1 Sao Bệnh là gì

Bệnh là chặng thứ bảy của vòng Trường Sinh, ví như cơ thể đã lâm bệnh. Đây là chặng mang sắc thái yếu đuối, trở ngại, ốm đau, nhắc người ta về việc chăm sóc sức khỏe và sự thận trọng trong giai đoạn không thuận.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Bệnh an theo Cục, tức theo Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục hay Hỏa Lục Cục. Cục rút từ nạp âm của can chi cung Mệnh, mà can chi ấy sinh ra từ tháng sinh, giờ sinh và can năm hợp lại. Điều này cần nắm trước tiên: Bệnh không phải một sao gán từ năm sinh vào lá số như Tang Môn hay Bạch Hổ, nó mọc lên từ chính bộ khung của lá số và chỉ đo nhịp của khí, không mang lực họa phúc riêng.
Kinh văn Phép an gồm hai bước. Bước một, đặt Tràng Sinh vào cung khởi theo Cục: Thủy Nhị Cục khởi tại Thân, Mộc Tam Cục khởi tại Hợi, Kim Tứ Cục khởi tại Tỵ, Thổ Ngũ Cục khởi tại Thân, Hỏa Lục Cục khởi tại Dần. Bước hai, từ cung ấy an tiếp theo thứ tự Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng; đi thuận với dương nam và âm nữ, đi nghịch với âm nam và dương nữ. Bệnh đứng ở ô thứ bảy, tức cách cung Tràng Sinh đúng sáu cung.
Con số sáu và một tính chất chỉ hai chặng có
Suy luận Con số sáu ấy sinh ra một điều mà không mấy sách nói tới, và nó là chìa khóa của cả trang này. Đếm thuận sáu cung hay đếm nghịch sáu cung, từ cùng một cung khởi, đều tới cùng một cung, vì địa bàn chỉ có mười hai cung và sáu là đúng nửa vòng. Nghĩa là Bệnh không đổi chỗ khi đổi chiều đếm. Hai người sinh cùng năm cùng tháng cùng giờ, một dương nam một âm nam, vòng chạy ngược nhau hoàn toàn, mà cung giữ Bệnh của hai người vẫn trùng nhau. Trong mười hai chặng chỉ Tràng Sinh và Bệnh có tính chất này; mười chặng còn lại đều dời chỗ khi đổi chiều.
Suy luận Hệ quả thứ hai theo ngay sau. Bốn cung khởi Dần, Thân, Tỵ, Hợi là bốn cung Tứ Sinh, mà chúng đối đỉnh từng cặp Dần với Thân, Tỵ với Hợi, nên cộng hay trừ sáu cung vẫn rơi vào Tứ Sinh. Cho nên Bệnh chỉ có thể đóng bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Chạy đủ năm Cục nhân hai chiều bằng máy được đúng bốn kết quả: Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cho Bệnh tại Dần, Mộc Tam Cục tại Tỵ, Kim Tứ Cục tại Hợi, Hỏa Lục Cục tại Thân. Bảng dưới là kết quả ấy, hai cột cuối giống hệt nhau, và sự giống hệt ấy chính là bằng chứng.
| Cục | Tràng Sinh khởi tại | Bệnh khi vòng đi thuận | Bệnh khi vòng đi nghịch |
|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | Dần | Dần |
| Mộc Tam Cục | Hợi | Tỵ | Tỵ |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | Hợi | Hợi |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | Dần | Dần |
| Hỏa Lục Cục | Dần | Thân | Thân |
Suy luận Xin quý vị tự kiểm lại bằng mắt: hai cột cuối của bảng trùng nhau từng dòng một. Không bảng nào khác trong loạt bài 121 sao có hai cột trùng như vậy.
Bảy điều bất biến của Bệnh, đã kiểm bằng máy
- Chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh. Bệnh có thể ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, không bao giờ ở tám cung còn lại. Cả vòng có đúng bốn chặng bị khóa vào Tứ Sinh là Tràng Sinh, Lâm Quan, Bệnh và Tuyệt, chia nhau đúng bốn cung ấy.
- Vị trí không đổi theo chiều an. Cùng một Cục thì Bệnh đứng một chỗ, bất kể người ấy đi vòng thuận hay vòng nghịch. Đây là điểm riêng của Bệnh và của Tràng Sinh.
- Xung chiếu vĩnh viễn là Tràng Sinh. Cung giữ Bệnh chính là cái bóng đối đỉnh của cung khởi, nên biết Tràng Sinh ở đâu là biết ngay Bệnh ở đâu, không cần đếm.
- Hai cung kề luôn là Suy và Tử. Bên nào là Suy bên nào là Tử thì tùy chiều đi, nhưng cặp sao kề thì cố định. Bệnh nằm giữa chặng vừa chững và chặng tĩnh hẳn.
- Tam hợp vĩnh viễn là Quan Đới và Thai. Một chặng đang lên và một chặng đang nhen mầm, nên tam phương của Bệnh không hề tối.
- Không bao giờ đồng cung với Kình Dương, Đào Hoa, Quả Tú hay Hoa Cái. Kình Dương chạy trên tám cung ngoài Tứ Sinh, Đào Hoa chỉ đóng Tứ Chính, Quả Tú và Hoa Cái chỉ đóng Tứ Mộ. Bốn cái tên này hay bị gán bừa vào Bệnh mà cấu trúc không cho phép.
- Có thể đồng cung với Lộc Tồn và với Đà La. Lộc Tồn về Tứ Sinh với tuổi Giáp tại Dần, Bính và Mậu tại Tỵ, Canh tại Thân, Nhâm tại Hợi; Đà La về Tứ Sinh với tuổi Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi.
Kinh nghiệm Điều thứ bảy có ích ngay khi luận. Tuổi Giáp mà Cục cho Bệnh tại Dần thì Bệnh và Lộc Tồn ngồi chung, đây là thế "nghỉ mà vẫn có của". Tuổi Quý mà Kim Tứ Cục cho Bệnh tại Hợi thì Bệnh và Đà La ngồi chung, đây là thế "yếu mà còn vướng", nên làm gọn và làm dứt điểm. Hai thế ấy cho hai lời khuyên khác hẳn nhau, mà chỉ nhìn chữ Bệnh thì không thấy.
Suy luận Còn về chính tinh, chạy đủ mười hai thế Tử Vi tại bốn cung khả dĩ cho thấy cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng chung cung với Bệnh, không sao nào bị loại. Bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi lại là chỗ đứng đẹp của nhiều bộ, như Tử Phủ tại Dần và Thân, Đồng Lương tại Dần và Thân, Tử Sát tại Tỵ và Hợi. Nghĩa là một cung có Bệnh vẫn có thể là cung mạnh nhất nhì lá số về mặt chính tinh.
Kinh nghiệm Thầy nói thêm một tầng. Bốn cung Tứ Sinh là cung của Thiên Mã, cung của di chuyển và của cửa ngõ; chặng Bệnh không nằm ở cung khố cũng không nằm ở cung chính vị, nó nằm ở cung động. Người xưa xếp như vậy có ý: khí xuống thấp nhất không phải chỗ đứng yên chờ hết, mà là chỗ có cửa để đi tiếp.
3 Mười Hai Chặng Của Vòng Và Cách An Theo Cục

Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.
Trong vòng mười hai chặng, Bệnh giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Bệnh.
4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Chặng Bệnh

Bệnh mang khí của sự suy yếu sâu hơn chặng Suy. Ở cung Tật Ách, nó nhắc đề phòng bệnh tật; ở cung khác, nó báo những trở ngại, sự thiếu sức, việc khó thông. Người có Bệnh ở Mệnh đôi khi sức khỏe không thật dồi dào hoặc hay vướng việc.
Bệnh không phải tuyệt lộ, mà là chặng cần dưỡng và chữa. Có phúc tinh và chính tinh sáng thì bệnh nhẹ, gặp thầy gặp thuốc; gặp sát tinh và Hóa Kỵ thì cần đặc biệt giữ gìn.
5 Chỗ Đứng Của Bệnh Trong Vòng Tràng Sinh
Kinh văn Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh: vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Thần Sát đếm theo tam hợp chi năm, và vòng Tràng Sinh đếm theo Cục. Ba vòng đầu lấy mốc từ năm sinh, riêng vòng Tràng Sinh lấy mốc từ Cục, mà Cục cũng là con số khởi đại vận, nên vòng này là nhịp sinh trưởng của bản thân lá số. Mười hai chặng của nó mượn hình ảnh một đời người: Tràng Sinh là lúc sinh ra, Mộc Dục là lúc tắm gội còn non, Quan Đới là lúc đội mũ áo vào đời, Lâm Quan là lúc ra làm quan, Đế Vượng là đỉnh, Suy là lúc bắt đầu xuống, Bệnh là lúc khí đã xuống thấp và thân phải nghỉ, rồi Tử, Mộ, Tuyệt là đoạn tàn, còn Thai và Dưỡng là mầm mới. Mười hai sao lấp kín mười hai cung, mỗi cung đúng một sao.
Suy luận Nói cho dễ hình dung hơn, hãy coi vòng này là bốn mùa trong một năm. Tràng Sinh là đầu xuân, Đế Vượng là chính hạ, Suy là chớm thu, Bệnh là cuối thu lá rụng, Tử và Mộ là giữa đông, Tuyệt là ngày đông chí, còn Thai và Dưỡng là lúc mầm đã nhú dưới đất chờ xuân. Không ai gọi cuối thu là tai họa; nó chỉ là một khúc của năm, và nhất định phải tới trước khi xuân tới lại. Xin quý vị giữ lấy hình ảnh này khi đọc hết trang.
Suy luận Bệnh đứng ở ô thứ bảy, tính Tràng Sinh là ô thứ nhất; kề nó trong dãy là Suy ở ô thứ sáu và Tử ở ô thứ tám. Vị trí ấy quyết định toàn bộ ý nghĩa: Bệnh là đáy của đoạn xuống nhưng chưa phải điểm dừng. Người xưa đặt Bệnh ở đây không phải để dọa, mà để đánh dấu chỗ thân thể và công việc cần được nghỉ.
| Cục | Tràng Sinh | Mộc Dục | Quan Đới | Lâm Quan | Đế Vượng | Suy | Bệnh | Tử | Mộ | Tuyệt | Thai | Dưỡng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Mộc Tam Cục | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Hỏa Lục Cục | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
Suy luận Bảng trên là chiều thuận, dùng cho dương nam và âm nữ; với âm nam và dương nữ thì vòng chạy ngược từ đúng cung khởi ấy. Xin để ý cột Bệnh: đọc bảng theo chiều nào, cột ấy vẫn cho cùng một cung.
Bốn quan hệ cố định của Bệnh trong vòng
Suy luận Khoảng cách giữa hai chặng trong dãy là con số cứng, nên mọi quan hệ chiếu của Bệnh tính chắc chắn được. Chạy đủ mười trường hợp cho kết quả sau, không có trường hợp lệch.
| Vị thế | Chặng luôn ở đó | Nghĩa của thế ấy |
|---|---|---|
| Đồng cung | không có chặng nào khác | Mỗi cung chỉ chứa đúng một sao của vòng, nên Bệnh không bao giờ ngồi chung với một chặng khác. Ai luận "Bệnh gặp Tử cùng cung" là đã an sai vòng. |
| Kề hai bên (giáp) | Suy và Tử | Một bên vừa chững lại, một bên đã tĩnh hẳn. Lời luận vì thế phải mang nghĩa nghỉ ngơi và bảo dưỡng, tuyệt đối không mang nghĩa tai ương. |
| Xung chiếu | Tràng Sinh | Cung đối diện luôn giữ chặng mở đầu của cả vòng. Đây là quan hệ đẹp nhất của cấu trúc: chỗ khí thấp nhất luôn được chỗ mới sinh nhìn thẳng về, nên luận cung Bệnh phải nhìn ngay cung đối diện để biết nguồn sinh khí ở lĩnh vực nào. |
| Tam hợp chiếu | Quan Đới và Thai | Một bên là chặng đội mũ áo vào đời, đang lên; một bên là chặng kết mầm, đang nhen. Tam phương của Bệnh không có chặng tàn nào, đây là điều rất ít người biết và nó làm nhẹ hẳn cách đọc sao này. |
Kinh nghiệm Dòng xung chiếu là dòng Thầy nhắc nhiều nhất khi dạy vòng này. Người mới học thấy chữ Bệnh thì lo, mà quên rằng đối diện luôn là Tràng Sinh. Đọc đúng là đọc thành cặp: lĩnh vực ở cung Bệnh đang cần nghỉ, còn lĩnh vực ở cung Tràng Sinh đối diện chính là nguồn sinh khí để hồi. Riêng cặp này thì thuốc đã nằm sẵn ngay đối diện bệnh.
Suy luận Thêm một tầng nữa để thấy cấu trúc chặt tới đâu. Tam phương tứ chính của cung Bệnh gồm chính nó, cung xung giữ Tràng Sinh, hai cung tam hợp giữ Quan Đới và Thai; trong bốn chặng ấy ba chặng là chặng đi lên hoặc đang sinh. Đem so với cung Suy, vốn có Dưỡng, Mộc Dục và Tuyệt trong tam phương tứ chính, thì tam phương của Bệnh sáng hơn, dù tên Bệnh nghe nặng hơn tên Suy. Đây là chỗ ngược trực giác nhất của cả vòng, và chỉ hiện ra khi tính bằng máy.
Ba cung liền nhau: Suy, Bệnh, Tử
Kinh nghiệm Ba chặng này nằm liền ba cung trên địa bàn theo đúng thứ tự đi xuống. Đọc liền một mạch mới thấy nhịp của lá số: cung giữ Suy là lĩnh vực vừa qua đỉnh và cần giữ, cung giữ Bệnh là lĩnh vực cần nghỉ và cần chữa, cung giữ Tử là lĩnh vực nên khép lại để mở cái mới. Ba cung ấy nói ba việc khác nhau, không phải ba mức của cùng một tai họa.
| Cục và chiều an | Đế Vượng | Suy | Bệnh | Tử |
|---|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục, đi thuận | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Thủy Nhị Cục, đi nghịch | Thìn | Mão | Dần | Sửu |
| Mộc Tam Cục, đi thuận | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Mộc Tam Cục, đi nghịch | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn |
| Kim Tứ Cục, đi thuận | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Kim Tứ Cục, đi nghịch | Sửu | Tý | Hợi | Tuất |
| Thổ Ngũ Cục, đi thuận | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Thổ Ngũ Cục, đi nghịch | Thìn | Mão | Dần | Sửu |
| Hỏa Lục Cục, đi thuận | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Hỏa Lục Cục, đi nghịch | Tuất | Dậu | Thân | Mùi |
Kinh nghiệm Cách dùng: tìm dòng đúng với Cục và chiều an của mình, đọc ba ô Suy, Bệnh, Tử, rồi xem ba cung ấy là cung chức gì. Ví dụ Bệnh rơi vào Quan Lộc mà Tràng Sinh đối diện rơi vào Phu Thê thì lời luận rất cụ thể: công việc cần giảm tải, còn gia đình là nguồn tiếp sức để hồi.
Bệnh không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc Tứ Hóa thế nào
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cộng Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, và ở Bắc phái thêm Thiên Phủ. Bệnh không có tên trong bảng ấy, nên nó không bao giờ tự hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và sách cũng không nói gì tới việc Bệnh chịu hóa. Chỗ này ghi thẳng là không có.
Suy luận Đường ảnh hưởng là gián tiếp, qua chính tinh đồng cung. Chính tinh cùng cung hóa Lộc thì đọc là "nghỉ mà vẫn có của": lĩnh vực ấy chậm nhưng nguồn thu chưa dứt, đây là thế nhẹ nhất của Bệnh. Hóa Quyền thì hơi nghịch nhau, quyền hành đòi phải gánh mà chặng lại đòi phải nghỉ, nên dễ gồng quá sức; lời khuyên là giao bớt việc chứ không phải bỏ quyền. Hóa Khoa hợp với Bệnh hơn cả, vì Khoa chủ uy tín và chủ cứu giải, mà uy tín không cần sức mới giữ được. Hóa Kỵ phải nói kỹ nhất: khí đã thấp lại thêm ràng buộc, việc vừa chậm vừa vướng; nên thu gọn và dứt điểm việc cũ, và nếu là cung Tật Ách thì đây là lời nhắc đi khám sớm chứ không phải lời phán bệnh.
Kinh nghiệm Một cách đọc Thầy dùng thường xuyên: xem hóa của cung Bệnh cùng lúc với hóa của cung Tràng Sinh đối diện. Bệnh có Kỵ mà đối diện có Lộc thì nên chuyển trọng tâm sang lĩnh vực đối diện một quãng rồi quay lại. Bệnh có Lộc mà đối diện có Kỵ thì ngược lại, giữ lấy nguồn đang có, đừng vội bỏ sang chỗ mới.
Suy luận Vì mọi lẽ trên, đọc Bệnh mà không đọc cả vòng là đọc thiếu, và gần như chắc chắn đọc sai theo hướng bi quan. Bản thân Bệnh chỉ nói một điều: chỗ này khí đã xuống thấp, cần nghỉ. Xuống từ mức nào thì xem cung Suy kề bên, khép lại tới đâu thì xem cung Tử bên kia, hồi bằng gì thì xem cung Tràng Sinh đối diện, còn mầm nào đang nhen thì xem cung Thai trong tam hợp. Cắt một chặng ra khỏi vòng để phán là mất hết nghĩa, mà với sao mang tên nặng như Bệnh thì cắt ra còn gây hại cho người nghe.
6 Bốn Cung Sách Nhắc Tới Trước Tiên
Bệnh đóng ở cung nào thì nhuốm sắc thái của chặng này vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Bệnh |
|---|---|
| Mệnh | Sức khỏe không thật dồi dào, hay vướng việc nhỏ. |
| Tật Ách | Đề phòng bệnh tật, nên khám và dưỡng sớm. |
| Quan Lộc | Công việc dễ trở ngại, tiến chậm. |
| Phúc Đức | Tâm dễ mỏi mệt, nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. |
7 Bệnh An Tại 12 Cung Chức
Bệnh bị khóa vào bốn địa chi Tứ Sinh, nhưng bốn địa chi ấy rơi vào cung chức nào là tùy nơi an Mệnh, nên nó xuất hiện được ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới tách hai cảnh: khi Bệnh được chính tinh miếu vượng và cát tinh đỡ, và khi nó bị sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ kéo thêm xuống. Xin nhớ một câu trước khi đọc: cột bên phải là điều cần giữ gìn, không phải điều sẽ xảy ra.
| Cung | Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh | Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ |
|---|---|---|
| Mệnh | Người điềm đạm, biết giới hạn của mình, biết dừng đúng lúc và biết dưỡng sức. Làm việc theo sức bền chứ không theo sức bùng, ít vấp ngã lớn vì không liều. | Thể lực nền không dồi dào, dễ mệt khi việc kéo dài, hay lấy cớ chưa đủ sức để trì hoãn. Cần tập thể lực đều và cần đặt hạn chót cho từng việc. |
| Phụ Mẫu | Bậc trên sống chậm, biết giữ gìn, gia đình không phô trương; con cái nên sớm chuyển từ vai nhận sang vai chăm. | Cần lưu tâm sức khỏe và tinh thần của cha mẹ nhiều hơn. Đây là lời nhắc để quan tâm và để đưa đi khám, không phải lời phán. |
| Phúc Đức | Tâm tính nhẹ nhàng, không tranh, hợp việc tĩnh như đọc, viết, chăm cây, tu tập; càng lớn tuổi càng thoải mái. | Hay mỏi mệt trong lòng, dễ nghĩ ngợi ban đêm, thiếu hứng thú. Cần ngủ đủ, cần bạn để trò chuyện, cần một việc nhỏ làm đều mỗi ngày. |
| Điền Trạch | Nhà cửa yên tĩnh, hợp chỗ thoáng và ít ồn; giữ nhà cũ hơn là đổi nhà liên tục. | Nhà hay hỏng vặt, ẩm thấp hoặc thiếu sáng; nên sửa chỗ ẩm và thông gió trước khi nghĩ tới mua bán. |
| Quan Lộc | Công việc đi chậm mà chắc; hợp nghề chăm sóc, chữa trị, bảo trì, kiểm định, tư vấn, tức nghề lấy sự tỉ mỉ và bền bỉ làm vốn. | Việc hay ách ở khâu chờ đợi, tiến độ chậm hơn kế hoạch; nên giảm số việc cùng lúc và tránh nhận thêm khi đang quá tải. |
| Nô Bộc | Bạn ít mà thật, thường là người từng giúp nhau lúc khó; gặp thưa mà tin nhau. | Bạn hay nhờ vả lúc họ gặp khó, mình dễ đuối vì cả nể. Cần biết từ chối và giữ ranh giới cho rõ. |
| Thiên Di | Ra ngoài vừa phải là hợp, đi gần và đi ngắn thì được việc. | Đi xa dễ mệt, lịch trình dày thì hỏng việc. Nên giãn lịch, chuẩn bị thuốc men, tránh chuyến đi gấp. |
| Tật Ách | Sức khỏe nền bình thường, biết dưỡng thì giữ được lâu; hợp lối sống điều độ, ăn ấm, ngủ sớm, vận động nhẹ đều đặn. | Cần chú ý sức đề kháng, đường hô hấp, tiêu hóa và những chứng dai dẳng theo mùa. Đây là lời nhắc khám định kỳ và chỉnh nếp sinh hoạt, tuyệt đối không phải lời phán bệnh, và cũng không định được bệnh gì. |
| Tài Bạch | Tiền vào đều mà không đột biến; hợp nguồn thu ổn định và tiết kiệm dài hạn hơn là đầu tư nhanh. | Thu chậm mà chi cho sức khỏe và sửa chữa lại tăng; nên lập khoản dự phòng riêng và tránh vay để mở rộng. |
| Tử Tức | Con cái tính hiền, cần chăm kỹ thời nhỏ rồi lớn lên rất bền; việc mình gây dựng nên nuôi từ từ. | Con nhỏ hay ốm vặt theo mùa, cần chú ý dinh dưỡng và giấc ngủ; việc mình gây dựng đang đuối đà, nên làm mới nội dung thay vì tăng quy mô. |
| Phu Thê | Vợ chồng biết chăm nhau; sự gắn bó đến từ lúc chăm sóc lẫn nhau chứ không từ lúc rực rỡ, nên rất bền. | Một bên hay mệt nên dễ hờ hững, người kia thấy bị bỏ rơi. Nên nói thẳng về sức khỏe và chia lại việc nhà. |
| Huynh Đệ | Anh chị em ít nhưng biết đỡ nhau lúc ốm đau; tình thân thể hiện qua việc chăm sóc. | Có người trong nhà cần được chăm, gánh nặng dễ dồn vào một người. Nên bàn sớm cách chia việc. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng. Bốn điều. Một, Bệnh nói nhịp chứ không nói chất: cung Tài Bạch có chính tinh miếu vượng cùng Hóa Lộc mà giữ Bệnh thì vẫn mạnh, chỉ là không hợp mở rộng gấp. Hai, cột bên phải là danh sách việc cần làm, hãy đọc nó như một bản nhắc bảo dưỡng. Ba, luôn đọc kèm cung đối diện, vì đó chắc chắn là Tràng Sinh và là nguồn hồi phục. Bốn, riêng dòng Tật Ách xin đọc thật chừng mực: một phụ tinh nhỏ không định được bệnh gì, không định được lúc nào, và không thay được lời thầy thuốc.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Bệnh là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Bệnh còn một tầng riêng: vì nó bị khóa vào đúng bốn cung Tứ Sinh, có những sao cấu trúc không cho gặp đồng cung bao giờ, và biết trước điều đó thì khỏi phải đoán. Mỗi dòng dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ, đã kiểm bằng thuật toán an sao.
Bệnh hợp khi gặp
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung; cả mười bốn chính tinh đều có thể tới bốn cung Tứ Sinh): điều kiện quan trọng nhất. Khí đã thấp mà nền vẫn dày thì hầu như không thấy mặt kém của Bệnh.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): hóa hợp với Bệnh nhất, vì Khoa chủ uy tín và chủ cứu giải, mà uy tín không cần sức mới giữ được.
- Thiên Lương (đồng cung được, hay gặp nhất là bộ Đồng Lương tại Dần và tại Thân): phúc tinh chủ che chở và giải ách, cổ nhân gọi là sao của thầy thuốc. Đây là tổ hợp dễ chịu nhất của chặng Bệnh.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần, Thiên Giải, Địa Giải (đồng cung được hoặc chiếu): nhóm sao giải, hợp nhất khi cung ấy đã có sát tinh.
- Lộc Tồn và Hóa Lộc (Lộc Tồn đồng cung được với tuổi Giáp tại Dần, Bính và Mậu tại Tỵ, Canh tại Thân, Nhâm tại Hợi): nghỉ mà vẫn có của, nguồn thu không dứt trong lúc mình giảm nhịp.
- Tràng Sinh (luôn xung chiếu, không bao giờ đồng cung): quan hệ quý nhất của cấu trúc, nguồn hồi phục nằm đúng ở lĩnh vực cung đối diện.
- Quan Đới và Thai (luôn tam hợp chiếu): một chặng đang lên và một chặng đang nhen mầm, nên tam phương của Bệnh không có chặng tàn nào.
- Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung được): có người đỡ thì lúc yếu vẫn có chỗ dựa.
Bệnh e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất): khí thấp lại thêm ràng buộc, việc vừa chậm vừa vướng. Nên thu gọn và dứt điểm việc cũ, không mở việc mới.
- Đà La (đồng cung được với tuổi Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi): dây dưa kéo dài, việc không dứt điểm được. Đây là sát tinh duy nhất trong bộ Kình Đà ngồi chung được với Bệnh.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được; giáp hai bên còn nặng hơn chiếu): lúc yếu mà mất chỗ dựa, dễ buông xuôi hoặc dễ tin lời hứa hão.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung được): nóng ruột đúng lúc cần nghỉ, hay cố gượng cho xong rồi hỏng cả người lẫn việc.
- Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (đồng cung được hoặc chiếu): cộng hưởng sắc thái buồn và lo. Xin nói rõ đây là cộng hưởng về sắc thái, không phải cộng dồn thành tai họa.
- Tuần và Triệt (án ngữ ngay cung Bệnh): việc trong lĩnh vực ấy đình lại một quãng, cảm giác làm gì cũng không thông. Bù lại, Tuần Triệt cũng chặn bớt phần xấu, nên phải xét cả cung mới kết luận được.
- Suy và Tử cùng vòng (luôn ở hai cung kề, không bao giờ đồng cung): quan hệ cố định của cấu trúc, không phải điều xấu thêm vào.
- Chính tinh hãm địa (đồng cung): nền mỏng mà khí lại thấp, đây là trường hợp duy nhất cung có Bệnh thật sự cần chú ý, và cũng phải nói cho đúng: cần nghỉ và bồi dưỡng, không phải cần lo sợ.
- Kình Dương: xin ghi vào đây một dòng ngược lại, để quý vị khỏi bị dọa. Kình Dương không bao giờ đồng cung với Bệnh, vì nó chỉ chạy trên tám cung ngoài Tứ Sinh. Ai luận "Bệnh gặp Kình Dương cùng cung nên mổ xẻ" là đã an sai lá số.
Bệnh là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.
9 Bệnh Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Kinh văn Bệnh không có bản lưu niên. Phải nói rõ ngay đầu mục vì đây là chỗ dễ làm người đọc hoang mang nhất, và cũng là chỗ nhiều nơi nói sai. Vòng Thái Tuế có bản lưu, mỗi năm an lại theo chi của năm xem; vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu, mỗi năm an lại theo can của năm xem. Vòng Tràng Sinh thì không có: nó an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số, cả đời không đổi. Cho nên không hề có chuyện năm nay ai đó bị sao Bệnh chiếu. Sao Bệnh của một người nằm nguyên một cung suốt đời, và trang an lá số của thayungkhiem.vn cũng không sinh ra bản lưu nào cho vòng này. Ai nói "năm nay anh gặp sao Bệnh" thì gần như chắc chắn đang nói tới sao khác, thường là Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ.
Suy luận Cái chuyển động là đại vận và tiểu hạn đi qua chỗ Bệnh đứng. Giáp vận nào trùng cung Bệnh thì mười năm ấy được đọc thêm một lớp nghĩa: đây là quãng cần giảm tải và sắp lại nhịp sống, không phải quãng để bung sức. Và vì Bệnh luôn kề Suy và Tử, giáp vận Bệnh luôn nằm giữa quãng vừa qua đỉnh và quãng khép lại. Biết trước trật tự ấy là biết lúc nào nên chuyển từ củng cố sang nghỉ ngơi.
Kinh nghiệm Đại vận vào cung Bệnh mà chính tinh miếu vượng, lại có Hóa Khoa, Thiên Lương hoặc Lộc Tồn, thì mười năm ấy thường rất dễ chịu; Thầy hay thấy đây là quãng người ta chuyển sang nghề nhẹ hơn, làm việc theo giờ của mình, hoặc rời vai trò điều hành để sang vai trò truyền nghề. Ngược lại, chính tinh hãm, có Không Kiếp, Hỏa Linh hoặc Hóa Kỵ, thì đây là mười năm phải chủ động thu nhỏ: giảm số việc, giảm quy mô, khám sức khỏe đều. Nói vậy là nói việc cần làm, không phải nói tai họa sẽ tới.
Suy luận Còn các lưu sao chạm vào cung Bệnh thì có thật và phải xét, vì chúng mới là phần động của một năm. Mỗi năm, lưu Thái Tuế đóng tại cung của chi năm ấy; lưu Lộc Tồn theo can năm, kéo lưu Kình Dương và lưu Đà La kẹp hai bên; lưu Tang Hổ, lưu Khốc Hư, lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt, lưu Mã cũng an lại theo năm. Lưu Lộc Tồn hay lưu Khôi Việt về cung Bệnh thì năm ấy có chỗ đỡ, hợp chữa dứt điểm một việc còn dở. Lưu Kình Đà, lưu Tang Hổ hay lưu Khốc Hư về cung Bệnh thì năm ấy nên giữ gìn hơn.
Suy luận Ba năm gần đây tiện đối chiếu, và cấu trúc cho một kết luận rất gọn. Lưu niên 2026 là năm Bính Ngọ với lưu Thái Tuế tại Ngọ, lưu niên 2027 là năm Đinh Mùi tại Mùi, lưu niên 2028 là năm Mậu Thân tại Thân. Vì Bệnh chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh, không một ai có lưu Thái Tuế về đúng cung Bệnh trong lưu niên 2026 hay 2027; chỉ người Hỏa Lục Cục, tức người có Bệnh tại Thân, mới gặp lưu Thái Tuế về đúng cung ấy trong lưu niên 2028.
Kinh nghiệm Một lưu ý cuối. Bệnh đứng yên còn vận thì chạy, nên nó là địa hình chứ không phải thời tiết: địa hình có quãng trũng thì người đi biết trước mà đi chậm lại, thế thôi. Không có năm nào là "năm sao Bệnh".
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Bệnh
Đây là mục quan trọng nhất của trang này. Bệnh là một cái tên nghe đáng sợ hơn rất nhiều so với những gì sách thật sự nói về nó, và Thầy đã gặp không ít người mất ngủ chỉ vì đọc thấy chữ ấy trên lá số của mình hoặc của con mình. Bốn mục dưới đây tách cho rõ chỗ sách có nói và chỗ sách không nói.
Một: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra
Kinh văn Bệnh là tên một chặng khí trong vòng mười hai chặng, đặt theo lối ẩn dụ đời người, cùng lối với Mộc Dục mượn hình ảnh tắm gội, Quan Đới mượn hình ảnh đội mũ áo, Thai mượn hình ảnh kết mầm. Nghĩa gốc của nó là "khí đã xuống thấp, thân cần nghỉ", giống như cuối thu lá rụng trong một năm bốn mùa. Suy luận Không sách nào nói rằng người có Bệnh thủ Mệnh thì ốm yếu cả đời, mắc bệnh nan y hay đoản thọ. Chữ Bệnh ở đây là tên một chặng của vòng tuần hoàn, không phải một chẩn đoán, càng không phải một lời tiên tri. Ai đọc chữ ấy thành tai họa là đọc theo âm chữ tiếng Việt chứ không đọc theo nghĩa mệnh lý.
Kinh nghiệm Thầy xin nói thẳng một câu để quý vị mang về: không được phán họa từ một chặng. Đây là phụ tinh nhỏ trong bộ 121 sao, nó không có lực họa phúc riêng, không định được bệnh gì, không định được lúc nào và không định được nặng nhẹ. Chất của một cung do chính tinh, do Tứ Hóa, do tam phương tứ chính và do cả cục diện quyết định; chặng Bệnh chỉ nói cung ấy đang ở nhịp nào của vòng khí. Người luận số mà chỉ trông thấy chữ Bệnh rồi phán bệnh tật thì không phải đang xem số, mà đang đọc chữ.
Hai: sao Bệnh của vòng Tràng Sinh khác hẳn sao Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ
Suy luận Đây là chỗ lẫn nhiều nhất, và lẫn ở cả người xem lẫn người luận. Hai sao trùng một chữ Bệnh nhưng khác nhau từ gốc. Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo Cục của lá số, đứng ở ô thứ bảy của vòng ấy, chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh, cả đời không đổi chỗ và không có bản lưu niên. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn tức theo thiên can năm sinh, đứng ở ô thứ chín của vòng ấy, đi đủ mười hai cung tùy tuổi và chiều an, và có bản lưu niên an lại theo can của từng năm xem. Nói gọn: một bên là nhịp cố định của lá số, một bên là sao có thể chạy theo năm.
Kinh nghiệm Hệ quả thực tế rất lớn. Khi ai đó nói "năm nay tôi gặp sao Bệnh", câu ấy chỉ có thể đúng nếu họ nói tới lưu Bệnh Phù, chứ không thể đúng với sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, vì sao này không có bản lưu. Ngược lại, khi luận đại vận mà nói "giáp vận này vào cung có Bệnh" thì đó lại là chặng Bệnh của vòng Tràng Sinh. Thầy đề nghị quý vị khi đọc bất kỳ bản luận nào, thấy chữ Bệnh thì hỏi ngay một câu: sao này an theo Cục hay an theo Lộc Tồn. Trả lời được câu ấy là phân biệt xong.
Ba: một cung có Bệnh vẫn có thể là cung mạnh nhất lá số
Suy luận Điều này đã kiểm bằng máy và đáng nói to. Bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi là chỗ đứng của rất nhiều bộ chính tinh đẹp: Tử Vi Thiên Phủ tại Dần và tại Thân, Thiên Cơ Thái Âm tại Dần và tại Thân, Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần và tại Thân, Tử Vi Thất Sát tại Tỵ và tại Hợi, Liêm Trinh Tham Lang tại Tỵ và tại Hợi. Cung ấy còn có thể mang Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, có thể có Lộc Tồn với năm tuổi can, có thể có Tả Hữu Khôi Việt. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít lá số mà cung Tài Bạch giữ chặng Bệnh nhưng đồng thời có Tử Vi Thiên Phủ và Lộc Tồn, tức một cung rất dày. Đọc đúng phải là: lĩnh vực này vốn dày, chỉ là nhịp của nó đang ở quãng cần dưỡng, nên hợp giữ và hợp làm chậm hơn là hợp bung. Đọc thành "tiền bạc bệnh tật" thì vừa sai vừa buồn cười.
Bốn: Bệnh của Đẩu Số không phải sao hạn của khoa cúng sao, cũng không phải Bệnh trong Bát Tự
Suy luận Ba thứ hay bị trộn làm một. Thứ nhất, khoa cúng sao giải hạn dân gian dùng chín sao Cửu Diệu như La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch; đó là một hệ khác hẳn, không có sao Bệnh và không liên quan gì tới vòng Tràng Sinh. Thứ hai, Bát Tự Tứ Trụ cũng có mười hai chặng cùng tên, nhưng ở đó chúng tính theo thiên can Nhật Chủ đối chiếu địa chi từng trụ để đo cường nhược của Nhật Chủ, còn trong Tử Vi chúng an theo Cục và trải trên mười hai cung để đọc nhịp của từng cung chức. Thứ ba, chữ "bệnh" trong lời nói hằng ngày mang nghĩa y học, nghĩa ấy không có trong thư tịch Đẩu Số.
Kinh nghiệm Và xin nói một lời cuối cho mục này, vì Thầy thấy cần. Không có vật phẩm nào, lễ nào, phép nào "giải" được sao Bệnh, bởi vì không có gì để giải: nó là một mốc trong bộ khung lá số, giống như tháng mười trong một năm. Ai bán cho quý vị một món đồ để hóa giải sao Bệnh thì họ đang bán sự sợ hãi. Việc cần làm chỉ là những việc rất đời thường, ghi ở mục lời khuyên phía dưới, và nếu có điều gì bất thường trong người thì hãy đi khám thầy thuốc, đó mới là chỗ đúng để hỏi.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Bệnh Qua Ba Bước
Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số đã chọn: tuổi Giáp Ngọ, sinh tháng sáu, ngày mồng năm, giờ Sửu, nam mệnh. Từ tháng và giờ ra cung Mệnh tại Ngọ; can chi cung Mệnh là Canh Ngọ, nạp âm Lộ Bàng Thổ, cho Thổ Ngũ Cục; tuổi Giáp là dương can, nam mệnh, nên vòng đi thuận; Thổ Ngũ Cục khởi Tràng Sinh tại Thân, đếm thuận sáu cung thì Bệnh an tại Dần. Nếu người này là nữ mệnh thì vòng đi nghịch, nhưng đếm nghịch sáu cung từ Thân cũng vẫn ra Dần. Lưới dưới vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao vòng Tràng Sinh không nằm trong nhóm được vẽ nên ghi bằng chữ ở ô giữa.
Tử Vi tại Dần, Mệnh tại Ngọ
không phải người thật
Thổ Ngũ Cục, vòng Tràng Sinh đi thuận
Bệnh tại Dần, Tràng Sinh tại Thân, Suy tại Sửu, Tử tại Mão
Bước một: Bệnh đứng ở cung nào và đứng cùng ai
Bệnh tại Dần, mà Dần trên lá số này là cung Tài Bạch, đồng cung với Tử Vi và Thiên Phủ, lại thêm Lộc Tồn cũng an tại Dần vì tuổi Giáp. Đây là minh chứng thẳng cho mục ranh giới ở trên: cung giữ chặng Bệnh của lá số này là một trong những cung dày nhất mà Đẩu Số có, đế tinh và khố tinh cùng ngồi, thêm sao của cải bền. Không có cơ sở nào để nói cung này xấu.
Xét tiếp bốn quan hệ cố định. Cung kề bên là Sửu giữ Suy, tức cung Tật Ách có Thiên Cơ, lại có Đà La đóng ở đó. Cung kề bên kia là Mão giữ Tử, tức cung Tử Tức có Thái Âm và có Kình Dương. Cung đối diện Dần là Thân giữ Tràng Sinh, tức cung Phúc Đức có Thất Sát. Hai cung tam hợp là Tuất giữ Quan Đới, tức cung Quan Lộc có Vũ Khúc hóa Khoa, và Ngọ giữ Thai, tức chính cung Mệnh có Liêm Trinh hóa Lộc cùng Thiên Tướng.
Xin dừng lại ở hai chi tiết. Thứ nhất, Kình Dương đóng tại Mão chứ không đóng chung với Bệnh, đúng như quy luật đã kiểm bằng máy. Thứ hai, cung Mệnh người này giữ chặng Thai, chặng kết mầm, lại nằm trong tam hợp của cung Bệnh: cái mầm của đời người này và chỗ cần dưỡng chiếu thẳng vào nhau.
Bước hai: Tứ Hóa và Lộc Tồn Kình Đà rơi vào đâu
Tuổi Giáp có bộ Tứ Hóa là Liêm Trinh hóa Lộc tại Ngọ tức cung Mệnh, Phá Quân hóa Quyền tại Tý tức cung Thiên Di, Vũ Khúc hóa Khoa tại Tuất tức cung Quan Lộc, Thái Dương hóa Kỵ tại Hợi tức cung Nô Bộc. Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần, tức đúng cung Bệnh, kéo Kình Dương về Mão là cung Tử Tức và Đà La về Sửu là cung Tật Ách.
Bố cục này gói gọn bài học của trang. Cung Tài Bạch tại Dần có đủ Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Tồn và chặng Bệnh: về chất là một cung rất dày, về nhịp thì đang ở chặng cần dưỡng. Đọc thành một câu: tiền bạc là mặt vững của người này và nguồn thu bền, nhưng đây không phải lĩnh vực để tăng tốc; hợp giữ, hợp nguồn thu đều, hợp tích lũy dài. Nhìn sang cung xung chiếu để biết đường hồi: Phúc Đức tại Thân giữ Tràng Sinh với Thất Sát, nghĩa là khi tiền bạc chững lại thì chỗ tiếp sức nằm ở đời sống tinh thần và ở việc dám cắt bỏ cái không cần, chứ không nằm ở việc lao thêm vào kiếm tiền.
Bước ba: đọc liền ba cung Suy, Bệnh, Tử
Ba cung liền nhau của lá số này là Sửu giữ Suy ở Tật Ách với Thiên Cơ và Đà La, Dần giữ Bệnh ở Tài Bạch với Tử Phủ và Lộc Tồn, Mão giữ Tử ở Tử Tức với Thái Âm và Kình Dương. Đọc liền một mạch: sức khỏe vừa qua đỉnh lại có Đà La nên hay dây dưa, cần chữa cho dứt; tiền bạc dày nhưng đang ở nhịp dưỡng nên hợp giữ; chuyện con cái và việc mình gây dựng thì đang khép lại một giai đoạn, hợp tổng kết hơn hợp khởi sự.
Đối chiếu thêm với cung Đế Vượng: Thổ Ngũ Cục đi thuận thì Đế Vượng rơi vào Tý, tức cung Thiên Di có Phá Quân hóa Quyền. Đỉnh của đời người này nằm ở việc ra ngoài, mà ba cung Suy, Bệnh, Tử đứng liền ngay sau đỉnh ấy nhắc rằng cái giá của bôn ba là sức khỏe và nhịp tiền bạc.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang nữ mệnh. Tuổi Giáp là dương can, nữ mệnh thì vòng đi nghịch. Đây chính là chỗ đáng nói nhất của sao Bệnh: Thổ Ngũ Cục vẫn khởi Tràng Sinh tại Thân, đếm ngược sáu cung vẫn ra Dần, nên Bệnh vẫn nằm nguyên tại Dần, vẫn ở cung Tài Bạch, vẫn chung với Tử Phủ và Lộc Tồn. Cái đổi là hai cung kề, nay Sửu giữ Tử và Mão giữ Suy, tức đổi chỗ cho nhau; Đế Vượng dời từ Tý sang Thìn tức cung Phu Thê. Đổi giới tính thì mười chặng kia dời hết, riêng Bệnh và Tràng Sinh đứng im, và quý vị tự kiểm được bằng hai cột cuối của bảng ở mục cơ chế an sao.
- Giữ nguyên tuổi Giáp Ngọ, nam mệnh, tháng và giờ sinh, chỉ đổi ngày sinh sang ngày mười ba. Cung Mệnh và Cục không đổi, vòng vẫn đi thuận, Bệnh vẫn nằm nguyên tại Dần. Cái đổi là vị trí Tử Vi, vì Tử Vi an theo Cục cộng ngày sinh: nay Tử Vi về Ngọ, cả lưới chính tinh xoay theo, và cung Dần lúc này là Vũ Khúc cùng Thiên Tướng, lại thêm Vũ Khúc hóa Khoa về đúng cung ấy. Cung Tài Bạch vẫn mạnh nhưng đổi tính, từ dày và tĩnh sang có uy tín trong nghề. Cùng một chỗ đứng của Bệnh mà lời luận đổi hẳn: chất của cung do chính tinh và Tứ Hóa quyết định, không do tên chặng.
- Đổi Cục. Cục đổi thì cả vòng đổi chỗ, và vì vị trí Tử Vi cũng tính từ Cục nên lưới chính tinh đổi theo. Riêng phần vòng thì tính ngay: cùng Mệnh tại Ngọ, nếu ra Kim Tứ Cục thì Tràng Sinh khởi tại Tỵ và Bệnh dời về Hợi tức cung Nô Bộc; nếu ra Hỏa Lục Cục thì Tràng Sinh khởi tại Dần và Bệnh dời về Thân tức cung Phúc Đức, chỗ cần dưỡng chuyển sang đời sống tinh thần. Cả hai trường hợp Bệnh vẫn ở cung Tứ Sinh và vẫn đối diện đúng cung Tràng Sinh.
Muốn biết Bệnh của mình đứng ở cung nào, quý vị an lá số miễn phí tại trang lập lá số Tử Vi rồi tra theo bảng Cục ở mục cơ chế an sao phía trên. Chỉ cần biết Cục là tra ra ngay.
12 Lời Khuyên Khi Lá Số Có Bệnh
Kinh nghiệm Bệnh không cần hóa giải, nó cần nghỉ đúng lúc. Điều thứ nhất: xác định cho được cung chức nào giữ Bệnh, rồi cho lĩnh vực ấy một nhịp chậm hơn phần còn lại của đời mình. Cụ thể là giảm số việc làm cùng lúc trong lĩnh vực đó, đặt thời hạn dài hơn thói quen, và chấp nhận làm ít mà làm xong. Việc này làm được ngay và có kết quả thật.
Suy luận Điều thứ hai: nhìn sang cung đối diện, vốn chắc chắn là Tràng Sinh, để biết nguồn hồi phục ở đâu. Bệnh ở Tài Bạch thì Tràng Sinh ở Phúc Đức, giữ được của khi giữ được lòng yên. Bệnh ở Quan Lộc thì Tràng Sinh ở Phu Thê, lúc công việc đuối thì gia đình là chỗ tiếp sức. Bệnh ở Tật Ách thì Tràng Sinh ở Phụ Mẫu, nếp sống học được từ cha mẹ chính là vốn giữ sức khỏe. Với sao Bệnh thì thuốc luôn nằm ngay đối diện.
Kinh nghiệm Điều thứ ba: đừng lẫn chặng Bệnh với sức khỏe của mình. Chặng Bệnh ở cung Quan Lộc nói về nhịp của công việc, không nói về thân thể; muốn xem thân thể thì xem cung Tật Ách, và cũng phải xem cả chính tinh, Tứ Hóa cùng sát tinh ở đó chứ không xem mỗi chữ Bệnh.
Kinh nghiệm Điều thứ tư, và cũng là điều Thầy muốn nói kỹ nhất. Nếu quý vị vừa đọc thấy chữ Bệnh trên lá số mình và thấy lo, xin dừng lại và đọc lại mục ranh giới phía trên. Đây là một phụ tinh nhỏ trong bộ 121 sao, nó không phán được điều gì cả, và tên của nó chỉ là tên một khúc trong vòng tuần hoàn, giống như cuối thu trong một năm bốn mùa. Rất nhiều lá số có Bệnh ở một cung rất mạnh. Xin đừng để một cái tên làm hỏng cách đọc cả lá số, và xin đừng mua bất cứ vật phẩm nào để "giải sao Bệnh".
Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung
Những gợi ý dưới đây không phải phép trấn yểm và cũng không đổi được lá số, chúng chỉ là cách sắp xếp đời sống cho hợp với một nhịp đang chậm: ngủ sớm và ngủ đủ, vì đây là chặng cần sức bền chứ không cần sức bùng; ăn ấm và đúng bữa; mỗi năm khám sức khỏe tổng quát một lần và chữa dứt điểm những chứng dai dẳng; giữ phòng ngủ thoáng, khô và đủ sáng, dọn chỗ ẩm mốc trong nhà; vận động nhẹ mà đều hơn là tập nặng theo đợt; và giữ một việc mình thích làm mỗi ngày, vì đó chính là cái mầm ở cung Thai trong tam phương. Không có vật phẩm nào giải được sao Bệnh, vì không có gì để giải. Nếu trong người có điều bất thường, xin đi khám thầy thuốc.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài này chỉ ghi sách trang này thật sự dẫn, và nói rõ phần nào kiểm bằng máy.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (bản Việt ngữ Vũ Tài Lục): phép an vòng Tràng Sinh theo Cục, cung khởi của Tràng Sinh ứng với từng Cục, quy tắc đi thuận hay nghịch theo âm dương của tuổi cùng giới tính.
- Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang): phần luận mười hai chặng sinh vượng tử tuyệt, trong đó có nghĩa của Bệnh là chặng khí đã xuống thấp, thân cần nghỉ và cần dưỡng.
- Đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài. Cụ thể là bảng vị trí Bệnh theo năm Cục nhân hai chiều an; khẳng định Bệnh chỉ đóng bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi và không đổi chỗ khi đổi chiều đếm, tính chất mà trong cả vòng chỉ Bệnh và Tràng Sinh có; các quan hệ cố định với Tràng Sinh, Suy, Tử, Quan Đới và Thai; và các kết luận về việc Bệnh không bao giờ đồng cung với Kình Dương, Đào Hoa, Quả Tú hay Hoa Cái, có thể đồng cung với Lộc Tồn và Đà La tùy tuổi can, còn cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng chung cung với nó.
- Không có câu phú riêng cho Bệnh. Cả Toàn Thư lẫn Tân Biên đều không lập phú cho từng chặng của vòng Tràng Sinh; các câu liên quan đều nói về cả vòng. Bài này vì thế không dẫn câu phú nào, và cũng không đặt ra câu mới.
Ghi chú về dị bản và về chỗ dễ lẫn
Bốn chỗ xin nêu rõ để quý vị không nghĩ là lỗi của trang. Thứ nhất, tên vòng: sách in cả Trường Sinh lẫn Tràng Sinh, cùng một chữ Hán, trang này dùng Tràng Sinh cho khớp bảng an sao. Thứ hai, chiều an vòng: đa số sách Việt theo quy tắc dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi nghịch, và trang an lá số theo đúng quy tắc ấy; riêng với sao Bệnh thì dị bản này không gây lệch, nên nếu đối chiếu phần mềm khác mà thấy Bệnh lệch cung thì lỗi nằm ở Cục chứ không nằm ở chiều an. Thứ ba, thứ tự tên mười hai chặng thì mọi sách thống nhất. Thứ tư, và quan trọng nhất: xin đừng lẫn sao Bệnh của vòng Tràng Sinh với sao Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Bệnh
Bệnh là chặng thứ bảy của vòng Trường Sinh trong Tử Vi Đẩu Số, ví như cơ thể lâm bệnh. Sao này chủ sự yếu đuối, trở ngại, ốm đau, nhắc người ta chăm sóc sức khỏe và thận trọng trong giai đoạn không thuận.
Bệnh ở Tật Ách nhắc đề phòng bệnh tật, nên khám và dưỡng sớm. Có phúc tinh và sao giải như Thiên Lương, Hóa Khoa thì bệnh nhẹ, gặp thầy gặp thuốc; gặp Hóa Kỵ và sát tinh thì cần đặc biệt giữ gìn.
Bệnh an theo Cục, đứng liền sau Suy trong vòng mười hai chặng. Biết Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra vị trí Bệnh.
Năm gặp Bệnh ở cung quan trọng nên chú ý sức khỏe, dưỡng sức, tránh làm quá sức, công việc đi chậm chắc. Đây là chặng của hồi phục và giữ gìn hơn là bung sức.
Không. Bệnh là tên một chặng khí trong vòng Tràng Sinh, đặt theo lối ẩn dụ đời người giống như Mộc Dục mượn hình ảnh tắm gội hay Thai mượn hình ảnh kết mầm. Nghĩa của nó là khí đã xuống thấp, sức chưa đủ để làm việc lớn, cần nghỉ và cần dưỡng. Đây là một phụ tinh nhỏ trong bộ 121 sao, không ai được phép phán họa hay phán bệnh từ một sao, và tên sao không phải là điều sẽ xảy ra.
Vì Bệnh đứng ở ô thứ bảy, tức cách cung khởi đúng sáu cung. Đếm thuận sáu cung hay đếm nghịch sáu cung đều tới cùng một cung đối diện, nên vị trí của Bệnh không đổi. Chạy đủ năm Cục nhân hai chiều bằng máy cho đúng bốn kết quả: Thủy Nhị và Thổ Ngũ Cục thì Bệnh tại Dần, Mộc Tam Cục tại Tỵ, Kim Tứ Cục tại Hợi, Hỏa Lục Cục tại Thân. Trong mười hai chặng chỉ có Tràng Sinh và Bệnh mang tính chất này.
Hai sao hoàn toàn khác nhau. Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo Cục của lá số, cả đời không đổi chỗ và không có bản lưu niên. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn tức theo thiên can năm sinh, đứng ở ô thứ chín của vòng ấy, và có bản lưu niên an lại theo can của từng năm xem. Trùng chữ Bệnh nhưng khác vòng, khác cách an, khác công dụng; luận lẫn hai sao này là lỗi hay gặp nhất khi đọc vòng phụ tinh.
Cung đối diện Bệnh vĩnh viễn là Tràng Sinh, hai cung kề luôn là Suy và Tử, hai cung tam hợp luôn là Quan Đới và Thai. Bốn quan hệ ấy đúng với mọi Cục và cả hai chiều an. Riêng thế xung chiếu Tràng Sinh là điều đẹp nhất của cấu trúc: chặng khí thấp nhất luôn được chặng mới sinh nhìn thẳng về.