1 Sao Tam Thai là gì

Tam Thai là sao chủ sự bệ vệ và phúc hậu, ngũ hành Thủy, đi cặp với Bát Tọa. Tên Tam Thai gợi ba bậc cao quý, nên sao mang ý nghĩa nâng đỡ địa vị, làm tăng quý khí cho cung và sao đi cùng.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Tam Thai là một trong số rất ít sao của khoa Tử Vi Đẩu Số an theo hai tham số cùng lúc: trước hết theo tháng sinh âm lịch để tìm cung Tả Phụ, rồi theo ngày sinh âm lịch để đếm đi từ cung ấy. Sách chép phép an rất gọn: lấy cung có Tả Phụ làm mùng một, đếm thuận chiều kim đồng hồ mỗi ngày một cung cho tới ngày sinh, dừng ở cung nào thì an Tam Thai vào cung ấy. Bát Tọa làm ngược lại: lấy cung có Hữu Bật làm mùng một rồi đếm nghịch cho tới ngày sinh.
Suy luận Viết lại thành công thức cho gọn thì Tam Thai đứng cách Tả Phụ đúng số ngày sinh trừ một cung, tính theo chiều thuận. Sinh mùng một thì hai sao trùng khít; sinh mùng hai thì cách một cung; sinh mùng bảy thì cách sáu cung, tức đứng đối diện Tả Phụ; sinh ngày mười ba và ngày hai mươi lăm lại trùng khít Tả Phụ vì mười hai cung là trọn một vòng. Chính vì có tham số ngày mà Tam Thai không có mặt trong bảng an sao theo can, chi, tháng, giờ mà các trang khác hay chép lại; muốn có bảng vị trí của nó thì phải dựng riêng, và bảng ấy có tới ba trăm sáu mươi ô.
Bước một: cung Tả Phụ và cung Hữu Bật theo tháng sinh
Kinh văn Tả Phụ khởi từ cung Thìn cho tháng giêng rồi đếm thuận, mỗi tháng một cung. Hữu Bật khởi từ cung Tuất cho tháng giêng rồi đếm nghịch, mỗi tháng một cung. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai tháng, kèm luôn Thiên Hình và Thiên Riêu vì hai sao ấy cũng an theo tháng và sẽ dùng tới ở mục sau.
| Tháng sinh | Tả Phụ | Hữu Bật | Thiên Hình | Thiên Riêu |
|---|---|---|---|---|
| Tháng 1 | Thìn | Tuất | Dậu | Sửu |
| Tháng 2 | Tỵ | Dậu | Tuất | Dần |
| Tháng 3 | Ngọ | Thân | Hợi | Mão |
| Tháng 4 | Mùi | Mùi | Tý | Thìn |
| Tháng 5 | Thân | Ngọ | Sửu | Tỵ |
| Tháng 6 | Dậu | Tỵ | Dần | Ngọ |
| Tháng 7 | Tuất | Thìn | Mão | Mùi |
| Tháng 8 | Hợi | Mão | Thìn | Thân |
| Tháng 9 | Tý | Dần | Tỵ | Dậu |
| Tháng 10 | Sửu | Sửu | Ngọ | Tuất |
| Tháng 11 | Dần | Tý | Mùi | Hợi |
| Tháng 12 | Mão | Hợi | Thân | Tý |
Suy luận Đọc bảng thì thấy ngay một điều quyết định toàn bộ cấu trúc của bài này: Tả Phụ và Hữu Bật luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Tháng tư và tháng mười hai sao cùng đứng trên trục nên đồng cung, tháng tư tại Mùi và tháng mười tại Sửu. Càng xa hai tháng ấy thì hai sao càng dạt về hai phía, nhưng bao giờ cũng cân đối như một chiếc gương. Cổ nhân gọi Tả Phụ là bàn tay trái, Hữu Bật là bàn tay phải, và cấu trúc an sao đã dựng đúng cái nghĩa ấy.
Bước hai: bảng vị trí Tam Thai đủ mười hai tháng và ba mươi ngày
Suy luận Bảng dưới đây do chương trình sinh ra, chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày. Quý vị dò hàng theo ngày sinh âm lịch, dò cột theo tháng sinh âm lịch, giao nhau ở ô nào thì Tam Thai của quý vị đóng tại cung ấy. Người sinh tháng thiếu chỉ có hai mươi chín ngày thì bỏ hàng cuối.
| Ngày sinh | Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Ngày 1 | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Ngày 2 | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngày 3 | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Ngày 4 | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Ngày 5 | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Ngày 6 | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Ngày 7 | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Ngày 8 | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Ngày 9 | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
| Ngày 10 | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Ngày 11 | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ngày 12 | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Ngày 13 | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Ngày 14 | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngày 15 | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Ngày 16 | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Ngày 17 | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Ngày 18 | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Ngày 19 | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Ngày 20 | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Ngày 21 | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
| Ngày 22 | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Ngày 23 | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ngày 24 | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Ngày 25 | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Ngày 26 | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngày 27 | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Ngày 28 | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Ngày 29 | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Ngày 30 | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
Bảy điều bất biến của Tam Thai
- Tam Thai an được cả mười hai cung. Vì ngày sinh chạy từ một tới ba mươi mà vòng chỉ có mười hai cung, nên với bất kỳ tháng nào cũng đủ ngày để đưa Tam Thai đi khắp địa bàn. Không có cung nào Tam Thai không tới được, cũng không có cung nào nó ưu ái. Mọi lá số đều có Tam Thai, không sót ai.
- Tam Thai và Bát Tọa luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi. Đây là điều bất biến quan trọng nhất. Tả Phụ đi thuận theo tháng, Hữu Bật đi nghịch theo tháng, nên tổng vị trí của chúng không đổi. Tam Thai đi thuận thêm đúng số ngày, Bát Tọa đi nghịch đúng số ngày ấy, nên tổng vị trí của Tam Thai và Bát Tọa cũng không đổi và bằng đúng tổng của Tả Hữu. Chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp bằng chương trình thì kết quả đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần.
- Hai sao chỉ có thể đồng cung tại Sửu hoặc tại Mùi. Hệ quả trực tiếp của điều trên: muốn đồng cung thì cả hai phải đứng ngay trên trục đối xứng, mà trục ấy chỉ đi qua hai cung. Không có cung thứ ba. Ai nói lá số của mình có Tam Thai Bát Tọa đồng cung tại Dần hay tại Dậu thì lá số ấy đã an sai.
- Hai sao chỉ có thể xung chiếu tại Thìn và Tuất. Thìn Tuất là cặp cung duy nhất vừa đối diện nhau vừa cân đối qua trục Sửu Mùi. Còn thế tam hợp thì chỉ có đúng hai cặp: Tỵ với Dậu, và Mão với Hợi. Nói cách khác, bộ Thai Tọa không bao giờ hội tam hợp trong hai tam hợp Dần Ngọ Tuất và Thân Tý Thìn, chỉ hội được trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu và tam hợp Hợi Mão Mùi.
- Khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn, nên chúng vĩnh viễn không đứng liền kề nhau. Tính ra thì khoảng cách bằng hai lần tổng của tháng sinh cộng ngày sinh trừ năm. Vì luôn chẵn nên không bao giờ bằng một hay mười một, tức không bao giờ có thế Tam Thai và Bát Tọa giáp hai bên một cung. Ai luận cho quý vị một cung được Thai Tọa giáp thì đó là điều không tồn tại.
- Tam Thai giữ khoảng cách cố định với Tả Phụ, và khoảng cách ấy chỉ phụ thuộc ngày sinh. Đồng cung Tả Phụ khi sinh ngày 1, 13, 25; xung chiếu Tả Phụ khi sinh ngày 7, 19; tam hợp chiếu Tả Phụ khi sinh ngày 5, 9, 17, 21, 29. Điều đáng nói là quan hệ này không phụ thuộc tháng sinh chút nào: hai người sinh khác tháng mà cùng ngày thì cùng một thế Tam Thai với Tả Phụ, chỉ khác chỗ đứng trên địa bàn.
- Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Tam Thai. Vì sao tới được cả mười hai cung, mà mỗi cung qua mười hai thế Tử Vi đều có thể chứa nhiều chính tinh khác nhau, nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Tam Thai, và cung ấy cũng có thể trống. Tam Thai không kén chính tinh, và cũng vì thế nó không tự định được cục diện.
Khoảng cách cố định giữa Tam Thai và Bát Tọa, tính bằng máy
Suy luận Chương trình chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp tháng ngày cho ra một phân bố rất đều, và Thầy nghĩ quý vị nên biết con số này trước khi đọc bất cứ lời luận nào về bộ Thai Tọa.
| Khoảng cách | Thế hội chiếu | Cung có thể xảy ra | Tỷ lệ |
|---|---|---|---|
| Không cung | Đồng cung, bộ trọn vẹn và mạnh nhất | Chỉ Sửu hoặc Mùi | Một phần sáu |
| Hai cung | Không hội chiếu, bộ không thành bộ | Nhiều cung | Một phần sáu |
| Bốn cung | Tam hợp chiếu | Tỵ với Dậu, hoặc Mão với Hợi | Một phần sáu |
| Sáu cung | Xung chiếu, hai sao nhìn thẳng nhau | Chỉ Thìn và Tuất | Một phần sáu |
| Tám cung | Tam hợp chiếu | Tỵ với Dậu, hoặc Mão với Hợi | Một phần sáu |
| Mười cung | Không hội chiếu, bộ không thành bộ | Nhiều cung | Một phần sáu |
Kinh nghiệm Cộng lại thì hai phần ba số lá số có bộ Thai Tọa hội được với nhau bằng đồng cung, xung chiếu hoặc tam hợp, còn một phần ba thì hai sao đứng lẻ, cách nhau hai cung hoặc mười cung, không nhìn thấy nhau. Thầy nêu con số này ra vì trong nghề có một thói quen tai hại: cứ thấy tên Tam Thai trên lá số là nói ngay có bộ Thai Tọa. Phải nhìn xem Bát Tọa đứng ở đâu đã. Một phần ba số người không có bộ, và với họ thì Tam Thai chỉ là một ngôi sao lẻ tô nhẹ cho cung nó đóng.
Suy luận Một chi tiết nhỏ mà đẹp về mặt cấu trúc: cái tổng không đổi của Tam Thai với Bát Tọa bằng đúng cái tổng không đổi của Tả Phụ với Hữu Bật. Hai bộ dùng chung một trục gương là trục Sửu Mùi. Vì thế Thầy vẫn dạy học trò một câu cho dễ nhớ: bộ Thai Tọa là cái bóng của bộ Tả Hữu, cùng một trục, chỉ khác chỗ đứng. Bóng có thể chụm lại khi hình đang tách ra, và ngược lại; lá số minh họa ở cuối bài cho quý vị thấy đúng cảnh ấy.
3 Cách An Và Vị Trí Của Tam Thai Trong Lá Số

Tam Thai an theo Tả Phụ và ngày sinh, đi cặp với Bát Tọa. Hai sao Tam Thai Bát Tọa hợp thành bộ tăng quý khí.
Vì là phụ tinh, Tam Thai làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Tam Thai cùng Bát Tọa chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ, và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Đây là cặp sao phụ trợ, tăng vẻ đường bệ và phúc khí cho người mang nó.
Tam Thai đi cùng Bát Tọa và các sao quý như Tả Hữu, Khôi Việt thì làm nổi địa vị, sự được nể trọng. Là sao phụ trợ, Tam Thai phát huy rõ khi cung có chính tinh sáng và cát tinh.
5 Tam Thai Không Thuộc Vòng Nào: Quan Hệ Cố Định Với Bộ Tả Hữu Và Các Sao Theo Tháng
Suy luận Khoa Tử Vi có bốn vòng sao lớn, mỗi vòng mười hai sao phủ kín mười hai cung: vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo thiên can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục của lá số, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm sinh. Đọc một sao thuộc vòng thì phải đọc cả vòng, vì vị trí của nó trong vòng đã khóa sẵn sao nào xung, sao nào tam hợp, sao nào giáp.
Suy luận Tam Thai không thuộc vòng nào trong bốn vòng ấy. Nó cũng không thuộc chòm Tử Vi hay chòm Thiên Phủ. Nó là một sao lẻ, an bám vào một sao khác. Nhưng chính vì bám vào Tả Phụ mà nó lại có một hệ quan hệ cố định rất chặt, chặt hơn nhiều sao trong vòng, và đó mới là chỗ để luận sâu.
Bộ Thai Tọa là bóng của bộ Tả Hữu
Kinh văn Sách xếp Tam Thai và Bát Tọa thành một bộ, gọi tắt là bộ Thai Tọa, cùng chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Tên hai sao đều nói về chỗ ngồi: Tam Thai là ba bậc đài cao của triều đình xưa, Bát Tọa là tám chỗ ngồi dành cho bậc được trọng vọng. Cả hai đều không nói về tài, không nói về mệnh, mà nói về vị trí một người được xếp trong đám đông.
Suy luận Cấu trúc an sao dựng đúng cái nghĩa ấy, và dựng theo lối rất khéo. Tả Phụ Hữu Bật là người nâng đỡ, một tay trái một tay phải. Tam Thai Bát Tọa là chỗ ngồi mà sự nâng đỡ ấy đưa tới. Tam Thai sinh ra từ cung Tả Phụ nên nó là bóng của bàn tay trái; Bát Tọa sinh ra từ cung Hữu Bật nên nó là bóng của bàn tay phải. Hai bóng dùng chung một trục gương với hai bàn tay. Đây không phải một hình ảnh văn vẻ Thầy nghĩ ra, mà là kết quả tính bằng máy: tổng vị trí của Tam Thai với Bát Tọa bằng đúng tổng vị trí của Tả Phụ với Hữu Bật, ở cả ba trăm sáu mươi tổ hợp.
Kinh nghiệm Chỗ này có ích thật khi luận. Khi quý vị thấy một cung có cả Tả Phụ và Tam Thai, hãy biết đó là người sinh ngày mùng một, mười ba hoặc hai mươi lăm, và cung ấy được cả bàn tay lẫn chỗ ngồi dồn vào một chỗ; nghĩa nâng đỡ và nghĩa địa vị chồng lên nhau, rất đáng nói. Ngược lại khi Tam Thai đứng một mình xa Tả Phụ thì phải hiểu là chỗ ngồi có mà bàn tay đỡ ở nơi khác, tức có danh vị mà người giúp không ở cạnh.
Quan hệ cố định với các sao an theo tháng, chỉ phụ thuộc ngày sinh
Suy luận Đây là phần Thầy cho là đáng giá nhất của bài này, và cũng là phần hầu như không thấy ai viết. Trong nhóm sao an theo tháng sinh có một số sao đếm thuận giống Tả Phụ, nghĩa là mỗi tháng dịch một cung cùng chiều: Tả Phụ, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Hình, Thiên Giải, Địa Giải. Vì Tam Thai cũng bám vào một sao đếm thuận rồi cộng thêm ngày, nên khoảng cách giữa Tam Thai và mọi sao đếm thuận theo tháng đều cố định và chỉ phụ thuộc ngày sinh, hoàn toàn không phụ thuộc tháng sinh. Chương trình chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày xác nhận điều này đúng tuyệt đối.
| Sao an theo tháng, đếm thuận | Đồng cung Tam Thai khi sinh ngày | Tam hợp chiếu khi sinh ngày | Xung chiếu khi sinh ngày |
|---|---|---|---|
| Tả Phụ | 1, 13, 25 | 5, 9, 17, 21, 29 | 7, 19 |
| Thiên Riêu và Thiên Y | 10, 22 | 2, 6, 14, 18, 26, 30 | 4, 16, 28 |
| Thiên Hình | 6, 18, 30 | 2, 10, 14, 22, 26 | 12, 24 |
| Địa Giải | 4, 16, 28 | 8, 12, 20, 24 | 10, 22 |
| Thiên Giải | 5, 17, 29 | 1, 9, 13, 21, 25 | 11, 23 |
Kinh nghiệm Bảng trên dùng được ngay và dùng rất nhanh, chỉ cần biết ngày sinh âm lịch. Vài chỗ đáng lưu ý. Sinh ngày mười và ngày hai mươi hai thì Tam Thai ngồi chung cung với Thiên Riêu và Thiên Y, tức chỗ ngồi cao lại dính khí đa tình và khí bệnh tật của Thiên Riêu; đây là thế mà Thầy hay dặn phải giữ tiếng, vì địa vị càng cao thì chuyện riêng càng dễ thành chuyện chung. Sinh ngày sáu, mười tám, ba mươi thì Tam Thai ngồi chung Thiên Hình, chỗ ngồi đi liền với kỷ luật và pháp độ; hợp với nghề cần cầm cân nảy mực, mà cũng dễ vướng kiện tụng nếu cung ấy thêm sát tinh. Sinh ngày bốn, năm và các ngày cách mười hai thì Tam Thai gặp Địa Giải hoặc Thiên Giải, chỗ ngồi có sao gỡ đi kèm, gặp rắc rối thường có người đứng ra gỡ hộ.
Suy luận Ngược lại, phải nói rõ một điều để quý vị không suy sai. Bát Tọa không có đặc quyền ấy. Vì Hữu Bật đếm nghịch theo tháng mà Thiên Riêu, Thiên Hình, Tả Phụ đếm thuận, nên khoảng cách giữa Bát Tọa và các sao ấy đổi theo từng tháng, không cố định. Kiểm bằng máy thì Bát Tọa chỉ có đúng một quan hệ cố định theo ngày, là quan hệ với Hữu Bật, ngoài ra không còn quan hệ nào bất biến với nhóm sao tháng. Đây là chỗ hai sao trong cùng một bộ lại không đối xứng nhau về mặt cấu trúc, dù đối xứng nhau về mặt vị trí.
Tam Thai và bảng Tứ Hóa
Kinh văn Tam Thai không nằm trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào, ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Nó không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ. Bát Tọa cũng vậy. Trong toàn bộ nhóm phụ tinh, chỉ có bốn phụ tinh được vào bảng Tứ Hóa là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ và Hữu Bật.
Suy luận Nhưng đúng ở chỗ ấy lại có một mối liên hệ rất đáng chú ý mà Thầy muốn quý vị nhớ: tuổi Nhâm thì Tả Phụ hóa Khoa, tuổi Mậu thì Hữu Bật hóa Khoa. Nghĩa là hai ngôi sao gốc sinh ra bộ Thai Tọa đều có lúc mang Hóa Khoa, mà Hóa Khoa chính là hóa của danh tiếng, của khoa bảng, của sự được người biết tới. Với người tuổi Nhâm, nếu Tam Thai lại đóng đúng cung có Tả Phụ, tức sinh ngày mùng một, mười ba hoặc hai mươi lăm, thì cung ấy có Tả Phụ hóa Khoa cộng Tam Thai, một thế rất đẹp cho danh vị. Với người tuổi Mậu thì thế tương ứng nằm ở Hữu Bật và Bát Tọa. Cần ghi rõ dị bản: bảng Bắc phái đổi Hóa Khoa của tuổi Nhâm sang Thiên Phủ, nên câu trên chỉ đúng theo bảng Nam phái, là bảng mà trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng làm mặc định.
Suy luận Còn khi Tam Thai đứng cùng cung với một chính tinh đang hóa thì đọc thế nào. Bốn cách như sau. Đồng cung chính tinh hóa Lộc: chỗ ngồi có phần lợi thật, danh đi liền với thực, hay ứng vào việc được cất nhắc kèm theo tăng thu nhập. Đồng cung chính tinh hóa Quyền: đây là thế hợp nhất với tượng của Tam Thai, vì Quyền là quyền hành mà Tam Thai là chỗ ngồi, hai thứ vốn đi với nhau; người này ngồi vào ghế nào thì thật sự cầm được việc ở ghế ấy. Đồng cung chính tinh hóa Khoa: danh tiếng và sự được nể trọng nổi lên rõ, hợp với đường học hành, thi cử, giảng dạy, chức danh chuyên môn. Đồng cung chính tinh hóa Kỵ: chỗ ngồi thành chỗ vướng, hay ứng vào việc mang danh mà khổ vì danh, giữ chức mà bị soi, ngồi vào ghế lúc ghế đang có chuyện. Kinh nghiệm Riêng trường hợp cuối này Thầy dặn kỹ, vì nhiều người thấy Tam Thai là sao đẹp nên đọc nhẹ đi; đúng ra phải nói thẳng rằng Tam Thai không gỡ được Hóa Kỵ, nó chỉ làm cho cái vướng ấy diễn ra ở nơi nhiều người nhìn thấy.
6 Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung
Tam Thai phối với các sao làm tăng quý khí:
| Khi Tam Thai gặp | Ý nghĩa kết hợp |
|---|---|
| Bát Tọa | Cặp Tam Thai Bát Tọa, tăng quý khí, địa vị. |
| Tả Phụ, Hữu Bật | Thêm người nâng đỡ, có vây cánh. |
| Khôi, Việt | Quý nhân trợ giúp, được nể trọng. |
| Tử Vi, Thiên Phủ | Tăng vẻ đường bệ, công danh. |
7 Tam Thai Tại Đủ Mười Hai Cung Chức
Suy luận Tam Thai an được cả mười hai cung nên không có cung chức nào quý vị không thể gặp nó. Trước khi đọc bảng, xin nhớ ba điều đã chứng bằng máy ở mục cấu trúc: Tam Thai là phụ tinh nhỏ mang tượng chỗ ngồi, nó nói về vị trí một người được xếp chứ không nói về tài lực; sức của nó tăng hẳn khi có Bát Tọa hội về, mà điều ấy chỉ xảy ra với hai phần ba số lá số; và nó không kén chính tinh nên nghĩa của nó luôn phải đọc sau khi đã biết chính tinh của cung. Cột giữa là khi Tam Thai gặp chính tinh miếu vượng, có Bát Tọa hội về hoặc có cát tinh nâng. Cột phải là khi nó bị sát tinh lấn át, bị Tuần Triệt án ngữ, hoặc đứng lẻ không có Bát Tọa.
| Cung | Tam Thai đủ thế, có Bát Tọa hội hoặc cát tinh nâng | Tam Thai thất thế, đứng lẻ hoặc bị sát tinh và Tuần Triệt |
|---|---|---|
| Mệnh | Dáng vẻ đường bệ, ăn nói có chừng mực, đi đâu cũng được xếp chỗ tử tế; người quen nể mà không sợ. Hợp với những việc phải đứng trước đám đông. | Trọng hình thức hơn nội dung, thích được nể mà ngại làm việc nặng; dễ tự ái khi bị xếp thấp hơn mình nghĩ. Bệ vệ thành ra chậm chạp. |
| Huynh Đệ | Trong anh em bạn bè có người có vai vế, chính mình cũng hay được đẩy lên làm người đại diện, người đứng tên, người phát biểu thay cả nhóm. | Được nêu tên mà không được giao quyền; mang tiếng là người đứng đầu nhóm mà việc thì mỗi người một phách, không ai theo. |
| Phu Thê | Bạn đời có tư cách, có chỗ đứng trong nghề hoặc trong họ; hôn nhân được hai bên gia đình coi trọng, cưới hỏi tươm tất, ra ngoài là một cặp coi được. | Coi trọng thể diện của cuộc hôn nhân hơn cảm xúc bên trong; hình thức đủ đầy mà chuyện riêng thì nhạt. Dễ vì sĩ diện mà không nói thật với nhau. |
| Tử Tức | Con cái có phong thái, sớm biết giữ ý tứ trước người lớn; hay có đứa được thầy cô cất nhắc, được giao làm cán sự lớp, làm nhóm trưởng. | Con quen được nâng nên khó chịu khi phải làm việc thường; cha mẹ nên tránh khen quá tay mà nên khen đúng việc. |
| Tài Bạch | Tiền tới theo đường danh vị: phụ cấp chức vụ, thù lao vì tên tuổi, phần được chia vì đứng tên. Đây là cung mà Tam Thai nói mỏng nhất trong mười hai cung, đừng đọc nặng tay. | Chi nhiều cho việc giữ thể diện: lễ nghĩa, quà cáp, ăn mặc, chỗ ngồi. Sách không nói Tam Thai làm ra tiền, nên đừng lấy nó làm cớ để tiêu. |
| Tật Ách | Sách không nói Tam Thai chủ bệnh gì. Theo tượng thì thuộc phần lưng và dáng ngồi, nên nếu có gì đáng nhắc thì là bệnh nghề nghiệp của người ngồi lâu: cột sống, vai gáy, tuần hoàn chân. | Vẫn là chuyện ngồi lâu, ít vận động, ăn theo tiệc tùng nhiều. Đây là suy luận từ tượng của sao, không phải lời sách, quý vị nên coi là gợi ý để giữ gìn chứ đừng coi là chẩn đoán. |
| Thiên Di | Ra ngoài được trọng, tới đâu cũng có người mời ngồi chỗ tử tế; đi xa hay gặp người có vai vế đứng ra giới thiệu. Rất hợp cho người làm nghề đối ngoại. | Bên ngoài trọng vọng mà không thân; được mời tới cho đủ mặt chứ không được hỏi ý. Cảm giác lạc lõng giữa chỗ đông người. |
| Nô Bộc | Bạn bè và cấp dưới có người ra dáng, biết giữ lễ; mình được đám đông nhận là người đứng mũi. Đây là một trong ba cung Tam Thai nói rõ nhất. | Người theo mình vì cái danh chứ không vì cái tình; hết chức thì hết người. Nên xây quan hệ bằng việc cụ thể thay vì bằng vị trí. |
| Quan Lộc | Cung sáng nhất của Tam Thai. Có chức danh rõ ràng, được xếp vào hàng có tiếng nói, thăng tiến theo lối tuần tự và bền. Hợp nghề hành chính, giảng dạy, quản lý, nghi lễ, tổ chức. | Có danh mà không có quyền, ngồi ghế mà việc do người khác quyết; hoặc thăng chậm vì quá giữ ý, ngại va chạm. Cần Hóa Quyền hoặc sát tinh thúc thì mới bước được. |
| Điền Trạch | Theo Tân Biên, bộ Thai Tọa làm nhà đất thêm cao đẹp. Nhà cửa khang trang, mặt tiền coi được, chỗ ở có thể không rộng mà bài trí có lớp lang; hay ở khu có tiếng. | Nhà làm cho đẹp mặt hơn là cho tiện ở; tốn vào phần nhìn thấy được. Nếu thêm sát tinh thì hay có chuyện sửa đi sửa lại. |
| Phúc Đức | Trong lòng ưa sự chỉnh tề, thích nề nếp, coi trọng lễ nghĩa và việc họ hàng; thường có phúc phần từ dòng dõi hoặc từ nếp nhà có quy củ. | Nặng thể diện tới mức tự làm khổ mình, hay so đo chỗ đứng với người khác. Đây là mặt trái mà Thầy thấy nhiều nhất ở cung này. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ hoặc người trên có vai vế, gia phong có nề nếp; được thừa hưởng cái danh và các mối quan hệ của bề trên. | Được thừa hưởng cái danh mà không được truyền cái nghề; hoặc sống dưới cái bóng của cha mẹ, khó tự dựng tên mình. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này. Thầy dặn bốn bước, theo đúng thứ tự. Bước một, tìm Bát Tọa trước khi đọc Tam Thai. Có Bát Tọa đồng cung thì đọc cột trái với đủ trọng lượng; Bát Tọa xung hoặc tam hợp thì đọc cột trái nhưng bớt đi một phần; Bát Tọa cách hai cung thì coi như Tam Thai đứng lẻ, và một phụ tinh lẻ thì tiếng nói rất nhỏ. Bước hai, xem chính tinh của cung. Tam Thai không dựng nên cung, nó chỉ nói cung ấy được xếp ở đâu trong mắt người khác. Bước ba, đếm sát tinh. Một Tam Thai không đỡ nổi một Kình Dương, càng không đỡ nổi hai sát tinh; từ hai sát tinh trở lên thì đọc thẳng cột phải. Bước bốn, xem Tuần Triệt. Tuần Triệt án ngay cung thì chỗ ngồi bị rút, nghĩa là danh vị đến muộn hoặc đến rồi lại mất.
Kinh nghiệm Thêm một mẹo Thầy dùng nhiều năm nay: Tam Thai nói rõ nhất ở ba cung Quan Lộc, Nô Bộc và Điền Trạch, tức những cung mà cái được đo bằng chỗ đứng trong mắt người khác. Ở Tài Bạch và Tật Ách thì nghĩa của nó rất mỏng, và luận nặng tay ở hai cung ấy là luận sai. Thầy đã đọc không ít bài trên mạng nói có Tam Thai ở Tài là phú quý; Tân Biên không có câu nào như vậy, và bài này không dẫn câu ấy.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại. Riêng với Tam Thai thì cấu trúc đã khóa sẵn vài thế mà quý vị nên biết trước: Bát Tọa không bao giờ giáp được Tam Thai vì khoảng cách hai sao luôn chẵn; Tả Phụ thì có thể ở bất cứ thế nào tùy ngày sinh, nhưng thế ấy giống nhau cho mọi tháng; còn Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Giải, Địa Giải thì thế của chúng với Tam Thai cũng do ngày sinh quyết định, tra bảng ở mục trên là biết ngay, không cần đoán.
Tam Thai phát huy được khi gặp
- Bát Tọa (đồng cung mạnh nhất tại Sửu hoặc Mùi, xung chiếu tại Thìn Tuất, tam hợp tại Tỵ Dậu hoặc Mão Hợi): trọn bộ Thai Tọa, nghĩa địa vị và sự được nể trọng mới đủ sức nói. Không có Bát Tọa hội về thì Tam Thai chỉ là một nét tô nhẹ.
- Tả Phụ và Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu): bàn tay đỡ đứng cạnh chỗ ngồi. Đây là tổ hợp mà Tân Biên nhắc tới khi nói bộ Thai Tọa đem lại sự nâng đỡ. Tả Phụ đồng cung Tam Thai khi sinh ngày mùng một, mười ba, hai mươi lăm.
- Thiên Khôi và Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, an theo can năm nên không cố định): quý nhân đưa người ta tới chỗ ngồi. Khôi Việt chỉ ra ai cất nhắc, Tam Thai chỉ ra cái ghế.
- Hóa Quyền của chính tinh đồng cung (đồng cung): thế hợp nhất với tượng của sao. Ngồi ghế nào thì thật sự cầm được việc ở ghế ấy, chứ không phải ngồi cho đủ mặt.
- Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các (đồng cung hoặc chiếu): danh vị đi cùng học vấn và tiếng thơm, hợp đường khoa bảng, giảng dạy, chuyên môn có bằng cấp.
- Ân Quang và Thiên Quý (đồng cung hoặc chiếu, an theo giờ và ngày nên không cố định): bộ chủ ơn huệ và được ban thưởng, đi cùng bộ chủ chỗ ngồi thì thành thế được cất nhắc có kèm phần thưởng.
- Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương miếu vượng (đồng cung): các chính tinh vốn mang tượng ngôi cao, cùng hướng với Tam Thai nên cộng vào nhau rất thuận.
- Chính tinh miếu vượng nói chung (đồng cung): điều kiện quan trọng hơn mọi cát tinh phụ. Không có chính tinh vững thì một phụ tinh nhỏ không đủ sức nói.
Tam Thai mất tác dụng khi gặp
- Bát Tọa cách hai cung hoặc mười cung (không phải một thế xấu, mà là không có thế nào): xảy ra với một phần ba số lá số. Bộ không thành bộ, Tam Thai đứng lẻ và tiếng nói rất nhỏ. Đây là điều phải kiểm đầu tiên chứ không phải điều để lo.
- Từ hai sát tinh trở lên trong cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Một phụ tinh nhỏ đỡ được một sát tinh nhỏ, không đỡ nổi hai. Chỗ ngồi bị lung lay.
- Tuần và Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): che luôn phần danh vị. Thường ứng vào việc được cất nhắc muộn, hoặc ngồi vào ghế rồi lại phải nhường.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): mang danh mà khổ vì danh. Tam Thai không gỡ được nút Kỵ, nó chỉ làm cho cái vướng ấy diễn ra ở nơi nhiều người nhìn thấy.
- Cô Thần, Quả Tú (đồng cung hoặc chiếu): ngồi cao mà lẻ loi, được nể mà ít người thân. Đây là thế mà trang gốc đã nhắc và Thầy thấy đúng trên lá số thật.
- Thiên Riêu đồng cung (đồng cung, xảy ra khi sinh ngày mười hoặc hai mươi hai): chỗ ngồi cao dính khí đa tình. Không phải điều xấu tự nó, nhưng người ở vị trí cao mà không giữ tiếng thì chuyện riêng thành chuyện chung rất nhanh.
- Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): phụ tinh không nâng nổi một chính tinh đang yếu, chỉ làm cái yếu ấy được nhiều người trông thấy hơn.
- Lòng ưa hình thức của chính người có sao: đây không phải một ngôi sao, nhưng Thầy xếp vào cột này vì nó hại thật. Tam Thai chủ chỗ ngồi, mà mê chỗ ngồi thì quên mất việc phải làm khi đã ngồi vào đó.
Tóm lại, Tam Thai là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
9 Tam Thai Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Suy luận Các mục trên nói về Tam Thai tĩnh: nó đóng ở cung nào, đi với sao nào. Mục này nói về Tam Thai động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.
Đại vận đi vào cung có Tam Thai
Kinh nghiệm Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Tam Thai bản mệnh, mười năm ấy thường mang một sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng được xếp chỗ. Việc hay ứng vào ba loại: được cất nhắc lên một vị trí có tên gọi rõ ràng, được mời vào một hội nhóm hay ban bệ nào đó, hoặc được giao đứng tên cho một việc chung. Cái được không hẳn là tiền, mà là chỗ đứng.
Suy luận Ba điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Tam Thai. Thứ nhất, xem Bát Tọa có hội về cung đại vận ấy không; có thì nghĩa địa vị đủ trọng lượng, không thì đây chỉ là một dấu hiệu phụ và không đáng dựa vào. Thứ hai, xem cung đại vận ấy là cung chức gì trên lá số gốc, vì Tam Thai nói rất rõ ở Quan Lộc và Nô Bộc mà nói rất mỏng ở Tài Bạch. Thứ ba, xem Tứ Hóa của đại vận: đại vận mang Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa vào cung Tam Thai thì chỗ ngồi ấy có thực chất; đại vận mang Hóa Kỵ vào thì được xếp chỗ mà chỗ ấy nhiều chuyện.
Kinh nghiệm Thầy cũng phải nói mặt trái. Đại vận vào cung Tam Thai mà lá số vốn thiếu Hóa Quyền, thiếu Lộc Tồn, thiếu sát tinh thúc thì mười năm ấy dễ thành mười năm ngồi: có danh, có chỗ, được nể, mà không dựng thêm được gì. Không ít người tới cuối vận mới nhận ra mình vừa giữ một cái ghế rất lâu mà không đi được đâu. Với thế này Thầy khuyên nhận việc khó thay vì nhận thêm chức danh.
Tam Thai không có bản lưu niên, và đây là lý do
Suy luận Câu hỏi phải trả lời dứt khoát: Tam Thai không có bản lưu niên. Muốn một sao có bản lưu thì tham số an của nó phải đổi theo từng năm. Vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh, mà mỗi năm có một chi mới, nên có bản lưu; vòng Bác Sĩ bám vào Lộc Tồn tức can năm sinh, mỗi năm có một can mới, nên cũng có bản lưu; Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Mã, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ đều thuộc loại có bản lưu vì lý do ấy. Ngược lại, vòng Tràng Sinh an theo Cục nên không có bản lưu, và mọi sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì cố định suốt đời.
Suy luận Tam Thai an theo tháng sinh cộng ngày sinh, cả hai đều cố định, nên nó đứng yên một chỗ từ lúc lọt lòng cho tới lúc mất. Không có lưu Tam Thai, không có lưu Bát Tọa, cũng không có lưu Tả Phụ hay lưu Hữu Bật. Ai luận cho quý vị rằng năm nay lưu Tam Thai chiếu vào Mệnh nên sắp lên chức thì người ấy đang dùng một hệ an sao khác với hệ Tử Vi Đẩu Số, hoặc đang tự nghĩ ra.
Các lưu sao chạm vào cung có Tam Thai
Suy luận Cái đổi theo năm không phải Tam Thai mà là những gì bay tới cung của nó. Có năm nhóm đáng xét, xếp theo thứ tự Thầy vẫn dùng:
- Bốn hóa của năm, tính theo can năm. Đây là dấu hiệu nặng ký nhất. Lưu Hóa Quyền hoặc lưu Hóa Khoa bay vào cung có Tam Thai là dấu hiệu rõ nhất của một năm được cất nhắc; lưu Hóa Kỵ bay vào là năm mà cái danh dễ thành cái vạ, nên bớt nhận việc đứng tên.
- Lưu Thái Tuế, tức cung mang chi của năm đang xem. Lưu Thái Tuế đè lên cung có Tam Thai thì năm ấy tên tuổi mình bị nhắc tới nhiều, tốt xấu tùy các sao khác trong cung.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can năm qua lưu Lộc Tồn. Năm nào lưu Kình hay lưu Đà rơi đúng cung có Tam Thai thì chỗ ngồi bị lung lay, hay ứng vào tranh chấp vị trí, bị nói sau lưng, bị soi.
- Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc, cũng theo can năm. Đây là các lưu sao lành nhất có thể chạm vào cung Tam Thai; lưu Khôi Việt tới thì năm ấy có người cất nhắc, lưu Xương Khúc tới thì hợp việc thi cử, bảo vệ đề tài, ra mắt tác phẩm.
- Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ, theo chi năm. Chạm vào cung Tam Thai thì việc mang tính lễ nghi trong họ hay dồn vào mình, vì mình là người có vai vế trong nhóm. Không nhất thiết là điềm dữ, nhưng là năm bận việc chung.
Kinh nghiệm Nguyên tắc cuối của mục này, xin quý vị nhớ đúng câu chữ: một sao lưu chạm vào chưa nói được gì, phải có ít nhất ba dấu hiệu cùng chỉ về một cung thì mới đáng nói. Tam Thai lại càng vậy, vì bản thân nó là phụ tinh nhỏ và đứng yên suốt đời. Nói năm nay có Tam Thai nên sẽ thăng chức là nói sai nghề, bởi Tam Thai năm nào cũng nằm đúng chỗ ấy, không đi đâu cả.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tam Thai
Suy luận Với một sao mang tên đáng sợ thì mục ranh giới dùng để hạ bớt nỗi lo. Với một sao mang tên đẹp như Tam Thai thì mục này dùng để hạ bớt kỳ vọng, mà việc ấy cần thiết không kém, vì kỳ vọng sai làm người ta đọc lệch cả lá số.
Hiểu lầm một: có Tam Thai là làm quan, là có địa vị
Kinh văn Sách nói gì: Tân Biên chép Tam Thai cùng Bát Tọa chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp. Sách không có một chữ nào nói tới quan chức, tới thi đỗ, tới làm nên nghiệp lớn. Đây là sao tả phong thái và chỗ ngồi, không phải sao định công danh.
Suy luận Về cấu trúc thì càng rõ. Tam Thai an được cả mười hai cung, ai cũng có, không sót một lá số nào. Nếu chỉ cần có Tam Thai là có địa vị thì cả thiên hạ đều có địa vị. Kinh nghiệm Trong nghề Thầy đo sức của nó bằng một quy tắc rất thô mà đúng: một phụ tinh nhỏ chỉ tô đậm cái đã có sẵn, không tạo ra cái chưa có. Cung Quan Lộc đã có chính tinh miếu vượng và Hóa Quyền thì Tam Thai làm cho cái quyền ấy có hình có dạng, có chức danh hẳn hoi. Cung Quan Lộc vô chính diệu, gặp sát tinh, thì Tam Thai không tự dựng nổi một cái ghế nào.
Hiểu lầm hai: lá số nào cũng có bộ Tam Thai Bát Tọa
Suy luận Có hai sao là một chuyện, hai sao hội được với nhau lại là chuyện khác. Như đã chứng bằng máy ở mục cấu trúc, khoảng cách giữa Tam Thai và Bát Tọa luôn chẵn và chia đều thành sáu khả năng. Cộng lại thì một phần ba số lá số có hai sao cách nhau hai cung hoặc mười cung, tức không nhìn thấy nhau. Với những lá số ấy, cái gọi là bộ Thai Tọa không tồn tại, và nói tới nó là nói tới một thứ không có trên lá số trước mặt.
Kinh nghiệm Thầy dặn học trò một thao tác rất nhỏ mà rất hiệu quả: trước khi viết bất cứ câu nào có chữ Thai Tọa, hãy chỉ tay vào hai cung có Tam Thai và Bát Tọa rồi đếm khoảng cách. Không, bốn, sáu hay tám thì viết; hai hay mười thì gạch câu ấy đi.
Hiểu lầm ba: Tam Thai trong Tử Vi là Tam Thai của thiên văn và của các khoa khác
Suy luận Chữ Tam Thai vốn là tên một chòm sao trong thiên văn cổ Trung Hoa, gồm ba cặp sao xếp thành ba bậc dẫn lên Tử Vi viên, và trong quan chế xưa còn dùng để chỉ ba chức quan cao nhất. Chữ ấy cũng xuất hiện trong một số khoa khác của huyền học Đông phương với cách tính hoàn toàn khác. Bài này chỉ nói về Tam Thai của khoa Tử Vi Đẩu Số, tức ngôi sao an từ cung Tả Phụ đếm thuận theo ngày sinh. Không được lấy lời luận của hệ này gán cho hệ kia, cũng không nên mượn cái nghĩa ba chức quan trong quan chế xưa để suy ra vận mệnh làm quan của người có sao.
Hiểu lầm bốn: Tam Thai là bản sao của Tả Phụ nên đọc như Tả Phụ
Suy luận Không đúng. Hai sao chỉ trùng cung khi sinh ngày mùng một, mười ba hoặc hai mươi lăm, tức khoảng một phần tư số người, và ngay cả khi trùng cung thì nghĩa của chúng vẫn khác nhau. Tả Phụ là người đỡ tay, Tam Thai là chỗ ngồi. Tả Phụ nói tới sự có người giúp, Tam Thai nói tới sự được xếp chỗ. Một người có Tả Phụ mà không có Tam Thai hội thì có người giúp mà không có danh vị; ngược lại thì có danh vị mà phải tự xoay. Thêm nữa Tả Phụ là một trong sáu cát tinh lớn, có tên trong bảng Tứ Hóa của tuổi Nhâm, còn Tam Thai là phụ tinh nhỏ và vĩnh viễn không có mặt trong bảng Tứ Hóa. Hai sao khác hẳn nhau về hạng.
Suy luận Nói lại cho gọn cả mục: Tam Thai là phụ tinh nhỏ mang tượng chỗ ngồi, ai cũng có, chỉ tô đậm chứ không tự quyết định, cần Bát Tọa hội về mới đủ trọng lượng, và không phải sao định công danh. Hiểu đúng chừng ấy thì nó rất có ích khi đọc cung Quan Lộc và cung Nô Bộc; hiểu quá lên thì thành cái cớ để mừng hụt.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Tam Thai Qua Ba Bước
Suy luận Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Nhâm, sinh tháng 5, ngày 12, giờ Mão, Tử Vi an tại Mùi, Mệnh an tại Mão. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn cùng Kình Đà trên lưới lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng bộ Thai Tọa và bộ Tả Hữu thì lưới không vẽ, Thầy tính sẵn ra đây để quý vị đối chiếu. Tháng 5 nên Tả Phụ tại Thân, Hữu Bật tại Ngọ. Ngày 12 nên đếm thuận mười một cung từ Thân ra Tam Thai tại Mùi, và đếm nghịch mười một cung từ Ngọ ra Bát Tọa cũng tại Mùi. Hai sao đồng cung, đúng vào một trong hai cung duy nhất cho phép điều đó.
Tử Vi tại Mùi, Mệnh tại Mão
không phải người thật
tháng 5, ngày 12, giờ Mão
Tam Thai và Bát Tọa cùng tại Mùi
Bước một: Tam Thai nằm ở cung chức nào và đi với ai
Suy luận Mệnh an tại Mão nên mười hai cung chức xếp ngược chiều kim đồng hồ: Mão là Mệnh, Dần là Huynh Đệ, Sửu là Phu Thê, Tý là Tử Tức, Hợi là Tài Bạch, Tuất là Tật Ách, Dậu là Thiên Di, Thân là Nô Bộc, Mùi là Quan Lộc, Ngọ là Điền Trạch, Tỵ là Phúc Đức, Thìn là Phụ Mẫu. Vậy bộ Thai Tọa rơi trọn vào cung Quan Lộc tại Mùi, đúng cung mà mục cung chức đã nói là cung sáng nhất của sao này.
Suy luận Cung Quan Lộc tại Mùi có Tử Vi và Phá Quân tọa thủ, mà tuổi Nhâm thì Tử Vi hóa Quyền. Vậy trong một cung có: Tử Vi hóa Quyền, Phá Quân, Tam Thai, Bát Tọa. Thêm nữa giờ Mão làm Văn Xương và Văn Khúc cùng an tại Mùi, nên cung ấy còn có cả bộ Xương Khúc. Kiểm tiếp thế chiếu: Mùi cách Mão bốn cung nên Quan Lộc tam hợp chiếu về Mệnh; cung xung chiếu của Mùi là Sửu có Thiên Tướng; tam hợp còn lại là Mão có Vũ Khúc và Thất Sát, chính là cung Mệnh.
Bước hai: cung ấy đang chứa hóa gì, và bộ Tả Hữu đứng đâu
Suy luận Bốn hóa của tuổi Nhâm rải như sau: Thiên Lương hóa Lộc tại Dần là cung Huynh Đệ, Tử Vi hóa Quyền tại Mùi là cung Quan Lộc, Tả Phụ hóa Khoa rơi vào một phụ tinh nên lưới không vẽ, mà như đã tính thì Tả Phụ tháng 5 đóng tại Thân là cung Nô Bộc, Vũ Khúc hóa Kỵ tại Mão là ngay cung Mệnh. Lộc Tồn tuổi Nhâm an tại Hợi là cung Tài Bạch, kéo theo Kình Dương tại Tý là Tử Tức và Đà La tại Tuất là Tật Ách.
Kinh nghiệm Đọc ra thành lời thường. Cung Quan Lộc có Tử Vi hóa Quyền cộng trọn bộ Thai Tọa cộng bộ Xương Khúc: người này trong nghề có chức danh rõ ràng và cầm được việc thật, không phải ngồi cho đủ mặt; lại thêm Xương Khúc nên chỗ đứng ấy gắn với chữ nghĩa, bằng cấp, khả năng trình bày. Phá Quân cùng cung nói rằng con đường ấy đi qua một lần phá rồi mới dựng, tức có một quãng đứt gãy nghề nghiệp trước khi tới ghế. Quan Lộc lại tam hợp chiếu thẳng về Mệnh, nên cái danh ấy dính vào con người chứ không chỉ là một chức vụ ngoài đời.
Kinh nghiệm Cái phải giữ nằm ở cung Mệnh: Vũ Khúc hóa Kỵ đóng ngay Mệnh, cùng Thất Sát. Đây là người tính cứng, quyết đoán, làm việc rất được mà chuyện tiền bạc và chuyện tình cảm thì hay vướng. Bộ Thai Tọa ở Quan Lộc không gỡ nổi cái Kỵ ở Mệnh, nó chỉ làm cho người có Kỵ ấy vẫn giữ được vẻ ngoài chỉnh tề và vẫn được xếp chỗ tử tế. Đây đúng là chỗ mà Thầy nhắc đi nhắc lại: phụ tinh nhỏ tô đậm chứ không quyết định.
Suy luận Còn một chi tiết cấu trúc rất đáng xem trên chính lá số này. Tả Phụ tại Thân, Hữu Bật tại Ngọ, hai cung cách nhau đúng hai cung nên bộ Tả Hữu không hội được với nhau. Trong khi đó bóng của chúng là Tam Thai và Bát Tọa lại chụm vào cùng một cung. Hình thì tách mà bóng thì hợp. Đọc ra là: người giúp thì mỗi người một nơi, người trong nghề ở Nô Bộc, người trong nhà ở Điền Trạch, không ai gặp ai; nhưng cái chỗ ngồi mà họ cùng đẩy mình tới thì lại rất rõ ràng và chụm về một mối. Đó là một cách đọc chỉ có được khi hiểu cơ chế an sao, không có trong bất cứ bảng tra sẵn nào.
Bước ba: vận nào chạm tới
Kinh nghiệm Với lá số này, ba loại năm đáng chú ý. Năm Mùi, lưu Thái Tuế đè đúng cung Quan Lộc nơi có Tử Vi hóa Quyền và bộ Thai Tọa; năm ấy tên tuổi bị nhắc tới nhiều, việc cất nhắc hay được đặt lên bàn. Năm Sửu, lưu Thái Tuế vào cung Phu Thê là cung xung chiếu Quan Lộc, nên chuyện nghề và chuyện nhà dễ kéo nhau, cần cân đối thời gian. Năm 2027 Đinh Mùi theo lịch là một năm thuộc loại thứ nhất, và năm 2033 Quý Sửu thuộc loại thứ hai; tra can của từng năm để biết bốn hóa của năm bay vào đâu là đủ dùng. Xin nhắc lại điều đã nói ở mục vận hạn: không có lưu Tam Thai, cái chạy theo năm là các sao lưu khác và bốn hóa của năm, còn Tam Thai thì đứng nguyên tại Mùi suốt đời.
Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang sinh ngày 9. Tam Thai lùi về Thìn, Bát Tọa tiến sang Tuất, hai sao chuyển từ đồng cung sang xung chiếu qua trục Thìn Tuất, đúng cặp cung duy nhất cho phép thế xung. Trên lá số này Thìn là Phụ Mẫu và Tuất là Tật Ách, lại có Đà La tuổi Nhâm đóng tại Tuất. Bây giờ bộ Thai Tọa rời hẳn khỏi Quan Lộc: cung Quan Lộc chỉ còn Tử Vi hóa Quyền và Xương Khúc, vẫn mạnh nhưng mất phần chức danh chỉnh tề; còn nghĩa chỗ ngồi thì chuyển sang trục cha mẹ và sức khỏe, đọc là người thừa hưởng vai vế của bề trên mà phải giữ gìn phần lưng vai vì Bát Tọa ngồi chung Đà La.
- Giữ ngày 12, chỉ đổi sang sinh tháng 8. Tả Phụ dời sang Hợi, Hữu Bật dời sang Mão, nên Tam Thai sang Tuất còn Bát Tọa sang Thìn. Tổng hai cung vẫn nằm trên trục Sửu Mùi như cũ, chỉ là cả cặp quay đi; hai sao lại chuyển sang thế xung chiếu. Điều đáng chú ý là dù đổi tháng thì quan hệ giữa Tam Thai và Tả Phụ không đổi một ly: ngày 12 thì Tam Thai luôn đứng cách Tả Phụ mười một cung, tháng nào cũng vậy. Đây là hệ quả của việc Tả Phụ và Tam Thai cùng đếm thuận.
- Giữ tuổi Nhâm nhưng sinh ngày mùng một. Tam Thai trùng khít cung Tả Phụ tại Thân, tức cung Nô Bộc, và vì tuổi Nhâm nên đó là Tả Phụ hóa Khoa cộng Tam Thai trong một cung. Bát Tọa khi ấy trùng khít Hữu Bật tại Ngọ là Điền Trạch. Cách đọc đổi hẳn: cái danh của người này đến từ đám đông và từ bạn bè trong nghề chứ không từ chức vụ, hợp với người làm nghề tự do có tiếng, người dẫn dắt cộng đồng, người dạy nghề. Cùng một tuổi, cùng một tháng, chỉ khác ngày sinh, mà đọc ra hai con đường khác nhau.
Muốn thấy Tam Thai của chính mình đứng ở cung nào, Bát Tọa cách bao xa, bộ có thành bộ hay không, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Tam Thai trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo các sao hội chiếu của riêng quý vị.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách dùng cho đúng cái tốt và cách không để cái tốt ấy biến thành thói ưa hình thức. Thầy chia ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Tam Thai cho
- Nhận chỗ ngồi thì phải nhận cả việc của chỗ ấy. Tam Thai đưa người ta vào vị trí có tên gọi. Cái nguy là ngồi vào rồi chỉ giữ cái tên. Kinh nghiệm Thầy thấy quy luật này rất rõ trên lá số thật: người có bộ Thai Tọa đẹp mà không có Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đỡ thì thường giữ ghế lâu mà không để lại việc gì.
- Giữ tư cách trước, giữ chức sau. Tượng của sao là bệ vệ, phúc hậu, đáng nể. Cái đáng nể ấy do cách cư xử hằng ngày dựng nên, không do chức danh. Người có Tam Thai mà cư xử tùy tiện thì cái sao ấy không giúp được gì.
- Đứng tên cho việc chung một cách có chọn lọc. Người mang bộ Thai Tọa hay được nhờ đứng tên, làm đại diện, làm chứng, làm chủ hôn, làm trưởng ban. Nhận vừa đủ thì là uy tín; nhận tất thì là gánh nặng và là rủi ro pháp lý, nhất là khi cung có thêm Thiên Hình hoặc Hóa Kỵ.
Nếu Tam Thai của quý vị thất thế
- Bộ không thành bộ thì đừng trông vào nó. Kiểm khoảng cách với Bát Tọa trước tiên. Cách hai hoặc mười cung thì hãy luận cung ấy theo chính tinh và các sao khác, coi Tam Thai như một nét chấm phá, đừng xây lời luận trên nó.
- Từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có. Cung có Tam Thai mà đủ Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp từ hai sao trở lên thì phải luận và phòng bị theo lối bình thường, không được lấy một phụ tinh nhỏ ra để yên tâm.
- Gặp Tuần Triệt án ngữ thì tính đường dài. Kinh nghiệm Thầy dặn kỹ chỗ này: danh vị đến muộn không phải là không đến. Người có Tam Thai bị Tuần Triệt nên chọn nghề có thang bậc rõ ràng và tính theo mười năm, đừng sốt ruột so với bạn cùng lứa.
Điều Thầy muốn nói thẳng
Suy luận Không có phép nào đổi được vị trí của Tam Thai, vì nó do tháng sinh và ngày sinh định ra, cố định suốt đời, và không có bản lưu niên. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Tam Thai, mở được đường quan lộc, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.
Kinh nghiệm Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra với chính những người có bộ Thai Tọa đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở sự dễ chịu của việc được nể. Được xếp chỗ tử tế, được mời ngồi trên, được gọi bằng chức danh, những thứ ấy êm tới mức người ta quên mất rằng nghề nghiệp phải nuôi bằng việc làm được chứ không bằng chỗ ngồi. Nếu lá số của quý vị nhiều khí quý mà thiếu Hóa Quyền, thiếu sát tinh thúc, thì hãy tự đặt cho mình những cái hạn: hạn học xong một nghề, hạn dựng xong một việc, hạn đào tạo xong một người thay mình.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Chỗ làm việc nên có một cái ghế tử tế và một mặt bàn gọn, vì tượng của sao này là chỗ ngồi và người ngồi lâu thì lưng vai chịu hết; ghế đúng tầm, màn hình ngang mắt, cứ bốn mươi lăm phút đứng dậy một lần, đó là việc thiết thực hơn mọi vật phẩm. Trong nhà nên có chỗ tiếp khách coi được, vì người mang bộ Thai Tọa hay phải đón khách và hay được nhờ đứng ra cho việc chung. Giấy tờ liên quan tới những việc mình đứng tên nên cất một chỗ, có bản sao, có ghi ngày; đây là cách phòng thân đúng nghĩa cho một người hay được nhờ làm đại diện. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Tam Thai và Bát Tọa: hai sao đi thành bộ, chủ sự khôn ngoan, bệ vệ, phúc hậu, thích an nhàn, đem lại sự nâng đỡ và làm cho nhà đất thêm cao đẹp; Tam Thai hành Thủy, an theo Tả Phụ và ngày sinh. Mọi câu gắn thẻ Kinh văn trong bài về tính chất Tam Thai đều quy về mục này. Sách không lập câu phú riêng cho Tam Thai, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này, nên bài viết không dẫn phú và không dựng bảng đắc hãm; chỗ nào cần nói tính chất theo vị trí thì bài gắn thẻ Suy luận hoặc Kinh nghiệm và nói rõ lý do ngay tại chỗ.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, phần đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh: phép khởi Tả Phụ tại Thìn cho tháng giêng đếm thuận, khởi Hữu Bật tại Tuất cho tháng giêng đếm nghịch, và phép lấy cung Tả Phụ hoặc cung Hữu Bật làm mùng một để đếm ra Tam Thai và Bát Tọa. Phần này dùng để kiểm lại phép an sao trình bày ở mục cơ chế an sao.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: Tam Thai và Bát Tọa an theo ngày sinh nên không có trong bảng tra sẵn theo can, chi, tháng, giờ; bảng vị trí trong bài do chương trình riêng sinh ra, chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày, tức ba trăm sáu mươi tổ hợp, dựa trên vị trí Tả Phụ và Hữu Bật lấy đúng từ thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: bảng Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu theo mười hai tháng; bảng ba trăm sáu mươi ô vị trí Tam Thai; kết luận tổng vị trí Tam Thai cộng Bát Tọa không đổi và bằng đúng tổng vị trí Tả Phụ cộng Hữu Bật, đúng ba trăm sáu mươi trên ba trăm sáu mươi lần, từ đó suy ra hai sao chỉ đồng cung tại Sửu hoặc Mùi, chỉ xung chiếu tại Thìn và Tuất, chỉ tam hợp ở cặp Tỵ Dậu hoặc cặp Mão Hợi, và không bao giờ đứng liền kề nhau; phân bố sáu khoảng cách chẵn chia đều mỗi loại sáu mươi trên ba trăm sáu mươi; kết luận khoảng cách giữa Tam Thai với Tả Phụ, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Hình, Thiên Giải, Địa Giải chỉ phụ thuộc ngày sinh và không phụ thuộc tháng sinh, cùng danh sách ngày đồng cung, tam hợp, xung chiếu cho từng sao; kết luận Bát Tọa không có quan hệ cố định nào với nhóm sao tháng ngoài Hữu Bật; kết luận Tam Thai an được cả mười hai cung nên cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung. Bảng Tứ Hóa dùng để đối chiếu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, và Tam Thai không có mặt trong bảng ấy ở cả hai phái. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này.
Lưu ý về dị bản: phép an Tam Thai và Bát Tọa có vài dị bản trong sách vở lưu hành. Bản mà bài này dùng, và cũng là bản phổ biến nhất trong sách Việt, lấy chính cung Tả Phụ làm mùng một rồi đếm thuận, và lấy chính cung Hữu Bật làm mùng một rồi đếm nghịch. Một số bản khác khởi mùng một ở cung kế tiếp, khiến cả hai sao lệch đi một cung so với bảng ở đây; khi tra lá số ở nơi khác mà thấy lệch đúng một cung thì phần lớn là do dị bản này chứ không phải do sai sót. Cũng có bản chép Tam Thai hành Thổ thay vì hành Thủy. Ngoài ra cần phân biệt rõ Tam Thai của khoa Tử Vi Đẩu Số với chòm sao Tam Thai trong thiên văn cổ và với ba chức quan cao trong quan chế xưa: trùng tên mà khác hệ, không được lấy nghĩa của hệ này gán cho hệ kia. Bảng Tứ Hóa của tuổi Canh, tuổi Nhâm và tuổi Mậu có khác biệt giữa Nam phái và Bắc phái, riêng tuổi Nhâm thì Nam phái để Tả Phụ hóa Khoa còn Bắc phái để Thiên Phủ hóa Khoa; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tam Thai
Tam Thai là sao chủ sự bệ vệ và phúc hậu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, đi cặp với Bát Tọa. Sao mang ý nghĩa nâng đỡ địa vị, làm tăng quý khí cho cung và sao đi cùng.
Tam Thai và Bát Tọa hợp thành cặp sao tăng quý khí, làm nổi địa vị, sự đường bệ và được nể trọng, nhất là khi đi cùng Tả Hữu, Khôi Việt và chính tinh sáng.
Tam Thai là sao phụ trợ tốt, chủ khôn ngoan, phúc hậu, đường bệ. Nó làm tăng quý khí cho lá số, chỉ giảm tác dụng khi gặp sát tinh hay Tuần Triệt.
Tam Thai an theo sao Tả Phụ và ngày sinh, đi cặp với Bát Tọa trong lá số.
Ba bước. Bước một, an Tả Phụ theo tháng sinh âm lịch: khởi từ cung Thìn cho tháng giêng rồi đếm thuận mỗi tháng một cung, nên tháng hai tại Tỵ, tháng ba tại Ngọ, cứ thế tới tháng chạp tại Mão. Bước hai, lấy chính cung Tả Phụ làm mùng một rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới ngày sinh, dừng ở đâu an Tam Thai ở đó. Bước ba, kiểm lại bằng công thức: Tam Thai đứng cách Tả Phụ đúng số ngày sinh trừ một cung. Sinh mùng một thì Tam Thai trùng khít cung Tả Phụ; sinh mùng hai thì cách một cung; sinh ngày mười ba và ngày hai mươi lăm lại trùng khít Tả Phụ vì mười hai cung là một vòng.
Vì hai sao luôn đối xứng qua một trục cố định. Tả Phụ đếm thuận theo tháng còn Hữu Bật đếm nghịch theo tháng, nên tổng chỉ số hai cung ấy luôn bằng nhau ở mọi tháng. Tam Thai đi thuận thêm số ngày, Bát Tọa đi nghịch đúng số ngày ấy, nên tổng chỉ số của Tam Thai và Bát Tọa cũng không đổi. Chạy đủ mười hai tháng nhân ba mươi ngày bằng chương trình thì tổng ấy luôn rơi vào trục Sửu Mùi. Hai sao đồng cung chỉ khi cùng đứng đúng trên trục, tức tại Sửu hoặc tại Mùi, không có cung thứ ba. Cũng vì lẽ ấy mà chúng chỉ xung chiếu được tại Thìn và Tuất, và chỉ tam hợp được ở hai cặp Tỵ với Dậu hoặc Mão với Hợi.
Không. Khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn, tính ra bằng hai lần tổng tháng sinh cộng ngày sinh trừ năm. Chạy đủ ba trăm sáu mươi tổ hợp tháng ngày thì sáu khoảng cách chẵn chia đều nhau: một phần sáu số trường hợp hai sao đồng cung, một phần sáu xung chiếu, một phần ba tam hợp chiếu, còn một phần ba thì cách nhau đúng hai cung hoặc mười cung, tức không có quan hệ hội chiếu nào. Nói cách khác, cứ ba người thì có một người mang bộ Thai Tọa không thành bộ. Một hệ quả nữa của tính chẵn là hai sao vĩnh viễn không đứng liền kề nhau, nên không bao giờ có thế giáp bằng Tam Thai và Bát Tọa.
Không có. Tam Thai an theo tháng sinh và ngày sinh, hai tham số ấy cố định suốt đời nên sao đứng yên một chỗ từ lúc sinh cho tới lúc mất. Chỉ những vòng bám vào can hoặc chi của năm mới có bản lưu, cụ thể là vòng Thái Tuế bám chi năm và vòng Bác Sĩ bám Lộc Tồn tức can năm; vòng Tràng Sinh bám Cục nên cũng không có bản lưu, và mọi sao an theo tháng hoặc theo giờ như Tả Hữu, Xương Khúc, Thai Phụ, Phong Cáo, Tam Thai, Bát Tọa đều không có bản lưu. Cái thay đổi theo năm là các sao lưu khác chạm vào cung có Tam Thai: lưu Thái Tuế, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc và bốn hóa của năm.