đâu cũng dễ hòa nhập.Giữ được nhà mà khó mở mang; đất đai trông vào phần được cho hơn là tự gây dựng, nên hay vướng chuyện chia chác trong họ.
Phúc ĐứcCung sáng thứ hai sau Tật Ách. Tâm an, hay nghĩ tới việc thiện, có duyên với việc thờ tự và việc chăm sóc người khác; phúc phần từ đời trước dày.Hay áy náy vì cảm thấy mình nợ người khác; nghĩ nhiều về ơn nghĩa tới mức khó nhẹ lòng. Đây là mặt trái Thầy thấy nhiều ở cung này.
Phụ MẫuCha mẹ hiền, được che chở lâu; quan hệ với bề trên nhẹ nhàng, hay được thầy hoặc người dẫn dắt trong nghề nâng đỡ.Được thương mà ít được dạy nghề; hoặc mang ơn bề trên nặng tới mức khó sống theo ý mình.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này. Thầy dặn bốn bước theo đúng thứ tự. Bước một, tìm Thiên Quý trước khi đọc Ân Quang. Có Thiên Quý đồng cung thì đọc cột trái với đủ trọng lượng; xung hoặc tam hợp thì đọc cột trái nhưng bớt đi một phần; cách hai cung thì coi như Ân Quang đứng lẻ, và một phụ tinh lẻ thì tiếng nói rất nhỏ. Bước hai, xem chính tinh của cung, vì Ân Quang không dựng nên cung, nó chỉ nói cung ấy nhận được gì từ bên ngoài. Bước ba, xem Hóa Kỵ chứ không phải xem sát tinh trước. Đây là chỗ Ân Quang khác các phụ tinh khác: sách nói nó gặp Sát tinh thì vô hại, nên thứ làm hỏng nó không phải Kình Đà Hỏa Linh mà là Hóa Kỵ và Tuần Triệt. Bước bốn, xem Tuần Triệt; án ngay cung thì ánh sáng của ơn đức bị che, ơn đến muộn hoặc đến rồi lại mất.

Kinh nghiệm Thêm một mẹo Thầy dùng nhiều năm: Ân Quang nói rõ nhất ở ba cung Tật Ách, Phúc Đức và Quan Lộc, tức những cung mà cái được không đo bằng tiền. Ở Tài Bạch và Điền Trạch thì nghĩa của nó mỏng hơn nhiều, và luận nặng tay ở đó là luận sai. Thầy đã đọc không ít bài trên mạng nói có Ân Quang ở Tài là phú quý; Tân Biên không có câu nào như vậy, và bài này không dẫn câu ấy.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại. Riêng với Ân Quang thì cấu trúc đã khóa sẵn ba điều: Thiên Quý không bao giờ giáp được Ân Quang vì khoảng cách hai sao luôn chẵn; Văn Xương và Địa Không có thế cố định với Ân Quang, tra theo ngày sinh là biết ngay, không cần đoán; còn Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo thì không có thế nào cố định, phải tra trên lá số cụ thể.

Ân Quang phát huy được khi gặp

  • Thiên Quý (đồng cung mạnh nhất tại Tý hoặc Ngọ, xung chiếu tại Mão Dậu, tam hợp tại Dần Tuất hoặc Thân Thìn): trọn bộ Quang Quý, nghĩa ân huệ và may mắn mới đủ sức nói. Không có Thiên Quý hội về thì Ân Quang chỉ là một nét tô nhẹ.
  • Văn Xương hóa Khoa của tuổi Bính (đồng cung là đẹp nhất, xảy ra khi sinh mùng hai, ngày mười bốn hoặc hai mươi sáu): gốc sinh ra Ân Quang lại mang hóa của khoa bảng. Đây là thế đẹp nhất mà sao này có thể có, rất hợp đường thi cử và xét chức danh.
  • Hóa Khoa nói chung (đồng cung, xung chiếu hay tam hợp đều có tác dụng): hai lớp cứu giải và hai lớp danh tiếng cộng lực thật, vì Hóa Khoa đi theo chính tinh nên có lực.
  • Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung hoặc chiếu): các sao văn tinh và khoa giáp, cùng hướng với tượng ơn ban qua đường chữ nghĩa.
  • Thiên Khôi và Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, an theo can năm nên không cố định): quý nhân có thật. Khôi Việt chỉ ra ai là người ban ơn, Ân Quang chỉ ra rằng có ơn để nhận.
  • Đào Hoa và Hồng Loan (đồng cung hoặc chiếu): đây là điều sách nói thẳng, Ân Quang chế được tính hoa nguyệt của hai sao ấy, giữ cho đoan chính. Trường hợp hiếm hoi mà một cát tinh nhỏ lại có tác dụng ghìm rõ rệt.
  • Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Tướng miếu vượng (đồng cung): các chính tinh mang khí phúc và khí che chở, cùng loại với Ân Quang nên cộng vào nhau rất thuận.
  • Chính tinh miếu vượng nói chung (đồng cung): điều kiện quan trọng hơn mọi cát tinh phụ. Không có chính tinh vững thì một phụ tinh nhỏ không đủ sức nói.

Ân Quang mất tác dụng khi gặp

  • Thiên Quý cách hai cung hoặc mười cung (không phải một thế xấu, mà là không có thế nào): xảy ra với một phần ba số lá số. Bộ không thành bộ, Ân Quang đứng lẻ và tiếng nói rất nhỏ. Đây là điều phải kiểm đầu tiên.
  • Tuần và Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): che luôn ánh sáng của ân đức. Với Ân Quang thì đây là thế bất lợi nặng nhất, nặng hơn cả sát tinh, vì sách đã nói sao này gặp Sát tinh thì vô hại.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): ơn thành nợ. Được giúp thật, mà cái được giúp ấy về sau thành ràng buộc, thành món phải trả, thành lý do khó từ chối.
  • Văn Xương hóa Kỵ của tuổi Tân (đồng cung, xảy ra khi sinh mùng hai, ngày mười bốn hoặc hai mươi sáu): ơn đến chậm và đến qua thủ tục. Hồ sơ hay vướng, giấy tờ hay phải làm lại, thi cử hỏng ở khâu giấy má chứ không hỏng ở kiến thức.
  • Địa Không đồng cung (đồng cung, xảy ra khi sinh mùng ba, ngày mười lăm hoặc hai mươi bảy, không có ngoại lệ): cung ấy vẫn nặng vì có Địa Không, dù nét nhân hậu của người không mất. Hay ứng vào một lần mất trắng rồi vẫn giữ được lòng tử tế.
  • Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): phụ tinh không nâng nổi một chính tinh đang yếu, chỉ làm cái yếu ấy bớt gắt.
  • Quá nhiều hung tinh dồn một cung (đồng cung, cộng dồn): sách nói Ân Quang gặp Sát tinh thì vô hại, nhưng vô hại là nói về bản thân ngôi sao, không phải nói về cung. Cung nặng vẫn nặng.
  • Thói cả nể của chính người có sao: đây không phải một ngôi sao, nhưng Thầy xếp vào cột này vì nó hại thật. Ân Quang chủ ơn nghĩa, mà người quá nặng ơn nghĩa thì không dám từ chối, và không dám từ chối là đầu mối của rất nhiều khổ.

Tóm lại, Ân Quang là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

9 Ân Quang Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Suy luận Các mục trên nói về Ân Quang tĩnh: nó đóng ở cung nào, đi với sao nào. Mục này nói về Ân Quang động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.

Đại vận đi vào cung có Ân Quang

Kinh nghiệm Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Ân Quang bản mệnh, mười năm ấy thường mang sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng có người đưa tay. Việc hay ứng vào bốn loại: được một người thầy hoặc một người trên dẫn dắt, được xét duyệt một hồ sơ quan trọng, được trao một khoản hoặc một danh hiệu, và bệnh cũ được chữa dứt. Cái được thường đến qua tay người khác chứ không do mình giành lấy.

Suy luận Ba điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Ân Quang. Thứ nhất, xem Thiên Quý có hội về cung đại vận ấy không; có thì nghĩa ân huệ đủ trọng lượng, không thì đây chỉ là dấu hiệu phụ. Thứ hai, xem cung đại vận ấy là cung chức gì trên lá số gốc, vì Ân Quang nói rất rõ ở Tật Ách, Phúc Đức, Quan Lộc mà nói rất mỏng ở Tài Bạch. Thứ ba, xem Tứ Hóa của đại vận: mang Hóa Khoa vào cung Ân Quang thì mười năm ấy thật sự sáng cho đường học hành và xét duyệt; mang Hóa Kỵ vào thì ơn đến kèm ràng buộc.

Kinh nghiệm Thầy cũng phải nói mặt trái. Đại vận vào cung Ân Quang mà lá số vốn thiếu Hóa Quyền, thiếu Lộc Tồn, thiếu sát tinh thúc, thì mười năm ấy dễ thành mười năm nhờ vả: việc gì cũng có người giúp nên chưa bao giờ phải tự đứng một mình, và tới lúc người ấy rút đi thì mới thấy mình chưa có nghề. Với thế này Thầy khuyên dùng quãng ấy để học cho xong một nghề có bằng cấp, chứ đừng dùng để hưởng.

Ân Quang không có bản lưu niên, và đây là lý do

Suy luận Câu hỏi phải trả lời dứt khoát: Ân Quang không có bản lưu niên. Muốn một sao có bản lưu thì tham số an của nó phải đổi theo từng năm. Vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh nên có bản lưu; vòng Bác Sĩ bám Lộc Tồn tức can năm sinh nên cũng có; Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Mã, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ đều thuộc loại có bản lưu vì lý do ấy. Ngược lại vòng Tràng Sinh an theo Cục nên không có bản lưu, và mọi sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh cũng không, vì hai tham số ấy cố định suốt đời.

Suy luận Ân Quang an theo giờ sinh cộng ngày sinh, cả hai đều cố định, nên nó đứng yên một chỗ từ lúc lọt lòng cho tới lúc mất. Không có lưu Ân Quang, không có lưu Thiên Quý. Đây là chỗ dễ nhầm nhất, vì Văn Xương và Văn Khúc thì lại có bản lưu theo can năm, nên có người suy rằng con của chúng cũng phải có. Không phải. Lưu Xương Khúc là hai sao riêng được an lại theo can của năm, không kéo theo Ân Quang hay Thiên Quý.

Các lưu sao chạm vào cung có Ân Quang

Suy luận Cái đổi theo năm không phải Ân Quang mà là những gì bay tới cung của nó. Có năm nhóm đáng xét:

  • Lưu Hóa Khoa của năm, tính theo can năm. Đây là dấu hiệu lành nhất có thể chạm vào cung Ân Quang, hai lớp cứu giải và hai lớp khoa bảng gặp nhau. Với người đang chờ một kỳ thi, một quyết định xét duyệt, một hồ sơ, thì năm mà lưu Hóa Khoa bay vào cung Ân Quang là năm nên nộp.
  • Lưu Hóa Kỵ của năm. Ngược lại: ơn của năm ấy kèm ràng buộc, hoặc chỗ mình trông cậy lại đang vướng. Đừng dồn hết hy vọng vào một người.
  • Lưu Xương Khúc và lưu Khôi Việt, theo can năm. Bốn sao này cùng hướng với Ân Quang; lưu Xương Khúc tới thì hợp việc giấy tờ, thi cử, viết lách, lưu Khôi Việt tới thì có người đứng ra giúp.
  • Lưu Thái Tuế, tức cung mang chi của năm đang xem. Đè lên cung có Ân Quang thì năm ấy việc mình bị đưa ra xem xét, tốt xấu tùy các sao khác trong cung.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, theo can năm qua lưu Lộc Tồn. Rơi đúng cung có Ân Quang thì phần ơn bị bào mòn, hay ứng vào việc được hứa rồi không thành, hoặc giúp người rồi mang tiếng.

Kinh nghiệm Nguyên tắc cuối của mục này, xin nhớ đúng câu chữ: một sao lưu chạm vào chưa nói được gì, phải có ít nhất ba dấu hiệu cùng chỉ về một cung thì mới đáng nói. Ân Quang lại càng vậy, vì bản thân nó là phụ tinh nhỏ và đứng yên suốt đời. Nói năm nay có Ân Quang nên thi sẽ đỗ là nói sai nghề, bởi Ân Quang năm nào cũng nằm đúng chỗ ấy, không đi đâu cả.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Ân Quang

Suy luận Với một sao mang tên đáng sợ thì mục ranh giới dùng để hạ bớt nỗi lo. Với một sao mang tên đẹp như Ân Quang thì mục này dùng để hạ bớt kỳ vọng, mà việc ấy cần thiết không kém, vì kỳ vọng sai làm người ta ỷ lại.

Hiểu lầm một: có Ân Quang là thi đỗ, là được ban thưởng

Kinh văn Sách nói gì: Tân Biên chép Ân Quang cùng Thiên Quý chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn, chế được tính hoa nguyệt của Đào Hồng, và gặp Sát tinh thì vô hại. Trong cả đoạn ấy không có chữ thi đỗ và không có chữ ban thưởng. Cái nghĩa ấy là suy ra, và suy ra hợp lý: chữ ân là ơn trên ban xuống, mà sao lại sinh từ cung Văn Xương là sao chủ văn chương khoa bảng, nên nói tới phần được xét duyệt, được ghi nhận, được trao cho là đúng hướng. Nhưng phải gọi đúng tên: đây là suy luận, không phải kinh văn.

Suy luận Về cấu trúc thì càng rõ. Ân Quang an được cả mười hai cung, ai cũng có, không sót một lá số nào. Nếu chỉ cần có Ân Quang là thi đỗ thì không ai trượt cả. Kinh nghiệm Thực lực thi cử phải đọc ở Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, và chính tinh của cung Quan Lộc cùng cung Mệnh; Ân Quang chỉ nói phần được ghi nhận sau khi đã có thực lực. Thầy vẫn ví: Văn Xương là bài làm, Ân Quang là con dấu đóng lên bài ấy. Không có bài thì con dấu đóng vào đâu.

Hiểu lầm hai: Ân Quang gặp sát tinh thì cả cung hóa lành

Kinh văn Câu gốc của sách là Ân Quang cùng Thiên Quý gặp Sát tinh thì vô hại. Chữ vô hại nói về ngôi sao, không nói về cái cung. Nghĩa đúng là bản thân Ân Quang không bị sát tinh làm cho biến chất, nét nhân hậu và phần may mắn của người ấy giữ nguyên. Nghĩa sai là cung có Ân Quang thì sát tinh mất tác dụng.

Suy luận Cấu trúc an sao còn cho một bằng chứng thú vị cho cách hiểu đúng. Địa Không cũng an theo giờ sinh và cũng đếm nghịch giống Văn Xương, nên khoảng cách giữa Ân Quang và Địa Không cố định theo ngày sinh: sinh ngày mùng ba, mười lăm hoặc hai mươi bảy thì hai sao luôn đồng cung, dù sinh giờ nào cũng vậy. Nói cách khác, cấu trúc đã sắp sẵn một tỷ lệ người nhất định phải mang cảnh Ân Quang ngồi chung Địa Không. Nếu sát tinh làm hỏng được sao này thì lời sách đã không đứng vững. Kinh nghiệm Cách đọc Thầy dùng: cung ấy vẫn nặng, vẫn phải phòng bị theo lối bình thường, nhưng con người ấy sau biến cố vẫn giữ được lòng tử tế, và chính vì thế mà về sau hay được người khác đưa tay giúp lại.

Hiểu lầm ba: lá số nào cũng có bộ Ân Quang Thiên Quý

Suy luận Có hai sao là một chuyện, hai sao hội được với nhau lại là chuyện khác. Khoảng cách giữa Ân Quang và Thiên Quý luôn chẵn và chia đều thành sáu khả năng, nên một phần ba số lá số có hai sao cách nhau hai cung hoặc mười cung, tức không nhìn thấy nhau. Với những lá số ấy, cái gọi là bộ Quang Quý không tồn tại. Kinh nghiệm Thầy dặn học trò một thao tác nhỏ mà hiệu quả: trước khi viết bất cứ câu nào có chữ Quang Quý, hãy chỉ tay vào hai cung rồi đếm khoảng cách. Không, bốn, sáu hay tám thì viết; hai hay mười thì gạch câu ấy đi.

Hiểu lầm bốn: Ân Quang là sao giải mạnh nên có nó thì không lo bệnh tật

Suy luận Không phải. Xếp theo lực thật thì sao giải mạnh nhất trong một lá số là Hóa Khoa, vì nó đi theo chính tinh nên mang được lực của chính tinh và có mặt rất rộng trong tam phương tứ chính. Sau đó tới các chính tinh vốn mang khí phúc như Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thiên Phủ khi miếu vượng. Sau nữa mới tới các phụ tinh mang nghĩa giải như Ân Quang, Thiên Quý, Long Đức, Giải Thần, Thiên Giải, Địa Giải, Thiên Y. Đặt đúng thứ tự này thì luận mới không lệch. Và dù xếp ở đâu thì cũng không sao nào thay được việc đi khám định kỳ.

Suy luận Nói lại cho gọn cả mục: Ân Quang là phụ tinh nhỏ mang tượng ơn ban, ai cũng có, chỉ tô đậm chứ không tự quyết định, cần Thiên Quý hội về mới đủ trọng lượng, không phải sao định thi cử và không phải sao xóa được nạn. Hiểu đúng chừng ấy thì nó rất có ích khi đọc cung Tật Ách và cung Phúc Đức; hiểu quá lên thì thành cái cớ để ỷ lại.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Ân Quang Qua Ba Bước

Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Ất, sinh tháng 5, ngày 10, giờ Tý, Tử Vi an tại Ngọ, Mệnh cũng an tại Ngọ. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng bộ Quang Quý, bộ Xương Khúc và bộ Không Kiếp thì lưới không vẽ, Thầy tính sẵn ra đây. Giờ Tý nên Văn Xương tại Tuất, Văn Khúc tại Thìn, Địa Không và Địa Kiếp cùng tại Hợi. Ngày 10 nên đếm thuận từ Tuất tới ngày mười rồi lùi một cung ra Ân Quang tại Ngọ, và đếm nghịch từ Thìn tới ngày mười rồi lùi một cung ra Thiên Quý cũng tại Ngọ. Hai sao đồng cung, đúng vào một trong hai cung duy nhất cho phép điều đó, và cung ấy lại chính là cung Mệnh.

Bước một: Ân Quang nằm ở cung chức nào và đi với ai

Suy luận Mệnh an tại Ngọ nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Ngọ là Mệnh, Tỵ là Huynh Đệ, Thìn là Phu Thê, Mão là Tử Tức, Dần là Tài Bạch, Sửu là Tật Ách, Tý là Thiên Di, Hợi là Nô Bộc, Tuất là Quan Lộc, Dậu là Điền Trạch, Thân là Phúc Đức, Mùi là Phụ Mẫu. Vậy trọn bộ Quang Quý rơi vào cung Mệnh tại Ngọ.

Suy luận Cung Mệnh tại Ngọ có Tử Vi độc tọa, mà tuổi Ất thì Tử Vi hóa Khoa. Vậy trong một cung có: Tử Vi hóa Khoa, Ân Quang, Thiên Quý. Kiểm tiếp thế chiếu. Văn Xương đóng tại Tuất là cung Quan Lộc, mà Tuất cách Ngọ bốn cung nên Văn Xương tam hợp chiếu về Mệnh; Văn Khúc tại Thìn thì cách Ngọ hai cung nên không chiếu tới. Cung xung chiếu của Mệnh là Tý, cung trống, tức Thiên Di vô chính diệu. Tam hợp còn lại là Dần có Vũ Khúc và Thiên Tướng cùng Đà La. Bộ Thai Tọa của lá số này thì Tam Thai tại Tỵ là Huynh Đệ và Bát Tọa tại Dậu là Điền Trạch, hai sao tam hợp chiếu nhau nhưng không chạm tới Mệnh.

Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì

Suy luận Bốn hóa của tuổi Ất rải như sau: Thiên Cơ hóa Lộc tại Tỵ là cung Huynh Đệ, Thiên Lương hóa Quyền tại Mão là cung Tử Tức, Tử Vi hóa Khoa tại Ngọ là ngay cung Mệnh, Thái Âm hóa Kỵ tại Hợi là cung Nô Bộc. Lộc Tồn tuổi Ất an tại Mão là Tử Tức, kéo theo Kình Dương tại Thìn là Phu Thê và Đà La tại Dần là Tài Bạch.

Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Mệnh có Tử Vi hóa Khoa cộng trọn bộ Quang Quý, lại được Văn Xương tam hợp chiếu về: đây là mẫu người được ghi nhận sớm và được ghi nhận đúng. Tử Vi là ngôi cao mà hóa Khoa là danh tiếng, cộng thêm bộ chủ ơn ban thì đường học hành, thi cử, xét chức danh của người này rất thuận; hồ sơ nộp đâu cũng dễ được duyệt, và trong nghề luôn có người trên đứng ra bảo lãnh. Nét tính cách thì ôn hòa, trọng ân nghĩa, hay giúp người mà không kể công, đúng như Tân Biên chép.

Kinh nghiệm Cái phải giữ nằm ở hai chỗ. Chỗ thứ nhất là cung Thiên Di tại Tý, cung trống, tức ra ngoài không có chính tinh đỡ, phải mượn sao từ Mệnh chiếu sang; người này ở trong môi trường quen thì rất sáng, ra môi trường lạ thì phải dựa hẳn vào cái danh sẵn có, và nếu cái danh ấy chưa dựng xong thì lúng túng. Chỗ thứ hai là cung Nô Bộc tại Hợi, nơi có Thái Âm hóa Kỵ ngồi chung cả Địa Không lẫn Địa Kiếp, vì giờ Tý làm hai sao ấy trùng cung. Đây là một cung rất nặng: bạn bè và cấp dưới là chỗ hao tổn lớn nhất của đời người này. Ân Quang ở Mệnh không gỡ được cung Nô Bộc, nó chỉ khiến người ấy sau mỗi lần bị phụ vẫn tiếp tục tử tế. Đây đúng là chỗ Thầy nhắc đi nhắc lại: phụ tinh nhỏ tô đậm chứ không quyết định, và một cát tinh ở cung này không cứu được một hung cách ở cung khác.

Bước ba: vận nào chạm tới

Kinh nghiệm Với lá số này, ba loại năm đáng chú ý. Năm Ngọ, lưu Thái Tuế đè đúng cung Mệnh nơi có Tử Vi hóa Khoa và bộ Quang Quý; năm ấy việc của mình được đưa ra xem xét, hợp nộp hồ sơ, hợp thi cử, hợp ra mắt. Năm Tý, lưu Thái Tuế vào cung Thiên Di vốn trống, nên năm ấy hay phải bước ra ngoài mà không có chỗ dựa sẵn, cần chuẩn bị kỹ. Năm 2026 Bính Ngọ thuộc loại thứ nhất, và can Bính lại làm Văn Xương hóa Khoa bay vào cung Quan Lộc nơi Văn Xương bản mệnh đang đóng, một năm rất hợp cho việc xét chức danh; năm 2032 Nhâm Tý thuộc loại thứ hai. Xin nhắc lại: không có lưu Ân Quang, cái chạy theo năm là các sao lưu khác và bốn hóa của năm, còn Ân Quang thì đứng nguyên tại Ngọ suốt đời.

Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang sinh ngày 3. Ân Quang lùi về Hợi và Thiên Quý tiến sang Sửu, hai sao chuyển từ đồng cung sang cách nhau hai cung, tức bộ Quang Quý không thành bộ. Nặng hơn nữa: Ân Quang tại Hợi ngồi chung Địa Không, Địa Kiếp và Thái Âm hóa Kỵ, đúng cảnh mà mục ranh giới đã nói. Cung Mệnh mất sạch bộ Quang Quý, chỉ còn Tử Vi hóa Khoa; còn nghĩa ơn nghĩa thì chuyển hết sang cung Nô Bộc, đọc là người dốc lòng với bạn bè cấp dưới trong một cung rất hao, cho nhiều mà nhận lại rất ít.
  • Giữ ngày 10, chỉ đổi sang sinh giờ Ngọ. Văn Xương dời sang Thìn, Văn Khúc sang Tuất, nên Ân Quang sang Tý và Thiên Quý sang Tý, hai sao vẫn đồng cung vì Tý cũng nằm trên trục. Nhưng cung Tý trên lưới này là Thiên Di và là cung trống, nên bộ Quang Quý chuyển từ trong ra ngoài: người này không được ghi nhận tại chỗ mà phải đi xa mới có người biết tới, hợp với việc học ở nơi khác, làm cho tổ chức nước ngoài, hoặc lập nghiệp xa quê. Xin lưu ý là đổi giờ sinh thì cung Mệnh cũng dời, ở đây Thầy chỉ giữ lưới cũ để so vị trí bộ Quang Quý cho dễ thấy.
  • Giữ tháng 5, ngày 10, giờ Tý, chỉ đổi can sang tuổi Bính. Vị trí bộ Quang Quý không đổi một ly vì chúng chỉ ăn theo giờ và ngày. Nhưng tuổi Bính thì Văn Xương hóa Khoa, Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Liêm Trinh hóa Kỵ, và Lộc Tồn dời sang Tỵ kéo Kình Đà theo. Bây giờ Văn Xương tại Tuất mang Hóa Khoa và tam hợp chiếu thẳng vào cung Mệnh có bộ Quang Quý; Tử Vi không còn hóa Khoa nữa. Cái danh của người này chuyển từ vị thế sang chữ nghĩa: không phải người sinh ra đã được xếp cao, mà là người dựng tên bằng bài viết, bằng bằng cấp, bằng công trình. Cùng một vị trí sao, chỉ đổi tuổi can, mà đọc ra hai con đường khác nhau. Đó là bằng chứng rõ nhất cho câu Thầy nói ở đầu bài: phụ tinh không tự quyết định điều gì.

Muốn thấy Ân Quang của chính mình đứng ở cung nào, Thiên Quý cách bao xa, bộ có thành bộ hay không, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Ân Quang trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo các sao hội chiếu của riêng quý vị.

12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách dùng cho đúng cái tốt và cách không để cái tốt ấy biến thành sự ỷ lại. Thầy chia ba nhóm.

Dùng đúng cái mà Ân Quang cho

  • Ơn phải xin thì mới có. Nghĩa thật của Ân Quang trên lá số là gặp khó thì có người đưa tay, có chỗ hỏi, có người bảo lãnh. Nhưng phải mở miệng hỏi thì mới có. Kinh nghiệm Thầy thấy rất nhiều người có bộ Quang Quý đẹp mà vẫn khổ chỉ vì ngại phiền người khác, cứ ôm việc một mình cho tới lúc không gánh nổi.
  • Nộp hồ sơ, dự thi, xin xét duyệt, đừng ngại. Đây là lời khuyên rất cụ thể cho người có Ân Quang đẹp tại Mệnh, Quan Lộc hay Phúc Đức. Phần được ghi nhận là chỗ mạnh của quý vị, nên việc gì có vòng xét duyệt thì cứ nộp, tỷ lệ được duyệt của quý vị cao hơn mức trung bình. Ngược lại, việc gì phải giành giật bằng sức thì nên tìm người cùng làm.
  • Trả lại ơn bằng việc cụ thể. Suy luận Ân Quang thuộc nhóm phúc thiện, mà phúc trong cách hiểu của cổ nhân là thứ tiêu đi thì hết, làm thêm thì dày. Việc làm thêm không cần lớn: giúp một người trong nghề, chăm người ốm trong nhà, dạy lại cho người sau cái mình biết, đứng ra bảo lãnh cho một người trẻ.

Nếu Ân Quang của quý vị thất thế

  • Bộ không thành bộ thì đừng trông vào nó. Kiểm khoảng cách với Thiên Quý trước tiên. Cách hai hoặc mười cung thì hãy luận cung ấy theo chính tinh và các sao khác, coi Ân Quang như một nét chấm phá.
  • Gặp Tuần Triệt án ngữ thì đừng trông vào may. Kinh nghiệm Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất, vì với Ân Quang thì Tuần Triệt hại hơn cả sát tinh. Người có Ân Quang bị Tuần Triệt nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ: hồ sơ nộp sớm, giấy tờ đủ bản sao, bảo hiểm đầy đủ, khám sức khỏe định kỳ, chứ đừng trông vào việc rồi sẽ có người giúp.
  • Gặp Hóa Kỵ đồng cung thì nhận ơn có giới hạn. Ơn thành nợ là cảnh hay xảy ra với thế này. Thầy khuyên khi được giúp thì nói rõ ngay từ đầu mình trả lại được gì và không trả lại được gì, đừng để món nợ ân tình lớn dần trong im lặng.

Điều Thầy muốn nói thẳng

Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Ân Quang, vì nó do giờ sinh và ngày sinh định ra, cố định suốt đời, và không có bản lưu niên. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Ân Quang, mở được đường thi cử, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra với chính những người có bộ Quang Quý đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở thói không biết từ chối. Người trọng ân nghĩa thì nhận lời quá dễ, giúp quá nhiều, và tới lúc kiệt sức thì không dám kể với ai vì sợ mang tiếng kể công. Thầy khuyên đặt trước cho mình một hạn mức: mỗi tháng giúp bao nhiêu buổi, cho vay tối đa bao nhiêu, bảo lãnh cho tối đa mấy người. Có hạn mức thì lòng tốt mới bền.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Chỗ học và chỗ làm giấy tờ nên đủ sáng và gọn, vì tượng của sao này là ánh sáng và là chữ nghĩa; một ngọn đèn bàn tử tế có ích thật cho người hay phải đọc và viết buổi tối. Hồ sơ, bằng cấp, giấy khen, giấy tờ nhà đất nên cất một chỗ, có bản sao, có ghi ngày, vì đời người có Ân Quang hay xoay quanh các vòng xét duyệt. Việc giữ liên lạc với thầy cũ, với người từng giúp mình, việc tham gia một nhóm thiện nguyện nhỏ, cũng nên coi là một dạng bồi phúc của thời nay, và nó có tác dụng thật với đời sống chứ không cần phải tin gì thêm. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Ân Quang và Thiên Quý: hai sao đi thành bộ, chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn, chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào Hồng, gặp Sát tinh thì vô hại; Ân Quang hành Mộc, an theo Văn Xương và ngày sinh. Mọi câu gắn thẻ Kinh văn trong bài về tính chất Ân Quang đều quy về mục này. Sách không lập câu phú riêng cho Ân Quang, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, và không dùng chữ thi đỗ hay chữ ban thưởng; hai nghĩa ấy trong bài được gắn thẻ Suy luận và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: phép khởi Văn Xương tại Tuất cho giờ Tý đếm nghịch, khởi Văn Khúc tại Thìn cho giờ Tý đếm thuận, và phép lấy cung Văn Xương làm mùng một đếm thuận tới ngày sinh rồi lùi một cung để an Ân Quang, lấy cung Văn Khúc đếm nghịch rồi lùi một cung để an Thiên Quý. Phần này dùng để kiểm lại phép an sao trình bày ở mục cơ chế an sao.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: Ân Quang và Thiên Quý an theo ngày sinh nên không có trong bảng tra sẵn theo can, chi, tháng, giờ; bảng vị trí trong bài do chương trình riêng sinh ra, chạy đủ mười hai giờ nhân ba mươi ngày, tức ba trăm sáu mươi tổ hợp, dựa trên vị trí Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp lấy đúng từ thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: bảng Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp theo mười hai giờ; bảng ba trăm sáu mươi ô vị trí Ân Quang; kết luận tổng vị trí Ân Quang cộng Thiên Quý không đổi và rơi trên trục Tý Ngọ, tức lệch một cung so với trục Sửu Mùi của bộ Xương Khúc, đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần, từ đó suy ra hai sao chỉ đồng cung tại Tý hoặc Ngọ, chỉ xung chiếu tại Mão và Dậu, chỉ tam hợp ở cặp Dần Tuất hoặc cặp Thân Thìn, và không bao giờ đứng liền kề nhau; phân bố sáu khoảng cách chẵn chia đều mỗi loại sáu mươi trên ba trăm sáu mươi; kết luận khoảng cách giữa Ân Quang với Văn Xương và với Địa Không là cố định và chỉ phụ thuộc ngày sinh, trong khi khoảng cách tới Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo thì đổi theo giờ sinh, còn Thiên Quý thì ngược lại có bốn quan hệ cố định; danh sách ngày sinh cho từng thế đồng cung, xung chiếu, tam hợp với Văn Xương và Địa Không; kết luận Ân Quang an được cả mười hai cung nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Ân Quang không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.

Lưu ý về dị bản: phép an Ân Quang và Thiên Quý có dị bản rõ hơn nhiều sao khác, và quý vị nên biết để khỏi hoang mang. Bản mà bài này dùng, và cũng là bản phổ biến nhất trong sách Việt, lấy chính cung Văn Xương làm mùng một, đếm thuận tới ngày sinh rồi lùi lại một cung; Thiên Quý làm gương lại từ cung Văn Khúc, đếm nghịch rồi cũng lùi một cung. Một số bản bỏ nhịp lùi một cung, khiến cả hai sao lệch đi một cung so với bảng ở đây và trục đối xứng của bộ chuyển từ Tý Ngọ sang Sửu Mùi; một số bản khác đổi vai, cho Ân Quang theo Văn Khúc và Thiên Quý theo Văn Xương. Khi tra lá số ở nơi khác mà thấy lệch, phần lớn là do dị bản chứ không phải do sai sót, và điều nên làm là hỏi rõ nơi ấy dùng phép nào. Cũng có bản chép Ân Quang hành Hỏa thay vì hành Mộc. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; riêng Văn Xương hóa Khoa tuổi Bính và Văn Xương hóa Kỵ tuổi Tân thì hai phái thống nhất. Trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc rồi đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư bản Vũ Tài Lục, phần cách an theo giờ sinh và ngày sinh cùng mọi khoảng cách cố định giữa Ân Quang, Thiên Quý, Văn Xương và Địa Không đều được tính lại bằng chương trình chạy đủ mười hai giờ và ba mươi ngày. Mục tiêu là giúp quý vị phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm luận giải, đâu là suy luận từ nguyên lý, trước khi áp một ngôi sao vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Ân Quang

Ân Quang là sao chủ ân nghĩa và lòng nhân trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc, đi cặp với Thiên Quý. Sao chủ thông minh, trọng ân nghĩa, nhân hậu từ thiện, cứu khổ phò nguy và đem may mắn.

Theo Tân Biên, Ân Quang gặp Sát tinh thì vô hại, vẫn giữ được phúc khí và nét nhân hậu. Đây là một điểm quý của sao này.

Ân Quang và Thiên Quý hợp thành cặp sao chủ ân nghĩa, may mắn, được quý nhân giúp đỡ và có khả năng giải trừ bệnh tật, tai họa.

Ân Quang an theo sao Văn Xương và ngày sinh, đi cặp với Thiên Quý trong lá số.

Ba bước. Bước một, an Văn Xương theo giờ sinh: khởi từ cung Tuất cho giờ Tý rồi đếm nghịch mỗi giờ một cung, nên giờ Sửu tại Dậu, giờ Dần tại Thân, cứ thế. Bước hai, lấy chính cung Văn Xương làm mùng một rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới ngày sinh. Bước ba, tới ngày sinh thì lùi lại một cung, dừng ở đâu an Ân Quang ở đó. Viết thành công thức thì Ân Quang đứng cách Văn Xương đúng số ngày sinh trừ hai cung. Sinh mùng hai thì Ân Quang trùng khít cung Văn Xương; sinh mùng một thì đứng ngay cung liền trước Văn Xương; sinh ngày mười bốn và ngày hai mươi sáu lại trùng khít vì tròn một vòng.

Vì hai sao luôn đối xứng qua trục Tý Ngọ. Văn Xương đếm nghịch theo giờ còn Văn Khúc đếm thuận theo giờ, nên tổng chỉ số hai cung ấy không đổi. Ân Quang đi thuận thêm số ngày, Thiên Quý đi nghịch đúng số ngày ấy, nên tổng chỉ số của Ân Quang và Thiên Quý cũng không đổi. Chạy đủ mười hai giờ nhân ba mươi ngày bằng chương trình thì tổng ấy luôn rơi vào trục Tý Ngọ, tức lệch đúng một cung so với trục Sửu Mùi của bộ Xương Khúc. Hai sao đồng cung chỉ khi cùng đứng trên trục, tức tại Tý hoặc tại Ngọ. Chúng chỉ xung chiếu được tại Mão và Dậu, và chỉ tam hợp được ở hai cặp Dần với Tuất hoặc Thân với Thìn.

Tân Biên có chép rằng Ân Quang cùng Thiên Quý gặp Sát tinh thì vô hại, và đây là một điểm quý hiếm thấy ở phụ tinh. Nhưng phải hiểu đúng phạm vi. Câu ấy nói rằng bản thân Ân Quang không bị sát tinh làm cho biến chất, chứ không nói rằng Ân Quang xóa được sát tinh cho cả cung. Cung có ba sát tinh cộng một Ân Quang thì vẫn là một cung nặng, chỉ khác ở chỗ nét nhân hậu và phần may mắn của người ấy không mất đi. Có một chi tiết cấu trúc đáng chú ý ở đây: Địa Không cũng an theo giờ sinh và đếm nghịch giống Văn Xương, nên khoảng cách giữa Ân Quang và Địa Không là cố định và chỉ phụ thuộc ngày sinh; người sinh ngày mùng ba, mười lăm hoặc hai mươi bảy thì Ân Quang luôn ngồi chung cung với Địa Không, không có ngoại lệ.

Không phải theo nghĩa một sao quyết định. Tân Biên xếp Ân Quang vào nhóm chủ thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa và đem nhiều may mắn. Cái nghĩa thi cử đỗ đạt và được ban thưởng đến từ chữ ân trong tên sao, tức ơn trên ban xuống, và từ chỗ sao này sinh ra từ cung Văn Xương là sao chủ văn chương khoa bảng. Vì thế Ân Quang chỉ nói tới phần được ghi nhận, được xét duyệt, được trao cho; còn thực lực thi cử vẫn phải đọc ở Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa và chính tinh của cung Quan Lộc. Ân Quang là phụ tinh nhỏ, nó tô đậm chứ không tự quyết định.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.