Sao Nguyệt Đức trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Nguyệt Đức

Sao chủ đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ bệnh tật nhỏ; đi liền Thiên Đức.

Hành HỏaPhụ tinhPhúc đức, đoan chínhTheo chi năm
月德Yuè Dé
Tên sao: Nguyệt Đức
Ngũ hành: Hỏa
Nhóm: Phụ Tinh Phúc Đức
Cách an: Nguyệt đức an theo địa chi năm sinh, đi cùng thiên đức, hợp thành bộ phúc đức giải cứu
Cai quản: đức độ, đoan chính, giải tai ách
Tính chất: Phúc đức, đoan chính
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Nguyệt Đức là gì

Sao Nguyệt Đức trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Nguyệt Đức trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Nguyệt Đức trong lá số Tử Vi

Nguyệt Đức là sao phúc đức, ngũ hành Hỏa, đi cùng Thiên Đức. Đây là cát tinh có tính giải cứu, biểu trưng cho đức hạnh, sự đoan chính và khả năng hóa giải điều không may, tương tự Thiên Đức.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Nguyệt Đức an theo địa chi của năm sinh, không dính tới thiên can, tháng, giờ hay Cục. Phép an gọn trong một câu: đặt ngón tay vào cung mang đúng tên chi năm sinh, đếm thuận chiều kim đồng hồ năm cung, cung thứ năm ấy là Nguyệt Đức. Tuổi Tý thì Nguyệt Đức ở Tỵ, tuổi Sửu ở Ngọ, tuổi Dần ở Mùi. Không phân nam nữ, không phân âm dương can, không ngoại lệ. Vị trí ấy cố định trọn đời; cái đổi theo từng năm là lưu Nguyệt Đức, tính theo chi của năm đang xem.

Nguyệt Đức đi thành cặp với Thiên Đức, mà Thiên Đức cũng an theo chi năm sinh nhưng cộng chín cung. Bảng dưới đặt hai sao cạnh nhau cho đủ mười hai tuổi chi, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang, để quý vị tự đối chiếu chứ không phải tin lời.

Vị trí an sao Nguyệt Đức và Thiên Đức theo địa chi năm sinh
Tuổi chiNguyệt ĐứcThiên Đức
TỵDậu
SửuNgọTuất
DầnMùiHợi
MãoThân
ThìnDậuSửu
TỵTuấtDần
NgọHợiMão
MùiThìn
ThânSửuTỵ
DậuDầnNgọ
TuấtMãoMùi
HợiThìnThân

Những điều bất biến của Nguyệt Đức

  1. Nguyệt Đức đi đủ mười hai cung. Mười hai tuổi chi cho đúng mười hai địa chi khác nhau, không cung nào bị bỏ. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì cả mười bốn chính tinh đều có thể ngồi cùng cung với nó ở bất cứ địa chi nào.
  2. Luôn đồng cung với Tử Phù. Đây là điều lạ nhất và cũng đáng nhớ nhất của cả bài. Tử Phù đứng thứ sáu trong vòng Thái Tuế, tức cách Thái Tuế đúng năm cung, mà Nguyệt Đức cũng cộng năm cung. Hai phép an cho cùng một con số nên hai sao trùng nhau ở cả mười hai tuổi, không lệch một lần. Nghĩa là cát tinh phúc đức này bị cấu trúc buộc phải ngồi trọn đời cùng một bại tinh mang chữ Tử trong tên. Không lá số nào của bất kỳ ai tách được hai sao ấy ra.
  3. Luôn tam hợp với Thiên Đức, khoảng cách bất biến bốn cung. Thiên Đức cộng chín, Nguyệt Đức cộng năm, hiệu số là bốn ở mọi tuổi, mà bốn cung chính là quan hệ tam hợp. Vậy cặp Thiên Nguyệt Đức không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu. Ai vẽ hai sao ấy chung một cung thì đã an sai.
  4. Chân thứ ba của tam hợp ấy luôn là Thiếu Dương, mà Thiếu Dương luôn kéo theo Thiên Không. Thiếu Dương cách chi năm sinh một cung, tức cách Nguyệt Đức bốn cung. Ba sao lập một tam giác cứng, và phải nói thật rằng chân thứ ba mang theo Thiên Không, sao chủ hư hao và trống rỗng. Tam hợp của hai đức tinh không phải một tam hợp toàn cát.
  5. Luôn xung chiếu Trực Phù, và Trực Phù luôn có Quán Sách ngồi cùng. Trực Phù đứng cuối vòng Thái Tuế, cách Nguyệt Đức đúng sáu cung nên vĩnh viễn ở cung đối diện. Đây là chi tiết đáng chú ý vì Tân Biên chép Tử Phù và Trực Phù chung một mục: hai sao được sách gộp làm một lại luôn đứng hai đầu một trục, và Nguyệt Đức đứng cùng một đầu với Tử Phù.
  6. Luôn bị hai cặp sao giáp hai bên. Cung liền trước là Quan Phù cùng Long Trì, cung liền sau là Tuế Phá cùng Thiên Hư. Bốn quan hệ ấy đúng ở mọi tuổi, nên chúng không dùng để phân biệt lá số này với lá số kia.
  7. Vĩnh viễn không gặp Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ và Điếu Khách. Sáu sao ấy cách Nguyệt Đức lần lượt năm, ba, hai, mười, chín và bảy cung. Không con số nào tạo ra quan hệ đồng cung, giáp, tam hợp hay xung chiếu. Câu quen thuộc rằng Nguyệt Đức gặp Long Đức thì phúc chồng phúc là không thể xảy ra trên bản mệnh.
  8. Vĩnh viễn không gặp Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc, kể cả chiếu. Ba sao ấy cũng an theo chi năm sinh nhưng đếm ngược, nên khoảng cách với Nguyệt Đức luôn là số lẻ, mà số lẻ nghĩa là không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu. Bộ giải cứu Nguyệt Đức cộng Giải Thần mà nhiều tài liệu nhắc tới là bất khả thi trên bản mệnh, đây là chỗ Thầy đính chính lại chính bản cũ của trang này.
  9. Luôn ở cùng tam hợp với Đào Hoa, đồng cung với Đào Hoa ở bốn tuổi tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Khoảng cách giữa Nguyệt Đức và Đào Hoa chỉ nhận ba giá trị là không, bốn và tám cung. Riêng tuổi Tỵ và Hợi còn có Hồng Loan nhập cùng cung, tuổi Dần và Thân thì Thiên Hỷ nhập cùng cung.

Kinh nghiệm Thầy muốn quý vị mang theo đúng một điều từ mục này: cung Nguyệt Đức luôn là một cung pha. Ở đó có một cát tinh phúc đức và một bại tinh cùng ngồi, hai bên là Quan Phù và Tuế Phá kèm, đối diện là Trực Phù, mà tam hợp lại có Thiên Đức chiếu về. Cấu trúc ấy đúng với mọi người, nên không ai được phép nói cung Nguyệt Đức là cung toàn lành, và cũng không ai được phép nói cung Tử Phù là cung toàn dữ. Cái phân biệt lá số này với lá số kia là cung ấy là cung chức gì, có chính tinh nào, sáng hay hãm, có sát tinh hay Hóa Kỵ hay Tuần Triệt chặn không.

3 Tóm Tắt Phép An Theo Chi Năm Sinh

Cách an và đặc tính sao Nguyệt ĐứcẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Nguyệt Đức
Cách an và đặc tính sao Nguyệt Đức

Nguyệt Đức an theo địa chi năm sinh, đi cùng Thiên Đức, hợp thành bộ phúc đức giải cứu.

Vì là phụ tinh, Nguyệt Đức làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Đặc Tính Và Sức Mạnh Yếu Của Nguyệt Đức

Nguyệt Đức: đức độ, đoan chính, nhân hậuẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Nguyệt Đức
Nguyệt Đức: đức độ, đoan chính, nhân hậu

Theo Tân Biên, Nguyệt Đức cùng Thiên Đức chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ được những bệnh tật nhỏ; và chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Hai sao Thiên Nguyệt Đức là cặp phúc đức làm lành cung tọa thủ.

Nguyệt Đức quý ở khả năng giải ách và giữ phẩm hạnh. Đi cùng phúc tinh và chính tinh sáng thì đức độ, phúc khí càng rõ; có Nguyệt Đức thì việc dữ dễ hóa lành.

5 Nguyệt Đức Trong Tương Quan Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm

Kinh văn Nguyệt Đức không thuộc bốn vòng mười hai sao của Đẩu Số; nó là sao lẻ, cùng nhóm Tứ Đức với Thiên Đức, Long Đức và Phúc Đức. Nhưng vì an theo chi năm sinh, cùng tham số với cả vòng Thái Tuế, vòng thần sát tam hợp, Đào Hoa, Hồng Loan, Khốc Hư, Long Phượng, Cô Quả, nên khoảng cách giữa nó với từng sao ấy là một hằng số. Đọc Nguyệt Đức cho sâu là đọc cái mạng lưới cứng ấy chứ không phải đọc bản thân sao.

Vòng Thái Tuế và chỗ đứng của Nguyệt Đức trong đó

Kinh văn Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng mười hai sao, ba vòng kia là vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo thiên can, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát đếm theo tam hợp chi. Riêng vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh: khởi Thái Tuế tại cung mang tên chi ấy rồi đi thuận, mỗi cung một sao. Thứ tự là Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.

Suy luận Nguyệt Đức không có tên trong danh sách ấy nhưng trùng khít với vị trí thứ sáu, tức Tử Phù, ở cả mười hai tuổi, nên mọi quan hệ của Tử Phù cũng là quan hệ của nó. Vị trí thứ sáu nằm ở áp chót nửa đầu vòng, tức ngay trước điểm vỡ là Tuế Phá, chỗ khí năm bắt đầu hụt hơi, chưa vỡ nhưng đã mỏi. Đó là lý do hình tượng của Nguyệt Đức không phải ánh nắng mà là ánh trăng soi vào lúc trời đã sẩm: không đủ sáng để làm việc, nhưng đủ để người ta thấy đường mà về.

Sáu quan hệ khóa cứng của Nguyệt Đức, đúng ở mọi lá số

  • Đồng cung: Tử Phù, bại tinh của vòng Thái Tuế. Không lệch một tuổi nào.
  • Tam hợp: Thiên Đức cách bốn cung, Thiếu Dương cách tám cung. Cung Thiên Đức ấy cũng chính là cung sao Phúc Đức, còn Thiếu Dương thì luôn kéo theo Thiên Không.
  • Xung chiếu: Trực Phù cùng Quán Sách, cách đúng sáu cung.
  • Giáp bên trước: Quan Phù cùng Long Trì. Giáp bên sau: Tuế Phá cùng Thiên Hư.
  • Cùng tam hợp với Đào Hoa ở mọi tuổi, đồng cung ở tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Không quan hệ gì với chín sao: Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ, Điếu Khách, cộng thêm Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc ở ngoài vòng.

Bảng dưới trình đủ mười hai sao của vòng Thái Tuế theo cả mười hai tuổi chi. Đọc hàng ngang là thấy trọn vòng của một tuổi; đọc cột Tử Phù là thấy luôn đường đi của Nguyệt Đức, vì hai sao ấy trùng nhau.

Vị trí mười hai sao vòng Thái Tuế theo từng tuổi địa chi
Tuổi chiThái TuếThiếu DươngTang MônThiếu ÂmQuan PhùTử PhùTuế PháLong ĐứcBạch HổPhúc ĐứcĐiếu KháchTrực Phù
SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
SửuSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
DầnDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
MãoMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDần
ThìnThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMão
TỵTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
NgọNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
MùiMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọ
ThânThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
DậuDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThân
TuấtTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậu
HợiHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất

Vì sao cặp Thiên Nguyệt Đức chế được Đào Hồng: cấu trúc trả lời thay sách

Kinh văn Tân Biên chép rằng Nguyệt Đức cùng Thiên Đức chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng, rồi thôi, không giải thích vì sao. Suy luận Chạy thuật toán thì lý do hiện ra. Đào Hoa an theo tam hợp chi năm sinh, và ba vị trí Đào Hoa có thể rơi vào trùng đúng ba đỉnh của tam giác Nguyệt Đức, Thiên Đức, Thiếu Dương. Ở mọi lá số của mọi người, Đào Hoa luôn đứng vào một trong ba đỉnh ấy: tuổi tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi thì nhập đỉnh Nguyệt Đức, tuổi tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu thì nhập đỉnh Thiên Đức, tuổi tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi thì nhập đỉnh Thiếu Dương. Câu của sách vì thế là một mô tả cấu trúc chứ không phải lời chúc, và giới hạn của nó cũng lộ ra: cái chế ấy có sẵn ở mọi người nên không phải điểm cộng riêng của ai.

Nguyệt Đức không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng đổi màu theo Tứ Hóa của chính tinh cùng cung

Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo thiên can chỉ gồm mười bốn chính tinh cộng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Nguyệt Đức không có tên trong bảng ấy, nên không tuổi nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ.

Suy luận Nhưng nó đổi màu theo cái mà chính tinh đồng cung đang khoác, và với Nguyệt Đức thì phải đọc chung với Tử Phù ngồi bên cạnh. Đồng cung chính tinh hóa Lộc: cái đỡ hiện thành cái được thấy rõ, và Tử Phù bị lấn nên phần trầm gần như biến mất. Đồng cung chính tinh hóa Quyền: cái đức thành uy tín trầm tĩnh, người ta nghe vì tin chứ không vì sợ; đây là thế hợp nhất cho nghề dạy và nghề chữa. Đồng cung chính tinh hóa Khoa: hợp nhất trong bốn hóa, vì Khoa vốn chủ giải cứu, cộng đức tinh thì cái mỏi của Tử Phù chuyển thành chiều sâu. Đồng cung chính tinh hóa Kỵ: chỗ phải nói thật. Nguyệt Đức không xóa được Kỵ, mà Kỵ lại cộng hưởng với Tử Phù cùng cung, nên đây là tổ hợp đáng lưu tâm nhất: việc kéo dài, người dễ nản giữa chừng, và đức tinh chỉ đủ giữ cho có người đỡ và có đường lui.

6 Nguyệt Đức Hội Họp Với Các Sao Khác

Nguyệt Đức phối với các sao cho kết quả tốt lành:

Khi Nguyệt Đức gặpÝ nghĩa kết hợp
Thiên ĐứcCặp Thiên Nguyệt Đức, tăng phúc đức, giải ách.
Thiên Quan, Thiên Phúc, Giải ThầnBộ giải cứu, hóa giải tai họa.
Đào Hoa, Hồng LoanChế tính hoa nguyệt, giữ đoan chính.
Sát tinhLàm dịu phần hung, hóa dữ thành lành.

7 Nguyệt Đức An Tại 12 Cung Chức

Nguyệt Đức đi đủ mười hai địa chi nên rơi vào đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận trọn mười hai vai trò, tách hai cảnh: khi Nguyệt Đức được chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi nó gặp sát tinh, Hóa Kỵ hoặc bị Tuần Triệt chặn. Xin nhớ suốt cả bảng rằng cung ấy luôn có Tử Phù ngồi cùng, nên cột bên phải không phải là cột tưởng tượng, nó là phần trầm vốn đã có sẵn trong cấu trúc.

Ý nghĩa của sao Nguyệt Đức tại từng cung chức khi gặp cát tinh và khi gặp hung tinh
CungKhi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinhKhi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt
MệnhNgười đoan chính, kín đáo, giữ nếp; hiền mà chín chắn hơn tuổi. Nói ít mà đáng tin, gặp việc khó thường có người lặng lẽ giúp.Cái đoan chính thành cứng nhắc và hay tự trách; dễ ưu tư không rõ nguyên do vì Tử Phù đồng cung. Đức tinh giữ cho người ta khỏi đi lệch, không đổi được tính cách.
Phụ MẫuCha mẹ nề nếp, gia phong tử tế, dạy con bằng lối làm gương chứ không bằng lời.Bậc trên điềm đạm mà xa cách, hoặc đau yếu nên con cái phải lo. Đây là lời nhắc thăm hỏi đều, không phải lời báo trước điều gì.
Phúc ĐứcCung Nguyệt Đức nói được nhiều nhất. Tâm tính lành và sâu, biết nghĩ tới người khác, hợp việc thiện nguyện, việc chăm sóc, việc tĩnh tâm.Hay có những đợt trầm không tên, nghĩ nhiều về chuyện cũ, khó buông. Có Thiên Không ở đỉnh tam hợp thì thêm cảm giác làm nhiều mà thấy trống. Nên giữ nếp sinh hoạt đều và có người để nói chuyện.
Điền TrạchNhà cũ mà bền, xóm giềng hiền hòa, giấy tờ ít rắc rối; sửa sang từ từ theo lối chắc chắn.Nhà thiếu sáng, cần thông thoáng; tài sản hao dần vì những khoản nhỏ không tên hoặc đồ cũ giữ mãi không dùng.
Quan LộcHợp nghề lấy cái đức và sự bền làm vốn: y tế, điều dưỡng, giáo dục, luật, công tác xã hội, tôn giáo, lưu trữ, nghiên cứu. Tiến chậm mà không lùi.Việc hay trì trệ, dự án kéo dài, nhiệt tình nguội giữa chừng. Nên chia việc thành chặng ngắn có mốc kết thúc rõ.
Nô BộcBạn ít mà sâu, có người bạn cũ đi cùng nhiều năm; lúc ngặt thì có người giúp mà không đòi trả.Quan hệ nhạt dần rồi mất liên lạc mà không vì mâu thuẫn gì; người tốt thì có mà không đủ lực.
Thiên DiRa ngoài kín tiếng, không phô trương, được người trọng vì cách cư xử; đi xa thường có mục đích rõ.Ra ngoài dễ mệt, thấy lạc lõng nơi đông người, hoặc gặp người tốt mà việc vẫn không xong.
Tật ÁchCung có kinh văn rõ nhất: Tân Biên chép Thiên Nguyệt Đức giải trừ được những bệnh tật nhỏ. Thường ốm vặt rồi tự khỏi, chịu kiêng khem, hồi phục chậm mà chắc.Sách chỉ nói bệnh nhỏ. Chỗ đáng lưu tâm là sức khỏe tinh thần và các chứng mạn tính kéo dài. Với bệnh nặng, Nguyệt Đức không có tư cách nói thay thầy thuốc; có sao này vẫn phải khám đúng lịch.
Tài BạchTiền vào bằng đường sạch, chậm mà đều, biết tiết kiệm; lúc kẹt thường có người cho mượn không lãi.Hao hụt dần vì nhiều khoản nhỏ, hoặc tiền nằm chết trong những thứ không sinh lợi. Nguyệt Đức không phải tài tinh, giàu nghèo xem Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ và Hóa Lộc.
Tử TứcCon cái trầm tính, hiền, biết nghĩ, ít làm cha mẹ phải xấu hổ; hai bên ít va chạm.Con kín tiếng, ít chia sẻ, hoặc việc con cái tới muộn hơn mong đợi.
Phu ThêBạn đời điềm đạm, biết điều, có thể hơn tuổi hoặc từng trải; hôn nhân bền theo lối lặng lẽ.Tình cảm nguội dần vì thiếu vun đắp chứ không vì mâu thuẫn; hai bên cùng im lặng nên khoảng cách lớn dần. Cung này phải xét đủ chính tinh và tam phương, một đức tinh không quyết định được hôn nhân.
Huynh ĐệAnh em ít nhưng gắn bó, gặp việc thì có mặt; cộng sự giữ chữ tín.Anh em xa cách dần, mỗi người một nơi, ít qua lại; thường không thành chuyện lớn.

Mẹo đọc bảng: đọc hai sao một lúc

Kinh nghiệm Mẹo duy nhất mà Thầy muốn để lại cho bảng này: đừng đọc Nguyệt Đức một mình bao giờ. Vì Tử Phù luôn ngồi cùng, cột trái và cột phải của mỗi dòng thực ra là hai mặt của cùng một cung, và cái quyết định nghiêng về mặt nào là chính tinh cùng cung chứ không phải hai sao nhỏ ấy. Chính tinh sáng thì đọc cột trái, chính tinh hãm hoặc có Hóa Kỵ và sát tinh thì đọc cột phải, và phần lớn lá số nằm ở giữa.

Kinh nghiệm Trong mười hai dòng, Thầy chỉ dùng nặng ba dòng là Phúc Đức, Tật Ách và Nô Bộc: Phúc Đức vì đó là cung của tâm tính và phúc phần, đúng lĩnh vực của đức tinh; Tật Ách vì đó là chỗ duy nhất Tân Biên chép nghĩa cụ thể; Nô Bộc vì cái đức của một người lộ rõ nhất qua chuyện ai đứng cạnh họ lúc khó. Chín dòng còn lại Nguyệt Đức chỉ góp một lớp mỏng.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Nguyệt Đức là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Nguyệt Đức phải nhớ thêm một tầng quan trọng hơn: phần lớn vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng. Tử Phù mãi mãi đồng cung, Thiên Đức và Thiếu Dương mãi mãi tam hợp, Trực Phù mãi mãi xung chiếu, Quan Phù cùng Long Trì và Tuế Phá cùng Thiên Hư mãi mãi chỉ giáp, còn Giải Thần, Phượng Các, Thiên Khốc, Long Đức, Bạch Hổ và Thái Tuế thì vĩnh viễn không tới được.

Nguyệt Đức hợp khi gặp

  • Thiên Đức (luôn luôn tam hợp, cách bốn cung, không bao giờ đồng cung): đủ cặp Thiên Nguyệt Đức, và cung Thiên Đức ấy cũng là cung sao Phúc Đức. Xin nói rõ để khỏi đi tìm: cấu trúc không cho hai đức tinh ngồi chung một cung.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, tới qua chính tinh cùng cung): hóa hợp nhất với đức tinh, làm cái mỏi của Tử Phù chuyển thành chiều sâu.
  • Chính tinh miếu vượng (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): chính tinh đủ sáng thì bại khí nhỏ gần như không thấy và cái đức có chỗ biểu hiện. Hợp nhất là Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm miếu.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung ở một số tuổi can, thường là chiếu): quý nhân đưa tay đúng lúc người ta đang chùng.
  • Long Trì (luôn ở cung liền trước, thế giáp): cát tinh chủ khoa giáp và danh vị, kèm một bên ở mọi lá số.
  • Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Trù (đồng cung hoặc chiếu, tùy thiên can): ba sao an theo can nên vị thế không cố định; hợp thành nhóm phúc ấm khi trùng cung.

Nguyệt Đức e ngại khi gặp

  • Hóa Kỵ (đồng cung là nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung): đây là tổ hợp đáng lưu tâm nhất, vì Kỵ cộng hưởng với Tử Phù vốn đã ngồi sẵn trong cung. Việc kéo dài, người dễ nản giữa chừng.
  • Tuần, Triệt án ngữ ngay cung Nguyệt Đức (chặn cả cung): chặn cả sao, nên chặn luôn đức tinh. Với một cung pha thì phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận là mừng hay tiếc.
  • Đà La (đồng cung ở tám cung tứ sinh tứ mộ, ngoài ra chiếu hoặc giáp): kéo dài sự dây dưa, đúng chiều với cái chậm của Tử Phù cùng cung.
  • Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, đều đi đủ mười hai cung): sát khí gay gắt lấn khí ôn hòa, buồn chuyển thành bực.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung theo giờ sinh, giáp xấu hơn chiếu): cộng hưởng cái hao, công sức đổ ra mà không đọng lại.
  • Tuế Phá cùng Thiên Hư (luôn luôn giáp một bên): thế giáp mặc định mang khí phá tán và trống rỗng, có ở mọi lá số nên không dùng để phán đoán.
  • Giải Thần, Phượng Các, Thiên Khốc, Long Đức, Bạch Hổ, Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Điếu Khách (vĩnh viễn không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu): chín sao này Nguyệt Đức không bao giờ gặp trên bản mệnh, chỉ gặp qua đường lưu niên.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Nguyệt Đức còn thêm một tầng nữa: phần lớn vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng từ trước, trong đó có thế đồng cung bất biến với Tử Phù, thế tam hợp bất biến với Thiên Đức, và thế vĩnh viễn không gặp Giải Thần, Phượng Các hay Thiên Khốc trên bản mệnh. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.

9 Nguyệt Đức Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục trên nói về Nguyệt Đức đứng yên. Mục này nói chuyện động, tức ba tầng thời gian chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính sao này.

Khi đại vận đi vào cung có Nguyệt Đức

Suy luận Mười năm ấy thường mang một chất chung: chậm, lắng, mà có người đỡ. Không phải mười năm phát đạt, cũng không phải mười năm hoạn nạn; đúng hơn là mười năm mà việc gì cũng lâu hơn dự tính, nhiệt tình xuống thấp, nhưng những việc dữ đến rồi đi mà không để lại vết sâu. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, có Hóa Khoa hay Khôi Việt thì cái chậm lại thành cái lợi: đây là vận hợp để học sâu một nghề, viết một công trình, chăm sóc gia đình, phục hồi sức khỏe, làm những việc phải nhiều năm mới thấy quả.

Kinh nghiệm Nếu cung ấy có Hóa Kỵ, Kình Đà hay Không Kiếp thì đừng trông vào chữ Đức, và nên giữ đúng một nguyên tắc: đừng bỏ dở. Thầy thấy điểm chung của những vận Nguyệt Đức nặng không phải là biến cố, mà là chuỗi việc bắt đầu rồi bỏ giữa chừng. Mười năm sau nhìn lại thì cái hao lớn nhất chính là những cái dở dang ấy, và đức tinh chỉ làm được một việc là lần nào cũng có người giúp để mình đứng dậy đi tiếp.

Nguyệt Đức có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ

Kinh văn Không phải sao nào cũng có bản lưu. Sao an theo can hoặc chi năm sinh thì có, vì chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi năm đang xem: vòng Thái Tuế theo chi và vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn đều có bản lưu. Ngược lại vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Hữu, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp cũng không có bản lưu.

Suy luận Nguyệt Đức an theo chi năm sinh nên có lưu Nguyệt Đức: lấy chi của năm đang xem, cộng năm cung theo chiều thuận. Chi năm chạy đủ mười hai giá trị nên lưu Nguyệt Đức quay trọn một vòng mười hai năm, dời đúng một cung mỗi năm, và cứ mười hai năm lại về đúng cung Nguyệt Đức bản mệnh một lần, tức vào năm tuổi. Vì lưu Tử Phù cũng cộng năm cung, lưu Nguyệt Đức và lưu Tử Phù cũng luôn trùng nhau, y như trên bản mệnh.

Vị trí lưu Thái Tuế, lưu Nguyệt Đức và lưu Thiên Đức theo từng năm dương lịch
NămCan chi nămLưu Thái Tuế tạiLưu Nguyệt Đức tạiLưu Thiên Đức tại
2024Giáp ThìnThìnDậuSửu
2025Ất TỵTỵTuấtDần
2026Bính NgọNgọHợiMão
2027Đinh MùiMùiThìn
2028Mậu ThânThânSửuTỵ
2029Kỷ DậuDậuDầnNgọ
2030Canh TuấtTuấtMãoMùi
2031Tân HợiHợiThìnThân
2032Nhâm TýTỵDậu
2033Quý SửuSửuNgọTuất

Suy luận Lưu Nguyệt Đức của một năm là sao của năm ấy, đúng cho mọi người; cái riêng nằm ở chỗ nó rơi vào cung chức nào trên lá số từng người. Năm 2026 Bính Ngọ lưu Nguyệt Đức đều ở Hợi, kèm lưu Tử Phù cũng ở Hợi. Với người có cung Tật Ách tại Hợi thì đó là năm thuận cho việc chữa dứt một chứng vặt kéo dài, còn với người có cung Tài Bạch tại Hợi thì là năm nên soát lại các khoản chi nhỏ.

Các lưu sao khác chạm vào cung Nguyệt Đức

Suy luận Bốn nhóm đáng xem. Lưu Thái Tuế đóng đúng cung Nguyệt Đức bản mệnh: năm cái đức được đem ra dùng, thường phải đứng ra nhận trách nhiệm, hòa giải, hoặc giải quyết cho xong một chuyện tồn đọng. Lưu Kình Dương và lưu Đà La ghé vào: cái chậm thành cái vướng, nhưng thường dừng trước khi đi xa. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ: trên bản mệnh hai sao ấy vĩnh viễn không tới được cung Nguyệt Đức, nhưng bản lưu của chúng thì vào được; khi trùng như vậy cũng chỉ nên đọc là một năm nhiều việc buồn nhỏ, nên thăm hỏi người trên. Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc ghé vào: năm có người đỡ, hợp việc học, việc viết, việc chữa dứt điểm một chuyện dở dang.

Kinh nghiệm Thầy nói thêm một câu nghiêm. Vì tên sao đẹp nên Nguyệt Đức hay bị dùng để dỗ người, y như Tử Phù cùng cung với nó hay bị dùng để dọa người. Cả hai cách dùng đều sai một kiểu. Một mình lưu Nguyệt Đức không đủ tư cách bảo đảm một năm bình an, cũng như một mình Tử Phù không đủ tư cách báo một điều dữ. Khoa Đẩu Số xét hạn bằng cung đại vận, cung lưu niên, chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, bộ sát tinh, Tuần Triệt và cung Tật Ách, chứ không xét bằng một phụ tinh nhỏ.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Nguyệt Đức

Với sao mang tên dữ thì mục ranh giới dùng để gỡ nỗi sợ; với Nguyệt Đức thì dùng để gỡ sự trông cậy quá mức. Một cái tên đẹp cũng gây hại được, khi nó khiến người ta yên tâm ở chỗ đáng lẽ phải cẩn thận.

Nguyệt Đức không phải bùa hộ mệnh, và sách chưa bao giờ nói thế

Kinh văn Tân Biên chép nghĩa của cặp Thiên Nguyệt Đức rất gọn: chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ được những bệnh tật nhỏ; chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Sách dừng đúng ở đó, không có câu nào nói sao này giải được đại hạn, tránh được tai nạn, hóa giải được Kình Đà Không Kiếp hay bảo đảm thọ mệnh. Kinh nghiệm Thầy đã gặp nhiều lần người nghe hai chữ Nguyệt Đức rồi bỏ luôn lịch khám bệnh hoặc coi nhẹ một điều cần cẩn thận trong năm hạn. Đó là cách hiểu sai gây hại nhiều hơn cả những lời dọa.

Ai cũng có Nguyệt Đức, nên có Nguyệt Đức không phải điều đặc biệt

Suy luận Nguyệt Đức an theo chi năm sinh, mà ai cũng có một chi năm sinh, nên mọi lá số đều có đúng một Nguyệt Đức, kèm một Thiên Đức và một Phúc Đức. Không ai thiếu, không ai có hai. Vậy câu quảng cáo rằng lá số này quý vì có Nguyệt Đức là câu vô nghĩa. Điều đáng nói là Nguyệt Đức của quý vị rơi vào cung chức nào, đứng cùng chính tinh gì, và có bị chặn hay bị sát tinh vây không.

Nguyệt Đức đồng cung Tử Phù không phải điềm gở, và cũng không phải phép trừ khử

Suy luận Đây là hiểu lầm riêng của sao này, và nó chạy theo hai hướng ngược nhau. Hướng thứ nhất: có người nhìn thấy chữ Tử Phù ngồi cùng đức tinh rồi bảo đó là dấu hiệu phúc bị hao. Không phải, đó chỉ là hệ quả của việc hai phép an cùng cộng năm cung, đúng với mọi lá số của mọi người. Hướng thứ hai: có người bảo Nguyệt Đức giải hết Tử Phù nên chữ Tử ấy vô nghĩa. Cũng không phải. Cấu trúc chỉ nói rằng hai khí ấy luôn ở cùng một chỗ, không nói khí nào thắng. Cái quyết định nghiêng về bên nào là chính tinh cùng cung, Tứ Hóa và sát tinh, chứ không phải hai sao nhỏ tự phân thắng bại với nhau.

Nguyệt Đức của Tử Vi khác Nguyệt Đức quý nhân của Bát Tự

Kinh văn Bát Tự Tứ Trụ cũng có thần sát mang tên Nguyệt Đức quý nhân, nhưng tra theo tháng sinh rồi đối chiếu với can chi các trụ, chứ không an theo chi năm và không đặt lên địa bàn mười hai cung. Hai hệ khác tham số, khác cách dùng, không được lấy kết luận của hệ này áp sang hệ kia. Muốn xem bên ấy thì dùng công cụ lập tứ trụ, không phải bài này.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Nguyệt Đức Qua Ba Bước

Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh: tuổi Đinh Hợi, Tử Vi an tại Mùi, Mệnh an tại Thìn. Đếm thuận năm cung từ Hợi ra Nguyệt Đức tại Thìn, rơi đúng cung Mệnh; cùng cung có Tử Phù theo quy luật bất biến, thêm Hồng Loan vì tuổi Hợi. Thiên Đức ở Thân và Thiếu Dương cùng Thiên Không ở Tý lập tam hợp chiếu về; Trực Phù ở Tuất xung chiếu; Quan Phù cùng Long Trì ở Mão và Tuế Phá cùng Thiên Hư ở Tỵ giáp hai bên. Lưới dưới đây vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao theo chi năm không vẽ trên lưới nên ghi bằng chữ trong lời luận.

Bước một: Nguyệt Đức đứng ở cung chức nào và đứng cùng ai

Nguyệt Đức tại Thìn, tức cung Mệnh, đồng cung với Thái Dương độc tọa. Thái Dương tại Thìn là chỗ vượng địa, tức mặt trời buổi sớm đang lên. Cùng cung còn có Tử Phù và Hồng Loan.

Đây là ví dụ cố ý chọn để nói cho hết mục ranh giới. Nếu chỉ nghe tên thì người ta tưởng cung Mệnh này vừa lành vừa gở, chẳng biết đọc thế nào. Trên thực tế đây là một cung Mệnh sáng: chính tinh vượng địa quyết định gần hết, đức tinh góp một lớp đoan chính, Tử Phù góp một nét trầm, Hồng Loan góp nét duyên. Đọc thành một người sáng sủa mà không ồn, đứng chỗ nắng mà vẫn giữ được sự lặng bên trong.

Bước hai: hóa gì và Lộc Tồn Kình Đà ở đâu

Tuổi Đinh nên bộ Tứ Hóa là Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa, Cự Môn hóa Kỵ. Cung Mệnh tại Thìn không có sao nào hóa, nên Thái Dương giữ nguyên ánh sáng gốc theo vượng địa. Thái Âm hóa Lộc nằm tại Tuất, tức cung Thiên Di, xung chiếu thẳng vào Mệnh: Nhật ở Mệnh, Nguyệt hóa Lộc ở đối cung, tiền của và cơ hội tới từ bên ngoài chứ không nằm sẵn trong nhà.

Chỗ phải nói kỹ là cung Tài Bạch tại Tý. Nơi ấy có Cự Môn hóa Kỵ, lại đúng là đỉnh tam hợp mang Thiếu Dương và Thiên Không, thêm Đào Hoa vì tuổi Hợi. Vậy tam giác đức tinh của lá này phủ lên Mệnh, Tài Bạch và Quan Lộc, mà một chân của tam giác ấy lại là chỗ Hóa Kỵ đóng. Đây đúng là chỗ để nói cho đúng liều lượng rằng đức tinh không xóa được Kỵ: tiền bạc của người này vẫn vướng lời ăn tiếng nói và vẫn hay bị hụt, chỉ khác là mỗi lần hụt thì có người đỡ và có đường lui.

Tuổi Đinh có Lộc Tồn tại Ngọ, Kình Dương tại Mùi, Đà La tại Tỵ. Lộc Tồn rơi vào Phúc Đức tại Ngọ cùng Thiên Cơ hóa Khoa, một chỗ rất đẹp: phúc phần dày và có chỗ tích. Đà La rơi vào Phụ Mẫu tại Tỵ, tức đúng cung giáp Mệnh nơi đã có Tuế Phá và Thiên Hư, nên bên ấy là bên phải giữ gìn. Cả ba sát tinh đều không đóng cung Mệnh nên Nguyệt Đức của lá này không bị cứa vào.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì và kết luận

Cung Mệnh tại Thìn có tam hợp là Thân và Tý, xung chiếu là Tuất. Thân là Quan Lộc bỏ trống nên mượn sao cung đối diện là Dần có Thiên Đồng hóa Quyền và Thiên Lương; Tý là Tài Bạch có Cự Môn hóa Kỵ; Tuất là Thiên Di có Thái Âm hóa Lộc. Gộp lại, tam phương tứ chính của Mệnh có Thái Dương vượng, Thái Âm hóa Lộc xung chiếu, Cự Môn hóa Kỵ và Đồng Lương hóa Quyền hợp chiếu, tức đủ bộ Nhật Nguyệt Cự Lương. Mẫu người hợp nghề dùng lời nói và uy tín: giảng dạy, tư vấn, y tế, luật, công tác xã hội.

Nguyệt Đức đặt vào nền ấy đóng góp đúng một điều: giữ cho cái sáng của Thái Dương không thành cái chói, và giữ cho cái duyên của Hồng Loan ở trong khuôn. Điểm cần giữ là Cự Môn hóa Kỵ tại Tài Bạch và Đà La tại Phụ Mẫu: cẩn thận lời hứa về tiền bạc, và chăm sóc người trên sớm hơn là muộn.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ can Đinh, đổi chi từ Hợi sang Tỵ: Nguyệt Đức dời về Tuất, tức cung Thiên Di nếu vẫn an Mệnh tại Thìn, kéo theo Tử Phù và cả Hồng Loan vì tuổi Tỵ Hồng Loan cũng ở Tuất. Cung Mệnh mất cả ba sao, chỉ còn Thái Dương vượng trơ trọi, nên người bớt nét trầm mà cũng bớt nét đoan chính giữ nếp. Thiên Đức dời về Dần, Thiếu Dương về Ngọ, nên tam giác đức tinh phủ lên Thiên Di, Phu Thê và Phúc Đức thay vì Mệnh, Tài, Quan.
  • Giữ chi Hợi, đổi sang can Quý: Nguyệt Đức vẫn ở Thìn cùng Thái Dương, Tử Phù và Hồng Loan, vì nó chỉ nghe theo chi. Nhưng Tứ Hóa đổi thành Phá Quân hóa Lộc, Cự Môn hóa Quyền, Thái Âm hóa Khoa, Tham Lang hóa Kỵ. Cung Tài Bạch tại Tý không còn Cự Môn hóa Kỵ mà là Cự Môn hóa Quyền, nên chân tam hợp vốn xấu nay thành chỗ mạnh: tiền bạc do lời nói mà ra. Đổi lại Tham Lang hóa Kỵ rơi vào Tật Ách tại Hợi cùng Liêm Trinh, nên phần phải giữ chuyển sang sức khỏe. Cùng một Nguyệt Đức mà đọc ra một người khác.

Hai trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Nguyệt Đức mà chỉ nhìn cái tên thì không đọc được gì. Muốn biết Nguyệt Đức của chính mình đóng ở cung chức nào và tam giác đức tinh phủ lên ba cung nào, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Nguyệt Đức trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.

12 Lời Khuyên Và Cách Giữ Cái Đức

Kinh nghiệm Với Nguyệt Đức, lời khuyên không phải hóa giải mà là giữ. Nó không cần trừ khử, không cần lễ lạt, và cũng không tự nhiên dày lên. Nhưng vì nó ngồi trọn đời cùng Tử Phù, nên lời khuyên có thêm một vế nữa: giữ cái đức, đồng thời chặn cái mỏi.

Giữ chữ tín, vì đó là chỗ đức tinh biến thành việc thật

Kinh nghiệm Người có Nguyệt Đức đóng cung tốt thường được giúp đúng lúc ngặt, mà người giúp lại là người cũ, người mình từng tử tế nhiều năm trước. Vậy cách bồi đắp cụ thể nhất không phải cúng bái mà là giữ lời và giữ liên lạc. Đã hứa thì làm, không làm được thì nói sớm; người từng giúp mình thì nhớ hỏi thăm cả khi không cần gì.

Chặn cái mỏi, vì Tử Phù luôn ngồi cùng

Suy luận Cái nguy hiểm nhất của cung Nguyệt Đức không phải biến cố, là sự bỏ dở. Cách gỡ rất đời thường: chia việc thành chặng ngắn có mốc kết thúc rõ, mỗi chặng xong thì đánh dấu, và tìm một người cùng chịu trách nhiệm để mình không tự cho phép bỏ. Với tiền bạc thì rà lại các khoản trả định kỳ và thanh lý những thứ nằm chết, vì cái hao ở đây là dòng rỉ chứ không phải cú vỡ.

Giữ sức, vì sách chỉ hứa giải bệnh nhỏ

Suy luận Với người có Nguyệt Đức ở Tật Ách hoặc ở Mệnh, việc nên làm ngược hẳn với cảm giác yên tâm mà cái tên đem lại: khám định kỳ đều đặn. Sức mạnh của đức tinh là làm cho bệnh được phát hiện sớm và chữa suôn sẻ, mà muốn phát hiện sớm thì phải đi khám. Nếu tình trạng trầm uất kéo dài nhiều tháng và ảnh hưởng tới ăn ngủ, làm việc, thì việc nên làm là gặp thầy thuốc, không phải gặp thầy bói. Đó cũng là ranh giới nghề nghiệp mà Thầy giữ.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Vì cung Nguyệt Đức đã sẵn một nét trầm, chỗ ở nên sáng và thoáng, mở cửa lấy nắng buổi sáng, hạn chế phòng ẩm và thiếu ánh sáng tự nhiên. Bỏ bớt đồ cũ không dùng là việc hợp nhất với sao này, vừa dọn nhà vừa dọn lòng. Việc thiện nguyện làm đều đặn và vừa sức có ích hơn một lần làm lớn rồi bỏ. Về màu sắc, sắc ấm và sáng vừa phải thường dễ chịu hơn sắc lạnh và sắc tối. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết. Xin nói rõ một lần nữa: khoa Đẩu Số không có nghi lễ nào để tăng thêm Nguyệt Đức, và ai bán lễ như thế thì đó là chuyện của người bán.

Kinh nghiệm Lời cuối của mục này: một cái tên lành không làm thay được việc lành. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay; dùng nó thế nào thì vẫn là chuyện của người cầm.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc mà trang này thật sự dẫn. Đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách nêu dưới đây; đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ cấu trúc an sao, nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiên Đức Nguyệt Đức: hai sao thuộc hành Hỏa, chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ được những bệnh tật nhỏ; chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Đây là nguồn kinh văn duy nhất của bài về tính chất sao, và sách dừng đúng ở đó.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, dùng để đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh nhóm Tứ Đức. Toàn Thư không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho Nguyệt Đức nên bài này cũng không dựng bảng ấy.
  • Phép an Nguyệt Đức theo địa chi năm sinh cộng năm cung theo chiều thuận, Thiên Đức cộng chín cung, và trật tự mười hai sao vòng Thái Tuế, lấy đúng theo bảng an sao mà trang thayungkhiem.vn đang chạy.
  • Sách không lập câu phú riêng cho Nguyệt Đức. Thầy đã soát phần phú trong các bộ đang dùng và không thấy câu nào lập riêng cho sao này; các câu phú về phúc đức và cứu giải đều gắn với Thiên Lương, Thiên Đồng, Hóa Khoa hoặc Thiên Quan Thiên Phúc. Vì luật nhà cấm bịa phú nên bài này không dẫn câu phú nào.
  • Cấu trúc an sao đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Đã chạy đối chiếu đủ mười hai tuổi chi và mười hai thế Tử Vi để xác nhận: Nguyệt Đức đi trọn mười hai cung và mọi chính tinh đều có thể đồng cung; quan hệ đồng cung tuyệt đối với Tử Phù, đúng ở cả mười hai tuổi; khoảng cách bất biến bốn cung với Thiên Đức, tức tam hợp tuyệt đối và không bao giờ đồng cung; tam hợp cố định với Thiếu Dương cùng Thiên Không; xung chiếu cố định với Trực Phù cùng Quán Sách; thế giáp cố định của Quan Phù cùng Long Trì và của Tuế Phá cùng Thiên Hư; tình trạng không quan hệ với Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ, Điếu Khách; khoảng cách luôn lẻ với Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc; quan hệ tam hợp tuyệt đối với Đào Hoa cùng bốn tuổi đồng cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lá số minh họa cũng dựng bằng thuật toán ấy.
  • Đính chính so với bản cũ của trang này. Bản cũ xếp Giải Thần vào bộ giải cứu đi cùng Nguyệt Đức. Kiểm bằng thuật toán thì Giải Thần an ngược chiều theo chi năm sinh nên khoảng cách với Nguyệt Đức luôn là số lẻ, tức không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu trên bản mệnh. Bài này giữ Thiên Quan, Thiên Phúc và Thiên Trù trong nhóm phúc ấm vì ba sao ấy an theo thiên can nên vị thế không cố định, còn Giải Thần thì đã bỏ khỏi danh sách.

Lưu ý về dị bản: phép an Thiên Đức và Nguyệt Đức theo chi năm sinh có vài dị bản giữa các trường phái, có sách an theo tháng sinh giống bên Bát Tự. Bài này dùng đúng bảng mà trang an lá số đang chạy, tức Nguyệt Đức cách chi năm sinh năm cung và Thiên Đức cách chín cung theo chiều thuận; mọi kết luận cấu trúc của bài đều rút từ bảng ấy, nên quý vị dùng sách khác thì phải đối chiếu lại, đặc biệt là quan hệ đồng cung với Tử Phù. Thần sát cùng tên bên Bát Tự Tứ Trụ tính theo tháng sinh, hoàn toàn khác, không thuộc phạm vi bài này.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiên Đức Nguyệt Đức, có đối chiếu Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư về cách an, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao và các quan hệ bất biến thì kiểm bằng thuật toán an sao của trang, chạy đủ mười hai tuổi chi và mười hai thế Tử Vi. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, và không trông cậy quá mức vào một cái tên đẹp.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Nguyệt Đức

Nguyệt Đức là sao phúc đức trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, đi cùng Thiên Đức. Đây là cát tinh có tính giải cứu, chủ đức độ, đoan chính, nhân hậu và giải trừ bệnh tật nhỏ.

Hai sao đi cặp, ý nghĩa gần như nhau là phúc đức, đoan chính và giải ách. Khi hội đủ thành bộ Thiên Nguyệt Đức thì khả năng che chở, hóa giải càng rõ.

Nguyệt Đức là cát tinh phúc đức, quý ở khả năng giải trừ bệnh tật nhỏ, làm dịu sát tinh và giữ phẩm hạnh đoan chính, giúp việc dữ hóa lành.

Nguyệt Đức an theo địa chi năm sinh, đi cùng Thiên Đức trong lá số.

Có, ở cả mười hai tuổi chi, không lệch một lần nào. Tử Phù đứng thứ sáu trong vòng Thái Tuế nên cách Thái Tuế đúng năm cung, mà Nguyệt Đức cũng cộng năm cung từ chi năm sinh, nên hai phép an ra cùng một cung. Nghĩa là cát tinh phúc đức này bị cấu trúc buộc phải ngồi trọn đời cùng một bại tinh mang chữ Tử trong tên, và không lá số nào tách được hai sao ấy ra. Điều này đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cấu trúc chỉ nói hai khí ấy luôn ở cùng một chỗ, không nói khí nào thắng.

Luôn cách nhau đúng bốn cung, tức luôn tam hợp nhau, và vì thế không bao giờ đồng cung cũng không bao giờ xung chiếu. Nguyệt Đức cộng năm cung từ chi năm sinh, Thiên Đức cộng chín cung, hiệu số là bốn ở mọi tuổi. Chân thứ ba của tam hợp ấy luôn là Thiếu Dương, mà Thiếu Dương lại luôn đi cùng Thiên Không, nên tam giác đức tinh có một chân mang khí hư hao. Ai gặp lá số vẽ hai đức tinh chung một cung thì nên xem lại phần mềm an sao.

Không. Tân Biên chỉ chép rằng Nguyệt Đức cùng Thiên Đức chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu, giải trừ được những bệnh tật nhỏ, và chế được tính hoa nguyệt của Đào Hồng. Sách dừng đúng ở chữ nhỏ ấy. Với sát tinh nặng và Hóa Kỵ, Nguyệt Đức chỉ làm cho hậu quả nhẹ hơn dự tính và thường có người đỡ, chứ không ngăn được sự việc, nhất là khi Hóa Kỵ đồng cung lại cộng hưởng với Tử Phù vốn đã ngồi sẵn trong cung ấy. Có sao này vẫn phải đi khám sức khỏe đúng lịch.

Trên bản mệnh, Nguyệt Đức không bao giờ đồng cung, giáp, tam hợp hay xung chiếu với Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ và Điếu Khách của vòng Thái Tuế, vì khoảng cách với chúng lần lượt là năm, ba, hai, mười, chín và bảy cung, những con số không tạo ra quan hệ nào. Ngoài vòng còn có Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc: ba sao ấy an ngược chiều theo chi năm sinh nên khoảng cách với Nguyệt Đức luôn lẻ, tức vĩnh viễn không gặp. Chúng chỉ gặp nhau qua đường lưu niên.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.