1 Sao Giải Thần là gì

Giải Thần là sao chuyên về giải trừ, ngũ hành Mộc, an theo địa chi năm sinh. Tên Giải Thần nghĩa là vị thần hóa giải, nên sao gắn với việc tháo gỡ tai ách, bệnh tật và những điều không may.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Giải Thần an theo địa chi năm sinh, và đếm nghịch. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung Tuất rồi đếm ngược chiều kim đồng hồ đi số bước bằng thứ tự chi năm sinh, tính Tý là không bước, Sửu một bước, Dần hai bước, cứ thế. Người tuổi Tý thì Giải Thần đứng nguyên ở Tuất, tuổi Sửu lùi xuống Dậu, tuổi Dần xuống Thân. Vì tham số chỉ là chi năm sinh nên vị trí Giải Thần cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi con giáp thì Giải Thần luôn đóng cùng một cung địa chi.
Suy luận Điều quan trọng nhất phải nói ngay: trên thuật toán an sao đang chạy của thayungkhiem.vn, công thức của Giải Thần trùng khít công thức của Phượng Các. Hai sao dùng chung đúng một phép đếm, nên máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả đồng cung mười hai trên mười hai lần, không sót tuổi nào. Hễ thấy Phượng Các là thấy Giải Thần, và ngược lại. Đây không phải một nhận xét luận giải mà là một sự thật của cách an, quý vị đối chiếu hai cột cuối của bảng dưới đây sẽ thấy chúng giống nhau từng dòng.
| Tuổi chi | Long Trì | Phượng Các | Giải Thần |
|---|---|---|---|
| Tý | Thìn | Tuất | Tuất |
| Sửu | Tỵ | Dậu | Dậu |
| Dần | Ngọ | Thân | Thân |
| Mão | Mùi | Mùi | Mùi |
| Thìn | Thân | Ngọ | Ngọ |
| Tỵ | Dậu | Tỵ | Tỵ |
| Ngọ | Tuất | Thìn | Thìn |
| Mùi | Hợi | Mão | Mão |
| Thân | Tý | Dần | Dần |
| Dậu | Sửu | Sửu | Sửu |
| Tuất | Dần | Tý | Tý |
| Hợi | Mão | Hợi | Hợi |
Bảy điều bất biến của Giải Thần, đã chạy đủ mười hai chi bằng máy
- Giải Thần đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai chi thì Giải Thần lần lượt rơi vào Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, Hợi. Mười hai tuổi cho mười hai cung khác nhau, phủ kín địa bàn, nên mọi lá số đều có Giải Thần. Đây là điều phải nhớ trước tiên khi nghe nói tới sao giải trừ tai ách: nếu chỉ cần có Giải Thần là qua nạn thì không ai gặp nạn cả.
- Giải Thần luôn đồng cung Phượng Các. Không tuổi nào tách được. Hệ quả khi luận: cung có Giải Thần bao giờ cũng mang thêm khí khoa giáp, danh dự và dung mạo. Hai lớp nghĩa này rất khác nhau, người luận phải tách ra chứ đừng trộn làm một rồi nói bừa rằng Phượng Các là sao giải hạn.
- Giải Thần luôn tam hợp chiếu Thiên Khốc. Cách bốn cung, đúng mười hai trên mười hai tuổi. Thiên Khốc chủ tiếng khóc, sự buồn thương. Cấu trúc gài sẵn một sao buồn vào tam giác của sao giải nạn, và đây là hình ảnh rất đúng với thực tế: cái được tháo gỡ bao giờ cũng là cái đã từng làm người ta khổ.
- Giải Thần luôn có Thiên Hỷ ở cung liền kề, cách đúng một cung, mười hai trên mười hai tuổi. Nhưng kề không phải là hội chiếu, nên hai sao chỉ giáp nhau chứ không cộng lực được bao giờ.
- Giải Thần có hai điểm bất động là Tỵ và Hợi. Người tuổi Tỵ thì Giải Thần đóng ngay tại Tỵ, người tuổi Hợi thì đóng ngay tại Hợi, tức trùng cung mang tên tuổi mình và trùng luôn cung Thái Tuế. Đây là hai tuổi duy nhất mà Giải Thần đồng cung Thái Tuế, tức sao giải nạn ngồi ngay trên cung tuổi.
- Giải Thần vĩnh viễn không hội chiếu được với bốn sao mang chữ đức. Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức và Nguyệt Đức đều đứng ở vị trí lẻ tính từ cung Thái Tuế, còn Giải Thần đếm nghịch từ Tuất, nên khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ. Mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Đây là phát hiện quan trọng nhất của bài, và nó bác bỏ trực tiếp một câu rất hay được chép lại, xin xem kỹ mục sau.
- Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Giải Thần. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Giải Thần thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại bất cứ cung nào, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Giải Thần vì vậy phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng.
Mười ba ngôi sao mà Giải Thần không bao giờ gặp được
Suy luận Danh sách dưới đây do máy sinh ra chứ không do trí nhớ. Nguyên tắc thì chỉ có một câu: hai sao muốn hội chiếu nhau phải cách nhau một số chẵn cung, vì đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám. Sao nào luôn cách Giải Thần một số lẻ cung thì vĩnh viễn nằm ngoài tầm.
| Sao | Sao ấy là gì | Vì sao không bao giờ gặp được |
|---|---|---|
| Long Đức | Phúc tinh vòng Thái Tuế, chủ giải trừ tai họa | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Phúc Đức | Phúc tinh mạnh nhất vòng Thái Tuế | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Thiên Đức | Phúc tinh nhỏ, luôn trùng cung Phúc Đức | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Nguyệt Đức | Phúc tinh nhỏ, luôn trùng cung Tử Phù | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Thiếu Dương | Cát tinh vòng Thái Tuế | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Thiếu Âm | Cát tinh vòng Thái Tuế | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Tử Phù | Bại tinh vòng Thái Tuế | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Trực Phù | Sao trung tính vòng Thái Tuế | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Thiên Không | Luôn trùng cung Thiếu Dương | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Quán Sách | Luôn trùng cung Trực Phù | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
| Hồng Loan | Sao hỷ sự, an nghịch theo chi năm sinh | Luôn cách đúng năm cung, mọi tuổi, mà số lẻ thì không hội chiếu được |
| Thiên Hỷ | Sao hỷ sự, luôn ở cung liền kề Giải Thần | Luôn cách đúng một cung, mọi tuổi, mà số lẻ thì không hội chiếu được |
| Đào Hoa | Sao đào hoa, an theo tam hợp chi năm sinh | Khoảng cách luôn lẻ, nhận các giá trị 1, 3, 5, 7, 9, 11 cung tùy tuổi |
Kinh nghiệm Thầy dừng lại ở bốn dòng đầu, vì chúng đổi hẳn cách luận cứu giải. Trang gốc của bài này, cũng như rất nhiều tài liệu khác, có câu Giải Thần gặp Thiên Đức, Nguyệt Đức thì thành bộ giải cứu. Câu ấy nghe rất thuận tai, mà cấu trúc lại không cho phép. Giải Thần không bao giờ gặp Thiên Đức, không bao giờ gặp Nguyệt Đức, không bao giờ gặp Long Đức, không bao giờ gặp Phúc Đức, dù bằng đường đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Cái gọi là bộ giải cứu ấy không tồn tại trên bất kỳ lá số nào của bất kỳ tuổi nào.
Suy luận Vậy cái gì có thể hợp lực thật với Giải Thần. Còn lại ba nguồn, và cả ba đều không phải sao an theo chi năm sinh. Thứ nhất là Hóa Khoa, sao giải mạnh nhất của khoa Tử Vi, đi theo chính tinh nên có lực thật. Thứ hai là Thiên Lương, chính tinh mang nghĩa ấm che và cứu nạn. Thứ ba là Thiên Y, an theo tháng sinh nên không có quan hệ cố định nào với Giải Thần, tức có tuổi gặp có tuổi không, phải xem từng lá số. Ba nguồn ấy mới là chỗ nên tìm khi cần cứu giải, chứ không phải bốn sao mang chữ đức.
Một hệ quả nhỏ mà tiện: âm dương của ba sao
Suy luận Vì Giải Thần và Phượng Các bằng Tuất trừ chi, còn Long Trì bằng chi cộng bốn, cả hai phép đều giữ nguyên tính chẵn lẻ của chi năm sinh, nên cả ba sao luôn đóng ở cung cùng âm dương với chi năm sinh. Người tuổi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì cả ba nằm trong sáu cung dương; người tuổi Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì cả ba nằm trong sáu cung âm. Đây là mẹo kiểm nhanh khi an tay.
3 Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Giải Thần an theo địa chi năm sinh. Đây là sao chuyên về giải trừ, hóa giải tai ách.
Vì là phụ tinh, Giải Thần làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
4 Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Giải Thần chủ sự có đức độ, khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ. Đây là sao quý khi cần hóa giải hung họa.
Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý: cung Điền Trạch hay cung Tài Bạch có Giải Thần tọa thủ thì không thể giàu có lớn được, của cải hay bị hao hụt. Vì vậy Giải Thần tốt cho việc giải ách nhưng không lợi cho giữ của ở Tài, Điền.
5 Quan Hệ Cố Định Của Giải Thần Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm Sinh
Suy luận Giải Thần không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm; Giải Thần không có tên trong bốn danh sách ấy. Nhưng nó dùng chung tham số với vòng Thái Tuế, nên quan hệ giữa nó với mười hai sao của vòng tính được chắc chắn cho cả mười hai tuổi, và kết quả chia đôi rất gọn.
Kinh văn Vòng Thái Tuế là vòng mười hai sao an theo chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vòng này luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ. Vì vậy mọi khoảng cách trong vòng đều tính chắc được.
| Tuổi chi | Thái Tuế | Thiếu Dương | Tang Môn | Thiếu Âm | Quan Phù | Tử Phù | Tuế Phá | Long Đức | Bạch Hổ | Phúc Đức | Điếu Khách | Trực Phù |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
| Sửu | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Dần | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Mão | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Thìn | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Tỵ | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngọ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mùi | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Thân | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Dậu | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Tuất | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Hợi | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
Nửa vòng Thái Tuế nằm ngoài tầm với, nửa còn lại thì gặp theo tuổi
Suy luận Giải Thần đếm nghịch từ Tuất, còn vòng Thái Tuế đếm thuận từ cung chi năm sinh, nên khoảng cách giữa Giải Thần và sao thứ n của vòng luôn mang cùng tính chẵn lẻ với n. Sáu sao đứng ở vị trí lẻ của vòng là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức và Trực Phù vì thế luôn cách Giải Thần một số lẻ cung, và vĩnh viễn không hội chiếu được. Kéo theo là bốn sao luôn ngồi chung cung với chúng cũng bị loại: Thiên Không trùng Thiếu Dương, Nguyệt Đức trùng Tử Phù, Thiên Đức trùng Phúc Đức, Quán Sách trùng Trực Phù.
Suy luận Sáu sao đứng ở vị trí chẵn của vòng là Thái Tuế, Tang Môn, Quan Phù, Tuế Phá, Bạch Hổ, Điếu Khách thì Giải Thần gặp được, mỗi thế đúng hai tuổi. Cụ thể: đồng cung Thái Tuế ở tuổi Tỵ và Hợi; đồng cung Tang Môn ở tuổi Thìn và Tuất; đồng cung Quan Phù, tức đồng cung Long Trì, ở tuổi Mão và Dậu; đồng cung Tuế Phá ở tuổi Dần và Thân; đồng cung Bạch Hổ ở tuổi Sửu và Mùi; đồng cung Điếu Khách ở tuổi Tý và Ngọ. Đọc hàng ấy thì thấy một điều đáng chú ý: bốn trong sáu sao mà Giải Thần có thể ngồi chung đều là hung tinh hoặc bại tinh của vòng, gồm Tang Môn, Tuế Phá, Bạch Hổ, Điếu Khách. Trong khi cả bốn phúc tinh mang chữ đức thì vĩnh viễn không gặp được.
Kinh nghiệm Thầy cho rằng đây chính là chỗ mà cổ nhân đặt tên sao rất đúng. Giải Thần được xếp vào vị trí mà nó chỉ có thể ngồi cùng cái dữ chứ không ngồi cùng cái lành. Một vị thần hóa giải thì phải đứng chỗ có việc để giải; cái lành thì cần gì tới nó. Đọc theo cách ấy thì cấu trúc không còn là con số khô nữa mà thành một lời dặn: đừng đi tìm Giải Thần ở cung đẹp, hãy xem nó có rơi vào cung đang có chuyện hay không.
Giải Thần và Long Trì gặp nhau lúc nào
Suy luận Vì Giải Thần luôn trùng cung Phượng Các, nên câu hỏi Giải Thần gặp Long Trì lúc nào cũng chính là câu hỏi bộ Long Phượng hội đủ lúc nào. Long Trì đếm thuận từ cung chi năm sinh thêm bốn cung, Giải Thần đếm nghịch từ Tuất, nên khoảng cách giữa hai bên thay đổi theo tuổi, và hai bên luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi.
| Tuổi chi | Giải Thần và Phượng Các tại | Long Trì và Quan Phù tại | Quan hệ thật |
|---|---|---|---|
| Tý | Tuất | Thìn | Xung chiếu, Long Trì và Quan Phù nhìn thẳng sang cung Giải Thần |
| Sửu | Dậu | Tỵ | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ quanh cung Giải Thần |
| Dần | Thân | Ngọ | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa |
| Mão | Mùi | Mùi | Đồng cung, một cung chứa cả Giải Thần, Phượng Các, Long Trì và Quan Phù |
| Thìn | Ngọ | Thân | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa |
| Tỵ | Tỵ | Dậu | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ quanh cung Giải Thần |
| Ngọ | Thìn | Tuất | Xung chiếu, Long Trì và Quan Phù nhìn thẳng sang cung Giải Thần |
| Mùi | Mão | Hợi | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ quanh cung Giải Thần |
| Thân | Dần | Tý | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa |
| Dậu | Sửu | Sửu | Đồng cung, một cung chứa cả Giải Thần, Phượng Các, Long Trì và Quan Phù |
| Tuất | Tý | Dần | Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa |
| Hợi | Hợi | Mão | Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ quanh cung Giải Thần |
Suy luận Bốn nhóm rành mạch. Đồng cung ở đúng hai tuổi Mão tại Mùi và Dậu tại Sửu; hai tuổi ấy thì một cung chứa cùng lúc Giải Thần, Phượng Các, Long Trì và Quan Phù, tức bốn sao cùng an theo chi năm sinh chồng lên nhau. Xung chiếu ở đúng hai tuổi Tý và Ngọ trên trục Thìn Tuất. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Không hội chiếu ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì hai bên cách nhau đúng hai cung và chỉ giáp một cung ở giữa, cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.
Kinh nghiệm Với người luận thì con số quan trọng là: tám tuổi hội đủ bộ Long Phượng quanh cung Giải Thần, bốn tuổi không. Người sinh năm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì cung Giải Thần của họ chỉ có thêm Phượng Các chứ không có Long Trì tới, nghĩa là cung ấy nhẹ khí danh phận và nhẹ khí giấy tờ hơn hẳn. Đó thường là một điều dễ chịu chứ không phải điều thiệt.
Giải Thần và bảng Tứ Hóa
Suy luận Giải Thần không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và nó cũng không tự phát hóa để bay sang cung khác. Nhưng vì nghĩa của nó là giải trừ, nên cách nó phản ứng với hóa của chính tinh đồng cung là phần đáng đọc nhất:
- Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: đây là thế mà Giải Thần được dùng tới nhiều nhất, và cũng là thế phải nói thật nhất. Hóa Kỵ chủ vướng mắc, dây dưa, mất mát. Giải Thần làm cho cái vướng ấy bớt gắt, đến chậm hơn, kéo dài mà không vỡ, và thường có người hoặc có cách xuất hiện đúng lúc. Nhưng Giải Thần không xóa được Hóa Kỵ. Nợ vẫn phải trả, bệnh vẫn phải chữa, hồ sơ vẫn phải làm lại. Kinh nghiệm Thầy dùng một hình ảnh cho dễ nhớ: Hóa Kỵ là cái gai đâm vào chân, Giải Thần là băng gạc. Băng lại thì đi được, mà gai vẫn ở trong.
- Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây mới là thế mạnh thật. Hóa Khoa vốn là sao giải mạnh nhất trong lá số vì nó đi theo chính tinh nên có lực; cộng Giải Thần thì thành hai lớp cùng chiều. Người có thế này gặp chuyện thường có quý nhân, có giấy tờ, có tiếng nói đứng ra gỡ. Lại thêm Phượng Các luôn đồng cung nên chuyện gỡ ấy còn giữ được thể diện.
- Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: người này khi cầm việc thì biết lúc nào nên dừng, ít đẩy sự việc tới chỗ vỡ. Quyền có phần mềm, nên ít gây thù.
- Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: Kinh văn phải nhắc lời Tân Biên ngay tại đây, vì nó nghịch với trực giác: cung Tài Bạch hay cung Điền Trạch có Giải Thần thì không giàu lớn được, của cải hay bị hao hụt. Nghĩa là dù chính tinh hóa Lộc, sự có mặt của Giải Thần tại hai cung ấy vẫn là một dấu trừ về mặt tích lũy. Suy luận Cách hiểu hợp lý nhất là: bản chất của Giải Thần là làm cho mọi thứ trôi đi, mà tiền thì cần giữ lại chứ không cần trôi.
Suy luận Vì sao đọc Giải Thần phải đọc cả nhóm. Bản thân Giải Thần là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là sự tháo gỡ ở phần ngọn, không phải sức mạnh để thay đổi cục diện. Vị trí của nó bị cấu trúc gài chặt vào Phượng Các, vào tam giác Thiên Khốc, vào thế kề Thiên Hỷ, và bị loại vĩnh viễn khỏi cả bốn phúc tinh mang chữ đức. Cho nên khi luận một cung có Giải Thần, thứ tự đúng là: xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, đếm sát tinh, xem Tuần Triệt, rồi mới cộng Giải Thần vào như một lớp giảm nhẹ, và cuối cùng hỏi một câu rất thực tế: cái được giảm nhẹ ở đây là cái gì.
6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Giải Thần phối với các sao cho kết quả khác nhau:
| Khi Giải Thần gặp | Ý nghĩa kết hợp |
|---|---|
| Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y | Bộ giải cứu, hóa giải tai họa bệnh tật. |
| Thiên Lương, Hóa Khoa | Tăng khả năng giải ách, cứu nguy. |
| Sát tinh, Hóa Kỵ | Làm dịu phần hung, đỡ tai họa. |
| Ở Tài, Điền | Của cải hao hụt, khó giàu lớn. |
7 Giải Thần Tại Đủ Mười Hai Cung Chức
Suy luận Giải Thần đi được cả mười hai cung nên không cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy: cung nào có Giải Thần thì cung ấy luôn có Phượng Các, nên mỗi ô đều mang thêm một lớp hình thức và danh dự; tam phương của nó luôn có Thiên Khốc; và cả bốn sao mang chữ đức đều không chiếu tới được, nên đừng trông vào chúng để tăng sức giải. Cột giữa là khi Giải Thần gặp chính tinh miếu vượng hoặc gặp Hóa Khoa và cát tinh; cột phải là khi nó bị sát tinh lấn át, bị Hóa Kỵ đè hoặc bị Tuần Triệt án ngữ.
| Cung | Giải Thần đắc thế, có chính tinh sáng hoặc Hóa Khoa nâng | Giải Thần thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ |
|---|---|---|
| Mệnh | Tính khoan hòa, không thích đẩy chuyện tới cùng, gặp khó thường tìm được lối ra hoặc có người đứng ra dàn xếp. Hay được người khác nhờ hòa giải. Có Phượng Các cùng cung nên bề ngoài dễ chịu, ăn nói mềm. | Hiền thành nhu nhược, việc gì cũng cho qua nên không dứt điểm được cái nào. Hay lấy sự dàn xếp thay cho việc giải quyết, để một chuyện kéo dài nhiều năm. |
| Huynh Đệ | Anh em bạn bè có chuyện thì tự thu xếp được, ít khi để vỡ ra ngoài; trong họ hay có một người đứng ra làm trung gian. | Chuyện cũ được xoa cho qua chứ không nói tới gốc, nên cùng một mâu thuẫn lặp lại nhiều lần. Không ai chịu nói thẳng. |
| Phu Thê | Vợ chồng cãi nhau rồi làm lành nhanh, ít khi để qua đêm; sóng gió trong nhà thường có đường lùi. Bạn đời tính dễ chịu, biết nhường. | Làm lành nhanh mà không giải quyết, nên vấn đề thật bị đẩy xuống dưới. Đây là kiểu hôn nhân êm bề mặt mà mỏi ở bên trong. |
| Tử Tức | Việc sinh nở và nuôi con gặp trắc trở thì thường qua được; con ốm đau hay gặp đúng thầy. Con cái tính dễ chịu, ít gây chuyện lớn. | Cha mẹ quen dọn dẹp hậu quả cho con, nên con lớn lên thiếu tính chịu trách nhiệm. Cái giải ở cung này dễ hóa thành sự bao che. |
| Tài Bạch | Kinh văn Đây là cung mà Tân Biên nói thẳng là bất lợi: cung Tài Bạch có Giải Thần thì không giàu lớn được, của cải hay bị hao hụt. Ngay cả khi có chính tinh sáng thì cái được vẫn là dễ xoay xở lúc túng chứ không phải tích lũy dày. | Tiền vào ra như nước, gỡ được lúc ngặt mà không giữ lại được lúc dư. Hay tiêu vào việc giúp người hoặc việc giữ thể diện, vì Phượng Các cùng cung. |
| Tật Ách | Đây là cung Giải Thần có ích nhất và cũng là chỗ sách khen nhất. Bệnh tới thường phát hiện sớm, gặp đúng thầy đúng thuốc, mổ xẻ thuận, tai nạn có mà ít khi tới mức nặng. Việc gì cần chữa thì hay chữa được. | Vẫn có nghĩa đỡ nhưng không đủ chống lại một cung Tật Ách nhiều sát tinh. Nguy nhất là tâm lý chủ quan: thấy có sao giải nên bỏ khám định kỳ, bỏ dở thuốc, đó là lúc Giải Thần thành cái hại. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp trục trặc thì có người gỡ hộ; đi xa ít khi mắc kẹt, lỡ chuyến lỡ việc rồi cũng có đường. Hợp nghề phải xử lý sự cố cho người khác. | Việc gỡ được nên không rút ra bài học, cứ lặp lại cùng một kiểu sơ suất. Ra ngoài quen dựa vào may. |
| Nô Bộc | Bạn bè cấp dưới có va chạm thì có người đứng ra hòa giải; ít khi mất bạn vì một chuyện. Hay được bạn cũ giúp đúng lúc. | Mọi mâu thuẫn đều được xoa cho qua nên không ai biết ai nghĩ gì; đến lúc vỡ thì vỡ hẳn. Nên nói rõ ngay từ đầu. |
| Quan Lộc | Công việc có sự cố thì thường hạ cánh mềm; hợp nghề xử lý khủng hoảng, hòa giải, pháp lý, y tế, bảo hiểm, công tác xã hội, nghề phải gỡ rối cho người khác. | Nghề cứ trôi mà không lên; hết việc này tới việc khác được cho qua nên không tích được thành tựu. Gặp Tuần Triệt thì mất luôn cả cái đỡ ấy. |
| Điền Trạch | Kinh văn Cũng là cung mà Tân Biên nói thẳng là bất lợi: cung Điền Trạch có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Nhà đất có mà không giữ lâu, hoặc mua rồi bán, hoặc sửa sang tốn kém. Phần bù duy nhất là Phượng Các cùng cung làm cho chỗ ở coi được mắt. | Nhà đất hay vướng rồi lại gỡ, gỡ rồi lại vướng; giấy tờ xong mà không yên. Không nên coi bất động sản là chỗ tích lũy chính. |
| Phúc Đức | Tinh thần dễ hồi phục sau chuyện buồn, ít để bụng lâu; trong họ có nếp bỏ qua cho nhau. Người này ít khi rơi vào bế tắc kéo dài. | Nỗi buồn được xoa dịu nhanh nên không được nhìn thẳng, tích lại thành cái nặng ngầm. Nhớ rằng Thiên Khốc luôn tam hợp về đây. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ ốm đau thì thường qua được, gặp đúng thầy; mâu thuẫn với người trên hay được bỏ qua. Có chuyện gì thì trong nhà tự dàn xếp. | Chuyện trong nhà giữ kín cho êm nên con cái biết muộn; việc giấy tờ thừa kế hay để chậm rồi mới lo. Nên làm sớm và làm rõ. |
Mẹo đọc bảng
Kinh nghiệm Ba mẹo Thầy dùng hàng ngày. Mẹo thứ nhất, hỏi cái gì đang được giải. Giải Thần không tự sinh ra việc, nó chỉ làm nhẹ việc đã có. Vậy nên trước khi khen một cung có Giải Thần, phải xem cung ấy đang có chuyện gì; cung yên thì Giải Thần gần như vô nghĩa, cung có nạn thì Giải Thần mới nói.
Kinh nghiệm Mẹo thứ hai, hai cung Tài Bạch và Điền Trạch thì đọc ngược lại. Đây là hai cung duy nhất mà sách nói Giải Thần là dấu trừ, và Thầy thấy đúng trong thực tế: người có Giải Thần ở Tài hoặc ở Điền rất giỏi xoay xở lúc ngặt mà rất khó tích lũy lúc dư. Lời khuyên thực dụng là tách bạch một khoản không đụng tới, và đừng lấy bất động sản làm kênh tích lũy chính.
Kinh nghiệm Mẹo thứ ba, luôn đọc kèm Phượng Các. Vì hai sao dính cứng nên mọi dòng trong bảng đều có thêm một lớp hình thức. Cái lớp ấy hay làm cho chuyện được giải trông đẹp hơn thực chất: bề ngoài đã xong mà bên trong chưa. Người luận phải nói rõ chỗ này cho khách, đừng để khách yên tâm sớm.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường ứng thành hoàn cảnh chứ không thành sự việc. Riêng với Giải Thần thì cấu trúc khóa sẵn nhiều thế: Phượng Các chỉ có thể đồng cung, Thiên Khốc chỉ có thể tam hợp chiếu, Thiên Hỷ chỉ có thể giáp, còn Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Trực Phù cùng Thiên Không, Quán Sách, Hồng Loan, Đào Hoa thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.
Giải Thần phát huy được khi gặp
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn có tác dụng): đây là sao hợp với Giải Thần nhất trong cả lá số, vì Hóa Khoa cũng chủ cứu giải mà lại đi theo chính tinh nên có lực thật. Hai lớp cứu giải cộng vào nhau, một lớp có sức, một lớp làm mềm.
- Thiên Lương (đồng cung mạnh nhất): Kinh văn Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che, chủ cứu nạn và giải trừ. Đây là chính tinh hợp nhất với Giải Thần, và vì là chính tinh nên nó mang được cái mà Giải Thần không mang nổi.
- Thiên Y (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh nên không có quan hệ cố định với Giải Thần, có tuổi gặp có tuổi không): sao chủ thuốc thang và chữa trị, cùng hướng cứu giải. Đây là một trong số rất ít sao giải mà Giải Thần thật sự có thể hội được.
- Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thiên Phủ (đồng cung): các chính tinh mang khí phúc và khí che chở, cùng loại nên cộng vào nhau thuận.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân có thật, đứng ra dàn xếp được. Giải Thần nói rằng có đường gỡ, Khôi Việt chỉ ra ai là người gỡ.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh): có người đỡ tay, hợp với nghĩa được giúp.
- Long Trì (đồng cung ở tuổi Mão và tuổi Dậu, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): kéo theo Quan Phù vì hai sao ấy luôn cùng cung. Với việc phải gỡ bằng giấy tờ và pháp lý thì đây là thế có ích; với việc riêng tư thì nó làm chuyện dễ bị đưa ra ngoài.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung): điều kiện cần để Giải Thần nói được. Một sao nhỏ đứng cùng chính tinh sáng thì tiếng nói của nó mới tới, đứng cùng chính tinh hãm thì gần như không.
Giải Thần e ngại khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Giải Thần là nặng nhất): Kinh nghiệm đây là thế Thầy dặn kỹ nhất, vì Tuần Triệt che luôn cả phần cứu giải. Người có Giải Thần bị Tuần Triệt nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ, bảo hiểm đầy đủ, giấy tờ rõ ràng, khám sức khỏe định kỳ, chứ đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
- Từ hai sát tinh trở lên trong cùng một cung (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp): đây là ranh giới thật của Giải Thần. Một sát tinh thì nó còn làm dịu được; hai sát tinh trở lên thì coi như cung ấy không có sao giải, phải luận và phòng bị theo lối bình thường.
- Hóa Kỵ đồng cung: Giải Thần làm cho cái vướng bớt gắt chứ không gỡ được nút. Đừng vì thấy có sao giải mà hoãn việc phải làm.
- Ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch: Kinh văn sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Đây là chỗ duy nhất mà bản thân vị trí, chứ không phải sao đi kèm, làm cho Giải Thần thành bất lợi.
- Chính tinh hãm địa (đồng cung): Giải Thần không nâng nổi một chính tinh hãm. Nó chỉ làm cho cái hãm ấy diễn ra chậm hơn và bớt gắt hơn.
- Đại vận và lưu niên cùng xấu dồn vào một cung: Giải Thần là sao cố định của lá số gốc, sức của nó không tăng theo vận. Khi hai ba lớp xấu chồng lên nhau thì tỷ trọng của nó nhỏ đi rất nhanh.
- Tâm lý ỷ vào sao giải: Kinh nghiệm đây không phải một ngôi sao mà là cái hại lớn nhất Thầy gặp. Nhiều người biết mình có Giải Thần rồi sinh chủ quan, bỏ khám, bỏ hợp đồng, bỏ dự phòng. Một sao nhỏ không gánh nổi những việc ấy.
Tóm lại, Giải Thần là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
9 Giải Thần Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Suy luận Mọi mục phía trên nói về Giải Thần tĩnh. Mục này nói về Giải Thần động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào, và đây là mục quan trọng nhất với một sao chủ giải trừ, vì người ta chỉ cần tới sao giải khi có hạn xấu.
Đại vận đi vào cung có Giải Thần
Kinh nghiệm Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Giải Thần bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng tháo nút. Không nhất thiết là quãng thịnh, nhưng là quãng mà những việc treo lâu năm có cơ hội được dứt điểm: bệnh cũ chữa được, chuyện dây dưa dàn xếp xong, món nợ cũ trả xong, một quan hệ mắc kẹt được nói ra. Thầy khuyên ai biết mình đang ở đại vận này thì chủ động lấy việc cũ ra giải quyết, đừng chờ, vì cái đỡ của quãng ấy có hạn về thời gian.
Suy luận Bốn điều phải xét thêm. Thứ nhất, cung ấy luôn có Phượng Các, nên chuyện được gỡ thường gỡ theo lối giữ thể diện cho cả hai bên; đó là lợi thế khi thương lượng. Thứ hai, tam phương luôn có Thiên Khốc, nên trong quãng ấy hay có một chuyện buồn xen vào; đó là cấu trúc chứ không phải điềm. Thứ ba, phải xem đại vận đem Tứ Hóa gì vào cung: Hóa Khoa tới thì sức giải mạnh lên rõ rệt, Hóa Kỵ tới thì Giải Thần chỉ đủ giữ cho không vỡ chứ không đủ để yên. Thứ tư, phải đếm sát tinh của cung đại vận cộng với sát tinh lưu; từ hai sao trở lên thì đừng trông vào Giải Thần nữa.
Kinh nghiệm Mặt trái phải nói rõ, và với sao này thì mặt trái quan trọng hơn mặt phải. Đại vận vào cung Giải Thần dễ thành mười năm được cho qua: chuyện gì cũng có cách xoa dịu, nên người ta không đau đủ để thay đổi. Thầy gặp không ít người tới cuối đại vận mới nhận ra mình vừa hoãn mọi việc lớn trong mười năm. Cách xử là tự đặt hạn cho mình: hạn dứt điểm một việc mỗi năm, viết ra giấy, có ngày cụ thể.
Giải Thần có bản lưu niên không
Suy luận Phải trả lời dứt khoát. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, Giải Thần chỉ được an một lần theo chi năm sinh và không có bản lưu riêng. Sách cũng không lập bản lưu cho sao này. Nhưng vì tham số của nó là chi năm sinh, mà mỗi năm có một chi mới, nên về nguyên tắc cứ thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem là ra ngay cung Giải Thần của năm ấy. Đây khác hẳn vòng Tràng Sinh vốn an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số nên vòng ấy không có bản lưu; cũng khác Tả Phụ Hữu Bật an theo tháng sinh và Văn Xương Văn Khúc an theo giờ sinh, hai tham số ấy cố định suốt đời nên cũng không có bản lưu. Riêng vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ thì chắc chắn có bản lưu, vì một vòng bám chi năm và một vòng bám can năm.
| Năm | Lưu Thái Tuế | Cung Giải Thần và Phượng Các của năm | Cung Long Trì và Quan Phù của năm | Lưu Tang Môn | Lưu Bạch Hổ |
|---|---|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Ngọ | Thìn | Tuất | Thân | Dần |
| 2027 Đinh Mùi | Mùi | Mão | Hợi | Dậu | Mão |
| 2028 Mậu Thân | Thân | Dần | Tý | Tuất | Thìn |
| 2029 Kỷ Dậu | Dậu | Sửu | Sửu | Hợi | Tỵ |
| 2030 Canh Tuất | Tuất | Tý | Dần | Tý | Ngọ |
| 2031 Tân Hợi | Hợi | Hợi | Mão | Sửu | Mùi |
| 2032 Nhâm Tý | Tý | Tuất | Thìn | Dần | Thân |
| 2033 Quý Sửu | Sửu | Dậu | Tỵ | Mão | Dậu |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Thân | Ngọ | Thìn | Tuất |
| 2035 Ất Mão | Mão | Mùi | Mùi | Tỵ | Hợi |
| 2036 Bính Thìn | Thìn | Ngọ | Thân | Ngọ | Tý |
| 2037 Đinh Tỵ | Tỵ | Tỵ | Dậu | Mùi | Sửu |
Kinh nghiệm Bảng này dùng được theo ba cách, và cách thứ ba là cách Thầy dùng nhiều nhất khi luận hạn xấu. Cách một, tra xem cung Giải Thần của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc; đó là lĩnh vực mà năm ấy dễ tháo gỡ nhất. Cách hai, xem cung ấy có trùng cung Giải Thần bản mệnh không; trùng thì đó là năm tuổi, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi, và năm ấy hai lớp giải chồng lên nhau, nhưng lưu Thái Tuế cũng đè lên cung tuổi nên phải xét cả hai chiều. Cách ba, khi một năm có nhiều dấu hiệu xấu dồn vào một cung, hãy tra xem cung Giải Thần của năm ấy đang ở đâu và nó có chiếu tới cung đang có nạn không. Nếu có thì việc gì nhờ được vào lĩnh vực của cung ấy thì nên nhờ. Nếu không thì phải nói thẳng với người xem là năm ấy không có sao giải chạm tới, và phải phòng bị bằng việc thật.
Các lưu sao chạm vào cung Giải Thần
Suy luận Bốn nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Giải Thần bị chạm trong một năm cụ thể:
- Lưu Thái Tuế và cả vòng lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ rơi đúng cung Giải Thần bản mệnh thì cái cần giải và cái gây nạn dồn vào một chỗ; Giải Thần làm nhẹ được phần gắt nhưng không xóa được sự việc, phải xem thêm cung Tật Ách và cung Phụ Mẫu.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Đây là cặp lưu sao đáng ngại nhất với Giải Thần, vì hai sát tinh cùng lúc thì sức giải gần như mất. Năm có thế này nên chủ động phòng bị chứ đừng trông vào cái đỡ.
- Lưu Thiên Khốc và lưu Thiên Hư. Vì Giải Thần bản mệnh vốn đã luôn tam hợp Thiên Khốc bản mệnh, nên năm nào lưu Khốc lại chồng thêm vào cung ấy thì sắc buồn rõ hẳn; đó thường là năm có chuyện chia ly hoặc chuyện trong họ.
- Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc, an theo can năm xem. Đây là nhóm lưu sao đáng mừng nhất với Giải Thần: Khôi Việt đem quý nhân tới, Xương Khúc đem chữ nghĩa giấy tờ tới, cả hai đều biến cái đường gỡ trừu tượng thành một người cụ thể hoặc một tờ giấy cụ thể.
Kinh nghiệm Một câu dặn cuối cho mục này, và Thầy muốn nói nặng một chút. Giải Thần là sao nhỏ. Khi luận hạn, thứ tự đúng là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, đếm sát tinh và xem Tuần Triệt, rồi mới cộng Giải Thần vào để chỉnh sắc thái. Ai lấy Giải Thần ra để trấn an người đang có hạn nặng thì người ấy đang làm hại người xem, chứ không phải đang luận mệnh.
10 Ranh Giới: Sức Giải Của Giải Thần Tới Đâu Và Không Tới Đâu
Suy luận Đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Giải Thần mang một cái tên rất mạnh là vị thần hóa giải, và cái tên ấy đã làm sinh ra nhiều lời nói quá. Bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần, và cái thứ nhất là cái nguy hiểm nhất.
Hiểu lầm một: có Giải Thần thì tai qua nạn khỏi
Kinh nghiệm Không. Trước hết, vì Giải Thần an theo chi năm sinh nên mọi lá số đều có Giải Thần, mười hai tuổi phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Giải Thần là qua nạn thì không ai gặp nạn cả. Điều sách nói là Giải Thần chủ giải trừ, tức nó làm nhẹ chứ không xóa.
Kinh nghiệm Thầy nói cho rõ ranh giới ấy bằng lời thường. Giải Thần giải được: làm cho việc dữ tới chậm hơn, tới nhẹ hơn, tới mà có đường lùi; làm cho có người xuất hiện đúng lúc để dàn xếp; làm cho một chuyện tưởng vỡ thì lại hòa. Giải Thần không giải được: một cung có chính tinh hãm cộng từ hai sát tinh trở lên; một hung cách đã thành như Kình Đà giáp Mệnh, Không Kiếp thủ Mệnh, Hỏa Linh cùng Kỵ dồn một cung; một Hóa Kỵ nặng ở cung xung chiếu. Với những cách ấy, Giải Thần chỉ là một sao nhỏ đứng bên cạnh, nó làm cho câu chuyện bớt gắt chứ không làm cho câu chuyện khác đi. Cái gai vẫn ở trong chân, Giải Thần chỉ là miếng băng.
Suy luận Có một cách kiểm rất giản dị mà Thầy đưa cho quý vị dùng. Đếm số sát tinh trong cung có Giải Thần, gồm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, cộng thêm Hóa Kỵ nếu có. Một sao thì Giải Thần còn làm dịu được. Hai sao thì tác dụng còn rất mỏng. Từ ba sao trở lên thì coi như cung ấy không có sao giải, phải luận và phải phòng bị đúng như một cung không có gì đỡ. Đây là kinh nghiệm của Thầy, không phải lời sách, nên quý vị hãy tự kiểm trên lá số mình biết rõ.
Hiểu lầm hai: Giải Thần hợp với Thiên Đức, Nguyệt Đức thành bộ giải cứu
Suy luận Đây là câu được chép lại nhiều nhất, kể cả trên bản cũ của chính trang này, và máy nói rằng câu ấy không đúng về mặt cấu trúc. Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức và Phúc Đức, vì khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ ở cả mười hai tuổi. Bộ giải cứu gồm Giải Thần cộng hai sao đức là một bộ không tồn tại. Điều đáng nói nhất là Long Đức: hai ngôi sao được coi là chủ giải trừ rõ nhất của khoa Tử Vi lại là hai sao không bao giờ cộng lực được với nhau.
Kinh nghiệm Vậy phải sửa lối luận thế nào. Khi cần tìm sức cứu giải cho một cung, hãy đi tìm ba thứ theo đúng thứ tự sau: Hóa Khoa trước, vì nó đi theo chính tinh nên có lực thật; rồi tới Thiên Lương nếu chính tinh của cung ấy là Thiên Lương hoặc Thiên Lương chiếu tới; rồi mới tới Giải Thần và Thiên Y như hai lớp phụ. Còn bốn sao mang chữ đức thì tìm ở cung khác, chúng có việc của chúng, nhưng đừng cộng chúng vào cung Giải Thần vì cấu trúc không cho.
Hiểu lầm ba: Giải Thần ở cung nào cũng tốt
Kinh văn Sai, và chính Tân Biên đã nói rõ. Cung Tài Bạch hay cung Điền Trạch có Giải Thần tọa thủ thì không giàu có lớn được, của cải hay bị hao hụt. Suy luận Cách hiểu hợp lý nhất là bản chất của Giải Thần làm cho mọi thứ trôi đi, mà tiền và nhà đất thì cần giữ lại chứ không cần trôi. Vì thế lời khen dành cho Giải Thần chỉ đúng ở nhóm cung nói về tai ách và quan hệ, nhất là cung Tật Ách, chứ không đúng ở nhóm cung nói về tích lũy.
Hiểu lầm bốn: Phượng Các cũng là sao giải hạn
Suy luận Hiểu lầm này sinh ra từ một sự thật, là Giải Thần luôn đồng cung Phượng Các, nên cung nào có Phượng Các cũng có khí giải trừ. Nhưng cái giải ấy là của Giải Thần chứ không phải của Phượng Các. Phượng Các chủ hình thức, dung mạo, khoa giáp và danh dự; Giải Thần chủ tháo gỡ. Người luận phải tách hai lớp, vì nếu trộn làm một thì sinh ra hai lỗi cùng lúc: gán cho Phượng Các một sức mạnh nó không có, và làm mờ mất phần nghĩa thật của Giải Thần.
Một ranh giới nữa về cách an
Suy luận Cần nói rõ để quý vị khỏi bối rối khi tra sách khác. Cách an Giải Thần có dị bản: bên cạnh cách an theo chi năm sinh trùng cung Phượng Các mà trang này dùng, một số tài liệu an Giải Thần theo tháng sinh, và khi ấy Giải Thần không còn dính với Phượng Các, các kết luận về khoảng cách trong bài cũng không còn đúng. Mọi khẳng định cấu trúc trong bài chỉ đúng với thuật toán đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn. Đây là khác biệt giữa các phái, không phải lỗi của bên nào, và người luận nên nói rõ mình dùng cách an nào trước khi kết luận.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Giải Thần Qua Ba Bước
Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Đinh Tỵ, Tử Vi an tại Sửu, Mệnh an tại Tỵ. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng ba sao của bài này và vòng Thái Tuế thì lưới không vẽ, Thầy ghi rõ ra đây để đối chiếu: tuổi Tỵ nên Giải Thần tại Tỵ, Phượng Các cũng tại Tỵ, Long Trì tại Dậu, tức đây là một trong hai tuổi mà Giải Thần rơi đúng vào cung mang tên tuổi mình. Vòng Thái Tuế thì Thái Tuế tại Tỵ, Thiếu Dương tại Ngọ, Tang Môn tại Mùi, Thiếu Âm tại Thân, Quan Phù tại Dậu đúng cung Long Trì, Tử Phù tại Tuất, Tuế Phá tại Hợi, Long Đức tại Tý, Bạch Hổ tại Sửu, Phúc Đức tại Dần, Điếu Khách tại Mão, Trực Phù tại Thìn. Thêm Thiên Đức tại Dần trùng Phúc Đức, Nguyệt Đức tại Tuất trùng Tử Phù, Hoa Cái tại Sửu, Thiên Khốc tại Sửu, Thiên Hư tại Hợi, Thiên Hỷ tại Thìn, Hồng Loan tại Tuất, Đào Hoa tại Ngọ.
Tử Vi tại Sửu, Mệnh tại Tỵ
không phải người thật
tuổi Đinh Tỵ, Giải Thần tại Tỵ
Bước một: Giải Thần nằm ở cung chức nào và đi với ai
Suy luận Mệnh an tại Tỵ nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Tỵ là Mệnh, Thìn là Huynh Đệ, Mão là Phu Thê, Dần là Tử Tức, Sửu là Tài Bạch, Tý là Tật Ách, Hợi là Thiên Di, Tuất là Nô Bộc, Dậu là Quan Lộc, Thân là Điền Trạch, Mùi là Phúc Đức, Ngọ là Phụ Mẫu. Vậy Giải Thần rơi đúng vào cung Mệnh tại Tỵ, cùng với Phượng Các và Thái Tuế.
Suy luận Chính tinh tại Tỵ là Liêm Trinh và Tham Lang đồng cung, đây là thế Liêm Tham tại Tỵ mà sách xếp vào loại hãm. Đáng chú ý hơn nữa: tuổi Đinh thì Lộc Tồn an tại Ngọ, kéo theo Đà La an tại Tỵ, tức Đà La ngồi ngay cung Mệnh cùng Giải Thần. Kiểm tiếp cấu trúc: cung liền trước Tỵ là Thìn có Thiên Hỷ cùng Trực Phù và Thái Âm hóa Lộc, đúng thế kề cố định của Giải Thần mà kề thì không chiếu. Cung đối diện là Hợi tức Thiên Di, cung trống, có Tuế Phá và Thiên Hư. Tam phương chiếu về là Sửu tức Tài Bạch có Tử Vi Phá Quân cùng Bạch Hổ, Hoa Cái và Thiên Khốc, và Dậu tức Quan Lộc có Vũ Khúc Thất Sát cùng Long Trì và Quan Phù.
Kinh nghiệm Đây là lá số Thầy chọn cố ý, vì nó cho thấy đúng cái ranh giới mà mục trên vừa nói. Cung Mệnh có tới hai cát tinh nhỏ là Giải Thần và Phượng Các, lại có Thái Tuế, nghe thì đẹp. Nhưng chính tinh là Liêm Tham hãm, lại thêm Đà La đồng cung. Đây chính là thế mà quý vị phải nói thật: Giải Thần không cứu nổi cung này, nó chỉ làm cho những trục trặc của cung này bớt gắt và đến chậm hơn.
Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì
Suy luận Bốn hóa của tuổi Đinh rải như sau: Thái Âm hóa Lộc tại Thìn là cung Huynh Đệ, Thiên Đồng hóa Quyền tại Thân là cung Điền Trạch, Thiên Cơ hóa Khoa tại Tý là cung Tật Ách, và Cự Môn hóa Kỵ tại Ngọ là cung Phụ Mẫu. Lộc Tồn tuổi Đinh an tại Ngọ là Phụ Mẫu, kéo theo Kình Dương tại Mùi là Phúc Đức và Đà La tại Tỵ là Mệnh.
Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Mệnh Liêm Tham hãm cộng Đà La: người này tính hay nghĩ ngợi, làm việc gì cũng chậm hơn người khác một nhịp, đường đời có phần lận đận ở quãng đầu, và dễ vướng vào những chuyện dây dưa không dứt. Giải Thần và Phượng Các ở đó cho hai thứ: Phượng Các cho bề ngoài dễ nhìn và cách ăn nói mềm, Giải Thần cho cái may là mọi chuyện dây dưa ấy rồi cũng có đường ra, chỉ là ra chậm. Đó là toàn bộ những gì hai sao ấy làm được, không hơn.
Suy luận Chỗ đỡ thật của lá số này nằm ở nơi khác, và đây mới là điều nên nói với người xem. Thiên Cơ hóa Khoa tại cung Tật Ách: đây mới là sao giải mạnh nhất trên lá số, vì Hóa Khoa đi theo chính tinh nên có lực thật, và nó rơi đúng vào cung nói về bệnh tật tai ách. Người này gặp chuyện sức khỏe thì thường gặp đúng thầy đúng thuốc, và cái đó không phải nhờ Giải Thần ở Mệnh mà nhờ Hóa Khoa ở Tật Ách. Ngược lại, chỗ phải dè là Cự Môn hóa Kỵ tại Phụ Mẫu cùng Lộc Tồn: chuyện với cha mẹ và với người trên là chỗ dễ sinh lời qua tiếng lại nhất, mà Giải Thần ở Mệnh không chiếu tới cung Ngọ nên không đỡ được gì cho cung ấy.
Suy luận Kiểm thêm hai điều mà cấu trúc đã hứa và lá số này xác nhận tận mắt. Thứ nhất, Long Đức tại Tý, Thiên Đức tại Dần, Nguyệt Đức tại Tuất, Phúc Đức tại Dần, không cung nào trong bốn cung ấy chiếu về Tỵ; đúng như máy đã nói, bốn sao mang chữ đức nằm ngoài tầm với của Giải Thần. Thứ hai, Hồng Loan tại Tuất và Thiên Hỷ tại Thìn, cả hai đều không chiếu tới Tỵ, dù Thiên Hỷ đứng ngay cung liền kề. Ai muốn xem chuyện hôn nhân của lá số này phải nhìn cung Phu Thê tại Mão có Thiên Phủ cùng Điếu Khách, chứ không được mượn ba sao ở cung Mệnh.
Bước ba: vận nào chạm tới
Kinh nghiệm Với lá số này ba loại năm đáng chú ý. Năm Tỵ, tức năm tuổi, lưu Thái Tuế đè lên chính cung Mệnh, mà cung Giải Thần của năm cũng rơi đúng vào Tỵ; năm ấy hai lớp giải chồng lên nhau ngay tại cung có Đà La và Liêm Tham hãm. Cách đọc đúng không phải là năm ấy sẽ tốt, mà là năm ấy là năm nên chủ động dứt điểm những việc treo, vì đó là lúc sức tháo gỡ dày nhất của cả đời. Năm Hợi, cung Giải Thần của năm rơi vào Hợi tức cung Thiên Di, đối xung Mệnh; năm ấy chuyện gỡ đến từ bên ngoài, từ người lạ, từ nơi xa. Những năm mà lưu Kình Đà rơi vào Tỵ thì phải rất cẩn thận, vì cung Mệnh vốn đã có Đà La bản mệnh; thêm một sát tinh lưu nữa là đủ ba lớp, và theo đúng cách đếm ở mục ranh giới thì coi như cung ấy không còn sao giải. Đó là năm phòng bị chứ không phải năm trông vào cái đỡ.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Vẫn tuổi Đinh nhưng đổi chi năm sinh sang Sửu. Giải Thần và Phượng Các dời về Dậu, còn Long Trì cùng Quan Phù về Tỵ, hai bên cách nhau bốn cung nên tam hợp chiếu, bộ Long Phượng vẫn hội đủ. Tuổi Sửu cũng là một trong hai tuổi mà Giải Thần đồng cung Bạch Hổ, và quả nhiên Bạch Hổ cũng ở Dậu. Lúc ấy Giải Thần rơi vào cung Quan Lộc chứ không phải cung Mệnh, nên nghĩa tháo gỡ chuyển hẳn sang lĩnh vực công việc: nghề nghiệp có sự cố thì hay hạ cánh mềm, hợp nghề phải gỡ rối cho người khác, mà cũng phải dè vì Bạch Hổ ngồi cùng. Cung Mệnh tại Tỵ khi ấy chỉ còn Liêm Tham hãm với Đà La và Long Trì cùng Quan Phù, tức mất lớp giải trừ ngay tại Mệnh, người luận phải nói thẳng điều đó.
- Đổi sang tuổi Mão. Giải Thần và Phượng Các về Mùi, Long Trì cùng Quan Phù cũng về Mùi, tức bốn sao chồng lên nhau tại cung Phúc Đức. Cung ấy trên lá số này có Thiên Tướng và Kình Dương tuổi Đinh. Đọc khác hẳn: nghĩa giải trừ chuyển vào phần tinh thần và phần phúc phần của dòng họ, mà lại đứng cùng một sát tinh, nên cái giải ấy có mà không êm.
- Vẫn tuổi Tỵ nhưng đổi can sang Quý. Vị trí Giải Thần, Phượng Các, Long Trì không đổi vì chúng chỉ ăn theo chi, vẫn ở Tỵ và Dậu. Nhưng Tứ Hóa đổi hẳn: Phá Quân hóa Lộc, Cự Môn hóa Quyền, Thái Âm hóa Khoa, Tham Lang hóa Kỵ. Tham Lang ở ngay cung Mệnh nay mang Kỵ, cộng Đà La, cộng Liêm Trinh hãm; đây là lúc phải nói rõ nhất rằng Giải Thần không xóa được hung cách. Lộc Tồn tuổi Quý an tại Tý nên Kình Đà cũng dời đi, cung Mệnh mất Đà La, đó là điểm nhẹ đi duy nhất. Cùng một Giải Thần ấy mà hai tuổi can cho hai kết luận rất khác nhau.
Suy luận Ba bước trên là cách Thầy đọc mọi lá số có Giải Thần: tìm cung, đọc chính tinh và hóa của nó, đếm sát tinh, rồi mới cộng Giải Thần vào như một lớp giảm nhẹ, và cuối cùng đi tìm xem sức giải thật của lá số nằm ở đâu, thường là ở Hóa Khoa chứ không ở sao nhỏ. Quý vị muốn làm thử trên lá số của chính mình thì an lá số tại mục Tử Vi của trang rồi đi lại đúng ba bước ấy.
12 Lời Khuyên Và Cách Dùng Giải Thần Cho Đúng
Kinh nghiệm Với một sao chủ giải trừ thì lời khuyên phải nói hai chiều: cách dùng cho hết cái nó cho, và cách không để nó thành cái cớ để trì hoãn. Thầy chia làm ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Giải Thần cho
- Cái nó cho là đường lùi, không phải cái khiên. Nghĩa thật của Giải Thần trên lá số là gặp việc thì có lối ra, có người dàn xếp, có cách hoãn để thở. Nhưng phải đi tìm lối ra ấy thì mới có. Kinh nghiệm Thầy thấy nhiều người có Giải Thần đẹp mà vẫn khổ chỉ vì ngồi im chờ chuyện tự qua.
- Dùng đúng lúc. Sức giải của sao này dày nhất khi đại vận hoặc lưu niên chạm vào cung nó đóng. Ai biết mình đang ở quãng ấy thì nên mang việc treo lâu năm ra dứt điểm: chữa cái bệnh cứ hoãn, trả cái nợ cứ khất, nói cái chuyện cứ né. Qua quãng ấy thì việc lại nặng thêm.
- Chọn nghề hợp với cái tay nghề gỡ rối. Kinh nghiệm Người có Giải Thần ở Mệnh hoặc ở Quan Lộc thường làm rất tốt những nghề mà công việc chính là gỡ rối cho người khác: y tế, pháp lý, bảo hiểm, chăm sóc khách hàng, hòa giải, công tác xã hội, quản trị rủi ro. Đây là gợi ý chọn hướng chứ không phải lời phán.
Đừng để Giải Thần thành cái cớ
- Đếm sát tinh trước khi yên tâm. Cung có Giải Thần mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có sao giải; phải luận và phải phòng bị đúng như một cung không có gì đỡ. Đây là câu Thầy dặn kỹ nhất trong cả bài.
- Gặp Tuần Triệt án ngữ thì mất luôn phần cứu. Người có thế này nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ: bảo hiểm đầy đủ, giấy tờ rõ ràng, khám sức khỏe định kỳ, có phương án dự phòng. Đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
- Đừng lấy sao giải để hoãn việc phải làm. Kinh nghiệm Đây là cái hại lớn nhất Thầy gặp ở người biết mình có Giải Thần. Bệnh vẫn phải chữa, nợ vẫn phải trả, hồ sơ vẫn phải làm lại, lời xin lỗi vẫn phải nói. Sao giải làm cho những việc ấy dễ làm hơn, chứ không làm thay quý vị.
- Ở Tài Bạch và Điền Trạch thì đọc phần hao. Sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì khó giàu lớn. Cách xử thực dụng là tách một khoản để dành không đụng tới, và đừng lấy nhà đất làm kênh tích lũy chính.
Điều Thầy muốn nói thẳng
Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Giải Thần, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử khi việc dữ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Giải Thần, giải được hạn, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua. Cách giải hạn có thật của người xưa cũng không phải trấn yểm, mà là ba việc rất đời: giữ mình cẩn thận hơn trong năm xấu, làm việc lành để dày thêm phần phúc, và chuẩn bị trước cho cái mình biết là có thể tới.
Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói cho người luận chứ không chỉ cho người xem. Khi gặp một lá số có hạn nặng, rất dễ có cái cám dỗ là chỉ vào Giải Thần rồi nói một câu cho người ta nhẹ lòng. Thầy xin quý vị đừng làm thế. Nói thật rằng sao này chỉ giải nhẹ, rồi cùng người ta tìm phương án phòng bị cụ thể, đó mới là việc của người luận mệnh. Một lời trấn an sai chỗ có thể làm người ta bỏ mất khoảng thời gian còn kịp để chuẩn bị.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người có Giải Thần nên tập nếp mỗi năm dứt điểm ít nhất một việc treo, viết ra giấy có ngày cụ thể, vì đó là cách dùng đúng thứ mà lá số đã cho. Giấy tờ quan trọng như bảo hiểm, hợp đồng, hồ sơ sức khỏe nên lưu một chỗ cố định và có bản sao, đây là việc thực dụng chứ không cần tin gì thêm. Trong nhà nên có một góc yên đủ để ngồi được mười lăm phút không bị làm phiền, vì phần lớn những nút cần gỡ chỉ hiện ra khi người ta ngồi yên. Việc chăm người ốm trong nhà, giúp một người đang mắc kẹt, tham gia một nhóm thiện nguyện nhỏ, cũng nên coi là một dạng bồi phúc của thời nay và nó có tác dụng thật với đời sống. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Giải Thần: sao an theo chi năm sinh, hành Mộc, chủ sự có đức độ, khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ; nhưng cung Điền Trạch hay cung Tài Bạch có Giải Thần tọa thủ thì không thể giàu có lớn được, của cải hay bị hao hụt. Cùng phần ấy, mục Long Trì và Phượng Các: hai sao đi cặp, chủ thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ, liên quan cưới hỏi sinh nở, làm công danh tài lộc hưng vượng và nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Vì Giải Thần luôn đồng cung Phượng Các trên cách an của trang nên bài này dẫn cả hai mục. Sách không lập câu phú riêng cho Giải Thần, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: dùng để kiểm lại phép an đếm nghịch từ cung Tuất theo chi năm sinh, và thứ tự mười hai sao vòng Thái Tuế trình bày ở mục quan hệ cố định.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc trong bài được sinh và kiểm bằng chương trình chạy đủ mười hai địa chi năm sinh và mười hai thế Tử Vi. Cụ thể đã kiểm: bảng vị trí Long Trì, Phượng Các, Giải Thần theo mười hai chi; kết luận Giải Thần luôn đồng cung với Phượng Các, đúng mười hai trên mười hai tuổi, vì hai sao dùng chung đúng một công thức trên thuật toán đang chạy; kết luận Long Trì luôn đồng cung với Quan Phù của vòng Thái Tuế, đúng mười hai trên mười hai tuổi; kết luận Giải Thần luôn tam hợp Thiên Khốc và luôn có Thiên Hỷ ở cung liền kề; kết luận Giải Thần có đúng hai điểm bất động là Tỵ và Hợi, cũng là hai tuổi duy nhất nó đồng cung Thái Tuế; kết luận Giải Thần vĩnh viễn không hội chiếu với Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Trực Phù cùng Thiên Không, Quán Sách, Hồng Loan, Thiên Hỷ và Đào Hoa, vì khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ; kết luận sáu sao chẵn của vòng Thái Tuế thì Giải Thần đồng cung được, mỗi sao đúng hai tuổi; bảng quan hệ giữa cung Giải Thần và Long Trì theo từng tuổi, cho ra đồng cung ở tuổi Mão tại Mùi và tuổi Dậu tại Sửu, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ trên trục Thìn Tuất, tam hợp ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi, và cách hai cung không hội chiếu ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất; danh sách chính tinh có thể đồng cung với Giải Thần tại từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể và cung ấy cũng có thể trống. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Giải Thần không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.
Lưu ý về dị bản: cách an Giải Thần có dị bản rõ rệt giữa các tài liệu. Bài này trình bày theo thuật toán đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, tức Giải Thần an theo chi năm sinh bằng phép đếm nghịch từ cung Tuất, và do đó luôn đồng cung Phượng Các. Một số tài liệu khác an Giải Thần theo tháng sinh; với cách an ấy thì Giải Thần không còn dính với Phượng Các và mọi kết luận về khoảng cách trong bài cũng không còn đúng. Đây là khác biệt giữa các phái chứ không phải lỗi của bên nào, nhưng người luận phải nói rõ mình dùng cách an nào trước khi kết luận. Cũng cần phân biệt Giải Thần của khoa Tử Vi với các thần giải cùng tên trong lịch chọn ngày giờ của khoa trạch nhật: hai hệ trùng tên nhưng khác cách tính và khác phạm vi áp dụng. Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ. Một số tài liệu lưu truyền trong dân gian gán cho Giải Thần những câu phú và những lời ca ngợi mà bài này không dẫn, vì chưa đối chiếu được với bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Giải Thần
Giải Thần là sao chuyên về giải trừ trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc, an theo địa chi năm sinh. Sao chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa và gia tăng phúc thọ.
Không lợi. Theo Tân Biên, cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Giải Thần thì khó giàu có lớn, của cải hay bị hao hụt. Giải Thần quý cho việc giải ách hơn là giữ của.
Có, Giải Thần là sao chuyên hóa giải tai ách, bệnh tật, nhất là khi hội cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y, Thiên Lương, giúp tai qua nạn khỏi.
Giải Thần an theo địa chi năm sinh, cố định trong lá số.
Có, và đây là điều bất biến tuyệt đối trên thuật toán an sao đang chạy của thayungkhiem.vn. Giải Thần và Phượng Các dùng chung đúng một công thức là lấy cung Tuất đếm ngược đi số bước bằng chỉ số chi năm sinh, nên hai sao trùng khít nhau ở cả mười hai tuổi, không có ngoại lệ. Hễ thấy Giải Thần là thấy Phượng Các. Hệ quả khi luận rất rõ: cung có Giải Thần bao giờ cũng mang thêm khí khoa giáp, danh dự và dung mạo của Phượng Các, nên đừng đọc Giải Thần như một sao đơn độc. Xin lưu ý có dị bản an Giải Thần theo tháng sinh, khi ấy quan hệ này không còn đúng; bài này trình bày theo cách an của trang.
Không, và đây là kết quả bất ngờ nhất khi chạy máy. Bốn sao mang chữ đức là Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức và Nguyệt Đức đều đứng ở vị trí lẻ tính từ cung Thái Tuế, còn Giải Thần thì đếm nghịch từ cung Tuất, nên khoảng cách giữa Giải Thần với cả bốn sao ấy luôn là số lẻ. Mà đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, toàn số chẵn. Kết luận: Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức và Nguyệt Đức trên bất kỳ lá số nào. Hai ngôi sao giải trừ nổi tiếng nhất của khoa Tử Vi là Giải Thần và Long Đức không bao giờ cộng lực được với nhau.
Có. Long Trì an tại cung mang chi năm sinh đếm thuận thêm bốn cung, mà Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế nên cũng cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận. Hai công thức trùng khít, máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả đồng cung mười hai trên mười hai lần. Với người đọc bài Giải Thần thì điều này có nghĩa: mỗi khi Long Trì tới gần cung Giải Thần, khí giấy tờ pháp lý của Quan Phù cũng tới theo. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, hai sao khác nhau.
Vì Giải Thần luôn trùng cung Phượng Các nên câu hỏi này cũng chính là câu hỏi Giải Thần gặp Long Trì lúc nào. Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng tại Mùi, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng tại Sửu. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì Long Trì tại Thìn và Phượng Các cùng Giải Thần tại Tuất, tuổi Ngọ thì đảo lại. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai bên cách nhau đúng hai cung nên không hội chiếu được, chỉ giáp một cung ở giữa và cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.