1 Sao Đường Phù là gì

Đường Phù là sao chủ vẻ đường bệ và uy nghi, ngũ hành Mộc, đi cặp với Quốc Ấn. Sao này gắn với phong thái uy nghiêm, đường công danh và đặc biệt là việc nhà đất.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
{KV} Đường Phù an theo thiên can năm sinh, không theo chi, không theo tháng, không theo giờ. Phép an gọn trong một dòng: tìm cung Lộc Tồn của tuổi trước đã, rồi từ cung ấy đếm lùi bảy cung theo chiều ngược kim đồng hồ, dừng ở đâu thì Đường Phù đóng ở đó. Đếm lùi bảy cung trên một vòng mười hai cũng bằng đếm thuận năm cung, quý vị dùng lối nào cũng ra một chỗ. Vì tham số chỉ là can năm sinh nên vị trí Đường Phù cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi can thì Đường Phù luôn đóng cùng một cung địa chi.
{SL} Cách an ấy nói ngay một điều: Đường Phù không phải một ngôi sao độc lập, nó là một điểm treo trên cây thước Lộc Tồn. Cây thước ấy có bốn mốc quen thuộc là Lộc Tồn ở giữa, Kình Dương ngay sau, Đà La ngay trước, và Quốc Ấn ở cách tám cung. Đường Phù là mốc thứ năm. Đã là mốc cố định trên cùng một cây thước thì mọi khoảng cách giữa chúng đều tính chắc được cho cả mười can, không cần đoán. Bảng dưới đây in đủ năm cột ấy.
{BANG_AN}{ico('laban')}Sáu điều bất biến của Đường Phù, đã chạy đủ mười can bằng máy
- Đường Phù chỉ đi được tám cung, và vĩnh viễn không tới bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Chạy đủ mười can thì nó rơi vào Mùi, Thân, Tuất, Hợi, Tuất, Hợi, Sửu, Dần, Thìn, Tỵ. Đây là hệ quả trực tiếp của việc Lộc Tồn cũng không bao giờ an tại tứ chính. Nói cách khác, Đường Phù chỉ đóng ở tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi và tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi, tức chỉ ở những cung của thế đứng và thế chuyển, không ở những cung của thế thịnh.
- Đường Phù luôn tam hợp chiếu Kình Dương. Cách đúng bốn cung, mười trên mười can, không sót tuổi nào. Nghĩa là tam phương của cung Đường Phù bao giờ cũng có một sát tinh ngồi sẵn, không có lá số nào thoát.
- Đường Phù luôn xung chiếu Đà La. Cách đúng sáu cung, mười trên mười can. Cộng với điều trên thành một câu rất đáng nhớ: tam phương tứ chính của cung Đường Phù luôn có đủ cả Kình Dương lẫn Đà La. Chức phận trong khoa này không bao giờ tới một mình, nó luôn kèm theo cái sắc và cái vướng.
- Đường Phù vĩnh viễn không hội chiếu Lộc Tồn. Khoảng cách luôn đúng năm cung, mà năm là số lẻ nên không rơi vào thế đồng cung, xung chiếu hay tam hợp nào. Đây là điểm ngược đời nhất của ngôi sao này: nó mọc ra từ Lộc Tồn mà không bao giờ nhìn thấy Lộc Tồn.
- Đường Phù và Quốc Ấn luôn cách đúng ba cung, không bao giờ gặp nhau. Quốc Ấn ở cung Đường Phù đếm thuận thêm ba. Ba là số lẻ nên hai sao không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp, ở cả mười can. Sách gọi chung hai sao là bộ ấn tín, nhưng bộ ấy là bộ về ý nghĩa chứ không phải bộ về vị trí.
- Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Đường Phù. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Đường Phù thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại cả tám cung mà nó tới được, và cung ấy cũng có thể trống. Sắc thái của Đường Phù vì vậy do chính tinh ngồi cùng quyết định, chứ không phải do bản thân nó.
Hai sao ấn tín chia nhau hai nửa rất khác nhau của một bộ
{SL} Điều này chỉ hiện ra khi đặt bốn con số cạnh nhau, và Thầy cho là phát hiện quan trọng nhất của bài. Quốc Ấn cách Lộc Tồn tám cung, tức luôn tam hợp chiếu Lộc Tồn; đồng thời nó cách Kình Dương bảy cung và cách Đà La chín cung, hai số lẻ, tức không bao giờ dính Kình Đà. Đường Phù thì ngược hẳn: không bao giờ với tới Lộc Tồn, mà luôn có cả Kình lẫn Đà trong tầm chiếu.
{KN} Đọc theo lối tượng thì cấu trúc này rất giống hai mặt của cùng một việc làm quan. Quốc Ấn là cái ấn, là phần danh nghĩa, là con dấu và tờ giấy bổ nhiệm, nên nó đứng trong tam hợp của Lộc Tồn, được lộc nuôi, sạch sẽ, không vướng sát. Đường Phù là cái ghế, là phần việc phải làm thật, nên nó đứng chỗ có Kình Dương chiếu tới và Đà La nhìn thẳng vào mặt. Ai có Đường Phù đắc cách thì được giao việc, mà việc thì bao giờ cũng kèm va chạm và kèm cái dây dưa của Đà La. Thầy nói với người tới xem rằng cái chức nào cũng có hai phần như thế, có phần được xướng tên và có phần phải chịu, cấu trúc lá số nói đúng điều ấy mà không cần thêm lời nào.
{SL} Còn một hệ quả nhỏ mà tiện khi an tay. Vì Lộc Tồn chỉ đóng ở tám cung ngoài tứ chính, và Đường Phù chỉ là Lộc Tồn dời năm cung, nên Đường Phù không bao giờ đồng cung với Đào Hoa, vì Đào Hoa chỉ đóng đúng tại bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Cũng vì lý do ấy mà Đường Phù không bao giờ xung chiếu Đào Hoa. Quan hệ gần nhất giữa hai sao là đứng cách một hoặc hai cung. Sao chức phận và sao hoa nguyệt trong khoa này không ngồi chung ghế, cũng không nhìn thẳng vào nhau.
{SL} Ngược lại, Đường Phù có thể đồng cung với Thiên Mã, vì Thiên Mã đóng tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đều là bốn cung nằm trong tám cung mà Đường Phù tới được. Thế Đường Phù ngồi cùng Thiên Mã đáng chú ý khi luận đường công danh: chức phận gắn với việc đi xa, đổi chỗ, làm ở nơi khác quê. Đây là thế phải tra theo từng cặp can chi chứ không cố định, vì hai sao dùng hai tham số khác nhau.
3 Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Đường Phù an theo tuổi, đi cặp với Quốc Ấn, hợp thành bộ uy quyền và nhà đất.
Vì là phụ tinh, Đường Phù làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
4 Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Đường Phù có vẻ đường bệ, uy nghi; lợi ích cho công việc cầu công danh; giúp cho việc mua tậu nhà đất được dễ dàng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi. Đây là sao tốt cho cả công danh lẫn điền sản.
Tuy nhiên, Đường Phù gặp Bạch Hổ đồng cung thì có sự bắt bớ, tù đày. Là sao phụ, Đường Phù đi cùng Quốc Ấn và chính tinh sáng thì uy quyền, điền sản càng vững.
5 Quan Hệ Cố Định Của Đường Phù Với Các Sao Cùng An Theo Can Năm Sinh
{SL} Đường Phù không có tên trong bốn vòng sao lớn của khoa Tử Vi. Bốn vòng ấy gồm vòng Thái Tuế mười hai sao đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ mười hai sao đếm từ Lộc Tồn, vòng Tràng Sinh mười hai sao đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm sinh. Tra đủ bốn danh sách thì không thấy Đường Phù. Nhưng nó dùng chung một trục với vòng Bác Sĩ, đó là cung Lộc Tồn, cho nên quan hệ giữa nó với cả mười hai sao của vòng ấy tính được chắc chắn, và kết quả rất gọn.
Đường Phù ngồi ngay trên một sao của vòng Bác Sĩ
{KV} Vòng Bác Sĩ là mười hai sao khởi từ cung Lộc Tồn rồi đếm lần lượt Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Vòng này đổi chiều theo âm dương nam nữ: dương nam và âm nữ thì đếm thuận, âm nam và dương nữ thì đếm nghịch. Đây là chỗ khác hẳn vòng Thái Tuế vốn luôn đi thuận, và người luận phải hỏi giới tính trước khi an vòng này.
{BANG_VONG_BS}{SL} Đường Phù đứng cách Lộc Tồn đúng năm cung theo chiều thuận. Đối chiếu với thứ tự vòng thì ra hai kết quả tùy chiều đếm, và cả hai đều cố định cho mọi can:
- Với người dương nam hoặc âm nữ, vòng Bác Sĩ đếm thuận, thì Đường Phù luôn đồng cung với Tấu Thư, là sao thứ sáu của vòng. Tấu Thư chủ giấy tờ, văn thư, tin tức, lời tâu trình. Chức phận ngồi cùng văn thư, đó đúng là hình ảnh của một quyết định bổ nhiệm bằng giấy trắng mực đen.
- Với người âm nam hoặc dương nữ, vòng Bác Sĩ đếm nghịch, thì Đường Phù luôn đồng cung với Hỷ Thần, là sao thứ tám của vòng. Hỷ Thần chủ tin vui, việc mừng. Chức phận ngồi cùng tin vui, đó là hình ảnh của cái tin được cất nhắc.
{KN} Hai kết quả ấy khác nhau về chiều đếm mà cùng một hướng nghĩa, nên Thầy dùng chúng như một lời nhắc khi luận: Đường Phù không phải sao của quyền lực thô, nó là sao của cái tin và cái giấy. Cái nó báo là việc đã được công nhận chứ không phải sức mạnh để giành lấy. Người có Đường Phù đẹp thường không phải người tranh giành giỏi nhất, mà là người được gọi tên khi tới lượt.
{SL} Đối chiếu thêm cho đủ: Quốc Ấn ở cách Lộc Tồn tám cung nên luôn đồng cung với Bệnh Phù nếu vòng đếm thuận, và luôn đồng cung với Tướng Quân nếu vòng đếm nghịch. Kình Dương cách Lộc Tồn một cung nên luôn trùng Lực Sĩ khi đếm thuận, còn Đà La cách một cung theo chiều ngược nên luôn trùng Quan Phủ khi đếm thuận. Bốn sao nhỏ này chồng lên bốn sao của vòng, biết một là biết cả bốn, khỏi phải an lại từ đầu.
Bảng đối chiếu với đủ mười hai sao cùng an theo can
{SL} Ngoài vòng Bác Sĩ, còn một nhóm sao lẻ cũng lấy can năm sinh làm tham số. Với nhóm này thì phải chia làm hai loại rành mạch: loại có khoảng cách cố định với Đường Phù ở cả mười can, nói một lần là dùng được cho mọi lá số; và loại thay đổi theo từng can, buộc phải tra bảng. Danh sách dưới đây do máy sinh, không lấy từ trí nhớ.
{BANG_CAN}{SL} Đọc bảng thì thấy chỉ năm ngôi sao có quan hệ cố định thật với Đường Phù, gồm Lộc Tồn cách năm cung, Kình Dương tam hợp, Đà La xung chiếu, Quốc Ấn cách ba cung, và Lưu Niên Văn Tinh cách đúng hai cung. Riêng dòng cuối đáng chú ý: Lưu Niên Văn Tinh luôn đứng cách Đường Phù đúng hai cung, tức không chiếu tới nhau nhưng chỉ cách một cung ở giữa. Cái duyên khoa bảng và cái ghế chức phận ở gần nhau mà không chạm nhau, đó là một hình ảnh khá đúng với thực tế của nhiều người có bằng cấp mà không có chức, và ngược lại.
{SL} Bảy ngôi sao còn lại, gồm Thiên Trù, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Lưu Hà và Hồng Diễm, đều đổi khoảng cách theo từng can, nên không có câu nào nói chung được cho mọi tuổi. Người luận muốn biết Đường Phù của một lá số cụ thể có được Khôi Việt nâng hay không thì phải an ra rồi nhìn, không suy từ nguyên tắc được. Thầy nhắc điều này vì trên mạng có khá nhiều câu kiểu Đường Phù gặp Thiên Quan thì làm quan, viết như một luật, trong khi đó chỉ là một khả năng xảy ra ở vài can.
Đường Phù và bảng Tứ Hóa
{SL} Đường Phù không nằm trong bảng Tứ Hóa, cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và bản thân nó cũng không phát hóa để bay sang cung khác. Điều này hơi nghịch lý vì Đường Phù an theo can, mà can chính là thứ sinh ra Tứ Hóa; nhưng hai hệ dùng can theo hai cách khác nhau, một bên lấy can để định vị trí, một bên lấy can để định sao nào biến chất. Vậy khi cung có Đường Phù mà chính tinh đang mang hóa, đọc thế nào:
- Chính tinh hóa Quyền đồng cung: đây là thế hợp nhất trong bốn hóa. Hóa Quyền cho thực quyền, Đường Phù cho danh phận và cái giấy công nhận. Hai thứ vốn hay lệch nhau nay chồng khít, người này cầm việc gì thì được giao cả tiếng lẫn miếng. {KN} Trên lá số thật Thầy thấy thế này hay ứng vào những người được cất nhắc sớm hơn tuổi, hoặc được giao quyền vượt cấp bậc chính thức.
- Chính tinh hóa Khoa đồng cung: danh phận tới bằng đường bằng cấp, thi cử, chuyên môn, hoặc bằng tiếng tăm sạch. Chức tới chậm hơn thế trên nhưng bền và ít bị dị nghị. Có thêm Lưu Niên Văn Tinh ở gần thì lớp nghĩa khoa bảng càng rõ.
- Chính tinh hóa Lộc đồng cung: phải đọc cẩn thận, vì Đường Phù vốn không với tới Lộc Tồn. Hóa Lộc của chính tinh thì tới được, nên đây là con đường duy nhất để cung Đường Phù có lộc khí thật. Ứng vào đời thường là chức có bổng, việc có phần, hoặc cái chức ấy mở ra đường tiền bạc. {SL} Nhưng vì Kình Đà vẫn chiếu vào cung ấy nên phần lộc này hay kèm điều tiếng, cần giữ cho sạch sổ sách.
- Chính tinh hóa Kỵ đồng cung: chức phận thành cái vướng. Được giao việc mà việc ấy là việc khó, hoặc ngồi vào chỗ người trước để lại đống rối. Cộng thêm Đà La xung chiếu vốn có sẵn thì cái dây dưa càng dài. {KN} Thầy hay khuyên người thế này đừng nhận chức trong lúc đang có tranh chấp chưa ngã ngũ, vì họ sẽ là người phải đứng ra chịu.
{SL} Vì sao đọc Đường Phù phải đọc cả nhóm sao an theo can. Bản thân Đường Phù là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là một lớp danh phận phủ lên cung nó đóng, không phải sức mạnh để đổi cục diện. Vị trí của nó bị cấu trúc buộc chặt vào cây thước Lộc Tồn: luôn nằm trong tầm Kình Đà, luôn ngoài tầm Lộc Tồn, luôn cách Quốc Ấn ba cung, luôn chồng lên Tấu Thư hoặc Hỷ Thần. Cho nên thứ tự đọc đúng là xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, đếm sát tinh trong tam phương, xem Tuần Triệt, rồi mới cộng Đường Phù vào như một lớp danh phận, và cuối cùng hỏi một câu thực tế: cái danh phận này gắn với việc gì.
6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Đường Phù phối với các sao cho kết quả khác nhau:
| Khi Đường Phù gặp | Ý nghĩa kết hợp |
|---|---|
| Quốc Ấn | Cặp Ấn Phù, tăng uy quyền, chức vị. |
| Chính tinh sáng, Hóa Quyền | Uy nghi, công danh hiển đạt. |
| Điền Trạch có cát tinh | Nhà đất cao đẹp, dễ mua tậu. |
| Bạch Hổ đồng cung | Có sự bắt bớ, tù đày. |
7 Đường Phù Tại Đủ Mười Hai Cung Chức
{SL} Đường Phù chỉ đóng được tám cung địa chi, nhưng mười hai cung chức thì cung nào cũng có thể rơi vào tám cung ấy, tùy tháng sinh và giờ sinh của mỗi người. Vì vậy bảng dưới đây phải đủ mười hai dòng. Trước khi đọc xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy và áp cho mọi ô: tam phương của cung Đường Phù luôn có Kình Dương, cung xung chiếu luôn có Đà La, và Lộc Tồn thì không bao giờ tới. Nghĩa là mọi lời tốt ở cột giữa đều đã phải trừ đi sẵn một phần cho hai sát tinh ấy. Cột giữa là khi Đường Phù đi với chính tinh miếu vượng, có Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, có Khôi Việt Tả Hữu nâng; cột phải là khi cung ấy thêm sát tinh nặng, gặp Hóa Kỵ hoặc bị Tuần Triệt án ngữ.
| Cung | Đường Phù đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Quyền Khoa nâng | Đường Phù thất thế, thêm sát tinh, Hóa Kỵ hoặc Tuần Triệt |
|---|---|---|
| Mệnh | Dáng đi đứng có vẻ đường bệ, ăn nói có trọng lượng, người khác dễ tin giao việc. Hay được cử làm đại diện, làm trưởng nhóm, đứng tên. Thường thăng tiến bằng con đường được đề bạt chứ không bằng con đường tự lập ra. | Ra dáng mà không có thực lực đỡ, dễ thành người chuộng hình thức, thích chức danh hơn thích việc. Nhận cái ghế quá sức rồi phải gánh phần lỗi của người khác. |
| Huynh Đệ | Trong anh em hoặc trong nhóm cộng sự có người giữ vị trí, có tiếng nói, và người ấy hay đỡ được cho mình. Quan hệ đồng sự có tôn ti rõ ràng, ít lộn xộn. | Anh em phân chia thứ bậc quá rạch ròi thành xa cách; hoặc có người trong nhà mang chức phận rồi kéo cả nhà vào việc của họ. Hay có chuyện tranh phần hơn kém. |
| Phu Thê | Bạn đời là người có vị trí xã hội, có nghề nghiệp đàng hoàng, ăn nói đĩnh đạc. Hôn nhân thường được hai họ công nhận rõ ràng, cưới hỏi có nghi thức đầy đủ. | Bạn đời nặng thể diện, coi trọng cái danh bên ngoài hơn cái tình trong nhà. Hoặc một bên lấy chức phận ra để áp bên kia, sinh cảnh nhà mà như công đường. |
| Tử Tức | Con cái có nết chững chạc, biết trên biết dưới, dễ được thầy cô và người lớn tin cậy giao việc. Về sau con thường đi đường công chức, đoàn thể hoặc nghề có phẩm trật. | Con sớm quen được nể nên dễ tự cao, hoặc bị đặt kỳ vọng chức phận quá nặng thành áp lực. Cha mẹ hay lấy danh dự của mình ra đè lên con. |
| Tài Bạch | Tiền vào theo đường vị trí công việc: lương, phụ cấp, thù lao chức vụ, hoa hồng do đứng tên. Thu nhập ổn định, có sổ sách rõ ràng, ít khoản bất minh. | Tiền dính chặt vào cái ghế, mất ghế là mất nguồn. Thêm Kình Đà nặng thì dễ có chuyện tiếng ra tiếng vào về khoản thu ngoài lương, phải giữ sổ sách cho sạch. |
| Tật Ách | Sách không nói Đường Phù chủ bệnh gì, và bài này không bịa thêm. {SL} Chỉ nêu một quan sát về cấu trúc: cung Tật có Đường Phù thì luôn có Kình Dương tam hợp và Đà La xung chiếu, nên phần đáng đọc ở đây là hai sát tinh ấy chứ không phải Đường Phù. Người này khi ốm thường vẫn cố giữ việc, chữa muộn. | Vẫn là chuyện của Kình Đà và của chính tinh, cộng thêm nết ráng gượng vì sợ mất việc, mất mặt. Đây là chỗ Thầy dặn kỹ: đừng đọc tên sao thành bệnh. |
| Thiên Di | Ra ngoài được trọng, đi đâu cũng có người biết tên, dễ được mời giữ vai trò trong hội nhóm. Hợp với việc đại diện, đối ngoại, làm cầu nối. | Ra ngoài phải giữ thể diện quá mức nên mệt; hoặc danh đi trước người, tới nơi mới thì bị soi. Đà La ở cung đối diện Đường Phù nên thế này hay có chuyện dây dưa với người ngoài. |
| Nô Bộc | Bạn bè và người dưới có người giữ vị trí, quan hệ rộng theo chiều dọc. Nhờ vả được việc giấy tờ, thủ tục, giới thiệu. | Bạn bè kết theo chức chứ không theo tình, hết chức thì hết bạn. Người dưới nể mặt mà không phục lòng, nói sau lưng. |
| Quan Lộc | Đây là cung Đường Phù đắc dụng nhất. {KV} Sách nói sao này lợi ích cho công việc cầu công danh, và ở cung Quan thì lời ấy đúng nhất. Đường công danh đi bằng bậc thang, có bổ nhiệm, có phẩm trật, hợp cơ quan nhà nước, quân đội, giáo dục, đoàn thể, doanh nghiệp có tổ chức chặt. | Có danh vị mà không có quyền thật, ngồi ghế mà việc do người khác quyết. Hoặc lên chức đúng lúc đơn vị đang rối, thành người đứng mũi chịu sào. |
| Điền Trạch | {KV} Đây là lời sách rõ nhất về Đường Phù: giúp việc mua tậu nhà đất được dễ dàng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi. Nhà cửa có dáng bề thế, giấy tờ đất đai đứng tên đàng hoàng, ít tranh chấp. | Nhà to mà không hợp túi tiền, sửa sang chạy theo thể diện. Thêm Kình Đà và Hóa Kỵ thì hay có chuyện giấy tờ nhà đất chậm trễ, phải làm đi làm lại. |
| Phúc Đức | Trong họ có nề nếp, có người từng làm chức, có nhà thờ họ hoặc gia phong rõ. Người này trong lòng coi trọng danh dự, sống có khuôn phép, được hưởng phần phúc của tiếng thơm ấy. | Nề nếp thành gò bó, cả đời sống theo mắt người khác nhìn. Hay tự làm khổ mình vì một chữ thể diện, không dám bỏ cái không hợp. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ hoặc bề trên có vị trí, có uy trong nhà và ngoài xã hội, che chở được cho con về đường công danh. Quan hệ với cấp trên thường thuận. | Cha mẹ nghiêm quá hóa xa, hoặc lấy danh của mình đặt lên vai con. Với cấp trên thì kính mà không gần, có việc không dám nói thẳng. |
Mẹo đọc bảng này cho khỏi sai
{KN} Thầy chỉ ba nếp nhỏ. Thứ nhất, đọc cung chức trước, đọc sao sau. Đường Phù không mang theo một nội dung riêng đủ dày để tự nói; nó chỉ phủ thêm lớp danh phận lên nội dung sẵn có của cung. Cùng một sao ấy, ở Quan Lộc thì nói về ghế, ở Điền Trạch thì nói về nhà, ở Phu Thê thì nói về vị thế của bạn đời. Ai đọc ngược lại, tức lấy nghĩa uy nghi của sao rồi rắc đều lên mười hai cung, sẽ ra mười hai câu giống nhau và vô dụng.
{KN} Thứ hai, luôn trừ sẵn một phần cho Kình Đà. Vì cấu trúc buộc cung Đường Phù phải nhận cả hai sát tinh ấy, nên không có ô nào ở cột giữa là tốt trọn vẹn. Cách Thầy dùng là đọc xong lời tốt thì hỏi tiếp một câu: cái danh phận này sẽ va vào đâu. Câu trả lời gần như bao giờ cũng có, và nói ra trước thì người xem đỡ bất ngờ.
{KN} Thứ ba, đừng cộng Quốc Ấn vào cùng một ô. Vì hai sao cách nhau ba cung nên chúng luôn ở hai cung chức khác nhau, và hai cung ấy không chiếu nhau. Muốn luận bộ ấn tín cho đủ thì phải đọc hai cung riêng rồi ghép nghĩa lại, chẳng hạn Đường Phù ở Quan Lộc mà Quốc Ấn ở Điền Trạch thì đọc là chức phận ở ngoài, phần danh nghĩa và tài sản đứng tên ở trong nhà. Cộng chung hai sao vào một chỗ là sai ngay từ cấu trúc.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
{KN} Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thường ứng thành cái từ ngoài đưa tới. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, ứng thành hoàn cảnh chứ ít khi thành sự việc. Riêng với Đường Phù thì cấu trúc đã khóa sẵn mấy thế: Kình Dương chỉ có thể tam hợp chiếu, Đà La chỉ có thể xung chiếu, còn Lộc Tồn, Quốc Ấn và Đào Hoa thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.
{ico('check')}Đường Phù phát huy được khi gặp
- Hóa Quyền (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn có tác dụng): sao hợp nhất với Đường Phù trong cả lá số. Quyền cho cái thực, Đường Phù cho cái danh; hai thứ khớp nhau thì chức tới là chức có việc thật.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): danh phận tới bằng chuyên môn và bằng cấp, sạch tiếng, bền. Đây là thế hợp với người làm nghề cần chữ tín.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung mạnh nhất, tam hợp chiếu vẫn quý): quý nhân đưa đường, ứng vào việc được người trên tiến cử. {SL} Hai sao này cũng an theo can nhưng khoảng cách với Đường Phù thay đổi theo từng can, nên phải an ra rồi mới biết có được hay không.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất): có người phụ tá, chức phận không phải gánh một mình. Với cung Quan Lộc thì đây là thế rất đáng quý.
- Tấu Thư (luôn đồng cung nếu vòng Bác Sĩ đếm thuận): giấy tờ và văn thư đi cùng chức phận, việc bổ nhiệm rõ ràng có căn cứ.
- Hỷ Thần (luôn đồng cung nếu vòng Bác Sĩ đếm nghịch): tin vui đi cùng chức phận, thường ứng vào cái tin được cất nhắc.
- Thiên Mã (đồng cung được, vì Thiên Mã đóng tại Dần Thân Tỵ Hợi nằm trong tám cung của Đường Phù): chức phận gắn với việc đi xa, làm ở nơi khác, hoặc đường công danh mở ra khi rời quê.
- Chính tinh miếu vượng thuộc nhóm có tôn ti như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Tướng (đồng cung mạnh nhất): đây là nhóm chính tinh mang sẵn khí chức phận, cộng Đường Phù thì lớp danh phận dày lên rõ.
{ico('sai')}Đường Phù e ngại khi gặp
- Đà La (luôn xung chiếu, không tuổi nào tránh được): cái dây dưa nhìn thẳng vào cung chức phận. Ứng vào việc chậm trễ, thủ tục kéo dài, chuyện cũ chưa xong đã phải nhận việc mới. Đây là thế cố định nên không phải điềm xấu bất thường, mà là phần phải chấp nhận.
- Kình Dương (luôn tam hợp chiếu): cái sắc bén trong tam phương. Nhẹ thì là va chạm khi cầm việc, nặng thì là tranh chấp vị trí. Cộng thêm Hóa Kỵ hoặc Hỏa Linh thì mới thành chuyện lớn.
- Bạch Hổ (chỉ đồng cung được với sáu tuổi trong sáu mươi hoa giáp, xem mục hỏi đáp): {KV} Tân Biên chép Đường Phù gặp Bạch Hổ đồng cung thì có sự bắt bớ, tù đày. {SL} Xin đọc câu ấy với ba lớp điều kiện: phải đúng thế đồng cung chứ không phải chiếu, phải thêm sát tinh nặng, và phải rơi vào cung Quan hoặc cung Tật thì mới bàn. Một sao nhỏ không định đoạt được chuyện lớn như vậy.
- Hóa Kỵ (đồng cung mạnh nhất): chức phận thành cái vướng, ngồi vào chỗ có sẵn rối.
- Không Kiếp (đồng cung mạnh nhất): danh phận dựng lên rồi tan, hoặc chức đến mà không giữ được. Với cung Điền Trạch thì phần nhà đất dễ hụt.
- Tuần Triệt án ngữ (đè thẳng lên cung): lớp danh phận bị chặn, hay ứng vào việc bổ nhiệm hụt, quyết định treo, chức có tên mà không có thực. {KN} Thầy thấy thế này hay ứng vào nửa đời trước rồi qua tuổi trung niên mới thông.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung hoặc xung chiếu): nóng nảy khi cầm việc, dễ mất chức vì một lúc không giữ được lời.
- Đại Hao, Tiểu Hao (đồng cung hoặc tam hợp): giữ chức mà hao của, phần chi cho thể diện lớn hơn phần thu.
Tóm lại, Đường Phù là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
9 Đường Phù Trong Đại Vận Và Lưu Niên
{SL} Mọi mục phía trên nói về Đường Phù tĩnh, tức nó nằm ở cung nào và đi với sao nào. Mục này nói phần động: khi quãng mười năm hoặc một năm chạm vào cung ấy thì đọc ra sao. Đây cũng là chỗ hay bị nói quá, nên Thầy viết kỹ và nói rõ chỗ nào chắc chỗ nào chỉ là nguyên tắc.
Đại vận đi vào cung có Đường Phù
{KN} Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Đường Phù bản mệnh, cả mười năm ấy được nhuộm một sắc thái: đây là quãng đời mà chuyện danh phận nổi lên thành việc chính. Không phải mười năm nào cũng lên chức, mà là mười năm mà những việc thuộc loại được giao vai, được đứng tên, được công nhận sẽ dồn về. Với người đi làm công thì đây thường là quãng được đề bạt, được cử đi học, được giao quản một mảng. Với người làm nghề tự do thì là quãng bắt đầu có tiếng, có người biết tên, được mời làm đại diện. Với người đã có vị trí thì là quãng phải đứng ra chịu trách nhiệm nhiều hơn.
{SL} Hai điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Đường Phù. Thứ nhất, vì Đà La luôn ở cung xung chiếu, nên đại vận vào cung Đường Phù bao giờ cũng đồng thời nhận Đà La chiếu thẳng vào cung đại vận. Nghĩa là quãng ấy hầu như luôn có một chuyện kéo dài, một thủ tục chậm, một người cũ chưa dứt. Ai biết trước điều này thì đỡ hoang mang, vì đó không phải điềm riêng của mình mà là phần cứng của cấu trúc. Thứ hai, phải xem cung đại vận ấy đồng thời là cung chức gì trên lá số gốc: rơi vào Quan Lộc thì nghĩa thăng tiến rõ nhất, rơi vào Điền Trạch thì nghiêng về nhà đất và giấy tờ đứng tên, rơi vào Phu Thê thì thường ứng vào việc cưới hỏi có nghi thức hoặc bạn đời đổi vị trí.
{KN} Ngược lại, đại vận vào cung có Đường Phù mà cung ấy đang bị Triệt, hoặc có Không Kiếp, Hóa Kỵ, thì mười năm ấy là mười năm nhiều lần tưởng lên mà không lên: có tên trong danh sách rồi rút ra, được hứa rồi hoãn, giữ chức tạm quyền mãi không chính thức. Thầy hay khuyên người rơi vào thế này đừng dồn cả mười năm vào việc chạy chức, mà nên dùng quãng ấy dựng chuyên môn cho chắc, vì lớp danh phận khi tới sau sẽ bám vào chuyên môn chứ không bám vào quan hệ.
Đường Phù có bản lưu niên hay không
{SL} Phải nói rõ ràng chỗ này vì hay bị lẫn. Trong khoa Tử Vi, những sao an theo can hoặc chi của năm sinh thì về nguyên tắc đều lập được bản lưu, bằng cách lấy đúng công thức ấy áp cho can chi của năm đang xem. Vòng Thái Tuế lưu theo chi năm xem, Lộc Tồn cùng Kình Đà và cả vòng Bác Sĩ lưu theo can năm xem. Đường Phù an theo can năm sinh nên lập được bản lưu theo can của năm đang xem, cùng một cơ chế với lưu Lộc Tồn. Ngược lại, những sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh như Thiên Hình, Thiên Riêu, Tả Hữu, Xương Khúc, Không Kiếp thì không có bản lưu, vì năm không có tháng sinh và giờ sinh để mà thay vào.
{SL} Cần nói thêm một câu cho thật thà: bộ lưu sao được các sách bàn kỹ nhất chỉ gồm lưu Thái Tuế, lưu Tang Hổ, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Mã. Lưu Đường Phù không phải là một sao được sách lập thành mục riêng, nó là hệ quả của việc áp công thức an sao cho can năm xem. Thầy nêu bảng dưới đây để quý vị đối chiếu chứ không dùng nó làm căn cứ chính khi luận hạn. Cột đáng dùng nhất trong bảng vẫn là lưu Lộc Tồn và lưu Kình Đà.
{BANG_LUU}{SL} Đọc bảng thì thấy hai điều tiện. Thứ nhất, vì cả năm cột đều sinh ra từ một cung Lộc Tồn của năm, nên biết lưu Lộc Tồn của năm là biết cả bốn cột kia: lùi một cung ra lưu Đà La, tiến một cung ra lưu Kình Dương, tiến năm cung ra lưu Đường Phù, tiến tám cung ra lưu Quốc Ấn. Thứ hai, cứ mười năm thì can lặp lại, nên bảng này lặp theo chu kỳ mười năm, quý vị nhớ một vòng là dùng được mãi.
Những lưu sao chạm vào cung Đường Phù
{KN} Khi xem một năm cụ thể, Thầy nhìn bốn thứ chạm vào cung có Đường Phù bản mệnh. Lưu Thái Tuế tới cung ấy thì năm đó danh phận thành chuyện chính, hay có việc được xướng tên, mà cũng hay có chuyện phải ra mặt. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới thì phần va chạm và dây dưa của chức phận nổi lên, năm ấy nên cẩn thận lời ăn tiếng nói trong công việc. Lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ tới thì đây chính là lúc câu sách về Bạch Hổ đáng đem ra soi, nhưng vẫn phải đủ ba điều kiện đã nêu ở mục trên chứ không được phán vội. Lưu Khôi Việt tới thì năm ấy dễ có người tiến cử, là năm nên nộp hồ sơ, nên nhận lời.
{SL} Cuối cùng là một lời nhắc về thứ tự. Đường Phù là phụ tinh nhỏ, trong một năm hạn nó không bao giờ là căn cứ đầu tiên. Thứ tự đúng khi xem một năm là: cung đại hạn trước, cung tiểu hạn và lưu niên sau, xem chính tinh của cung ấy và hóa của nó, đếm sát tinh, xem Tuần Triệt, rồi mới hỏi Đường Phù có mặt hay không và nó nói thêm được gì. Ai lật ngược thứ tự ấy, thấy Đường Phù rồi phán năm nay lên chức, thì sẽ sai nhiều hơn đúng.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đường Phù
{SL} Đường Phù là một phụ tinh nhỏ, lời sách về nó chỉ gói trong vài dòng. Chính vì ít lời mà nó hay bị đắp thêm, nên mục này Thầy viết để trả nó về đúng kích thước.
Hiểu lầm một: Đường Phù và Quốc Ấn luôn đi với nhau nên cứ ghép chung mà luận
{SL} Đây là hiểu lầm phổ biến nhất, và nó sai ngay ở tầng cấu trúc. Hai sao đúng là cùng an theo can năm sinh và cùng chủ về chức phận, nên sách xếp cạnh nhau khi giảng nghĩa. Nhưng máy chạy đủ mười can cho ra một con số không đổi: hai sao luôn cách nhau đúng ba cung. Ba là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên Quốc Ấn và Đường Phù không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp trên bất kỳ lá số nào. Câu cặp Ấn Phù tăng uy quyền, nếu hiểu là hai sao chồng lên nhau cho lực gấp đôi, thì không có căn cứ. Cách hiểu đúng là: hai sao chia nhau hai cung chức khác nhau, mỗi sao phủ danh phận lên phần việc của cung nó đóng, và người luận phải đọc hai cung riêng rồi mới ghép nghĩa.
Hiểu lầm hai: có Đường Phù là sẽ được thăng chức
{KN} Ai cũng có Đường Phù, vì nó an theo can năm sinh nên mười can đều có, không ai thiếu. Một thứ mà mười người có đủ mười thì không thể là căn cứ để nói người này hơn người kia. Cái làm nên đường công danh trên lá số là chính tinh cung Quan Lộc, là Hóa Quyền và Hóa Khoa, là bộ Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc, là thế tam phương của cung Mệnh và cung Quan; Đường Phù chỉ là một lớp phủ mỏng. {SL} Thầy hay ví: nó giống cái biển tên đặt trên bàn làm việc. Biển tên đẹp thì người vào phòng biết mình là ai, nhưng nó không làm ra cái phòng, cũng không làm ra cái việc.
Hiểu lầm ba: Đường Phù là sao nhà đất, thấy nó ở đâu cũng nói chuyện nhà cửa
{KV} Tân Biên nói ba nghĩa cho Đường Phù: vẻ đường bệ uy nghi, lợi cho việc cầu công danh, và giúp việc mua tậu nhà đất được dễ dàng, làm nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Nghĩa thứ ba là nghĩa thật, có trong sách, không phải người sau thêm vào. {SL} Nhưng nó là nghĩa ứng vào cung Điền Trạch, chứ không phải bản chất của sao. Đường Phù ở cung Phu Thê thì nói về vị thế của bạn đời, ở cung Tật Ách thì gần như không nói gì, ở cung Nô Bộc thì nói về quan hệ theo chiều dọc. Đem nghĩa nhà đất rắc đều lên mười hai cung là lối đọc lười. Cung mới là chủ đề, sao chỉ là màu.
Hiểu lầm bốn: Đường Phù gặp Bạch Hổ là tù đày
{KV} Câu Đường Phù gặp Bạch Hổ đồng cung thì có sự bắt bớ, tù đày là câu có trong sách, bài này không gạt đi. {SL} Nhưng phải đặt ba giới hạn cho đúng. Thứ nhất là giới hạn về xác suất: chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì chỉ sáu tuổi cho thế đồng cung ấy, tức một phần mười; với năm mươi bốn tuổi còn lại thì câu này không áp được. Thứ hai là giới hạn về vị thế: sách nói đồng cung, không nói chiếu; hai sao đứng cách nhau thì không tính. Thứ ba là giới hạn về tầm vóc: Đường Phù và Bạch Hổ đều là phụ tinh, hai phụ tinh cộng lại không đủ sức phán một việc nặng như tù tội. Muốn bàn tới chuyện ấy phải có chính tinh hãm, sát tinh tụ, Hóa Kỵ, cung Quan hoặc cung Tật hỏng, và phải có vận hạn dẫn tới. {KN} Thầy nói thẳng: người luận mệnh mà chỉ nhìn hai ngôi sao nhỏ rồi dọa người ta chuyện lao lý là làm hỏng nghề, và làm hỏng cả một quãng đời của người tin mình.
Hiểu lầm năm: Đường Phù trong Tử Vi cũng là Đường Phù trong lịch chọn ngày
{SL} Trong các bộ lịch chọn ngày giờ và trong một số hệ thần sát khác cũng có tên Đường Phù. Hai bên trùng tên mà khác hẳn cách tính, khác phạm vi áp dụng, khác cả nội dung. Đường Phù của khoa Tử Vi an theo can năm sinh trên địa bàn mười hai cung của một lá số cụ thể, không liên quan tới việc chọn ngày tốt xấu. Đem nghĩa của bên này gán cho bên kia là lẫn hai hệ, và đây là lỗi rất hay gặp khi tra cứu trên mạng.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Đường Phù Qua Ba Bước
{SL} Lý thuyết ở trên chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Canh Thìn, sinh tháng ba âm lịch giờ Mão, Tử Vi an tại Sửu, Mệnh an tại Sửu. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng các sao của bài này thì lưới không vẽ, Thầy ghi rõ ra đây để đối chiếu: tuổi Canh nên Lộc Tồn tại Thân, do đó Đường Phù tại Sửu, Quốc Ấn tại Thìn, Kình Dương tại Dậu, Đà La tại Mùi. Tuổi Thìn nên Thái Tuế tại Thìn, Bạch Hổ tại Tý, Tang Môn tại Ngọ, Đào Hoa tại Dậu, Thiên Mã tại Dần.
{LASO}Bước một: Đường Phù nằm ở cung chức nào và đi với ai
{SL} Mệnh an tại Sửu nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Sửu là Mệnh, Tý là Huynh Đệ, Hợi là Phu Thê, Tuất là Tử Tức, Dậu là Tài Bạch, Thân là Tật Ách, Mùi là Thiên Di, Ngọ là Nô Bộc, Tỵ là Quan Lộc, Thìn là Điền Trạch, Mão là Phúc Đức, Dần là Phụ Mẫu. Vậy Đường Phù rơi đúng vào cung Mệnh tại Sửu, còn Quốc Ấn rơi vào cung Điền Trạch tại Thìn. Hai sao ấn tín ở hai cung cách nhau ba, đúng như cấu trúc đã nói, và không chiếu nhau.
{SL} Chính tinh tại Sửu là Tử Vi và Phá Quân đồng cung. Đây là một thế rất hợp để xem Đường Phù, vì Tử Vi vốn là đế tinh mang sẵn khí chức phận, còn Phá Quân thì chủ phá cũ dựng mới. Kiểm tiếp cấu trúc bắt buộc: cung đối diện là Mùi tức Thiên Di, có Thiên Tướng hóa Kỵ và Đà La, đúng thế Đà La luôn xung chiếu Đường Phù. Tam phương chiếu về là Dậu tức Tài Bạch có Vũ Khúc hóa Quyền cùng Kình Dương, đúng thế Kình Dương luôn tam hợp Đường Phù; và Tỵ tức Quan Lộc có Liêm Trinh Tham Lang. Lộc Tồn thì nằm tại Thân, tức cung Tật Ách, và như cấu trúc đã báo trước, nó không chiếu tới cung Mệnh.
Bước hai: đọc lớp danh phận sau khi đã trừ phần sát
{KN} Thứ tự đọc phải là chính tinh trước. Tử Vi Phá Quân tại Sửu cho một người có khí chất chỉ huy mà không êm, thích dựng lại cái đang có hơn là giữ cái sẵn. Cộng Đường Phù vào thì lớp danh phận rõ hẳn: người này hay được đặt vào vị trí đứng đầu một việc mới, được giao đúng lúc mọi thứ còn ngổn ngang. Đó là chỗ Tử Phá và Đường Phù gặp nhau.
{SL} Nhưng phải trừ ngay hai phần. Thứ nhất, Đà La ở Thiên Di cùng Thiên Tướng hóa Kỵ chiếu thẳng vào Mệnh: ra ngoài thì việc hay dây dưa, hồ sơ hay phải làm lại, người ngoài hay hiểu nhầm. Thứ hai, Kình Dương ở Tài Bạch chiếu về: chuyện tiền bạc gắn với vị trí công việc thì hay có phần sắc bén, dễ va chạm về quyền lợi. Cộng lại thành một chân dung khá thật: được giao việc sớm, làm được việc, mà đường đi thì gập ghềnh về mặt thủ tục và quan hệ. Đây đúng là cái mà cấu trúc đã báo từ đầu bài, rằng cung Đường Phù luôn nhận đủ cả Kình lẫn Đà.
Bước ba: ghép nghĩa với cung Quốc Ấn rồi mới kết luận
{SL} Quốc Ấn tại Thìn là cung Điền Trạch, cung ấy có Thái Âm. Vì hai sao ấn tín không chiếu nhau nên phải đọc rời rồi ghép: Đường Phù ở Mệnh là danh phận gắn vào bản thân, Quốc Ấn ở Điền Trạch là phần đứng tên gắn vào nhà cửa và tài sản. Ghép lại thì hình ảnh khá gọn: người này danh phận nằm ở chỗ mình đứng ra làm, còn phần công nhận về giấy tờ thì nằm ở nhà đất. Với lá số này, việc mua nhà đứng tên chính chủ và giữ giấy tờ cho sạch là việc đáng làm sớm, vì nó là chỗ Quốc Ấn đóng.
{KN} Thêm một chi tiết đáng nói của tuổi Canh Thìn. Bạch Hổ của tuổi Thìn an tại Tý, tức cung Huynh Đệ, còn Đường Phù ở Sửu. Hai sao đứng liền kề chứ không đồng cung, nên câu sách về bắt bớ tù đày không áp được cho lá số này. Thầy nêu ra để quý vị thấy cách kiểm: gặp một câu sách nói về hai sao, việc đầu tiên phải làm là an cả hai ra rồi nhìn khoảng cách, chứ không phải nhớ câu sách rồi đi tìm cách áp.
{ico('laban')}Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Vẫn tuổi Canh nhưng sinh tháng khác, giờ khác nên Mệnh không còn ở Sửu. Đường Phù vẫn nằm nguyên tại Sửu vì nó chỉ theo can, nhưng nó không còn là sao thủ Mệnh nữa mà rơi vào một cung chức khác. Ví dụ Mệnh an tại Tỵ thì Sửu thành cung Tài Bạch, khi ấy lớp danh phận chuyển sang chuyện tiền theo chức, và toàn bộ phần luận ở bước hai phải đọc lại theo lĩnh vực của cung Tài chứ không còn là chuyện bản thân.
- Đổi sang tuổi Nhâm. Lộc Tồn dời về Hợi, kéo theo Đường Phù về Thìn, Quốc Ấn về Mùi, Kình Dương về Tý, Đà La về Tuất. Tuổi Nhâm thì Tử Vi hóa Quyền và Vũ Khúc hóa Kỵ, nên nếu cung có Đường Phù lại có Tử Vi thì đó là thế Đường Phù đi cùng Hóa Quyền, tức danh phận có thực quyền đỡ, đọc mạnh hơn hẳn lá số trên. Đây cũng là một trong hai tuổi hiếm mà Đường Phù có thể đồng cung Bạch Hổ, cụ thể là tuổi Nhâm Thân, cả hai cùng tại Thìn.
- Đổi sang tuổi Quý. Lộc Tồn về Tý, Đường Phù về Tỵ, Quốc Ấn về Thân. Tuổi Quý thì Phá Quân hóa Lộc và Tham Lang hóa Kỵ. Nếu cung Đường Phù tại Tỵ có Liêm Trinh Tham Lang như lá số minh họa thì thành thế Đường Phù ngồi cùng Hóa Kỵ, đọc theo hướng chức phận đi kèm cái vướng, phải cẩn thận chuyện người và chuyện tiếng. Cùng một cung Tỵ, cùng một cặp chính tinh, mà đổi can thì hai lời luận ngược nhau.
{SL} Ba trường hợp trên cho thấy một điều: vị trí của Đường Phù thì cứng, nhưng nghĩa của nó thì mềm, và cái làm nó đổi nghĩa là cung chức nó rơi vào cùng hóa của chính tinh đồng cung. Quý vị muốn biết Đường Phù của mình đóng ở đâu và đi với ai thì an lá số Tử Vi tại đây, xem cung nào có nó, rồi đọc lại ba bước trên theo đúng cung chức của mình.
12 Lời Khuyên Và Cách Dùng Đường Phù Cho Đúng
{KN} Với một sao chủ danh phận thì lời khuyên phải nói hai chiều: cách dùng cho hết phần nó cho, và cách không để nó thành cái bẫy thể diện. Thầy chia làm ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Đường Phù cho
- Nhận việc khi được gọi tên. Cái sao này cho là cơ hội được giao vai, mà cơ hội ấy thường tới dưới dạng một lời đề nghị chứ không phải một cánh cửa mở sẵn. {KN} Thầy thấy nhiều người có Đường Phù đẹp mà đứng yên, vì nghĩ mình chưa đủ giỏi. Trong khi cấu trúc của họ là được đề bạt rồi mới lớn lên trong việc, không phải giỏi đủ rồi mới được gọi.
- Giữ giấy tờ cho sạch. Vì Đường Phù luôn chồng lên Tấu Thư hoặc Hỷ Thần, tức luôn dính tới văn thư và tin tức, nên phần hồ sơ, bằng cấp, hợp đồng, quyết định bổ nhiệm với người này quan trọng hơn với người khác. Thiếu một tờ giấy có khi mất cả một cơ hội.
- Chọn nghề có bậc thang. {KN} Người có Đường Phù ở Mệnh hoặc ở Quan Lộc thường phát tốt trong những môi trường có phẩm trật rõ ràng: cơ quan nhà nước, quân đội và công an, giáo dục, y tế công, ngân hàng, doanh nghiệp có tổ chức chặt, các hội đoàn nghề nghiệp. Ngược lại, môi trường quá tự do, không ai công nhận ai, thì họ dễ hụt hẫng. Đây là gợi ý chọn hướng chứ không phải lời phán.
- Dùng đúng lúc. Sức của sao này dày nhất khi đại vận hoặc lưu niên chạm vào cung nó đóng. Ai biết mình đang ở quãng ấy thì nên chủ động ứng tuyển, nộp hồ sơ, nhận lời mời, làm thủ tục nhà đất. Qua quãng ấy thì việc lại nặng hơn.
Đừng để Đường Phù thành cái bẫy
- Đừng lấy chức danh thay cho năng lực. Cái hại lớn nhất của sao này là làm người ta quen với việc được nể. Nể là thứ mượn được, năng lực thì không.
- Trước khi nhận ghế, hỏi xem Đà La đang ở đâu. Nói bằng lời thường: trước khi nhận một vị trí, hỏi cho rõ chỗ ấy đang tồn đọng chuyện gì, ai là người cũ, còn vướng gì chưa xong. Cấu trúc đã báo trước rằng cung Đường Phù luôn có Đà La nhìn vào, nên chuyện tồn đọng gần như luôn có; biết trước thì thương lượng được, không biết thì phải gánh.
- Đếm sát tinh trước khi mừng. Cung có Đường Phù mà từ hai sát tinh trở lên, lại thêm Hóa Kỵ hoặc Tuần Triệt, thì đó là cái ghế nóng chứ không phải cái ghế tốt. Nhận hay không là quyền của quý vị, nhưng nên nhận với con mắt mở.
- Đừng để thể diện quyết định việc nhà. Với cung Điền Trạch thì lời sách rất thuận, mua tậu dễ và nhà cửa cao đẹp; nhưng cao đẹp quá sức mình thì thành gánh. Mua nhà theo khả năng trả, không theo con mắt người ngoài nhìn.
Điều Thầy muốn nói thẳng
{SL} Không có phép nào đổi được vị trí của Đường Phù, vì nó do can năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là quý vị chuẩn bị gì cho ngày được gọi tên. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Đường Phù, mở được đường quan lộc, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua. Cách bồi đắp có thật của người xưa với đường công danh cũng rất đời: học cho đủ nghề, giữ chữ tín, đối đãi tử tế với người dưới, và không tranh cái không phải phần mình.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người muốn nương theo khí chức phận có thể giữ bàn làm việc gọn, có một chỗ cố định để lưu hồ sơ và bằng cấp, đặt lưng ghế tựa vào tường thay vì tựa vào cửa, vì đó là nếp làm cho người ngồi thấy vững chứ không phải bùa chú. Trang phục khi đi việc quan trọng nên chỉnh tề, đây là cách bày tỏ sự tôn trọng chỗ mình tới, và người xưa gọi đó là giữ lễ. Trong nhà nên có một nơi để giấy tờ nhà đất và giấy tờ tùy thân, có bản sao dự phòng, vì Đường Phù chủ phần danh nghĩa mà danh nghĩa thì nằm trên giấy. Việc đứng ra nhận một phần trách nhiệm trong họ, trong khu phố, trong hội nghề, cũng nên coi là một dạng vun đắp thật cho phần danh phận của mình. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Đường Phù: sao có vẻ đường bệ, uy nghi; lợi ích cho công việc cầu công danh; giúp cho việc mua tậu nhà đất được dễ dàng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi; gặp Bạch Hổ đồng cung thì có sự bắt bớ, tù đày. Cùng phần ấy, mục Quốc Ấn dùng để đối chiếu nghĩa bộ ấn tín. Sách không lập câu phú riêng cho Đường Phù, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ. Sách cũng không nói Đường Phù chủ bệnh gì, nên ô Tật Ách trong bảng mười hai cung chức ghi thẳng là sách không nói.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: dùng để kiểm lại phép an theo can năm sinh lấy cung Lộc Tồn làm mốc, và thứ tự mười hai sao vòng Bác Sĩ cùng quy tắc đổi chiều thuận nghịch theo âm dương nam nữ trình bày ở mục quan hệ cố định.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài được sinh và kiểm bằng chương trình chạy đủ mười thiên can, mười hai địa chi, sáu mươi hoa giáp và mười hai thế Tử Vi. Cụ thể đã kiểm: bảng vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Quốc Ấn, Đường Phù theo mười can; kết luận Đường Phù chỉ đóng tại tám cung Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi và vĩnh viễn không tới Tý, Ngọ, Mão, Dậu; kết luận Đường Phù luôn cách Lộc Tồn đúng năm cung nên không bao giờ hội chiếu, luôn cách Kình Dương bốn cung tức luôn tam hợp, luôn cách Đà La sáu cung tức luôn xung chiếu, đúng mười trên mười can; kết luận Đường Phù luôn cách Quốc Ấn đúng ba cung nên hai sao không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp; kết luận Quốc Ấn thì ngược lại, luôn tam hợp Lộc Tồn và không bao giờ dính Kình Đà; kết luận Đường Phù luôn đồng cung Tấu Thư khi vòng Bác Sĩ đếm thuận và luôn đồng cung Hỷ Thần khi đếm nghịch, còn Quốc Ấn luôn đồng cung Bệnh Phù khi thuận và Tướng Quân khi nghịch; kết luận Đường Phù luôn cách Lưu Niên Văn Tinh đúng hai cung; kết luận Đường Phù không bao giờ đồng cung và không bao giờ xung chiếu Đào Hoa vì Đào Hoa chỉ đóng tại tứ chính; kết luận chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì chỉ sáu tuổi cho thế Đường Phù đồng cung Bạch Hổ, là Bính Dần và Mậu Dần tại Tuất, Đinh Mão và Kỷ Mão tại Hợi, Nhâm Thân tại Thìn, Quý Dậu tại Tỵ; danh sách chính tinh có thể đồng cung với Đường Phù tại từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể và cung ấy cũng có thể trống. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Đường Phù không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.
Lưu ý về dị bản: cách an Đường Phù có dị bản giữa các tài liệu. Bài này trình bày theo thuật toán đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, tức lấy cung Lộc Tồn của tuổi rồi đếm lùi bảy cung. Một số tài liệu an Đường Phù theo cách khác, khi ấy các khoảng cách cố định nêu trong bài sẽ không còn đúng, và người luận phải nói rõ mình dùng cách an nào trước khi kết luận. Đây là khác biệt giữa các phái chứ không phải lỗi của bên nào. Cũng cần phân biệt Đường Phù của khoa Tử Vi với các thần sát trùng tên trong lịch chọn ngày giờ của khoa trạch nhật: hai hệ khác cách tính và khác phạm vi áp dụng. Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ khi tra bảng vòng. Một số tài liệu lưu truyền trong dân gian gán cho Đường Phù những câu phú mà bài này không dẫn, vì chưa đối chiếu được với bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Đường Phù
Đường Phù là sao chủ vẻ đường bệ và uy nghi trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc, đi cặp với Quốc Ấn. Sao lợi cho công danh và giúp việc mua tậu nhà đất được dễ dàng, làm nhà đất thêm cao đẹp.
Đường Phù gặp Bạch Hổ đồng cung thì có sự bắt bớ, tù đày. Đây là thế xấu cần lưu ý, khác hẳn tính tốt lành vốn có của Đường Phù về công danh, nhà đất.
Đường Phù ở Điền Trạch giúp việc mua tậu nhà đất dễ dàng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi, nhất là khi đi cùng Quốc Ấn và cát tinh.
Đường Phù an theo tuổi, đi cặp với Quốc Ấn trong lá số.
Không, và đây là điều đáng ngạc nhiên nhất khi chạy máy đối với một cặp sao vẫn được gọi chung là bộ ấn tín. Trên thuật toán an sao đang chạy của thayungkhiem.vn, Đường Phù an tại cung Lộc Tồn đếm lùi bảy cung, còn Quốc Ấn an tại cung Lộc Tồn đếm thuận tám cung, nên khoảng cách giữa hai sao luôn đúng ba cung ở cả mười can, không có ngoại lệ. Ba cung là số lẻ, mà đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, đều là số chẵn. Kết luận: Quốc Ấn và Đường Phù vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp trên bất kỳ lá số nào. Hai sao vẫn đi thành cặp theo nghĩa là cùng an theo can năm sinh và cùng chủ chức phận, nhưng chúng là hai điểm rời trên địa bàn chứ không phải một khối.
Không bao giờ. Đường Phù luôn cách Lộc Tồn đúng năm cung ở cả mười can, mà năm là số lẻ nên không rơi vào bất cứ thế hội chiếu nào. Trớ trêu là chính hai sát tinh đi kèm Lộc Tồn thì lại luôn tới được: Kình Dương luôn tam hợp chiếu về cung Đường Phù, Đà La luôn xung chiếu thẳng vào cung Đường Phù, cả hai đúng mười trên mười can. Nói gọn: cung Đường Phù luôn nhận được sát khí của bộ Kình Đà mà vĩnh viễn không nhận được lộc khí của Lộc Tồn. Ngược lại Quốc Ấn thì luôn tam hợp Lộc Tồn và không dính Kình Đà. Hai sao ấn tín chia nhau hai phần rất khác nhau của cùng một bộ.
Vì Lộc Tồn không bao giờ an tại bốn cung ấy, và Đường Phù chỉ là Lộc Tồn dời đi một khoảng cố định. Chạy đủ mười can thì Đường Phù lần lượt rơi vào Mùi, Thân, Tuất, Hợi, Tuất, Hợi, Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, tức chỉ tám cung, và bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu vĩnh viễn trống chỗ này. Một hệ quả tiện dụng: Đào Hoa chỉ đóng tại đúng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nên Đường Phù và Đào Hoa không bao giờ đồng cung được, ở bất kỳ tuổi nào. Sao chức phận và sao hoa nguyệt không ngồi chung ghế.
Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì chỉ có sáu tuổi cho thế đồng cung ấy, tức đúng một phần mười số người: tuổi Bính Dần và Mậu Dần thì cả hai sao cùng tại Tuất, tuổi Đinh Mão và Kỷ Mão thì cùng tại Hợi, tuổi Nhâm Thân thì cùng tại Thìn, tuổi Quý Dậu thì cùng tại Tỵ. Ngoài sáu tuổi ấy ra, hai sao chỉ có thể đứng cách nhau, và câu sách nói Đường Phù gặp Bạch Hổ có bắt bớ tù đày không áp được. Ngay cả với sáu tuổi kia, đó cũng chỉ là một điều kiện cần rất nhẹ chứ không phải một lời phán; phải có sát tinh nặng, Hóa Kỵ và cung Quan hoặc cung Tật hỏng thì mới bàn tiếp.