Sao Bát Tọa trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Bát Tọa

Sao chủ khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu; nâng đỡ địa vị, đi liền Tam Thai.

Hành MộcPhụ tinhĐịa vị, phúc hậuTheo Hữu Bật
八座Bā Zuò
Tên sao: Bát Tọa
Ngũ hành: Mộc
Nhóm: Phụ Tinh Quý Hiển
Cách an: Bát tọa an theo hữu bật và ngày sinh, đi cặp với tam thai, hợp thành bộ tăng quý khí
Cai quản: khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, địa vị
Tính chất: Địa vị, phúc hậu
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Bát Tọa là gì

Sao Bát Tọa trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Bát Tọa trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Bát Tọa trong lá số Tử Vi

Bát Tọa là sao chủ địa vị và phúc hậu, ngũ hành Mộc, đi cặp với Tam Thai. Tên Bát Tọa gợi tám chỗ ngồi cao quý, nên sao mang ý nghĩa nâng đỡ địa vị, tăng quý khí cho cung và sao đồng cung.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Bát Tọa an theo hai tham số cùng lúc: trước hết theo tháng sinh âm lịch để tìm cung Hữu Bật, rồi theo ngày sinh âm lịch để đếm đi từ cung ấy. Điểm phải nhớ trước tiên là chiều đếm: Bát Tọa đếm nghịch, tức ngược chiều kim đồng hồ, trong khi sao đi cặp với nó là Tam Thai lại đếm thuận. Sách chép phép an rất gọn: lấy cung có Hữu Bật làm mùng một, lùi mỗi ngày một cung cho tới ngày sinh, dừng ở cung nào thì an Bát Tọa vào cung ấy.

Suy luận Viết thành công thức cho gọn thì Bát Tọa đứng lùi khỏi Hữu Bật đúng số ngày sinh trừ một cung. Sinh mùng một thì hai sao trùng khít; sinh mùng hai thì lùi một cung; sinh mùng bảy thì lùi sáu cung, tức đứng đối diện Hữu Bật; sinh ngày mười ba và ngày hai mươi lăm lại trùng khít vì mười hai cung là trọn một vòng. Vì có tham số ngày mà Bát Tọa không có mặt trong bảng an sao theo can, chi, tháng, giờ mà các trang khác hay chép lại; muốn có bảng vị trí của nó thì phải dựng riêng, và bảng ấy có tới ba trăm sáu mươi ô.

Bước một: cung Hữu Bật và cung Tả Phụ theo tháng sinh

Kinh văn Hữu Bật khởi từ cung Tuất cho tháng giêng rồi đếm nghịch, mỗi tháng lùi một cung. Tả Phụ khởi từ cung Thìn cho tháng giêng rồi đếm thuận. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai tháng, kèm Thiên Hình và Thiên Riêu vì hai sao ấy cũng an theo tháng và sẽ dùng tới ở mục sau.

Vị trí an của Hữu Bật, Tả Phụ, Thiên Hình và Thiên Riêu theo tháng sinh âm lịch
Tháng sinhHữu BậtTả PhụThiên HìnhThiên Riêu
Tháng 1TuấtThìnDậuSửu
Tháng 2DậuTỵTuấtDần
Tháng 3ThânNgọHợiMão
Tháng 4MùiMùiThìn
Tháng 5NgọThânSửuTỵ
Tháng 6TỵDậuDầnNgọ
Tháng 7ThìnTuấtMãoMùi
Tháng 8MãoHợiThìnThân
Tháng 9DầnTỵDậu
Tháng 10SửuSửuNgọTuất
Tháng 11DầnMùiHợi
Tháng 12HợiMãoThân

Suy luận Bảng cho thấy ngay ba điều. Một, Hữu Bật là ngôi sao đi ngược duy nhất trong nhóm sao an theo tháng; Tả Phụ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Giải, Địa Giải đều đi thuận. Hai, vì một sao đi ngược và một sao đi xuôi nên Tả Phụ với Hữu Bật luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi, và tổng vị trí của chúng không đổi ở mọi tháng. Ba, hai sao ấy đồng cung đúng hai lần trong năm, tháng tư cùng tại Mùi và tháng mười cùng tại Sửu, tức đúng hai cung nằm trên trục.

Bước hai: bảng vị trí Bát Tọa đủ mười hai tháng và ba mươi ngày

Suy luận Bảng dưới đây do chương trình sinh ra, chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày. Quý vị dò hàng theo ngày sinh âm lịch, dò cột theo tháng sinh âm lịch, giao nhau ở ô nào thì Bát Tọa của quý vị đóng tại cung ấy. Người sinh tháng thiếu chỉ có hai mươi chín ngày thì bỏ hàng cuối.

Vị trí an sao Bát Tọa theo tháng sinh và ngày sinh âm lịch
Ngày sinhTháng 1Tháng 2Tháng 3Tháng 4Tháng 5Tháng 6Tháng 7Tháng 8Tháng 9Tháng 10Tháng 11Tháng 12
Ngày 1TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 2DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 3ThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậu
Ngày 4MùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThân
Ngày 5NgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùi
Ngày 6TỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọ
Ngày 7ThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵ
Ngày 8MãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìn
Ngày 9DầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMão
Ngày 10SửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDần
Ngày 11HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 12HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 13TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 14DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 15ThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậu
Ngày 16MùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThân
Ngày 17NgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùi
Ngày 18TỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọ
Ngày 19ThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵ
Ngày 20MãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìn
Ngày 21DầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMão
Ngày 22SửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDần
Ngày 23HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 24HợiTuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửu
Ngày 25TuấtDậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợi
Ngày 26DậuThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuất
Ngày 27ThânMùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậu
Ngày 28MùiNgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThân
Ngày 29NgọTỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùi
Ngày 30TỵThìnMãoDầnSửuHợiTuấtDậuThânMùiNgọ

Bảy điều bất biến của Bát Tọa

  1. Bát Tọa an được cả mười hai cung. Ngày sinh chạy từ một tới ba mươi mà vòng chỉ có mười hai cung, nên với bất kỳ tháng nào cũng đủ ngày để đưa Bát Tọa đi khắp địa bàn. Không có cung nào nó không tới được, cũng không có cung nào nó ưu ái. Mọi lá số đều có Bát Tọa, không sót ai.
  2. Bát Tọa và Tam Thai luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi. Đây là điều bất biến quan trọng nhất của cả bộ. Tả Phụ đi thuận theo tháng, Hữu Bật đi nghịch theo tháng, nên tổng vị trí của chúng không đổi. Tam Thai đi thuận thêm đúng số ngày, Bát Tọa lùi đúng số ngày ấy, nên tổng vị trí Tam Thai cộng Bát Tọa cũng không đổi và bằng đúng tổng của Tả Hữu. Chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp bằng chương trình thì đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần.
  3. Hai sao chỉ có thể đồng cung tại Sửu hoặc tại Mùi. Muốn đồng cung thì cả hai phải đứng ngay trên trục đối xứng, mà trục ấy chỉ đi qua hai cung. Không có cung thứ ba. Ai nói lá số của mình có bộ Thai Tọa đồng cung tại Dần hay tại Dậu thì lá số ấy đã an sai.
  4. Hai sao chỉ có thể xung chiếu tại Thìn và Tuất. Thìn Tuất là cặp cung duy nhất vừa đối diện nhau vừa cân đối qua trục Sửu Mùi. Thế tam hợp thì chỉ có đúng hai cặp: Tỵ với Dậu, và Mão với Hợi. Nghĩa là bộ Thai Tọa không bao giờ hội tam hợp trong tam hợp Dần Ngọ Tuất hay tam hợp Thân Tý Thìn.
  5. Khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn, nên chúng vĩnh viễn không đứng liền kề nhau. Khoảng cách bằng hai lần tổng của tháng sinh cộng ngày sinh trừ năm. Vì luôn chẵn nên không bao giờ bằng một hay mười một, tức không bao giờ có thế Bát Tọa và Tam Thai giáp hai bên một cung. Thế giáp bằng bộ Thai Tọa là điều không tồn tại.
  6. Bát Tọa giữ khoảng cách cố định với Hữu Bật, và khoảng cách ấy chỉ phụ thuộc ngày sinh. Đồng cung Hữu Bật khi sinh ngày 1, 13, 25; xung chiếu Hữu Bật khi sinh ngày 7, 19; tam hợp chiếu Hữu Bật khi sinh ngày 5, 9, 17, 21, 29. Điều đáng nói là quan hệ này giống hệt quan hệ giữa Tam Thai với Tả Phụ: hai bóng cách hai hình đúng bằng nhau, chỉ ngược chiều.
  7. Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Bát Tọa. Vì sao tới được cả mười hai cung, mà mỗi cung qua mười hai thế Tử Vi đều có thể chứa nhiều chính tinh khác nhau, nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Bát Tọa, và cung ấy cũng có thể trống. Bát Tọa không kén chính tinh, và cũng vì thế nó không tự định được cục diện.

Khoảng cách cố định giữa Bát Tọa và Tam Thai, tính bằng máy

Suy luận Chương trình chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp tháng ngày cho ra một phân bố rất đều, và Thầy nghĩ quý vị nên biết con số này trước khi đọc bất cứ lời luận nào về bộ Thai Tọa.

Phân bố khoảng cách giữa Bát Tọa và Tam Thai trên ba trăm sáu mươi tổ hợp tháng sinh và ngày sinh
Khoảng cáchThế hội chiếuCung có thể xảy raTỷ lệ
Không cungĐồng cung, bộ trọn vẹn và mạnh nhấtChỉ Sửu hoặc MùiMột phần sáu
Hai cungKhông hội chiếu, bộ không thành bộNhiều cungMột phần sáu
Bốn cungTam hợp chiếuTỵ với Dậu, hoặc Mão với HợiMột phần sáu
Sáu cungXung chiếu, hai sao nhìn thẳng nhauChỉ Thìn và TuấtMột phần sáu
Tám cungTam hợp chiếuTỵ với Dậu, hoặc Mão với HợiMột phần sáu
Mười cungKhông hội chiếu, bộ không thành bộNhiều cungMột phần sáu

Kinh nghiệm Cộng lại thì hai phần ba số lá số có bộ Thai Tọa hội được với nhau, còn một phần ba thì hai sao đứng lẻ, cách nhau hai cung hoặc mười cung, không nhìn thấy nhau. Thầy nêu con số này ra vì trong nghề có một thói quen tai hại: cứ thấy tên Bát Tọa trên lá số là nói ngay có bộ Thai Tọa. Phải nhìn xem Tam Thai đứng ở đâu đã. Một phần ba số người không có bộ, và với họ thì Bát Tọa chỉ là một ngôi sao lẻ tô nhẹ cho cung nó đóng.

3 Cách An Và Vị Trí Của Bát Tọa Trong Lá Số

Cách an và đặc tính sao Bát TọaẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Bát Tọa
Cách an và đặc tính sao Bát Tọa

Bát Tọa an theo Hữu Bật và ngày sinh, đi cặp với Tam Thai, hợp thành bộ tăng quý khí.

Vì là phụ tinh, Bát Tọa làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Bát Tọa: khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậuẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Bát Tọa
Bát Tọa: khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu

Theo Tân Biên, Bát Tọa cùng Tam Thai chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Đây là cặp sao phụ trợ làm tăng vẻ đường bệ và phúc khí.

Bát Tọa đi cùng Tam Thai và các sao quý như Tả Hữu, Khôi Việt thì làm nổi địa vị, sự được nể trọng. Là sao phụ trợ, Bát Tọa phát huy khi cung có chính tinh sáng và cát tinh.

5 Bát Tọa Không Thuộc Vòng Nào: Quan Hệ Với Hữu Bật Và Vì Sao Nó Nghèo Quan Hệ Cố Định

Suy luận Khoa Tử Vi có bốn vòng sao lớn, mỗi vòng mười hai sao phủ kín mười hai cung: vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức thiên can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục của lá số, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm sinh. Đọc một sao thuộc vòng thì phải đọc cả vòng, vì vị trí trong vòng đã khóa sẵn sao nào xung, sao nào tam hợp, sao nào giáp.

Suy luận Bát Tọa không thuộc vòng nào trong bốn vòng ấy, cũng không thuộc chòm Tử Vi hay chòm Thiên Phủ. Nó là một sao lẻ, an bám vào một sao khác. Nhưng khác với Tam Thai, chỗ bám của Bát Tọa lại làm cho nó nghèo quan hệ cố định một cách rất đặc biệt, và đây là điều đáng nói nhất trong cả bài.

Bộ Thai Tọa là bóng của bộ Tả Hữu

Kinh văn Sách xếp Tam Thai và Bát Tọa thành một bộ, gọi tắt là bộ Thai Tọa, cùng chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Tên hai sao đều nói về chỗ ngồi: Tam Thai là ba bậc đài cao của triều đình xưa, Bát Tọa là tám chỗ ngồi dành cho bậc được trọng vọng. Cả hai đều không nói về tài, không nói về mệnh, mà nói về vị trí một người được xếp trong đám đông.

Suy luận Cấu trúc an sao dựng đúng cái nghĩa ấy. Tả Phụ Hữu Bật là người nâng đỡ, một tay trái một tay phải. Tam Thai Bát Tọa là chỗ ngồi mà sự nâng đỡ ấy đưa tới. Tam Thai sinh ra từ cung Tả Phụ nên là bóng của bàn tay trái; Bát Tọa sinh ra từ cung Hữu Bật nên là bóng của bàn tay phải. Hai bóng dùng chung một trục gương với hai bàn tay, là trục Sửu Mùi. Đây không phải một hình ảnh văn vẻ Thầy nghĩ ra, mà là kết quả tính bằng máy trên cả ba trăm sáu mươi tổ hợp.

Kinh nghiệm Điều này có ích thật khi luận. Thấy một cung có cả Hữu Bật và Bát Tọa thì biết ngay đó là người sinh ngày mùng một, mười ba hoặc hai mươi lăm, và cung ấy được cả bàn tay lẫn chỗ ngồi dồn vào một chỗ. Ngược lại khi Bát Tọa đứng lẻ xa Hữu Bật thì hiểu là chỗ ngồi có mà bàn tay đỡ ở nơi khác, tức có danh vị mà người giúp không ở cạnh.

Vì sao Bát Tọa chỉ có một quan hệ cố định với nhóm sao tháng

Suy luận Trong nhóm sao an theo tháng sinh, gần như tất cả đều đếm thuận, mỗi tháng dịch một cung cùng chiều: Tả Phụ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Giải, Địa Giải. Chỉ mình Hữu Bật đếm nghịch. Tam Thai bám vào Tả Phụ là sao đếm thuận, nên nó dịch cùng chiều với cả nhóm và khoảng cách của nó tới từng sao trong nhóm là cố định, chỉ phụ thuộc ngày sinh. Bát Tọa bám vào Hữu Bật, nên khi tháng sinh tăng lên một thì Bát Tọa lùi một cung trong khi cả nhóm kia tiến một cung; khoảng cách chênh nhau hai cung mỗi tháng và không bao giờ đứng yên.

Suy luận Bảng dưới đây chứng minh điều ấy bằng số. Thầy lấy một ngày sinh cố định là mùng năm rồi chạy đủ mười hai tháng. Cột khoảng cách tới Hữu Bật đứng yên ở một con số duy nhất; hai cột còn lại nhảy liên tục.

Cùng sinh ngày mùng năm, khoảng cách từ Bát Tọa tới Hữu Bật không đổi còn khoảng cách tới Tả Phụ và Thiên Hình thì đổi theo tháng
Tháng sinh, cùng sinh ngày 5Bát Tọa an tạiCách Hữu BậtCách Tả PhụCách Thiên Hình
Tháng 1Ngọ8 cung2 cung9 cung
Tháng 2Tỵ8 cung0 cung7 cung
Tháng 3Thìn8 cung10 cung5 cung
Tháng 4Mão8 cung8 cung3 cung
Tháng 5Dần8 cung6 cung1 cung
Tháng 6Sửu8 cung4 cung11 cung
Tháng 78 cung2 cung9 cung
Tháng 8Hợi8 cung0 cung7 cung
Tháng 9Tuất8 cung10 cung5 cung
Tháng 10Dậu8 cung8 cung3 cung
Tháng 11Thân8 cung6 cung1 cung
Tháng 12Mùi8 cung4 cung11 cung

Kinh nghiệm Kết luận rút ra rất gọn và rất dùng được: với Bát Tọa, chỉ có hai điều quý vị biết trước mà không cần xem lá số, là vị trí của nó so với Hữu Bật, và vị trí của nó so với Tam Thai qua trục Sửu Mùi. Mọi quan hệ khác đều phải tra trên lá số cụ thể, không suy ra được từ ngày sinh. Đây là chỗ Bát Tọa khác hẳn Tam Thai, và cũng là lý do Thầy khuyên khi luận bộ Thai Tọa thì lấy Tam Thai làm mốc để đọc cấu trúc, lấy Bát Tọa để kiểm bộ có thành hay không.

Bát Tọa và bảng Tứ Hóa

Kinh văn Bát Tọa không nằm trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào, ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Nó không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ. Tam Thai cũng vậy. Trong toàn bộ nhóm phụ tinh, chỉ có bốn phụ tinh được vào bảng Tứ Hóa là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ và Hữu Bật.

Suy luận Nhưng chính ở chỗ ấy lại có một mối liên hệ đáng chú ý: tuổi Mậu thì Hữu Bật hóa Khoa, và Hữu Bật lại là ngôi sao gốc sinh ra Bát Tọa. Hóa Khoa là hóa của danh tiếng, của khoa bảng, của sự được người biết tới, tức cùng hướng với tượng chỗ ngồi của Bát Tọa. Với người tuổi Mậu, nếu Bát Tọa lại đóng đúng cung có Hữu Bật, tức sinh ngày mùng một, mười ba hoặc hai mươi lăm, thì cung ấy có Hữu Bật hóa Khoa cộng Bát Tọa, một thế rất đẹp cho danh vị. Thế tương ứng bên kia là tuổi Nhâm với Tả Phụ hóa Khoa cộng Tam Thai, và cần ghi rõ dị bản: bảng Bắc phái đổi Hóa Khoa của tuổi Nhâm sang Thiên Phủ, còn Hóa Khoa của tuổi Mậu thì hai phái thống nhất để ở Hữu Bật.

Suy luận Còn khi Bát Tọa đứng cùng cung với một chính tinh đang hóa thì đọc thế nào. Bốn cách như sau. Đồng cung chính tinh hóa Lộc: chỗ ngồi có phần lợi thật, danh đi liền với thực, hay ứng vào việc được cất nhắc kèm tăng thu nhập. Đồng cung chính tinh hóa Quyền: thế hợp nhất với tượng của sao, vì Quyền là quyền hành mà Bát Tọa là chỗ ngồi; người này ngồi vào ghế nào thì cầm được việc ở ghế ấy. Đồng cung chính tinh hóa Khoa: sự được nể trọng nổi lên rõ, hợp đường học hành, giảng dạy, chức danh chuyên môn. Đồng cung chính tinh hóa Kỵ: chỗ ngồi thành chỗ vướng, hay ứng vào việc mang danh mà khổ vì danh, ngồi vào ghế lúc ghế đang có chuyện. Kinh nghiệm Trường hợp cuối Thầy dặn kỹ, vì nhiều người thấy Bát Tọa là sao đẹp nên đọc nhẹ đi; đúng ra phải nói thẳng rằng Bát Tọa không gỡ được Hóa Kỵ, nó chỉ làm cho cái vướng ấy diễn ra ở nơi nhiều người nhìn thấy.

6 Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung

Bát Tọa phối với các sao làm tăng quý khí:

Khi Bát Tọa gặpÝ nghĩa kết hợp
Tam ThaiCặp Tam Thai Bát Tọa, tăng quý khí, địa vị.
Tả Phụ, Hữu BậtCó vây cánh, người nâng đỡ.
Khôi, ViệtQuý nhân trợ giúp.
Tử Vi, Thiên PhủTăng vẻ đường bệ, công danh.

7 Bát Tọa Tại Đủ Mười Hai Cung Chức

Suy luận Bát Tọa an được cả mười hai cung nên không có cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng, xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy ở mục cấu trúc: Bát Tọa là phụ tinh nhỏ mang tượng chỗ ngồi, nói về vị trí một người được xếp chứ không nói về tài lực; sức của nó tăng hẳn khi có Tam Thai hội về, mà điều ấy chỉ xảy ra với hai phần ba số lá số; và nó không kén chính tinh nên nghĩa của nó luôn phải đọc sau khi đã biết chính tinh của cung. Cột giữa là khi Bát Tọa gặp chính tinh miếu vượng, có Tam Thai hội về hoặc có cát tinh nâng. Cột phải là khi nó bị sát tinh lấn át, bị Tuần Triệt án ngữ, hoặc đứng lẻ không có Tam Thai.

Ý nghĩa của Bát Tọa tại từng cung chức, khi đủ thế và khi thất thế
CungBát Tọa đủ thế, có Tam Thai hội hoặc cát tinh nângBát Tọa thất thế, đứng lẻ hoặc bị sát tinh và Tuần Triệt
MệnhNgười có phong thái điềm đạm, ngồi đâu yên đó, ăn nói chừng mực nên dễ được giao việc cần giữ ý; đi đâu cũng được xếp chỗ tử tế.Điềm đạm thành ra chậm và thụ động, chờ được mời chứ ít khi tự giành; hay chạnh lòng khi bị xếp thấp hơn mình nghĩ.
Huynh ĐệTrong anh em bạn bè, mình là người được nhường chỗ ngồi trên, được nhờ đứng ra thay mặt; nhóm có tôn ti rõ ràng nên ít lộn xộn.Được xếp trên mà không được nghe theo; tôn ti chỉ còn là hình thức, việc thì mỗi người một phách.
Phu ThêBạn đời có tư cách, biết giữ nề nếp, được hai bên gia đình coi trọng; cưới hỏi và lễ nghĩa tươm tất, nhà cửa có trên có dưới.Nặng phần lễ nghĩa mà nhẹ phần tình cảm; giữ đúng vai vế với nhau tới mức khó nói thật lòng mình. Cần chủ động chuyện trò.
Tử TứcCon cái biết giữ ý tứ trước người lớn, sớm có dáng chững chạc; hay được thầy cô giao việc lớp, việc nhóm.Con quen được ưu ái nên khó chịu khi phải làm việc thường; cha mẹ nên khen đúng việc thay vì khen dáng vẻ.
Tài BạchTiền tới theo đường danh vị: phụ cấp chức vụ, thù lao vì tên tuổi, phần được chia vì đứng tên. Đây là cung Bát Tọa nói mỏng nhất, đừng đọc nặng tay.Chi nhiều cho việc giữ thể diện: lễ nghĩa, quà cáp, chỗ ngồi, hình thức. Sách không nói Bát Tọa làm ra tiền, nên đừng lấy nó làm cớ để tiêu.
Tật ÁchSách không nói Bát Tọa chủ bệnh gì. Theo tượng chỗ ngồi thì nếu có gì đáng nhắc, đó là bệnh của người ngồi lâu: cột sống, vai gáy, tuần hoàn chân.Vẫn là chuyện ngồi lâu, ít vận động, ăn theo tiệc tùng. Đây là suy luận từ tượng của sao, không phải lời sách, nên coi là gợi ý giữ gìn chứ đừng coi là chẩn đoán.
Thiên DiRa ngoài được trọng, tới đâu cũng có người mời ngồi chỗ tử tế; hợp với người phải đi giao thiệp, dự lễ, làm đại diện.Bên ngoài trọng vọng mà không thân; được mời tới cho đủ mặt chứ không được hỏi ý kiến.
Nô BộcBạn bè và cấp dưới biết giữ lễ, ít khi hỗn; mình được đám đông nhận là người đứng mũi. Đây là một trong ba cung Bát Tọa nói rõ nhất.Người theo mình vì cái danh chứ không vì cái tình; hết chức thì hết người. Nên xây quan hệ bằng việc cụ thể.
Quan LộcCung sáng nhất của Bát Tọa. Có chức danh rõ ràng, được xếp vào hàng có tiếng nói, thăng tiến tuần tự và bền. Hợp nghề hành chính, giảng dạy, quản lý, nghi lễ, tổ chức sự kiện.Có danh mà không có quyền, ngồi ghế mà việc do người khác quyết; hoặc thăng chậm vì quá giữ ý. Cần Hóa Quyền hoặc sát tinh thúc mới bước được.
Điền TrạchĐây là cung mà Tân Biên nói thẳng: bộ Thai Tọa làm nhà đất thêm cao đẹp. Nhà khang trang, có lớp lang, chỗ tiếp khách tử tế; hay ở khu có tiếng.Nhà làm cho đẹp mặt hơn cho tiện ở, tốn vào phần nhìn thấy được. Thêm sát tinh thì hay có chuyện sửa đi sửa lại.
Phúc ĐứcTrong lòng ưa nề nếp, coi trọng lễ nghĩa và việc họ hàng; thường có phúc phần từ nếp nhà có quy củ, tâm tính an hòa.Nặng thể diện tới mức tự làm khổ mình, hay so đo chỗ đứng với người khác. Đây là mặt trái Thầy thấy nhiều nhất ở cung này.
Phụ MẫuCha mẹ hoặc người trên có vai vế, gia phong có nề nếp; được thừa hưởng cái danh và các mối quan hệ của bề trên.Thừa hưởng cái danh mà không được truyền cái nghề; hoặc sống dưới bóng cha mẹ, khó tự dựng tên mình.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này. Thầy dặn bốn bước theo đúng thứ tự. Bước một, tìm Tam Thai trước khi đọc Bát Tọa. Có Tam Thai đồng cung thì đọc cột trái với đủ trọng lượng; xung hoặc tam hợp thì đọc cột trái nhưng bớt đi một phần; cách hai cung thì coi như Bát Tọa đứng lẻ, mà một phụ tinh lẻ thì tiếng nói rất nhỏ. Bước hai, xem chính tinh của cung, vì Bát Tọa không dựng nên cung, nó chỉ nói cung ấy được xếp ở đâu trong mắt người khác. Bước ba, đếm sát tinh; từ hai sát tinh trở lên thì đọc thẳng cột phải. Bước bốn, xem Tuần Triệt; án ngay cung thì chỗ ngồi bị rút, danh vị đến muộn hoặc đến rồi lại mất.

Kinh nghiệm Thêm một mẹo Thầy dùng nhiều năm: Bát Tọa nói rõ nhất ở ba cung Quan Lộc, Điền Trạch và Nô Bộc. Riêng Điền Trạch là cung duy nhất mà sách nói thẳng một hệ quả cụ thể, là nhà đất thêm cao đẹp, nên ở cung ấy Thầy cho phép luận mạnh hơn một chút so với các cung khác. Còn tại Tài Bạch và Tật Ách thì nghĩa của nó rất mỏng, luận nặng tay ở đó là luận sai.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại. Riêng với Bát Tọa thì cấu trúc đã khóa sẵn ba điều: Tam Thai không bao giờ giáp được Bát Tọa vì khoảng cách hai sao luôn chẵn; Hữu Bật thì có thể ở bất cứ thế nào tùy ngày sinh, nhưng thế ấy giống nhau cho mọi tháng; còn với Tả Phụ, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao tháng khác thì không có thế nào cố định, phải tra trên lá số cụ thể chứ không suy từ ngày sinh được.

Bát Tọa phát huy được khi gặp

  • Tam Thai (đồng cung mạnh nhất tại Sửu hoặc Mùi, xung chiếu tại Thìn Tuất, tam hợp tại Tỵ Dậu hoặc Mão Hợi): trọn bộ Thai Tọa, nghĩa địa vị và sự được nể trọng mới đủ sức nói. Không có Tam Thai hội về thì Bát Tọa chỉ là một nét tô nhẹ.
  • Hữu Bật và Tả Phụ (đồng cung hoặc chiếu): bàn tay đỡ đứng cạnh chỗ ngồi. Đây là tổ hợp mà Tân Biên nhắc tới khi nói bộ Thai Tọa đem lại sự nâng đỡ. Hữu Bật đồng cung Bát Tọa khi sinh ngày mùng một, mười ba, hai mươi lăm.
  • Hữu Bật hóa Khoa của tuổi Mậu (đồng cung là đẹp nhất): gốc sinh ra Bát Tọa lại mang hóa của danh tiếng. Đây là thế riêng của người tuổi Mậu, không tuổi nào khác có.
  • Thiên Khôi và Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, an theo can năm nên không cố định): quý nhân đưa người ta tới chỗ ngồi. Khôi Việt chỉ ra ai cất nhắc, Bát Tọa chỉ ra cái ghế.
  • Hóa Quyền của chính tinh đồng cung (đồng cung): thế hợp nhất với tượng của sao. Ngồi ghế nào thì thật sự cầm được việc ở ghế ấy.
  • Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các (đồng cung hoặc chiếu): danh vị đi cùng học vấn và tiếng thơm, hợp đường khoa bảng, giảng dạy, chuyên môn có bằng cấp.
  • Ân Quang và Thiên Quý (đồng cung hoặc chiếu, an theo giờ và ngày nên không cố định): bộ chủ ơn huệ và được ban thưởng, đi cùng bộ chủ chỗ ngồi thì thành thế được cất nhắc có kèm phần thưởng.
  • Chính tinh miếu vượng, nhất là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung): điều kiện quan trọng hơn mọi cát tinh phụ. Không có chính tinh vững thì một phụ tinh nhỏ không đủ sức nói.

Bát Tọa mất tác dụng khi gặp

  • Tam Thai cách hai cung hoặc mười cung (không phải một thế xấu, mà là không có thế nào): xảy ra với một phần ba số lá số. Bộ không thành bộ, Bát Tọa đứng lẻ và tiếng nói rất nhỏ. Đây là điều phải kiểm đầu tiên chứ không phải điều để lo.
  • Từ hai sát tinh trở lên trong cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Một phụ tinh nhỏ đỡ được một sát tinh nhỏ, không đỡ nổi hai. Chỗ ngồi bị lung lay.
  • Tuần và Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): che luôn phần danh vị. Thường ứng vào việc được cất nhắc muộn, hoặc ngồi vào ghế rồi lại phải nhường.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): mang danh mà khổ vì danh. Bát Tọa không gỡ được nút Kỵ, nó chỉ làm cho cái vướng ấy diễn ra ở nơi nhiều người nhìn thấy.
  • Cô Thần, Quả Tú (đồng cung hoặc chiếu): ngồi cao mà lẻ loi, được nể mà ít người thân. Trang gốc đã nhắc thế này và Thầy thấy đúng trên lá số thật.
  • Địa Không, Địa Kiếp đồng cung (đồng cung, an theo giờ sinh nên không cố định): chỗ ngồi hụt chân. Hay ứng vào việc được hứa một vị trí rồi việc không thành, hoặc ngồi vào rồi tổ chức thay đổi.
  • Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): phụ tinh không nâng nổi một chính tinh đang yếu, chỉ làm cái yếu ấy được nhiều người trông thấy hơn.
  • Thói chờ được mời của chính người có sao: đây không phải một ngôi sao, nhưng Thầy xếp vào cột này vì nó hại thật. Bát Tọa chủ chỗ ngồi, mà quen ngồi thì quên đứng dậy đi tìm việc.

Tóm lại, Bát Tọa là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

9 Bát Tọa Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Suy luận Các mục trên nói về Bát Tọa tĩnh: nó đóng ở cung nào, đi với sao nào. Mục này nói về Bát Tọa động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.

Đại vận đi vào cung có Bát Tọa

Kinh nghiệm Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Bát Tọa bản mệnh, mười năm ấy thường mang sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng được xếp chỗ. Việc hay ứng vào ba loại: được cất nhắc lên một vị trí có tên gọi rõ ràng, được mời vào một hội nhóm hay ban bệ, hoặc được giao đứng tên cho một việc chung. Riêng với Bát Tọa, vì Tân Biên nói thẳng tới nhà đất, Thầy thấy còn thêm một loại nữa hay ứng: chuyện nhà cửa, mua đất, dựng nhà, sửa lớn, hoặc dời về một chỗ ở coi được hơn.

Suy luận Ba điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Bát Tọa. Thứ nhất, xem Tam Thai có hội về cung đại vận ấy không; có thì nghĩa địa vị đủ trọng lượng, không thì đây chỉ là một dấu hiệu phụ. Thứ hai, xem cung đại vận ấy là cung chức gì trên lá số gốc, vì Bát Tọa nói rất rõ ở Quan Lộc, Điền Trạch, Nô Bộc mà nói rất mỏng ở Tài Bạch. Thứ ba, xem Tứ Hóa của đại vận: mang Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa vào cung Bát Tọa thì chỗ ngồi ấy có thực chất; mang Hóa Kỵ vào thì được xếp chỗ mà chỗ ấy nhiều chuyện.

Kinh nghiệm Thầy cũng phải nói mặt trái. Đại vận vào cung Bát Tọa mà lá số vốn thiếu Hóa Quyền, thiếu Lộc Tồn, thiếu sát tinh thúc thì mười năm ấy dễ thành mười năm ngồi: có danh, có chỗ, được nể, mà không dựng thêm được gì. Với thế này Thầy khuyên nhận việc khó thay vì nhận thêm chức danh.

Bát Tọa không có bản lưu niên, và đây là lý do

Suy luận Câu hỏi phải trả lời dứt khoát: Bát Tọa không có bản lưu niên. Muốn một sao có bản lưu thì tham số an của nó phải đổi theo từng năm. Vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh nên có bản lưu; vòng Bác Sĩ bám Lộc Tồn tức can năm sinh nên cũng có; Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Mã, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ đều thuộc loại có bản lưu vì lý do ấy. Ngược lại vòng Tràng Sinh an theo Cục nên không có bản lưu, và mọi sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh cũng không, vì hai tham số ấy cố định suốt đời.

Suy luận Bát Tọa an theo tháng sinh cộng ngày sinh, cả hai đều cố định, nên nó đứng yên một chỗ từ lúc lọt lòng cho tới lúc mất. Không có lưu Bát Tọa, không có lưu Tam Thai, cũng không có lưu Tả Phụ hay lưu Hữu Bật. Ai luận rằng năm nay lưu Bát Tọa chiếu vào Điền Trạch nên sắp có nhà thì người ấy đang dùng một hệ an sao khác với hệ Tử Vi Đẩu Số, hoặc đang tự nghĩ ra.

Các lưu sao chạm vào cung có Bát Tọa

Suy luận Cái đổi theo năm không phải Bát Tọa mà là những gì bay tới cung của nó. Có năm nhóm đáng xét:

  • Bốn hóa của năm, tính theo can năm. Đây là dấu hiệu nặng ký nhất. Lưu Hóa Quyền hoặc lưu Hóa Khoa bay vào cung có Bát Tọa là dấu hiệu rõ nhất của một năm được cất nhắc; lưu Hóa Kỵ bay vào là năm mà cái danh dễ thành cái vạ, nên bớt nhận việc đứng tên.
  • Lưu Thái Tuế, tức cung mang chi của năm đang xem. Đè lên cung có Bát Tọa thì năm ấy tên tuổi mình bị nhắc tới nhiều, tốt xấu tùy các sao khác trong cung.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can năm qua lưu Lộc Tồn. Rơi đúng cung có Bát Tọa thì chỗ ngồi bị lung lay, hay ứng vào tranh chấp vị trí, bị nói sau lưng, bị soi.
  • Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc, cũng theo can năm. Đây là các lưu sao lành nhất có thể chạm vào cung Bát Tọa; lưu Khôi Việt tới thì có người cất nhắc, lưu Xương Khúc tới thì hợp việc thi cử, bảo vệ đề tài, ra mắt tác phẩm.
  • Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ, theo chi năm. Chạm vào cung Bát Tọa thì việc mang tính lễ nghi trong họ hay dồn vào mình, vì mình là người có vai vế trong nhóm. Không nhất thiết là điềm dữ, nhưng là năm bận việc chung.

Kinh nghiệm Nguyên tắc cuối của mục này, xin nhớ đúng câu chữ: một sao lưu chạm vào chưa nói được gì, phải có ít nhất ba dấu hiệu cùng chỉ về một cung thì mới đáng nói. Bát Tọa lại càng vậy, vì bản thân nó là phụ tinh nhỏ và đứng yên suốt đời. Nói năm nay có Bát Tọa nên sẽ thăng chức là nói sai nghề, bởi Bát Tọa năm nào cũng nằm đúng chỗ ấy, không đi đâu cả.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Bát Tọa

Suy luận Với một sao mang tên đáng sợ thì mục ranh giới dùng để hạ bớt nỗi lo. Với một sao mang tên đẹp như Bát Tọa thì mục này dùng để hạ bớt kỳ vọng, mà việc ấy cần thiết không kém, vì kỳ vọng sai làm người ta đọc lệch cả lá số.

Hiểu lầm một: có Bát Tọa là có địa vị, là ngồi ghế cao

Kinh văn Sách nói gì: Tân Biên chép Bát Tọa cùng Tam Thai chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Sách không có một chữ nào nói tới quan chức, tới thi đỗ, tới làm nên nghiệp lớn. Đây là sao tả phong thái và chỗ ngồi, không phải sao định công danh. Chú ý cả cụm thích an nhàn: đó là một nét tính cách, và trong nhiều lá số nó là nét cản chứ không phải nét đẩy.

Suy luận Về cấu trúc thì càng rõ. Bát Tọa an được cả mười hai cung, ai cũng có, không sót một lá số nào. Nếu chỉ cần có Bát Tọa là có địa vị thì cả thiên hạ đều có địa vị. Kinh nghiệm Thầy đo sức của nó bằng một quy tắc rất thô mà đúng: một phụ tinh nhỏ chỉ tô đậm cái đã có sẵn, không tạo ra cái chưa có. Cung Quan Lộc đã có chính tinh miếu vượng và Hóa Quyền thì Bát Tọa làm cho cái quyền ấy có hình có dạng. Cung Quan Lộc vô chính diệu, gặp sát tinh, thì Bát Tọa không tự dựng nổi một cái ghế nào.

Hiểu lầm hai: Bát Tọa và Tam Thai là một sao chia đôi nên đọc như nhau

Suy luận Sách cho hai sao gần như một nghĩa, điều đó đúng. Nhưng về cấu trúc thì chúng không đối xứng nhau, và đây là chỗ hầu như không ai nói. Tam Thai bám vào Tả Phụ là sao đếm thuận, cùng chiều với cả nhóm sao tháng, nên nó có sáu quan hệ cố định chỉ phụ thuộc ngày sinh. Bát Tọa bám vào Hữu Bật là sao đếm nghịch duy nhất, nên nó chỉ còn hai quan hệ bất biến: với Hữu Bật, và với Tam Thai qua trục Sửu Mùi. Hệ quả thực tế: khi cần suy cấu trúc mà chưa có lá số trong tay thì Tam Thai suy được nhiều hơn Bát Tọa; còn khi đã có lá số thì hai sao đọc như nhau.

Hiểu lầm ba: lá số nào cũng có bộ Tam Thai Bát Tọa

Suy luận Có hai sao là một chuyện, hai sao hội được với nhau lại là chuyện khác. Khoảng cách giữa Bát Tọa và Tam Thai luôn chẵn và chia đều thành sáu khả năng, nên một phần ba số lá số có hai sao cách nhau hai cung hoặc mười cung, tức không nhìn thấy nhau. Với những lá số ấy, cái gọi là bộ Thai Tọa không tồn tại. Kinh nghiệm Thầy dặn học trò một thao tác rất nhỏ mà hiệu quả: trước khi viết bất cứ câu nào có chữ Thai Tọa, hãy chỉ tay vào hai cung rồi đếm khoảng cách. Không, bốn, sáu hay tám thì viết; hai hay mười thì gạch câu ấy đi.

Hiểu lầm bốn: Bát Tọa ở Điền Trạch là chắc chắn có nhà đẹp

Kinh văn Đây là hiểu lầm hay gặp nhất, vì Tân Biên có nói tới nhà đất thật. Nhưng nguyên văn nói bộ Thai Tọa làm cho nhà đất thêm cao đẹp, tức là làm thêm cho cái đã có, không phải làm ra cái chưa có. Cung Điền Trạch có chính tinh vững, có Lộc, có Thiên Phủ hay Thái Âm sáng, thì Bát Tọa làm cho chỗ ở ấy có lớp lang và coi được hơn. Cung Điền Trạch trống rỗng, gặp Không Kiếp, thì Bát Tọa không biến một cung xấu thành một căn nhà.

Suy luận Nói lại cho gọn cả mục: Bát Tọa là phụ tinh nhỏ mang tượng chỗ ngồi, ai cũng có, chỉ tô đậm chứ không tự quyết định, cần Tam Thai hội về mới đủ trọng lượng, và không phải sao định công danh hay định nhà cửa. Hiểu đúng chừng ấy thì nó rất có ích khi đọc cung Quan Lộc và cung Điền Trạch; hiểu quá lên thì thành cái cớ để mừng hụt.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Bát Tọa Qua Ba Bước

Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Giáp, sinh tháng 10, ngày 5, giờ Ngọ, Tử Vi an tại Dậu, Mệnh an tại Tỵ. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng bộ Thai Tọa và bộ Tả Hữu thì lưới không vẽ, Thầy tính sẵn ra đây. Tháng 10 là một trong hai tháng đặc biệt: Tả Phụ và Hữu Bật cùng đóng tại Sửu. Ngày 5 nên đếm thuận bốn cung từ Sửu ra Tam Thai tại Tỵ, và lùi bốn cung từ Sửu ra Bát Tọa tại Dậu. Tỵ với Dậu cách nhau bốn cung nên hai sao tam hợp chiếu nhau, đúng một trong hai cặp tam hợp duy nhất mà bộ này cho phép.

Bước một: Bát Tọa nằm ở cung chức nào và đi với ai

Suy luận Mệnh an tại Tỵ nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Tỵ là Mệnh, Thìn là Huynh Đệ, Mão là Phu Thê, Dần là Tử Tức, Sửu là Tài Bạch, Tý là Tật Ách, Hợi là Thiên Di, Tuất là Nô Bộc, Dậu là Quan Lộc, Thân là Điền Trạch, Mùi là Phúc Đức, Ngọ là Phụ Mẫu. Vậy Bát Tọa rơi đúng vào cung Quan Lộc tại Dậu, cung sáng nhất của sao này, còn Tam Thai đóng ngay cung Mệnh tại Tỵ.

Suy luận Cung Quan Lộc tại Dậu có Tử Vi và Tham Lang tọa thủ. Cung Mệnh tại Tỵ có Vũ Khúc và Phá Quân, mà tuổi Giáp thì Vũ Khúc hóa Khoa và Phá Quân hóa Quyền, tức hai hóa cùng đổ vào Mệnh. Cung Tài Bạch tại Sửu có Liêm Trinh hóa Lộc cùng Thất Sát, và cũng chính là cung chứa cả Tả Phụ lẫn Hữu Bật, thêm Đà La tuổi Giáp. Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần là Tử Tức, Kình Dương tại Mão là Phu Thê. Thái Dương hóa Kỵ đóng tại Ngọ là cung Phụ Mẫu.

Bước hai: hình chụm mà bóng tách, đọc thế nào

Suy luận Đây là lá số cho thấy rõ nhất cái ý bóng và hình. Bộ Tả Hữu chụm hẳn vào một cung là Tài Bạch tại Sửu, một thế rất hiếm vì cả năm chỉ có hai tháng làm được điều đó. Trong khi ấy bóng của chúng là bộ Thai Tọa lại tách ra hai đầu, Tam Thai ở Mệnh và Bát Tọa ở Quan Lộc, chỉ tam hợp chiếu nhau chứ không ngồi chung. Trên lá số trước thì ngược lại: hình tách mà bóng chụm. Cấu trúc an sao cho phép cả hai cảnh, và người luận phải nhìn cả bốn sao chứ không nhìn hai.

Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Quan Lộc có Tử Vi Tham Lang cộng Bát Tọa: nghề nghiệp của người này gắn với một vị trí trông thấy được, có tên gọi, có chỗ ngồi, mà Tham Lang lại chủ giao tế và sở thích rộng, nên hợp những nghề vừa cần vai vế vừa cần quan hệ, ví dụ tổ chức, ngoại giao, kinh doanh dịch vụ cao cấp, nghi lễ. Bát Tọa tam hợp chiếu về Mệnh nên cái chỗ ngồi ấy dính vào con người chứ không chỉ là chức vụ ngoài đời.

Kinh nghiệm Cái phải giữ nằm ngay ở Mệnh, và Thầy phải nói thẳng. Giờ Ngọ làm Địa Không và Địa Kiếp cùng an tại Tỵ, tức cả hai sát tinh nặng nhất đổ vào cung Mệnh, ngồi chung với Vũ Khúc hóa Khoa, Phá Quân hóa Quyền và Tam Thai. Theo đúng quy tắc đã nói ở mục hợp kỵ, từ hai sát tinh trở lên thì phụ tinh nhỏ hết tiếng nói: Tam Thai ở đây gần như không đọc được, chỉ còn giữ cho người ấy một vẻ ngoài chỉnh tề. Bộ Thai Tọa của lá số này vì thế chỉ còn đứng bằng một chân là Bát Tọa ở Quan Lộc. Đây đúng là chỗ Thầy nhắc đi nhắc lại: phụ tinh nhỏ tô đậm chứ không quyết định, và có sao chưa chắc đã dùng được sao.

Suy luận Kiểm thêm hai bộ khác cho đủ. Giờ Ngọ nên Văn Xương tại Thìn là Huynh Đệ, Văn Khúc tại Tuất là Nô Bộc, hai sao xung chiếu nhau. Từ đó tính ra Ân Quang tại Mùi là cung Phúc Đức và Thiên Quý tại Tỵ là cung Mệnh; hai sao ấy cách nhau hai cung nên bộ Quang Quý của lá số này cũng không thành bộ. Nói cách khác, trên lá số này chỉ có bộ Tả Hữu là đồng cung trọn vẹn, bộ Thai Tọa thì tam hợp chiếu nhau nên còn đọc được nhưng nhẹ hơn một bậc, còn bộ Quang Quý thì không thành bộ và phải bỏ ra khỏi lời luận. Cách đọc đúng là dồn trọng lượng vào bộ Tả Hữu ở Tài Bạch, chứ đừng rải đều lời khen cho cả sáu ngôi sao quý hiển.

Bước ba: vận nào chạm tới

Kinh nghiệm Với lá số này, ba loại năm đáng chú ý. Năm Dậu, lưu Thái Tuế đè đúng cung Quan Lộc nơi có Tử Vi Tham Lang và Bát Tọa; năm ấy tên tuổi bị nhắc tới nhiều, việc cất nhắc hay được đặt lên bàn. Năm Mão, lưu Thái Tuế vào cung Phu Thê là cung xung chiếu Quan Lộc, mà Kình Dương bản mệnh cũng đóng tại Mão, nên năm ấy chuyện nghề và chuyện nhà dễ kéo nhau, cần giữ lời. Năm 2029 Kỷ Dậu thuộc loại thứ nhất, năm 2035 Ất Mão thuộc loại thứ hai; tra can của từng năm để biết bốn hóa của năm bay vào đâu là đủ dùng. Xin nhắc lại: không có lưu Bát Tọa, cái chạy theo năm là các sao lưu khác và bốn hóa của năm, còn Bát Tọa thì đứng nguyên tại Dậu suốt đời.

Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang sinh ngày 1. Bát Tọa lùi về trùng khít cung Hữu Bật tại Sửu, mà Tam Thai cũng trùng khít Tả Phụ tại Sửu. Bốn ngôi sao dồn hết vào một cung là Tài Bạch. Cách đọc đổi hẳn: cả bàn tay lẫn chỗ ngồi đều dồn vào chuyện tiền, người này được người khác đưa mối, đứng tên các việc có tiền, và cung Tài Bạch vốn đã có Liêm Trinh hóa Lộc nên thế này rất đáng nói. Đổi lại thì cung Quan Lộc mất sạch bốn sao ấy, chỉ còn Tử Vi Tham Lang trơ trọi.
  • Giữ ngày 5, chỉ đổi sang sinh tháng 4. Tháng 4 là tháng đặc biệt còn lại, Tả Phụ và Hữu Bật cùng tại Mùi. Tam Thai sang Hợi, Bát Tọa sang Mão, hai sao vẫn cách nhau bốn cung nên vẫn tam hợp, nhưng lần này rơi vào cặp Mão với Hợi thay vì cặp Tỵ với Dậu. Trên lá số này Hợi là Thiên Di và Mão là Phu Thê, lại có Kình Dương tại Mão, nên Bát Tọa ngồi chung một sát tinh và nghĩa chỗ ngồi chuyển hẳn sang chuyện bạn đời và chuyện đi lại. Xin lưu ý là đổi tháng sinh thì cung Mệnh cũng dời, ở đây Thầy chỉ giữ lưới cũ để so vị trí bốn sao cho dễ thấy.
  • Giữ tháng 10 và ngày 5, chỉ đổi can sang tuổi Mậu. Vị trí bốn sao không đổi một ly vì chúng chỉ ăn theo tháng và ngày. Nhưng tuổi Mậu thì Hữu Bật hóa Khoa, Tham Lang hóa Lộc, Thái Âm hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Kỵ, và Lộc Tồn dời sang Tỵ kéo Kình Đà theo. Bây giờ cung Quan Lộc tại Dậu có Tử Vi cùng Tham Lang hóa Lộc và Bát Tọa, còn cung Tài Bạch có Hữu Bật hóa Khoa. Chỗ ngồi vừa có lợi vừa có tiếng, một thế đẹp hơn hẳn tuổi Giáp. Cùng một vị trí sao, chỉ đổi tuổi can, mà đọc ra hai con người khác nhau. Đó là bằng chứng rõ nhất cho câu Thầy nói ở đầu bài: phụ tinh không tự quyết định điều gì.

Muốn thấy Bát Tọa của chính mình đứng ở cung nào, Tam Thai cách bao xa, bộ có thành bộ hay không, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Bát Tọa trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo các sao hội chiếu của riêng quý vị.

12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách dùng cho đúng cái tốt và cách không để cái tốt ấy biến thành thói ưa hình thức. Thầy chia ba nhóm.

Dùng đúng cái mà Bát Tọa cho

  • Nhận chỗ ngồi thì phải nhận cả việc của chỗ ấy. Bát Tọa đưa người ta vào vị trí có tên gọi. Cái nguy là ngồi vào rồi chỉ giữ cái tên. Kinh nghiệm Thầy thấy quy luật này rất rõ trên lá số thật: người có bộ Thai Tọa đẹp mà không có Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đỡ thì thường giữ ghế lâu mà không để lại việc gì.
  • Đứng dậy trước khi được mời. Sách chép Bát Tọa thích an nhàn, và đó là nét cần cảnh giác nhất. Người có sao này quen chờ được xếp chỗ, mà đời thì phần lớn chỗ tốt phải tự bước tới. Thầy khuyên mỗi năm nhận ít nhất một việc mình chưa từng làm.
  • Chăm chỗ ở, vì đó là chỗ sách nói thẳng. Tân Biên nói bộ Thai Tọa làm nhà đất thêm cao đẹp. Với người có Bát Tọa tại Điền Trạch thì việc giữ nhà cửa gọn gàng, giấy tờ đất đai rõ ràng, sửa sang đúng lúc, là việc thiết thực và cũng hợp với tượng của sao.

Nếu Bát Tọa của quý vị thất thế

  • Bộ không thành bộ thì đừng trông vào nó. Kiểm khoảng cách với Tam Thai trước tiên. Cách hai hoặc mười cung thì hãy luận cung ấy theo chính tinh và các sao khác, coi Bát Tọa như một nét chấm phá.
  • Từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có. Cung có Bát Tọa mà đủ Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp từ hai sao trở lên thì phải luận và phòng bị theo lối bình thường, không được lấy một phụ tinh nhỏ ra để yên tâm.
  • Gặp Tuần Triệt án ngữ thì tính đường dài. Kinh nghiệm Danh vị đến muộn không phải là không đến. Người có Bát Tọa bị Tuần Triệt nên chọn nghề có thang bậc rõ ràng và tính theo mười năm, đừng sốt ruột so với bạn cùng lứa.

Điều Thầy muốn nói thẳng

Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Bát Tọa, vì nó do tháng sinh và ngày sinh định ra, cố định suốt đời, và không có bản lưu niên. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Bát Tọa, mở được đường quan lộc hay đường nhà đất, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra với chính những người có bộ Thai Tọa đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở sự dễ chịu của việc được nể. Được xếp chỗ tử tế, được mời ngồi trên, được gọi bằng chức danh, những thứ ấy êm tới mức người ta quên rằng nghề nghiệp phải nuôi bằng việc làm được chứ không bằng chỗ ngồi. Nếu lá số của quý vị nhiều khí quý mà thiếu Hóa Quyền, thiếu sát tinh thúc, hãy tự đặt cho mình những cái hạn: hạn học xong một nghề, hạn dựng xong một việc, hạn đào tạo xong một người thay mình.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Chỗ làm việc nên có một cái ghế tử tế và một mặt bàn gọn, vì tượng của sao này là chỗ ngồi và người ngồi lâu thì lưng vai chịu hết; ghế đúng tầm, màn hình ngang mắt, cứ bốn mươi lăm phút đứng dậy một lần, đó là việc thiết thực hơn mọi vật phẩm. Vì sách nói tới nhà đất nên Thầy thêm một ý về chỗ ở: lối vào nhà nên thoáng và đủ sáng, chỗ tiếp khách nên gọn, giấy tờ nhà đất nên cất một chỗ có bản sao và có ghi ngày; đó là việc thuộc nếp nhà chứ không phải phép thuật. Người hay được nhờ đứng tên cho việc chung nên giữ hồ sơ riêng cho từng việc mình đứng tên, đây là cách phòng thân đúng nghĩa. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Tam Thai và Bát Tọa: hai sao đi thành bộ, chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp; Bát Tọa hành Mộc, an theo Hữu Bật và ngày sinh. Mọi câu gắn thẻ Kinh văn trong bài về tính chất Bát Tọa đều quy về mục này. Sách không lập câu phú riêng cho Bát Tọa, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: phép khởi Hữu Bật tại Tuất cho tháng giêng đếm nghịch, khởi Tả Phụ tại Thìn cho tháng giêng đếm thuận, và phép lấy cung Hữu Bật làm mùng một rồi đếm nghịch ra Bát Tọa. Phần này dùng để kiểm lại phép an sao trình bày ở mục cơ chế an sao.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: Bát Tọa và Tam Thai an theo ngày sinh nên không có trong bảng tra sẵn theo can, chi, tháng, giờ; bảng vị trí trong bài do chương trình riêng sinh ra, chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày, tức ba trăm sáu mươi tổ hợp, dựa trên vị trí Hữu Bật và Tả Phụ lấy đúng từ thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: bảng Hữu Bật, Tả Phụ, Thiên Hình, Thiên Riêu theo mười hai tháng; bảng ba trăm sáu mươi ô vị trí Bát Tọa; kết luận tổng vị trí Bát Tọa cộng Tam Thai không đổi và bằng đúng tổng vị trí Hữu Bật cộng Tả Phụ, đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần, từ đó suy ra hai sao chỉ đồng cung tại Sửu hoặc Mùi, chỉ xung chiếu tại Thìn và Tuất, chỉ tam hợp ở cặp Tỵ Dậu hoặc cặp Mão Hợi, và không bao giờ đứng liền kề nhau; phân bố sáu khoảng cách chẵn chia đều mỗi loại sáu mươi trên ba trăm sáu mươi; kết luận Bát Tọa chỉ có đúng một quan hệ cố định theo ngày sinh với nhóm sao an theo tháng, là quan hệ với Hữu Bật, trong khi Tam Thai có tới sáu quan hệ như vậy, và bảng chứng minh bằng số cho ngày mùng năm chạy đủ mười hai tháng; kết luận Bát Tọa an được cả mười hai cung nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Bát Tọa không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.

Lưu ý về dị bản: phép an Bát Tọa và Tam Thai có vài dị bản trong sách vở lưu hành. Bản mà bài này dùng, và cũng là bản phổ biến nhất trong sách Việt, lấy chính cung Hữu Bật làm mùng một rồi đếm nghịch, và lấy chính cung Tả Phụ làm mùng một rồi đếm thuận. Một số bản khác khởi mùng một ở cung kế tiếp, khiến cả hai sao lệch đi một cung so với bảng ở đây; khi tra lá số ở nơi khác mà thấy lệch đúng một cung thì phần lớn là do dị bản này chứ không phải do sai sót. Cũng có bản chép Bát Tọa hành Thổ thay vì hành Mộc, và có bản gọi tên sao là Bát Tòa. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; riêng Hóa Khoa của tuổi Mậu thì hai phái thống nhất để ở Hữu Bật, còn Hóa Khoa của tuổi Nhâm thì Nam phái để ở Tả Phụ mà Bắc phái đổi sang Thiên Phủ. Trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc rồi đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư bản Vũ Tài Lục, phần cách an theo tháng sinh và ngày sinh cùng mọi khoảng cách cố định giữa Bát Tọa, Tam Thai, Hữu Bật và Tả Phụ đều được tính lại bằng chương trình chạy đủ mười hai tháng và ba mươi ngày. Mục tiêu là giúp quý vị phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm luận giải, đâu là suy luận từ nguyên lý, trước khi áp một ngôi sao vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Bát Tọa

Bát Tọa là sao chủ địa vị và phúc hậu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc, đi cặp với Tam Thai. Sao mang ý nghĩa nâng đỡ địa vị, tăng quý khí cho cung và sao đồng cung.

Hai sao đi cặp, ý nghĩa gần như nhau là tăng quý khí, địa vị và phúc hậu, chỉ khác cách an (Tam Thai theo Tả Phụ, Bát Tọa theo Hữu Bật). Hội đủ thì quý khí càng rõ.

Bát Tọa là sao phụ trợ tốt, chủ khôn ngoan, phúc hậu, đường bệ và nâng đỡ địa vị, chỉ giảm tác dụng khi gặp sát tinh hay Tuần Triệt án ngữ.

Bát Tọa an theo sao Hữu Bật và ngày sinh, đi cặp với Tam Thai trong lá số.

Nghịch là ngược chiều kim đồng hồ trên địa bàn mười hai cung, tức đi theo thứ tự Tuất, Dậu, Thân, Mùi và cứ thế lùi dần. Phép an như sau: trước hết tìm cung Hữu Bật theo tháng sinh âm lịch, khởi từ cung Tuất cho tháng giêng rồi lùi mỗi tháng một cung, nên tháng hai tại Dậu, tháng ba tại Thân, tới tháng chạp tại Hợi. Sau đó lấy chính cung Hữu Bật làm mùng một rồi lùi mỗi ngày một cung cho tới ngày sinh, dừng ở đâu an Bát Tọa ở đó. Viết thành công thức thì Bát Tọa đứng lùi khỏi Hữu Bật đúng số ngày sinh trừ một cung. Sinh mùng một thì Bát Tọa trùng khít cung Hữu Bật, sinh mùng bảy thì đứng đối diện Hữu Bật, sinh ngày mười ba và hai mươi lăm thì lại trùng khít vì tròn một vòng.

Vì Bát Tọa thừa hưởng chiều nghịch của Hữu Bật. Trong nhóm sao an theo tháng sinh, phần lớn đếm thuận: Tả Phụ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Giải, Địa Giải đều dịch cùng chiều mỗi tháng một cung. Tam Thai bám vào Tả Phụ là sao đếm thuận nên khoảng cách của nó tới cả nhóm ấy đều cố định và chỉ phụ thuộc ngày sinh. Bát Tọa bám vào Hữu Bật là sao duy nhất đếm nghịch, nên khi tháng sinh đổi thì Bát Tọa đi một đằng còn cả nhóm kia đi một nẻo, khoảng cách thay đổi liên tục. Chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày bằng chương trình thì Bát Tọa chỉ còn đúng hai quan hệ bất biến: với Hữu Bật, và với Tam Thai qua trục đối xứng Sửu Mùi.

Sách cho hai sao gần như một nghĩa, đều chủ khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm nhà đất thêm cao đẹp, nên trong luận giải chúng thường được gọi chung là bộ Thai Tọa. Khác biệt ghi được rõ chỉ có ba điểm. Thứ nhất là ngũ hành: trang này ghi Tam Thai hành Thủy còn Bát Tọa hành Mộc. Thứ hai là gốc an: Tam Thai bám Tả Phụ tức bàn tay trái, Bát Tọa bám Hữu Bật tức bàn tay phải, và chiều đếm ngược nhau. Thứ ba là hệ quả cấu trúc vừa nói ở trên, tức Bát Tọa nghèo quan hệ cố định hơn hẳn. Ngoài ba điểm ấy, sách không phân biệt thêm, và bài này không bịa ra khác biệt mà sách không nói.

Theo Tân Biên thì bộ Thai Tọa nói rõ ở hai chỗ: sự được nể trọng và nhà đất cao đẹp. Đối chiếu với lá số thật thì Thầy thấy Bát Tọa nói rõ nhất tại Quan Lộc, Điền Trạch và Nô Bộc, tức những cung mà cái được đo bằng chỗ đứng trong mắt người khác chứ không đo bằng tiền. Tại Tài Bạch và Tật Ách thì nghĩa của nó rất mỏng, sách không lập lời riêng, nên luận nặng tay ở hai cung ấy là luận quá lời. Và dù ở cung nào thì vẫn phải kiểm trước hai việc: chính tinh của cung là gì, và Tam Thai có hội về được hay không.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.