Sao Thiên Riêu trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Thiên Riêu

Sao đào hoa chủ đa tình kín đáo, đa nghi, tín ngưỡng; đắc địa thì thanh, hãm thì dâm.

Hành ThủyPhụ tinhĐào hoa ẩn, tín ngưỡngTheo tháng sinh
天姚Tiān Yáo
Tên sao: Thiên Riêu
Ngũ hành: Thủy
Nhóm: Phụ Tinh Đào Hoa
Cách an: Thiên riêu an theo tháng sinh âm lịch
Cai quản: đa tình kín đáo, đa nghi, tín ngưỡng
Tính chất: Đào hoa ẩn, tín ngưỡng
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Thiên Riêu là gì

Sao Thiên Riêu trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Riêu trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Thiên Riêu trong lá số Tử Vi

Thiên Riêu là một sao đào hoa nhưng thiên về phần kín đáo và chiều sâu tình cảm, ngũ hành Thủy. Sao này gắn với sự đa tình ngấm ngầm, đa nghi, lại liên quan tới tín ngưỡng và tâm linh.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Thiên Riêu an theo tháng sinh âm lịch. Khởi từ cung Sửu là tháng Giêng rồi đếm thuận: tháng một tại Sửu, tháng hai tại Dần, tháng ba tại Mão, cứ thế cho tới tháng mười hai tại Tý. Một vòng mười hai tháng đi trọn mười hai cung, không thừa không thiếu, nên Thiên Riêu an được ở cả mười hai địa chi, không có cung nào sao này không bao giờ tới. Đây là điểm khác hẳn với Đà La chỉ đóng tứ mộ tứ sinh, hay Đào Hoa chỉ đóng bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu.

Suy luận Cách an bằng tháng sinh có một hệ quả mà người mới ít để ý: Thiên Riêu không liên quan gì tới vòng Tử Vi. Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh, còn Thiên Riêu tính từ tháng, hai đại lượng độc lập nhau. Vì thế mọi chính tinh đều có thể đứng chung cung với Thiên Riêu, ở bất kỳ địa chi nào. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí một, kết quả đều ra đủ mười bốn chính tinh. Không có chuyện Thiên Riêu kiêng một chính tinh nào theo nghĩa cấu trúc, chỉ có chuyện gặp chính tinh nào thì đọc ra nghĩa gì.

Bảng dưới đây đặt bốn sao cùng an theo tháng sinh nằm cạnh nhau. Nhìn theo hàng ngang là thấy ngay quan hệ cứng giữa chúng, thứ không đổi dù người ấy tuổi gì, giờ nào, cục gì.

Vị trí bốn sao an theo tháng sinh âm lịch: Thiên Riêu, Thiên Hình, Tả Phụ, Hữu Bật
Tháng sinhThiên RiêuThiên HìnhTả PhụHữu Bật
Tháng 1SửuDậuThìnTuất
Tháng 2DầnTuấtTỵDậu
Tháng 3MãoHợiNgọThân
Tháng 4ThìnMùiMùi
Tháng 5TỵSửuThânNgọ
Tháng 6NgọDầnDậuTỵ
Tháng 7MùiMãoTuấtThìn
Tháng 8ThânThìnHợiMão
Tháng 9DậuTỵDần
Tháng 10TuấtNgọSửuSửu
Tháng 11HợiMùiDần
Tháng 12ThânMãoHợi

Sáu điều bất biến của Thiên Riêu

  1. An đủ mười hai cung. Không có địa chi nào Thiên Riêu không thể tới. Muốn biết Riêu của mình ở đâu chỉ cần một dữ kiện duy nhất là tháng sinh âm lịch, không cần giờ, không cần tuổi.
  2. Thiên Y luôn đồng cung với Thiên Riêu. Hai sao này dùng chung một công thức an, khởi Sửu đếm thuận theo tháng, nên chúng dính nhau suốt đời, không bao giờ tách. Đây là điểm đáng nói nhất của bài này: cùng một ô trên lá số mà mang hai tên, hai nghĩa. Riêu là sao đa tình, ám muội, mê đắm; Thiên Y là sao thuốc men, chữa bệnh, cứu người. Cùng một chỗ ấy, có người đọc ra chuyện tình cảm, có người đọc ra nghề y.
  3. Thiên Hình luôn cách Thiên Riêu đúng tám cung. Hình khởi từ Dậu, Riêu khởi từ Sửu, hai điểm khởi cách nhau tám cung và cùng đếm thuận nên khoảng cách ấy giữ nguyên cả mười hai tháng. Tám cung là một chân của tam hợp, cho nên Thiên Hình và Thiên Riêu luôn luôn tam hợp nhau, không bao giờ đồng cung, và cũng không bao giờ xung chiếu nhau. Ai luận "Hình Riêu đồng cung" hay "Hình Riêu xung nhau" là đã an sai lá số.
  4. Tả Phụ luôn đứng sau Thiên Riêu đúng ba cung. Ba cung không phải đồng cung, không phải xung chiếu, cũng không phải tam hợp. Nghĩa là Tả Phụ không bao giờ vào tam phương tứ chính của Thiên Riêu. Câu "Riêu gặp Tả Phụ" chỉ có thể đúng khi nói tới hai cung khác nhau trên lá số, không phải một thế sao.
  5. Hữu Bật không bao giờ vào tam phương tứ chính của Thiên Riêu. Hữu Bật đếm nghịch trong khi Riêu đếm thuận, nên khoảng cách giữa hai sao luôn là một số lẻ cung. Đồng cung là không cung, xung chiếu là sáu cung, tam hợp là bốn hoặc tám cung, tất cả đều là số chẵn. Số lẻ không bao giờ trùng số chẵn, nên hai sao này vĩnh viễn không gặp nhau trong bộ khung tam phương tứ chính.
  6. Chân thứ ba của tam hợp luôn để trống cho sao khác. Tam hợp của Thiên Riêu gồm ba cung: chỗ Riêu đứng, chỗ Thiên Hình đứng, và một cung thứ ba không có sao nào trong nhóm tháng sinh chiếm chỗ. Cung thứ ba ấy chính là nơi Đào Hoa, Hồng Loan, Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn có thể rơi vào để làm thay đổi cả cục diện.

Suy luận Từ điều thứ ba rút ra một quy tắc đọc rất tiện. Hễ thấy Thiên Riêu ở một cung, quý vị biết chắc Thiên Hình đang ở cung nào mà không cần tra: đếm nghịch bốn cung từ chỗ Riêu, hoặc đếm thuận tám cung, đều tới đúng chỗ Hình. Thiên Riêu tại Sửu thì Hình tại Dậu, Riêu tại Dần thì Hình tại Tuất, Riêu tại Tý thì Hình tại Thân. Vì Hình luôn tam hợp chiếu về, nên mọi lá số có Thiên Riêu đều sẵn có một liều thuốc chế ngự nằm trong tam phương, vấn đề chỉ là liều ấy mạnh hay yếu, có bị sát tinh làm hỏng không.

Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với học trò rằng Thiên Riêu là sao dễ tra nhất trong cả bộ phụ tinh, vì chỉ cần hỏi tháng sinh là biết. Nhưng nó cũng là sao dễ luận sai nhất, vì người ta hay quên rằng nó luôn có Thiên Y ngồi cùng và luôn có Thiên Hình chiếu tới. Đọc Riêu một mình là đọc thiếu hai phần ba sự thật.

Thiên Riêu và hai vòng sao khác hệ tham số

Suy luận Đào Hoa và Hồng Loan an theo chi năm sinh, Thiên Riêu an theo tháng sinh. Hai tham số độc lập nhau nên quan hệ giữa chúng không cố định mà thay đổi theo từng người. Chạy đủ mười hai chi năm nhân mười hai tháng, được các kết quả sau, đều kiểm bằng thuật toán an sao của trang:

  • Riêu đồng cung Đào Hoa chỉ xảy ra khi sinh tháng ba, tháng sáu, tháng chín hoặc tháng mười hai. Lý do là Đào Hoa chỉ đóng bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu, mà Thiên Riêu chỉ tới bốn cung ấy vào bốn tháng đó. Cụ thể: tháng ba tại Mão hợp với tuổi Dần Ngọ Tuất, tháng sáu tại Ngọ hợp với tuổi Tỵ Dậu Sửu, tháng chín tại Dậu hợp với tuổi Thân Tý Thìn, tháng mười hai tại Tý hợp với tuổi Hợi Mão Mùi.
  • Riêu đồng cung Hồng Loan thì tuổi nào cũng có thể, nhưng mỗi tuổi chỉ đúng một tháng. Hồng Loan an theo chi năm và đi được cả mười hai cung, nên với mỗi chi năm có đúng một tháng sinh làm hai sao chồng lên nhau. Tuổi Tý là tháng ba, tuổi Sửu tháng hai, tuổi Dần tháng một, tuổi Mão tháng mười hai, tuổi Thìn tháng mười một, tuổi Tỵ tháng mười, tuổi Ngọ tháng chín, tuổi Mùi tháng tám, tuổi Thân tháng bảy, tuổi Dậu tháng sáu, tuổi Tuất tháng năm, tuổi Hợi tháng tư.
  • Cả ba sao Riêu, Đào Hoa, Hồng Loan cùng đóng một cung là chuyện hiếm, chỉ có đúng hai trường hợp trong toàn bộ một trăm bốn mươi bốn tổ hợp tuổi và tháng. Một là người tuổi Mão sinh tháng mười hai, ba sao chồng tại Tý. Hai là người tuổi Dậu sinh tháng sáu, ba sao chồng tại Ngọ. Ngoài hai trường hợp ấy ra thì không còn khả năng nào khác.

Suy luận Một hệ quả đẹp đi kèm: ở cả hai trường hợp hiếm ấy, Kình Dương và Đà La đều không thể vào chung cung. Đà La không bao giờ đóng Tý Ngọ Mão Dậu. Kình Dương thì có thể đóng Tý hoặc Ngọ, nhưng đóng Tý cần tuổi can Nhâm và đóng Ngọ cần tuổi can Bính hoặc Mậu, mà ba can ấy đều là can dương nên chỉ ghép được với chi dương, không bao giờ ghép với chi Mão hay chi Dậu. Nói cách khác, cái thế đào hoa đậm nhất của Thiên Riêu lại là cái thế sạch sát tinh nhất. Ngược lại, chỗ ấy có thể có Lộc Tồn: tuổi Quý Mão sinh tháng mười hai thì Lộc Tồn cũng tại Tý, tuổi Đinh Dậu hoặc Kỷ Dậu sinh tháng sáu thì Lộc Tồn cũng tại Ngọ.

Kinh nghiệm Thầy nêu chi tiết này không phải để khoe phép tính, mà vì nó chữa được một lỗi luận rất hay gặp. Nhiều người thấy Riêu Đào Hồng tụ một chỗ liền vội kết luận là số phong lưu bừa bãi. Trên cấu trúc, chỗ ấy không có Kình Đà, lại thường có Lộc Tồn, mà Thiên Hình thì vẫn tam hợp chiếu về đủ. Đó là thế đa tình có kỷ luật đi kèm, không phải thế buông thả. Đọc cho đúng thì đó là người sống nặng tình, dễ được người thương, chứ chưa phải người gây họa vì tình.

3 Đặc Tính Của Thiên Riêu Khi Thủ Mệnh

Cách an và đặc tính sao Thiên RiêuẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Thiên Riêu
Cách an và đặc tính sao Thiên Riêu

Thiên Riêu an theo tháng sinh âm lịch. Đây là một sao đào hoa thiên về phần kín đáo, tình cảm sâu.

Vì là phụ tinh, Thiên Riêu làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Mức Đắc Hãm Và Tính Chất Theo Tân Biên

Thiên Riêu: đắc địa thì thanh, hãm địa thì dâmẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Thiên Riêu
Thiên Riêu: đắc địa thì thanh, hãm địa thì dâm

Theo Tân Biên, Thiên Riêu đắc địa ở Dần, Mão, Thìn, Tuất. Tính chất: đa nghi, huyễn hoặc, có tín ngưỡng; nếu hãm địa thì dâm đãng. Đắc địa thì dù dìm vào tửu sắc cũng không nhơ nhuốc, ví như sen mọc trong bùn; hãm địa thì nguy khốn vì tửu sắc.

Thiên Riêu gặp Xương Khúc thì dâm đãng, giảm thọ; gặp Đào Hồng thì lẳng lơ hoa nguyệt; gặp Long Phượng lại tốt đẹp, liên quan cưới hỏi sinh nở. Mệnh có Riêu tọa thủ thường răng xấu hay đau.

5 Thiên Riêu Và Tứ Hóa: Sao Không Hóa Nhưng Chịu Hóa

Kinh văn Nói ngay cho rõ: Thiên Riêu không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi can nào làm Thiên Riêu hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ động tới mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở bảng Bắc phái tuổi Nhâm. Thiên Riêu, Thiên Hình, Thiên Y, Đào Hoa, Hồng Loan đều đứng ngoài.

Nhưng đứng ngoài Tứ Hóa không có nghĩa là miễn nhiễm với Tứ Hóa. Thiên Riêu là sao nhuộm màu: nó lấy màu của cung nó đóng và của sao nó đi cùng. Cho nên Tứ Hóa của chính tinh đồng cung quyết định phần lớn nghĩa của Thiên Riêu trong một lá số cụ thể. Cùng một Thiên Riêu tại Dần, người có Thái Âm hóa Lộc ở đó đọc khác hẳn người có Thái Âm hóa Kỵ ở đó. Đây là chỗ mà những trang chép sách bỏ qua, và cũng là chỗ Thầy dặn học trò phải xem trước tiên.

Thiên Riêu gặp chính tinh hóa Lộc

Suy luận Lộc là cái được, là dòng chảy vào. Thiên Riêu đứng cạnh một chính tinh hóa Lộc thì cái đa cảm của Riêu được nuôi bằng tài nguyên: người ấy có điều kiện để chiều theo cảm xúc của mình. Nếu là Thái Âm hóa Lộc thì duyên với nữ giới, với tiền mềm, với nghề chăm sóc; nếu là Tham Lang hóa Lộc thì giao tế rộng, tiệc tùng nhiều, dễ có quan hệ ngoài luồng vì cơ hội nhiều chứ không phải vì bản tính xấu; nếu là Thiên Đồng hóa Lộc thì hưởng thụ nhẹ nhàng, sống tình cảm mà không gây hại. Kinh nghiệm Thầy thấy trên lá số thật, Riêu gặp Lộc ít khi thành họa. Nó làm người ta mềm, dễ động lòng, dễ cho đi, và cái mất thường là mất tiền vì tình chứ không phải mất danh dự.

Thiên Riêu gặp chính tinh hóa Quyền

Suy luận Quyền là cái nắm được, là sức ép. Thiên Riêu gặp Quyền thì cái đa tình bị bọc trong một lớp vỏ cứng: người ấy vừa rất tình cảm bên trong vừa rất kiểm soát bên ngoài. Thái Dương hóa Quyền cùng Riêu là người đứng đầu mà đời tư kín; Vũ Khúc hóa Quyền cùng Riêu là người lạnh mặt nhưng lòng nặng tình; Cự Môn hóa Quyền cùng Riêu là người nói giỏi, dễ thuyết phục người khác bằng cảm xúc, đây là thế hay gặp ở người làm nghề tư vấn, giảng dạy, dẫn dắt. Kinh nghiệm Điểm cần giữ của thế này là lời nói. Riêu vốn ám, Quyền vốn mạnh, hai thứ cộng lại dễ thành lời nói có sức nặng mà lại mang màu úp mở, người nghe hiểu lệch rồi sinh chuyện.

Thiên Riêu gặp chính tinh hóa Khoa

Suy luận Khoa là danh tiếng trong sạch, là bằng cấp, là sự thừa nhận. Đây là hóa hợp với Thiên Riêu nhất. Khoa kéo cái nhạy cảm của Riêu về phía học thuật và nghệ thuật thay vì về phía tình ái. Tử Vi hóa Khoa hay Thiên Cơ hóa Khoa đi cùng Riêu thường ra người nghiên cứu, người viết, người làm nghề đòi tinh tế. Kinh nghiệm Nếu quý vị có Thiên Riêu ở Mệnh và trong tam phương có một sao hóa Khoa, hãy yên tâm: cái tinh nhạy của mình có chỗ dùng tử tế. Riêu gặp Khoa là thế mà Thầy hay khuyên đi theo đường học, đường chữ nghĩa, đường chữa lành, vì nó biến sự đa cảm thành khả năng hiểu người.

Thiên Riêu gặp chính tinh hóa Kỵ

Suy luận Kỵ là cái vướng, cái tối, cái không thoát ra được. Đây mới là thế nặng thật của Thiên Riêu. Riêu vốn đã là sao ám, gặp thêm Kỵ là ám chồng ám: chuyện tình cảm thành chuyện dây dưa không dứt, sự nhạy cảm thành đa nghi, lòng thương thành lòng chấp. Kinh văn Tân Biên nói Thiên Riêu chủ đa nghi và huyễn hoặc; huyễn hoặc gặp Kỵ thì cái tưởng tượng trong đầu trở nên thật hơn cả sự thật ngoài đời. Ba cặp đáng ngại nhất là Thái Âm hóa Kỵ cùng Riêu, là thế trăng bị mây phủ, tâm sự sâu mà không nói ra được, hay tủi thân, hay giận ngầm; Cự Môn hóa Kỵ cùng Riêu, là thế lời tối, dễ mang tiếng oan về chuyện tình cảm; và Tham Lang hóa Kỵ cùng Riêu, là thế ham muốn bị chặn, dễ sinh ra đeo bám hoặc dằn vặt.

Kinh nghiệm Nhưng phải nói thêm cho công bằng. Riêu gặp Kỵ trong cung Tật Ách lại là dấu hiệu Thầy thường đọc theo hướng khác hẳn: đó là người có duyên với nghề chữa bệnh, hoặc là người sớm phải hiểu nỗi đau của thân thể. Vì Thiên Y ngồi ngay đó cùng Riêu, mà Thiên Y là sao thuốc men. Kỵ làm cho chuyện bệnh tật hiện rõ, Thiên Y làm cho chuyện thuốc men hiện rõ, hai thứ cùng một cung. Bao nhiêu người theo nghề y, nghề dược, nghề trị liệu mà Thầy xem qua đều có tổ hợp kiểu này ở Tật Ách hoặc ở Mệnh.

Ba tổ hợp theo tuổi đáng chú ý nhất

Suy luận Vì Thiên Riêu an theo tháng còn Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc an theo can hoặc giờ, nên có những giao điểm tính được chính xác. Ba giao điểm sau đây đáng ghi nhớ, đã kiểm bằng thuật toán an sao của trang:

Ba tổ hợp tuổi, tháng và giờ sinh tạo thế đặc biệt cho Thiên Riêu
Tổ hợpĐiều kiện sinhKết quả trên lá sốĐọc thế nào
Riêu Khúc Kỵ ĐàTuổi can Kỷ, sinh tháng năm âm lịch, giờ SửuThiên Riêu, Thiên Y, Văn Khúc hóa Kỵ, Đà La cùng đóng cung TỵTuổi Kỷ Văn Khúc hóa Kỵ. Bốn thứ chồng một cung: đa cảm, chữ nghĩa vướng, trì trệ. Đây là thế nặng nhất mà cấu trúc cho phép, cần Thiên Hình tại Sửu tam hợp chiếu về để chế.
Riêu Xương Kỵ ĐàTuổi can Tân, sinh tháng tám âm lịch, giờ DầnThiên Riêu, Thiên Y, Văn Xương hóa Kỵ, Đà La cùng đóng cung ThânTuổi Tân Văn Xương hóa Kỵ. Giấy tờ, hợp đồng, thư từ dễ sinh chuyện; kết hợp với tính ám muội của Riêu thì phải cẩn thận chuyện ký tá và chuyện nhắn tin.
Riêu Lộc TồnTuổi Giáp tháng hai, Ất tháng ba, Bính và Mậu tháng năm, Đinh và Kỷ tháng sáu, Canh tháng tám, Tân tháng chín, Nhâm tháng mười một, Quý tháng mười haiThiên Riêu, Thiên Y đồng cung Lộc TồnLộc Tồn là sao giữ của và cũng là sao có kỷ cương. Riêu gặp Lộc Tồn thì cái tình được nuôi mà không tán, hợp nghề chữa bệnh, nghề chăm sóc, nghề làm đẹp có thu nhập ổn định.

Kinh nghiệm Xin nhấn lại: hai hàng đầu là điều kiện đủ để thành thế nặng, không phải bản án. Thầy nêu ra để quý vị biết mà tra, chứ trên lá số thật, một cung nặng bốn tầng như vậy thường được cả bộ Thiên Hình, Thiên Đức, Long Trì Phượng Các hoặc một chính tinh hóa Khoa gỡ ra. Sao xấu chồng nhau mới thành thế, chứ một sao thì chưa thành gì.

Hóa bay tới từ cung khác

Suy luận Thiên Riêu tự nó không hóa, nhưng nó vẫn hứng trọn hóa bay tới. Có ba đường bay hay gặp nhất trên lá số thật:

  • Hóa Kỵ từ cung xung chiếu bay về. Cung đối diện chỗ Riêu đóng mà có chính tinh hóa Kỵ thì cái ám của Riêu bị khuấy lên từ bên ngoài. Riêu tại Phu Thê mà Quan Lộc hóa Kỵ chiếu về là chuyện công việc làm hỏng chuyện gia đình; Riêu tại Mệnh mà Thiên Di hóa Kỵ chiếu về là ra ngoài dễ vướng người.
  • Hóa Lộc từ tam hợp bay về gặp Thiên Y. Vì Thiên Y đồng cung Riêu, Lộc chiếu vào cung ấy thường cho nghĩa lành: chữa được bệnh, gặp thầy gặp thuốc, hoặc kiếm được tiền từ nghề chăm sóc người khác. Đây là điểm sáng ít ai chỉ ra.
  • Hóa Quyền bay vào cung có Thiên Hình. Vì Thiên Hình luôn tam hợp Riêu, một hóa Quyền rơi đúng cung Hình sẽ làm liều thuốc chế mạnh hẳn lên: người ấy tự đặt kỷ luật cho mình được, và thường là người giữ được mình trong hoàn cảnh nhiều cám dỗ.

Bắc phái còn xét hóa bay theo can của từng cung, là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.

6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách Cơ Bản

Thiên Riêu thay đổi tính tùy sao đi cùng:

Khi Thiên Riêu gặpÝ nghĩa kết hợp
Long Trì, Phượng CácHóa tốt đẹp, vui vẻ, liên quan cưới hỏi sinh nở.
Văn Xương, Văn KhúcTăng đa tình, dễ dâm đãng, giảm thọ.
Đào Hoa, Hồng LoanLẳng lơ, hoa nguyệt, bất chính.
Thiên Đức, Thiên HìnhChế bớt tính hoa nguyệt.

7 Thiên Riêu An Tại Mười Hai Cung Chức

Thiên Riêu là phụ tinh, nghĩa của nó đổi theo cung nó đóng nhiều hơn theo bản thân nó. Bảng dưới đây tách hai vế cho rõ: một bên là khi Riêu đắc địa tại Dần, Mão, Thìn, Tuất theo Tân Biên hoặc gặp cát tinh; một bên là khi Riêu hãm địa ở tám cung còn lại hoặc gặp hung tinh. Cột cuối nêu tổ hợp đáng chú ý riêng của từng cung, vì cùng một sao mà ở Tật Ách nói bộ phận cơ thể, ở Phu Thê nói kiểu người bạn đời, ở Tài Bạch nói cách tiền vào.

Ý nghĩa của Thiên Riêu tại từng cung chức và tổ hợp đáng chú ý
CungThiên Riêu đắc địa hoặc gặp cátThiên Riêu hãm địa hoặc gặp hungTổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhNgười tinh tế, nhạy cảm, giàu tưởng tượng, có duyên ngầm, hiểu người rất nhanh; hợp nghệ thuật, chữa lành, nghiên cứu huyền học.Đa nghi, hay suy diễn, sống trong đầu nhiều hơn ngoài đời, dễ vướng tình cảm rắc rối, hay giấu chuyện.Riêu đồng cung Thái Âm là người sâu sắc và hay tủi. Riêu gặp Đà La là thế trì kéo, nghĩ lâu quyết chậm. Riêu có Thiên Hình tam hợp mà Hình đắc thì tự giữ được mình.
Phụ MẫuCha mẹ tình cảm, chiều con, gia đình có người theo nghề thuốc hoặc có tín ngưỡng; được mẹ thương đặc biệt.Chuyện riêng của cha mẹ phức tạp, có điều khó nói trong nhà; duyên với cha mẹ đậm mà không êm.Riêu và Thiên Y tại Phụ Mẫu gặp Hóa Kỵ là cần để ý bệnh mạn tính của cha mẹ. Riêu gặp Đào Hồng tại đây thì trong nhà có chuyện đời tư người lớn.
Phúc ĐứcĐời sống tinh thần phong phú, có căn tu, hợp thiền, hợp việc thiện; hay mơ thấy điềm, trực giác nhạy.Tâm không yên, hay nghĩ ngợi ban đêm, dễ lo sợ vô cớ, dễ bị ám ảnh chuyện cũ.Đây là cung mà Thiên Riêu có nghĩa tâm linh rõ nhất. Riêu tại Phúc Đức gặp Thiên Hình chiếu thì hợp đường tu có kỷ luật; gặp Không Kiếp thì dễ tin điều huyễn hoặc.
Điền TrạchNhà cửa kín đáo, có góc riêng, thích trang trí; hợp nhà gần nước, gần cây, có phòng để tĩnh tâm.Nhà ẩm thấp, có chỗ tối, hoặc trong nhà có chuyện giấu kín; hay đổi chỗ ở vì chuyện tình cảm.Riêu Thiên Y tại Điền Trạch là nhà hay có người bệnh, cũng là nhà thích hợp làm nơi khám chữa, dạy học, trị liệu. Riêu gặp Hỏa Linh tại đây thì để ý điện nước và ẩm mốc.
Quan LộcHợp nghề cần tinh nhạy và cảm thụ: y dược, tâm lý, chăm sóc sắc đẹp, nghệ thuật, viết lách, nghiên cứu.Công việc có phần khuất, hay bị nói sau lưng, dễ vướng chuyện tình cảm nơi làm việc.Riêu Thiên Y tại Quan Lộc gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc là dấu hiệu rõ của nghề y dược. Gặp Đào Hồng thì nghề dính tới cái đẹp và tới người.
Nô BộcBạn bè tri kỷ ít mà sâu, có người bạn khác giới hiểu mình; được người ngầm giúp.Bạn bè phức tạp, dễ bị lôi vào chuyện riêng của người khác, hay bị mượn lòng tốt.Riêu tại Nô Bộc gặp Đào Hồng là hay có tình cảm nảy sinh từ quan hệ bạn bè, đây là chỗ Thầy hay dặn người đã có gia đình.
Thiên DiRa ngoài được người mến, dễ gây thiện cảm, hợp việc phải tiếp xúc nhiều người.Ra ngoài dễ vướng chuyện tình cảm, dễ bị người khác giới hiểu lầm hoặc theo đuổi phiền phức.Riêu tại Thiên Di gặp Thiên Mã là đi xa hay sinh chuyện tình; gặp Thiên Hình chiếu thì đi xa mà giữ được mình.
Tật ÁchNhờ Thiên Y đồng cung nên gặp thầy gặp thuốc, bệnh gì cũng có người chữa; bản thân hiểu về thuốc men.Bệnh thuộc âm và thuộc phần kín: nội tiết, thận và bàng quang, phụ khoa hoặc nam khoa, mất ngủ, tâm bệnh.Kinh văn Tân Biên ghi người có Riêu thủ Mệnh thường răng xấu hay đau răng, đặt ở Tật Ách thì dấu hiệu này rõ hơn. Riêu Thiên Y gặp Hóa Kỵ tại Tật Ách là bệnh dai nhưng có thuốc; gặp Kình Đà thì hay phải can thiệp bằng thủ thuật.
Tài BạchTiền vào từ nghề dùng sự tinh tế: thẩm mỹ, chăm sóc, tư vấn, nghệ thuật; có nguồn thu kín đáo.Tiền hao vì tình, vì người, vì những khoản không tiện nói ra; hay cho vay rồi ngại đòi.Riêu tại Tài Bạch gặp Lộc Tồn là thu nhập mềm mà đều. Gặp Đại Hao Tiểu Hao hoặc Không Kiếp thì tiền chảy theo đường cảm xúc, phải đặt ra nguyên tắc chi tiêu.
Tử TứcCon cái tình cảm, nhạy, có khiếu nghệ thuật; cha mẹ và con gần gũi về tinh thần.Chuyện con cái có phần khó nói, hoặc con mang tính đa cảm quá mức cần được để ý.Riêu Thiên Y tại Tử Tức là cung cần xem kỹ về đường thai sản, cũng là dấu hiệu con hợp nghề chữa bệnh. Gặp Hồng Loan tại đây thì tin vui đến từ chuyện con cái.
Phu ThêBạn đời có duyên ngầm, tình cảm sâu, hai người hiểu nhau không cần nói nhiều; duyên đến từ chỗ tình cờ.Duyên nhiều mà không êm, dễ có người thứ ba trong lòng dù chưa có ngoài đời; hay nghi ngờ nhau vô cớ.Đây là cung mà Thiên Riêu bị gán oan nhiều nhất. Riêu tại Phu Thê gặp Đào Hồng và sát tinh mới nên đặt vấn đề; gặp Thiên Hình chiếu hoặc Thiên Đức thì chỉ là người tình cảm sâu.
Huynh ĐệAnh chị em thân thiết, hay tâm sự với nhau, có người trong nhà theo nghề chăm sóc.Anh chị em có chuyện riêng khó chia sẻ, hoặc mình hay phải nghe và gánh chuyện của họ.Riêu tại Huynh Đệ gặp Thiên Y là trong nhà có người hay đau ốm mà mình là người chăm. Gặp Đà La thì quan hệ dây dưa, nói mãi không dứt.

Mẹo đọc bảng này

Kinh nghiệm Thầy chỉ ba mẹo để bảng trên không thành một danh sách chết. Mẹo thứ nhất: đọc Riêu bao giờ cũng đọc kèm Thiên Y. Vì hai sao đồng cung nên trong cùng một ô, quý vị luôn có hai lớp nghĩa để chọn, một lớp về tình và một lớp về thuốc. Hỏi thêm một câu về đời sống thực của người ấy là biết lớp nào đang hiện. Người làm nghề y mà có Riêu ở Quan Lộc thì lớp Thiên Y đang hiện; người chưa dính gì tới nghề y thì lớp Riêu đang hiện.

Kinh nghiệm Mẹo thứ hai: luôn tìm Thiên Hình trước khi kết luận. Hình chắc chắn đang tam hợp chiếu về, việc của quý vị chỉ là xem Hình đóng ở cung nào và có bị hỏng không. Hình đắc địa ở Dần Thân Mão Dậu mà lại không bị Không Kiếp phá thì cái ám của Riêu bị chế đáng kể, khi ấy đừng luận nặng. Hình rơi vào cung xấu, bị sát tinh vây, hoặc đóng ở cung mà chủ nhân không hề để tâm tới, thì liều thuốc ấy không phát huy.

Kinh nghiệm Mẹo thứ ba: cột giữa không phải bản án. Chữ hãm địa ở đây là ngôn ngữ của sách để chỉ vị trí bất lợi, không phải lời phán về nhân cách. Trong hàng trăm lá số Thầy xem, Thiên Riêu hãm địa mà cả đời đứng đắn là chuyện rất thường; cái hãm ấy thường biểu hiện thành nội tâm nhiều sóng gió chứ không thành hành vi. Chỉ khi có đủ ba yếu tố là Riêu hãm, đào hoa tinh tụ hội và sát tinh đồng cung thì mới nên nói tới rủi ro thật.

8 Chín Cách Cục Của Thiên Riêu Và Điều Kiện Thành Cách

Thiên Riêu là phụ tinh nên phần lớn các thế của nó không có tên gọi cổ điển trang trọng như cách cục của chính tinh. Mục này gọi tên theo lối dân gian đang dùng trong giới luận Tử Vi Việt, ghi rõ điều kiện đủ để thành thế và điều kiện gỡ thế. Chỗ nào sách có chữ thì gắn thẻ Kinh văn, chỗ nào là đúc kết thì gắn Kinh nghiệm, chỗ nào rút từ cấu trúc an sao thì gắn Suy luận. Bài này không dẫn câu phú nào cho Thiên Riêu vì hai bộ sách trang này dùng không có câu phú riêng cho sao ấy.

Một. Riêu Đà, thế trì ám

Kinh nghiệm Thành cách: Thiên Riêu và Đà La đồng cung. Vì Riêu an theo tháng còn Đà La an theo can năm, thế này chỉ xảy ra ở tám cặp cố định, tính được chính xác: tuổi Giáp sinh tháng một tại Sửu, tuổi Ất tháng hai tại Dần, tuổi Bính và Mậu tháng tư tại Thìn, tuổi Đinh và Kỷ tháng năm tại Tỵ, tuổi Canh tháng bảy tại Mùi, tuổi Tân tháng tám tại Thân, tuổi Nhâm tháng mười tại Tuất, tuổi Quý tháng mười một tại Hợi. Suy luận Hệ quả kèm theo: người sinh tháng ba, sáu, chín hoặc mười hai thì Thiên Riêu cả đời không bao giờ đồng cung Đà La, kể cả Đà La lưu niên, vì Đà La không bao giờ đóng bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Đà La là sao trì trệ, dây dưa, quấn lấy không dứt; Riêu là sao ám muội, đa cảm. Hai thứ chồng nhau ra cái thế mà Thầy gọi là trì ám: chuyện gì cũng nghĩ lâu, tình cảm gì cũng kéo dài, dứt không nổi mà tiếp cũng không xong. Ở Mệnh là người sống trong đầu, hay nhai lại chuyện cũ. Ở Phu Thê là mối quan hệ dằng dai. Ở Tật Ách là bệnh mạn tính thuộc phần kín, chữa lâu khỏi. Kinh văn Tân Biên xếp Đà La là hung tinh trì kéo và Thiên Riêu hãm địa thì nguy khốn vì tửu sắc; hai điều ấy đặt cạnh nhau đủ để hiểu vì sao thế này bị coi là nặng.

Kinh nghiệm Giải cách: Thiên Hình tam hợp chiếu về mà đắc địa, hoặc có Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần trong tam phương, hoặc chính tinh đồng cung hóa Khoa. Riêu Đà mà cung ấy có Lộc Tồn giáp bên cũng nhẹ đi nhiều, vì Lộc Tồn luôn đứng liền sau Đà La, nghĩa là thế Riêu Đà bao giờ cũng có Lộc Tồn ở cung kế bên, đây là điểm an ủi mà cấu trúc an sao tặng sẵn.

Hai. Riêu hội Đào Hồng, thế đào hoa nặng

Kinh văn Tân Biên chép Thiên Riêu gặp Đào Hoa, Hồng Loan thì lẳng lơ hoa nguyệt, bất chính. Đây là điều kiện thành thế được sách nói rõ nhất trong các thế của Thiên Riêu.

Suy luận Thành cách: Riêu đồng cung hoặc tam hợp với Đào Hoa và Hồng Loan. Đồng cung cả ba sao chỉ có đúng hai trường hợp trong toàn bộ tổ hợp tuổi tháng: tuổi Mão sinh tháng mười hai, ba sao tụ tại Tý; và tuổi Dậu sinh tháng sáu, ba sao tụ tại Ngọ. Ngoài hai trường hợp ấy thì chỉ có thể gặp từng đôi một, hoặc gặp nhau qua tam hợp và xung chiếu.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Đào Hoa là sức hút bên ngoài, Hồng Loan là duyên tình và hỷ sự, Riêu là chiều sâu cảm xúc và cái ám. Ba thứ cộng lại thành người rất dễ được thương và cũng rất dễ động lòng, đường tình do đó nhiều nhánh. Đặt ở Mệnh là duyên đến sớm và đến nhiều; ở Phu Thê là hôn nhân có sóng; ở Nô Bộc là tình cảm nảy sinh từ quan hệ bạn bè và công việc. Thêm sát tinh, nhất là Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp thì mới thành chuyện thật.

Suy luận Giải cách: ở đúng hai trường hợp ba sao đồng cung nói trên, cấu trúc an sao đã tự gỡ một phần: cung ấy chắc chắn không có Đà La và cũng không thể có Kình Dương, lại thường có Lộc Tồn nếu tuổi can hợp. Cộng thêm Thiên Hình luôn tam hợp chiếu về, thế này thường chỉ là thế đa duyên chứ không thành thế phóng túng. Thầy đã kiểm bằng thuật toán an sao, không phải suy đoán.

Ba. Riêu ám Nhật Nguyệt, thế ánh sáng bị che

Suy luận Thành cách: Thiên Riêu đồng cung Thái Dương hoặc Thái Âm. Vì Riêu độc lập với vòng Tử Vi nên thế này có thể xảy ra ở bất kỳ cung nào, chỉ cần tháng sinh đưa Riêu tới đúng ô có Nhật hoặc Nguyệt. Không có cung nào miễn nhiễm.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Thái Dương và Thái Âm là hai ngôi sáng, chủ về sự quang minh, về cha, về mẹ, về danh và về tình. Thiên Riêu là sương, là mây mỏng, là cái ám. Sương phủ lên mặt trời thì danh tiếng dính chuyện riêng tư, người ngoài nhìn vào thấy một đằng, sự thật một nẻo. Sương phủ lên mặt trăng thì nỗi lòng sâu thêm một tầng, người ấy hay giấu tâm sự, hay tủi, hay nghĩ ban đêm. Nặng nhất là khi ngôi sáng ấy hãm địa lại thêm hóa Kỵ: Thái Âm hãm hóa Kỵ đồng cung Thiên Riêu là thế mà Thầy luôn dặn phải xem kỹ cung Phúc Đức trước khi kết luận bất cứ điều gì.

Kinh nghiệm Đủ đẹp: ngược lại, Thái Dương hoặc Thái Âm miếu vượng lại có Riêu đồng cung mà không kèm sát tinh thì không nên luận xấu. Mặt trời có mây mỏng vẫn là mặt trời, chỉ bớt gay gắt; mặt trăng có sương lại thêm phần huyền. Trên lá số thật đây thường là người có sức hút lạ, làm nghệ thuật hoặc làm nghề cần chạm vào cảm xúc người khác thì rất hợp.

Suy luận Phá cách: thêm Đà La hoặc Hóa Kỵ vào cùng cung. Khi ấy ánh sáng vừa bị che vừa bị trì, mọi chuyện đều chậm và đều tối. Cần Thiên Hình đắc chiếu về hoặc chính tinh khác hóa Khoa trong tam phương để gỡ.

Bốn. Hình Riêu tương chế, thế thuốc sẵn trong người

Suy luận Thành cách: đây là thế duy nhất trong bài ai có Thiên Riêu cũng có, vì Thiên Hình luôn cách Thiên Riêu đúng tám cung nên luôn nằm trong tam hợp. Không cần điều kiện gì thêm, chỉ cần có Riêu là có Hình chiếu.

Kinh văn Tân Biên chép Thiên Riêu gặp Thiên Đức, Thiên Hình thì chế bớt được tính hoa nguyệt. Trang sao Thiên Hình của bộ này cũng ghi Thiên Hình có khả năng chế tính hoa nguyệt của Đào Hoa và Hồng Loan, giúp giữ nề nếp.

Kinh nghiệm Đủ đẹp: Hình đóng ở Dần, Thân, Mão hoặc Dậu là đắc địa, khi ấy sức chế mạnh. Người có thế này tuy đa cảm mà biết dừng, tuy dễ động lòng mà giữ được nguyên tắc, thường là người bên ngoài trông nghiêm mà bên trong rất mềm. Đây là chân dung hay gặp ở thầy thuốc, ở nhà giáo, ở người làm nghề pháp luật mà lại rất thương người.

Kinh nghiệm Phá cách: Thiên Hình bị Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, hoặc Hình rơi vào cung hãm và bị Hỏa Linh vây, thì liều thuốc mất tác dụng. Suy luận Ngoài ra phải nhớ Hình chỉ tam hợp chứ không đồng cung, mà tam hợp là lực nhẹ hơn đồng cung, cho nên đừng trông cậy hoàn toàn vào Thiên Hình. Nó là cái phanh, không phải cái khóa.

Năm. Riêu Y đồng cung, thế nghề thuốc

Suy luận Thành cách: luôn thành, vì Thiên Y dùng chung công thức an với Thiên Riêu, khởi Sửu đếm thuận theo tháng sinh, nên hai sao đồng cung ở mọi lá số. Điều kiện đủ để thế này phát ra thành nghề nghiệp thì cần thêm: Riêu Y đóng ở Mệnh, Quan Lộc hoặc Tật Ách, có Lộc Tồn hoặc một chính tinh hóa Lộc trong cùng cung hay tam hợp, và có Thiên Hình đắc chiếu về.

Kinh nghiệm Đủ đẹp: Thiên Y là sao thuốc men, chủ chữa trị, cứu người, gặp thầy gặp thuốc. Bộ Thiên Hình cộng Thiên Y cộng Lộc là bộ mà giới luận Việt vẫn coi là dấu hiệu nghề y, nghề dược, nghề giải phẫu; Thiên Hình cho con dao và kỷ luật, Thiên Y cho vị thuốc, Lộc cho cái nghề nuôi được thân. Vì Hình luôn tam hợp Riêu Y, cái bộ ấy thực ra đã có sẵn hai phần ba trong mọi lá số, chỉ thiếu chân Lộc.

Kinh nghiệm Đáng ngại: cùng vị trí ấy mà thiếu Lộc, thiếu Hình đắc, lại thêm sát tinh thì lớp nghĩa Thiên Y không hiện ra thành nghề mà hiện ra thành bệnh: người ấy không chữa bệnh cho ai mà tự mình phải chữa. Đây chính là chỗ mà cùng một ô trên lá số cho hai số phận khác nhau, và cũng là lý do Thầy nhắc đi nhắc lại rằng phải hỏi đời thực của người ta trước khi chọn lớp nghĩa.

Sáu. Riêu cư Phu Thê, thế duyên sâu

Suy luận Thành cách: Thiên Riêu đóng đúng cung Phu Thê. Vì cung Phu Thê nằm ở đâu là do vị trí Mệnh quyết định, còn Riêu do tháng sinh quyết định, nên thế này không gắn với một tháng cố định nào; mỗi lá số một khác, phải tra.

Kinh nghiệm Đủ đẹp: Riêu tại Phu Thê mà đắc địa hoặc gặp cát tinh cho một kiểu duyên rất riêng: hai người hiểu nhau bằng linh cảm, ít cần nói, duyên hay đến từ chỗ tình cờ và đến sớm hơn dự tính. Bạn đời thường là người tình cảm sâu, có phần kín, có nét đẹp ngầm chứ không phô. Gặp Long Trì Phượng Các hoặc Thiên Hỷ thì chuyện cưới hỏi thuận.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Riêu tại Phu Thê gặp đủ ba thứ là đào hoa tinh, sát tinh và Hóa Kỵ thì mới nên đặt vấn đề về sóng gió hôn nhân. Biểu hiện hay gặp nhất không phải là phản bội mà là nghi ngờ: một bên đa cảm hay suy diễn, một bên thấy mình bị soi, lâu ngày thành rạn. Kinh nghiệm Thầy nói thẳng để quý vị yên tâm: trong số lá số Thầy đã xem có Riêu tại Phu Thê, phần đông là những cuộc hôn nhân nhiều tâm sự chứ không phải nhiều biến cố.

Suy luận Giải cách: Thiên Hình chiếu về cung Phu Thê, hoặc Thiên Đức Nguyệt Đức, hoặc chính tinh tại đó hóa Khoa. Cách gỡ ngoài đời còn hiệu quả hơn cách gỡ trên lá số: nói ra điều mình nghĩ thay vì giữ trong lòng, vì cái hại của Riêu nằm ở chỗ giấu.

Bảy. Riêu cư Tật Ách, thế bệnh thuộc âm

Suy luận Thành cách: Thiên Riêu và Thiên Y cùng đóng cung Tật Ách. Riêu thuộc Thủy, thuộc âm, chủ phần kín và phần sâu, nên khi rơi vào cung bệnh tật thì hướng chú ý là hệ nội tiết, thận và bàng quang, đường sinh dục, giấc ngủ và tâm thần kinh, chứ không phải các chứng thuộc dương như huyết áp hay chấn thương.

Kinh văn Tân Biên có một chi tiết cụ thể đáng ghi: người có Thiên Riêu thủ Mệnh thường răng xấu hoặc hay đau răng. Đặt ở Tật Ách thì dấu hiệu này rõ hơn nữa. Suy luận Điều này hợp với lý ngũ hành, vì răng thuộc phần dư của thận, mà Riêu thuộc Thủy tương ứng với tạng thận.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Riêu Y tại Tật Ách gặp Hóa Kỵ đồng cung là bệnh dai, hay tái đi tái lại; gặp Kình Dương hoặc Đà La là hay phải can thiệp bằng thủ thuật; gặp Hỏa Linh là chứng viêm thuộc phần kín. Đủ đẹp: cũng chính vì có Thiên Y ngồi đó nên đây là cung của người gặp thầy gặp thuốc. Trên lá số thật, người có Riêu Y tại Tật Ách thường bệnh sớm mà lại chữa được, hoặc quen biết người trong ngành y nên có chỗ hỏi.

Suy luận Xin nhắc luật nhà: bài này chỉ nêu khuynh hướng cần lưu tâm, không phải chẩn đoán. Lá số không thay được lần khám. Thấy dấu hiệu thì đi khám sớm, đó là cách dùng Tử Vi đúng nhất.

Tám. Riêu gặp Xương Khúc, thế văn hoa quá đà

Kinh văn Tân Biên chép Thiên Riêu gặp Văn Xương, Văn Khúc thì dâm đãng, giảm thọ. Đây là câu nặng nhất mà sách dành cho Thiên Riêu, và cũng là câu hay bị đọc quá lời nhất.

Suy luận Thành cách: Văn Xương và Văn Khúc an theo giờ sinh, Riêu an theo tháng, nên thế đồng cung tính được chính xác theo cặp tháng và giờ. Với mỗi tháng sinh có đúng một giờ làm Văn Xương đồng cung Riêu và đúng một giờ làm Văn Khúc đồng cung Riêu. Đáng chú ý là chỉ có hai trường hợp cả Xương lẫn Khúc cùng đóng chung với Thiên Riêu: sinh tháng một giờ Dậu, ba sao tụ tại Sửu; và sinh tháng bảy giờ Mão, ba sao tụ tại Mùi. Đó là vì Xương Khúc chỉ đồng cung với nhau tại Sửu và Mùi.

Kinh nghiệm Đáng ngại: Xương Khúc là văn chương, là cái đẹp của lời và chữ; Riêu là cái đa cảm và ám. Cộng lại thành người viết hay, nói ngọt, cảm thụ tinh, và vì thế dễ làm người khác động lòng cũng dễ tự động lòng. Chữ dâm đãng của sách nên hiểu theo nghĩa cổ là buông theo cảm xúc quá mức, không nhất thiết là hành vi. Chữ giảm thọ nên hiểu là hao thần: người sống bằng cảm xúc mạnh thì tổn tinh khí, chứ sách không nói con số tuổi thọ nào.

Kinh nghiệm Giải cách: Thiên Hình chiếu, hoặc Xương Khúc hóa Khoa theo tuổi can. Tuổi Bính Văn Xương hóa Khoa, tuổi Tân Văn Khúc hóa Khoa; khi ấy văn tài đi về hướng học thuật và danh tiếng trong sạch. Ngược lại tuổi Kỷ Văn Khúc hóa Kỵ và tuổi Tân Văn Xương hóa Kỵ, gặp đúng tháng giờ nói trên thì thành thế nặng đã nêu ở mục Tứ Hóa.

Chín. Riêu gặp Long Trì Phượng Các, thế hóa cát

Kinh văn Tân Biên chép Thiên Riêu gặp Long Trì, Phượng Các thì hóa tốt đẹp, vui vẻ, liên quan tới cưới hỏi và sinh nở. Đây là thế cát duy nhất mà sách nói rõ cho Thiên Riêu, nên rất đáng nhớ.

Suy luận Thành cách: Long Trì và Phượng Các an theo chi năm sinh, luôn cách nhau một khoảng cố định và luôn chiếu nhau. Riêu an theo tháng, nên việc Riêu gặp được một trong hai sao hay cả bộ tùy từng lá số, phải tra chứ không có quy luật gọn như với Thiên Hình.

Kinh nghiệm Đủ đẹp: Long Phượng là bộ sao của lễ nghi, của cái đẹp có khuôn phép, của khoa giáp. Chúng kéo Thiên Riêu ra khỏi vùng tối, biến cái đa cảm thành cái duyên dáng có chừng mực. Đặt ở Phu Thê thì chuyện cưới hỏi thuận và có lễ; đặt ở Tử Tức thì tin vui về con cái; đặt ở Mệnh thì người có nét đẹp và có gu, được lòng người mà không mang tiếng.

Kinh nghiệm Phá cách: thêm sát tinh đồng cung, nhất là Kình Dương hoặc Không Kiếp, thì phần lễ nghi mất, chỉ còn phần tình cảm, khi ấy thế cát này không đứng vững.

Rút gọn chín cách cục thành một câu để nhớ

Thiên Riêu là cái sương của lá số. Sương phủ lên mặt trời mặt trăng thì ánh sáng mờ đi một tầng, đó là cách ba. Sương gặp gió trì là Đà La thì đọng lại không tan, đó là cách một. Sương gặp hoa là Đào Hồng thì thành cảnh đẹp mà dễ say, đó là cách hai. Sương gặp chữ là Xương Khúc thì thành thơ mà cũng thành mộng, đó là cách tám. Nhưng trong mọi lá số, sương ấy luôn có một lưỡi dao là Thiên Hình chiếu tới để định hình, và luôn có một vị thuốc là Thiên Y ngồi ngay bên cạnh. Cho nên Thiên Riêu chưa bao giờ là một sao đơn độc đáng sợ; nó là một sao cần được đọc cùng hai người bạn cố định của nó. Muốn biết Thiên Riêu của mình đóng cung nào, đi cùng ai, có Thiên Hình đắc hay hãm chiếu về, hãy an lá số rồi bấm vào sao trên lá số để đọc luận ngữ cảnh.

9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thiên Riêu là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với riêng Thiên Riêu còn phải nhớ thêm hai điều cấu trúc: Thiên Y luôn ở thế đồng cung nên lực của nó là lực mạnh nhất và không bao giờ mất; Thiên Hình luôn ở thế tam hợp nên lực chế của nó là lực vừa phải, không bao giờ đạt tới mức đồng cung. Đó là lý do Thầy nói Thiên Hình là cái phanh chứ không phải cái khóa.

Thiên Riêu rất thích gặp

  • Thiên Hình đắc địa (luôn ở thế tam hợp, không thể đồng cung): chế bớt tính hoa nguyệt, cho kỷ luật và nề nếp. Hình đắc tại Dần, Thân, Mão, Dậu thì sức chế rõ nhất.
  • Long Trì, Phượng Các (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): hóa cát, chuyện cưới hỏi và sinh nở thuận, cho cái duyên có lễ nghi.
  • Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): tiết chế phần ám, giữ được mình trong hoàn cảnh nhiều cám dỗ.
  • Lộc Tồn (đồng cung là tốt nhất, giáp cũng được): cho kỷ cương và nguồn nuôi; đây cũng là chân còn thiếu của bộ nghề y cùng Thiên Y và Thiên Hình.
  • Chính tinh hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): kéo sự nhạy cảm về phía học thuật, nghệ thuật, nghiên cứu thay vì về phía tình ái.
  • Thiên Phủ, Thiên Lương (đồng cung): hai sao đôn hậu và có khuôn phép, làm nền vững cho cái mềm của Riêu; Thiên Lương lại cùng hướng y dược với Thiên Y.

Thiên Riêu e ngại khi gặp

  • Đà La (đồng cung nặng nhất, giáp kế đó): thế trì ám, chuyện gì cũng dây dưa không dứt. Chỉ xảy ra ở tám cặp tuổi và tháng cố định, xem mục cách cục.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): Kinh văn Tân Biên nói dâm đãng, giảm thọ; nên hiểu là buông theo cảm xúc và hao thần. Xương Khúc chiếu về thì nhẹ hơn nhiều.
  • Đào Hoa, Hồng Loan (đồng cung mạnh nhất, tam hợp kế đó): Kinh văn lẳng lơ, hoa nguyệt, bất chính. Đủ ba sao một cung chỉ có hai trường hợp trong toàn bộ tổ hợp tuổi tháng.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): ám chồng ám, đa nghi thành cố chấp, chuyện tình cảm thành chuyện không dứt được.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp): làm hỏng phần tín ngưỡng lành mạnh của Riêu, dễ tin điều huyễn hoặc, dễ bị người lợi dụng lòng tin.
  • Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): biến cái đa cảm âm thầm thành hành động nóng vội; đây mới là lúc thế đào hoa của Riêu chuyển từ ý nghĩ sang chuyện thật.

Kinh nghiệm Tóm lại một câu cho dễ nhớ: với Thiên Riêu, vị thế quan trọng hơn danh sách. Cùng là Văn Khúc, đồng cung thì sách chê, tam hợp chiếu thì chỉ thêm phần tài hoa. Cùng là Đà La, đồng cung thành thế trì ám, xung chiếu thì nhẹ hẳn một bậc. Cho nên khi tra hai cột trên, quý vị đừng chỉ hỏi có sao ấy hay không, mà hãy hỏi sao ấy đứng ở đâu so với Thiên Riêu, rồi mới định nặng nhẹ.

10 Thiên Riêu Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Thiên Riêu tĩnh: nó nằm ở đâu, đi cùng ai. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ sao lưu riêng theo can chi của năm ấy. Đây là chỗ Thiên Riêu động, cũng là chỗ khách hay hỏi nhất: năm nay chuyện tình cảm của tôi ra sao, năm nay sức khỏe phần kín thế nào.

Thiên Riêu không có bản lưu niên

Suy luận Nói rõ ngay để quý vị khỏi mất công tìm: Thiên Riêu không có sao lưu. Những sao có bản lưu là những sao an theo can hoặc chi của năm, như lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Thiên Mã, lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn Bạch Hổ, lưu Đào Hoa, lưu Hồng Loan, lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt. Thiên Riêu an theo tháng sinh, mà tháng sinh của một người thì không đổi, nên Thiên Riêu đứng yên một chỗ suốt đời. Cũng vì vậy Thiên Hình và Thiên Y đi cùng nó cũng đứng yên. Cả cụm ba sao ấy là một điểm cố định trên bản đồ, còn đại vận và lưu niên là cái kim đồng hồ chạy qua nó.

Đại vận đi vào cung có Thiên Riêu

Kinh nghiệm Mười năm đại vận rơi đúng cung có Thiên Riêu và Thiên Y là mười năm mà đời sống bên trong lên tiếng. Biểu hiện thường gặp theo thứ tự hay gặp nhất: nội tâm nhiều sóng, hay nghĩ ngợi, hay nhớ chuyện cũ; chuyện tình cảm nổi lên, hoặc là duyên mới, hoặc là một mối cũ quay lại, hoặc là một mối trong lòng mà không thành ngoài đời; quan tâm tới tâm linh, thiền, chữa lành, huyền học; và sức khỏe phần kín cần để ý.

Kinh nghiệm Nhưng phải phân hai hướng cho rõ. Đại vận Thiên Riêu mà cung ấy đắc địa hoặc có cát tinh, nhất là có Thiên Hình đắc chiếu về, thì đây thường là mười năm người ta trưởng thành về cảm xúc: hiểu mình hơn, hiểu người hơn, nhiều người chuyển nghề sang hướng chăm sóc, trị liệu, dạy học, viết lách đúng trong giai đoạn này. Ngược lại, đại vận Thiên Riêu mà cung ấy hãm địa lại thêm Đà La, Hóa Kỵ hoặc đào hoa tinh tụ thì là mười năm dễ vướng: vướng người, vướng nợ tình, vướng cái nghĩ của chính mình. Thầy hay dặn khách trong vận này một câu duy nhất: chuyện gì cũng nên nói ra sớm, vì cái hại của Riêu nằm ở chỗ giấu, không nằm ở chỗ có.

Suy luận Một điểm cấu trúc đáng dùng: vì Thiên Hình luôn tam hợp Thiên Riêu, nên đại vận đi vào cung Thiên Hình cũng là đại vận tam hợp với Thiên Riêu. Mười năm ấy thường là mười năm kỷ luật lên ngôi, người ta tự đặt ra khuôn khổ cho mình, và những gì nảy sinh ở vận Riêu trước đó hay được sắp xếp lại trong vận Hình.

Lưu Đà La chạm vào cung Thiên Riêu

Suy luận Vì thế Riêu Đà là thế nặng nhất của sao này, câu hỏi thực dụng nhất là: năm nào thì Đà La lưu niên rơi trúng cung có Thiên Riêu của tôi. Lưu Đà La an theo can của năm xem, cùng công thức với Đà La bản mệnh, nên tính được chính xác. Bảng dưới đây tra theo tháng sinh âm lịch của quý vị.

Năm nào lưu Đà La rơi vào cung có Thiên Riêu, tra theo tháng sinh âm lịch
Sinh thángThiên Riêu tạiLưu Đà La tới vào năm canCác năm gần đây và sắp tới
Tháng 1SửuGiáp2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần
Tháng 2DầnẤt2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
Tháng 4ThìnBính và Mậu2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân
Tháng 5TỵĐinh và Kỷ2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu
Tháng 7MùiCanh2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
Tháng 8ThânTân2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu
Tháng 10TuấtNhâm2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
Tháng 11HợiQuý2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
Tháng 3, 6, 9, 12Mão, Ngọ, Dậu, Týkhông có năm nàoĐà La không bao giờ đóng bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu, nên Thiên Riêu của người sinh bốn tháng này vĩnh viễn không gặp Đà La, kể cả lưu niên.

Kinh nghiệm Cách dùng bảng cho đúng: năm lưu Đà chạm cung Riêu không phải năm xấu, mà là năm chuyện cũ dễ quay lại và chuyện đang dở dễ kéo dài. Biểu hiện hay gặp là một mối quan hệ tưởng đã xong lại nối, một việc tưởng đã dứt lại vướng, hoặc một chứng bệnh mạn tính trở lại. Người sinh tháng ba, sáu, chín, mười hai thì miễn hẳn khoản này, nhưng lại là những người dễ gặp lưu Đào Hoa trùng cung Riêu, vì Đào Hoa cũng chỉ đóng đúng bốn cung ấy.

Các sao lưu khác chạm vào cung Thiên Riêu

  • Suy luận Lưu Đào Hoa và lưu Hồng Loan tới cung Thiên Riêu: năm duyên nổi. Người còn độc thân thì đây là năm dễ gặp người; người đã có gia đình thì đây là năm nên giữ khoảng cách trong các quan hệ xã giao. Lưu Đào Hoa an theo chi năm nên cứ ba năm lại quay về một trong bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu.
  • Suy luận Lưu Kình Dương tới cung Thiên Riêu: khác hẳn lưu Đà. Kình là nhanh và sắc, Riêu là chậm và ám; hai thứ gặp nhau thường cho năm quyết định dứt khoát một chuyện tình cảm đã kéo dài, hoặc năm phải can thiệp y tế cho một chứng đã âm ỉ.
  • Kinh nghiệm Lưu Thái Tuế tới cung Thiên Riêu: năm chuyện riêng dễ thành chuyện chung, tức là điều mình vẫn giấu có khả năng bị nói tới. Nếu cung ấy lại có Hóa Kỵ thì càng rõ. Đây là năm nên cẩn thận lời nói và tin nhắn.
  • Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới cung Thiên Riêu và Thiên Y, nhất là khi cung ấy là Tật Ách: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sức khỏe định kỳ trong năm, không kết luận điều gì nặng nề, chỉ là đi khám sớm.
  • Suy luận Lưu Xương Khúc tới cung Thiên Riêu: năm chữ nghĩa và cảm xúc cùng lên. Hợp cho người viết, người làm nghệ thuật, người học thêm. Với người đang có chuyện tình cảm rối thì đây là năm dễ viết ra những điều không nên viết.
  • Suy luận Lưu Thiên Mã tới cung Thiên Riêu tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi: năm đi xa, chuyển chỗ, và duyên hay đến từ nơi xa hoặc từ chuyến đi.

Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc, Thầy vẫn dùng cho khách: xem Thiên Riêu bản mệnh đóng ở cung chức nào, rồi hỏi năm nay lưu niên đi tới đâu và sao lưu nào chạm vào cung ấy. Riêu ở Phu Thê mà năm nay lưu Đào Hoa tới đó thì lĩnh vực nổi lên là hôn nhân; Riêu ở Tật Ách mà năm nay lưu Đà tới đó thì lĩnh vực nổi lên là sức khỏe. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện đủ các sao lưu của năm ấy để quý vị đối chiếu.

11 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Riêu

Trong cả bộ phụ tinh, Thiên Riêu có lẽ là sao bị nói oan nhiều nhất. Chỉ cần thấy chữ Riêu trong lá số là nhiều người đã nghĩ tới chuyện ngoại tình, tới sự bội bạc, tới bùa ngải. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì, để quý vị khỏi lo oan cho mình và khỏi kết tội oan cho người khác.

Thiên Riêu không phải án phản bội

Kinh văn Đây là hiểu lầm nặng nhất và cần cải chính trước tiên. Tân Biên mô tả Thiên Riêu bằng ba nhóm chữ: đa nghi, huyễn hoặc, có tín ngưỡng; hãm địa thì dâm đãng và dễ nguy khốn vì tửu sắc; đắc địa thì dù ở trong tửu sắc cũng không nhơ nhuốc, ví như sen mọc trong bùn. Không có câu nào nói Thiên Riêu chủ về phản bội, ngoại tình hay lừa dối bạn đời. Sách nói về một khuynh hướng của tâm, không nói về một hành vi cụ thể.

Kinh nghiệm Đọc cho đúng thì Thiên Riêu là sao của sự đa cảm: nhạy hơn người, cảm nhận sâu hơn người, và vì thế dễ vướng tình hơn người. Vướng tình không đồng nghĩa với bội tình. Trên lá số thật, biểu hiện phổ biến nhất của Thiên Riêu không phải là chuyện ngoài luồng mà là nội tâm nhiều tầng: người ấy nghĩ nhiều, thương nhiều, giữ trong lòng nhiều, hay tự dựng lên trong đầu những kịch bản chưa xảy ra. Cái hại thật của Riêu là tự mình làm khổ mình, không phải làm khổ người khác. Thầy đã ngồi với rất nhiều lá số có Riêu ở Mệnh hoặc ở Phu Thê mà chủ nhân sống trước sau một lòng; điều họ khổ là cái nghi của chính họ, và cái nghi ấy mới là chỗ cần gỡ.

Suy luận Về mặt cấu trúc còn một lý do nữa để không luận nặng: Thiên Hình luôn tam hợp chiếu về, và Thiên Đức Nguyệt Đức thì tuổi nào cũng có. Một lá số không bao giờ chỉ có Thiên Riêu trơ trọi. Kết tội một người bằng một phụ tinh an theo tháng sinh, thứ mà mười hai người thì có một người trùng, là cách luận không có căn cứ.

Thiên Riêu và Thiên Y đồng cung nhưng không đồng nghĩa

Suy luận Vì hai sao dùng chung một công thức an, trên lá số chúng luôn nằm cùng một ô. Nhiều người thấy vậy liền gộp làm một, hoặc bỏ hẳn một trong hai. Cả hai cách đều sai. Thiên Riêu chủ về tình, về cái ám, về sự nhạy cảm và mê đắm. Thiên Y chủ về thuốc, về sự chữa lành, về việc gặp thầy gặp thuốc. Cùng một vị trí mà hai tên gọi hai nghĩa, giống như cùng một căn phòng, ban ngày là phòng khám, ban đêm là phòng ngủ.

Kinh nghiệm Cách chọn lớp nghĩa nào đang hiện: nhìn sao đi cùng và nhìn cung chức. Có Lộc Tồn, có Thiên Hình đắc, đóng ở Quan Lộc hoặc Tật Ách thì lớp Thiên Y hiện, đọc theo hướng nghề thuốc và sự chữa lành. Có Đào Hồng, có Xương Khúc, đóng ở Mệnh, Phu Thê hoặc Nô Bộc thì lớp Thiên Riêu hiện, đọc theo hướng tình cảm. Còn một cách nữa chắc chắn hơn cả: hỏi người ấy đang làm nghề gì và sống ra sao. Lá số cho khả năng, đời sống cho câu trả lời.

Thiên Hình và Thiên Riêu không bao giờ đối đầu nhau

Suy luận Người ta hay nói Hình khắc Riêu, Hình xung Riêu, thậm chí Hình Riêu đồng cung thì một mất một còn. Kiểm bằng thuật toán an sao thì không có chuyện đó. Hình khởi từ Dậu, Riêu khởi từ Sửu, hai sao cách nhau đúng tám cung ở cả mười hai tháng, nghĩa là luôn tam hợp, không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu. Quan hệ giữa chúng là quan hệ chế ngự từ xa, không phải quan hệ đối đầu mặt giáp mặt.

Kinh nghiệm Hiểu đúng điều này đổi cả cách luận. Nếu Hình và Riêu là hai kẻ thù thì lá số nào có Riêu cũng thành chiến trường. Thật ra chúng là một cặp cân bằng có sẵn: một bên là cảm xúc, một bên là kỷ luật, đặt ở hai chân của cùng một tam hợp. Việc của người luận là xem cái chân kỷ luật ấy có vững không, chứ không phải xem ai thắng ai.

Thiên Riêu hãm địa không đồng nghĩa với hư hỏng

Kinh văn Sách dùng chữ dâm đãng cho Thiên Riêu hãm địa. Chữ ấy trong văn cổ nghĩa rộng hơn nghĩa ngày nay rất nhiều: dâm là quá mức, là tràn, là buông theo; đãng là trôi nổi, không neo. Ghép lại là trạng thái để cảm xúc trôi không có neo, chứ không phải một lời kết tội đạo đức. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thiên Riêu hãm địa hay biểu hiện thành ba thứ rất đời thường: hay yêu sớm và yêu sâu, hay tiếc nuối chuyện cũ, và hay tiêu tiền cho người mình thương. Ba thứ ấy không phải hư hỏng, chỉ là chỗ cần biết để giữ.

Suy luận Thêm một điều cần cân nhắc: Thiên Riêu an theo tháng sinh nên trong mười hai người sinh cùng thời có một người trùng vị trí Riêu. Nếu Riêu hãm địa mà đủ sức quyết định nhân cách thì cứ mười hai người phải có một người hư, điều ấy hiển nhiên không đúng với thực tế. Phụ tinh chỉ tô màu, chính tinh và cả cấu trúc lá số mới định hình.

Tín ngưỡng của Thiên Riêu không phải mê tín, cũng không phải bùa ngải

Kinh văn Sách ghi Thiên Riêu có liên quan tới tín ngưỡng và tính huyễn hoặc. Nhiều người đọc tới đây liền suy ra bùa ngải, vong theo, người âm quấy. Sách không nói vậy. Huyễn hoặc là nói về trí tưởng tượng mạnh, về khả năng dựng lên trong đầu những gì chưa có; tín ngưỡng là nói về xu hướng tin vào phần vô hình. Đó là hai nét tâm lý, không phải hai hiện tượng siêu nhiên.

Kinh nghiệm Chính vì nét ấy mà người có Thiên Riêu nổi bật hay đi vào thiền, vào tôn giáo, vào huyền học, và nhiều người trong số đó đi rất xa. Đây là mặt đẹp của sao này, mặt mà bài viết cũ trên mạng ít nói tới. Nhưng cũng chính vì nét ấy mà họ dễ bị lợi dụng lòng tin, nhất là khi có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung. Kinh nghiệm Lời Thầy dặn ngắn gọn: người có Riêu nên chọn thầy, chọn sách, chọn đường tu cho kỹ, và giữ một nguyên tắc là điều gì phải trả tiền để được bình an thì nên xem lại.

12 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiên Riêu Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi can Ất, chi năm Tỵ, sinh tháng hai âm lịch, Tử Vi an tại Mão, Mệnh an tại Dần. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La trên hình vẽ đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Ba sao an theo tháng và theo chi năm thì hình không vẽ, xin ghi ra đây để quý vị đối chiếu: Thiên Riêu và Thiên Y tại Dần vì sinh tháng hai, Thiên Hình tại Tuất vì Hình luôn cách Riêu tám cung, Đào Hoa tại NgọHồng Loan tại Tuất vì chi năm là Tỵ.

Bước một: Thiên Riêu đóng đâu, sáng hay tối

Sinh tháng hai nên Thiên Riêu tại Dần, mà Dần chính là cung Mệnh của lá số này. Kinh văn Theo Tân Biên, Thiên Riêu đắc địa tại Dần, Mão, Thìn, Tuất, vậy đây là Thiên Riêu đắc địa thủ Mệnh. Đắc địa nghĩa là dù có ở trong hoàn cảnh nhiều cám dỗ cũng giữ được mình, sách ví như sen mọc trong bùn. Ngay bước này đã biết người có tâm tính nhạy, giàu cảm thụ, có duyên ngầm, và cái nhạy ấy nằm ở thế được sách khen chứ không phải thế bị chê. Thiên Y đồng cung tại Dần, nên trong cùng ô ấy còn có sẵn lớp nghĩa về thuốc men và sự chữa lành.

Bước hai: đồng cung với ai, hóa gì

Cung Mệnh tại Dần có Thiên Cơ và Thái Âm đồng cung. Tuổi Ất thì Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ, cả hai đều rơi ngay vào cung Mệnh. Lộc Tồn tuổi Ất an tại Mão nên rơi vào cung Phụ Mẫu, Kình Dương tại Thìn rơi vào Phúc Đức, và Đà La tại Dần rơi thẳng vào cung Mệnh. Vậy trong một ô Dần có đủ: Thiên Cơ hóa Lộc, Thái Âm hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu, Thiên Y.

Đọc ra: đây đúng là thế Riêu Đà đã nói ở mục cách cục, lại thêm Riêu ám Thái Âm mà Thái Âm còn hóa Kỵ. Ba tầng chồng nhau cho một người rất sâu sắc nhưng hay tự dằn vặt, nghĩ lâu quyết chậm, tâm sự nhiều mà nói ra ít. Bù lại có Thiên Cơ hóa Lộc cùng cung: đầu óc linh hoạt, có tài xoay xở, và cái Lộc ấy đến từ chính sự nhanh nhạy của trí. Kinh nghiệm Chân dung thường gặp của tổ hợp này là người làm nghề cần hiểu người: tư vấn, trị liệu, chăm sóc, viết lách, nghiên cứu. Người ấy hiểu nỗi đau của người khác nhanh, vì chính mình đã đi qua nhiều tầng cảm xúc.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì

Đúng theo quy tắc cấu trúc ở mục hai, Thiên Hình phải cách Thiên Riêu tám cung, nên Hình tại Tuất, tức cung Tài Bạch. Tam hợp của Mệnh là Dần, Ngọ, Tuất. Cung Ngọ là Quan Lộc có Thiên Lương hóa Quyền và Đào Hoa; cung Tuất là Tài Bạch có Thiên Đồng, Thiên Hình và Hồng Loan. Cung xung chiếu là Thân, cung Thiên Di, để trống nên phải mượn sao của Mệnh mà đọc.

Đọc ra ba điều. Một, cả Đào Hoa lẫn Hồng Loan đều nằm trong tam hợp của Mệnh, cộng với Thiên Riêu ngay tại Mệnh, đây là thế đào hoa khá đậm, tuy chưa tới mức ba sao đồng cung. Hai, ngay trong tam hợp ấy đã có Thiên Hình tại Tuất làm liều chế, lại có Thiên Lương hóa Quyền tại Quan Lộc, mà Thiên Lương là sao có khuôn phép và cũng là sao hướng y dược. Ba, vì Thiên Di trống, người này ra ngoài không có sao riêng che chở mà phải mang chính mình ra dùng, nên môi trường sống ảnh hưởng rất mạnh tới họ.

Kinh nghiệm Kết luận của ba bước: đây không phải lá số đáng lo về đạo đức, mà là lá số đáng lo về sức nặng nội tâm. Riêu đắc địa, Hình chiếu về, Lương Quyền giữ khuôn, ba thứ ấy đủ để giữ người. Cái cần gỡ là Thái Âm hóa Kỵ cùng Đà La: hay tủi, hay giận ngầm, hay giữ trong lòng. Lời khuyên cụ thể cho lá số kiểu này là chọn một nghề được phép nói về cảm xúc, và tập nói ra sớm.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên tuổi Ất, đổi sang sinh tháng năm. Thiên Riêu và Thiên Y chuyển sang Tỵ, tức cung Điền Trạch, và Thiên Hình chuyển sang Sửu. Cung Mệnh tại Dần lúc này chỉ còn Thiên Cơ Lộc, Thái Âm Kỵ và Đà La, mất hẳn màu Riêu. Đọc khác hẳn: người vẫn sâu sắc và hay nghĩ, nhưng phần đa tình không còn nằm ở bản thân mà chuyển sang chuyện nhà cửa, chuyện gia đạo, và lớp nghĩa Thiên Y thì nói tới việc trong nhà có người cần chăm sóc.
  • Giữ nguyên tuổi Ất, đổi sang sinh tháng ba. Thiên Riêu và Thiên Y sang Mão là cung Phụ Mẫu, đồng cung Tử Vi và Tham Lang, lại đúng chỗ Lộc Tồn tuổi Ất đóng, và Tử Vi tuổi Ất thì hóa Khoa. Thành ra Riêu gặp Lộc Tồn và gặp Khoa, là thế đẹp: cái tinh nhạy đi về hướng học thuật và nghề nghiệp đàng hoàng, cha mẹ tình cảm và có thể có người theo nghề thuốc. Thiên Hình khi ấy sang Hợi.
  • Giữ nguyên tháng hai, đổi sang tuổi Tân. Thiên Riêu vẫn tại Dần vì tháng không đổi, nhưng Đà La tuổi Tân an tại Thân, tức chuyển từ đồng cung sang xung chiếu. Lực của Đà nhẹ hẳn đi một bậc, thế trì ám gần như tan. Đổi lại tuổi Tân có Văn Xương hóa Kỵ, nên phải xem giờ sinh: nếu Văn Xương rơi đúng vào Dần thì lại thành thế Riêu gặp Xương Kỵ, chuyện chữ nghĩa và giấy tờ trở thành chỗ cần giữ.

Ba trường hợp trên cho thấy vì sao Thầy nói không thể luận Thiên Riêu bằng một câu chung. Đổi một tháng sinh là đổi cả cung chức mà sao đóng; đổi một tuổi can là đổi cả vị thế của Đà La với nó. Muốn thấy Thiên Riêu, Thiên Y và Thiên Hình của chính mình đứng ở đâu, hãy an lá số rồi bấm vào từng sao trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo bộ sao của riêng quý vị.

13 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Thiên Riêu không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Nó là một nét tính khí có sẵn trong người, và cách hóa giải đúng đắn nhất là dùng nó cho việc tử tế thay vì để nó dùng mình. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Thiên Riêu nổi bật trong lá số, xếp theo thứ tự quan trọng.

Nói ra sớm, đừng giữ trong lòng

Kinh nghiệm Cái hại của Thiên Riêu nằm ở chỗ giấu, không nằm ở chỗ có. Một mối bận lòng nói ra trong tuần đầu là chuyện nhỏ; giữ ba năm thì thành khối. Người có Riêu nên có một người để nói, một cuốn sổ để viết, hoặc một thầy để hỏi. Nghề viết, nghề dạy, nghề tư vấn hợp với người có Riêu chính vì chúng buộc người ta phải nói ra.

Đặt ranh giới trước, đừng đợi tới lúc phải chọn

Kinh nghiệm Thiên Riêu làm người ta dễ động lòng, mà động lòng thì thường xảy ra trước khi kịp nghĩ. Cách giữ hiệu quả nhất không phải là gồng ý chí lúc đã ở trong tình huống, mà là đặt luật cho mình từ trước: những cuộc gặp nào không đi một mình, những giờ nào không nhắn tin, những chuyện riêng nào không kể với người ngoài gia đình. Đây chính là cách mượn Thiên Hình mà dùng, biến cái phanh trên lá số thành thói quen ngoài đời.

Cho sự nhạy cảm một chỗ làm việc

Kinh nghiệm Người có Thiên Riêu cảm nhận sắc hơn người thường, đó là tài nguyên chứ không phải khuyết tật. Không có chỗ dùng thì nó quay vào trong và thành nghĩ ngợi. Có chỗ dùng thì nó thành nghề. Những hướng hợp nhất, và cũng là hướng mà lớp nghĩa Thiên Y trong cùng ô ủng hộ: y dược, điều dưỡng, tâm lý, trị liệu, chăm sóc sắc đẹp, nghệ thuật, viết lách, nghiên cứu, giảng dạy. Nếu quý vị đang làm nghề khô cứng mà thấy trong lòng luôn bứt rứt, hãy để cho phần cảm xúc ấy một khoảng riêng, dù chỉ là một việc làm thêm.

Giữ giấc ngủ và giữ phần thận

Suy luận Thiên Riêu thuộc Thủy, ứng với thận và với phần kín; Tân Biên lại ghi người có Riêu thủ Mệnh thường răng xấu hay đau răng, mà răng là phần dư của thận. Cho nên ba việc rất đời thường lại là hóa giải thiết thực nhất: ngủ đúng giờ, bớt rượu, khám răng và khám sức khỏe phần kín định kỳ. Nhất là trong những năm lưu Đà La hoặc lưu Tang Hổ chạm vào cung có Riêu và Thiên Y.

Chọn thầy, chọn sách, chọn đường tin

Kinh nghiệm Người có Thiên Riêu dễ tin vào phần vô hình, đó là duyên lành nếu đi đúng đường và là chỗ hở nếu đi sai. Nguyên tắc Thầy đưa cho khách rất ngắn: điều gì phải trả nhiều tiền để được bình an thì nên xem lại; thầy nào dọa trước rồi bán giải pháp sau thì nên tránh; và mọi lời luận đều phải chỉ ra được nó dựa vào sao nào, cung nào, sách nào. Đó cũng là lý do bài này gắn thẻ cấp bằng chứng cho từng đoạn.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những gợi ý dưới đây mang tính bổ trợ cho nếp sống, không phải phép giải hạn và không thay được việc tự giữ mình. Phòng ngủ nên đủ sáng và thoáng, tránh góc tối ẩm và tránh gương chiếu thẳng vào giường, vì Riêu thuộc Thủy vốn đã nặng phần âm. Bàn làm việc nên quay ra chỗ có ánh sáng tự nhiên. Nên có một góc cố định trong nhà để ngồi yên mỗi ngày mươi phút, gọi là thiền hay gọi là nghỉ đều được, cốt để cái nghĩ có chỗ lắng. Về màu sắc, người có Riêu nổi bật hợp các gam ấm và sáng như vàng đất, nâu sáng, đỏ trầm để cân lại phần Thủy; tránh lạm dụng gam xanh đen và đen tuyền trong không gian riêng tư. Nếu quý vị muốn xét kỹ theo mệnh cung và ngũ hành của chính mình thì nên tra bằng công cụ tính tuổi và cung thay vì áp dụng chung.

Kinh nghiệm Cuối cùng, một câu Thầy muốn quý vị nhớ hơn tất cả những gì đã viết ở trên. Thiên Riêu không quyết định quý vị là người thế nào. Nó chỉ nói rằng quý vị cảm nhận sâu hơn phần đông. Sống với cái sâu ấy có hai cách: một là để nó cuốn đi, hai là dùng nó để hiểu người và giúp người. Sách để lại chữ sen mọc trong bùn là để nói đúng điều ấy, và chữ ấy nói về lựa chọn chứ không nói về số phận.

14 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần đặc tính các sao, mục Thiên Riêu: sao thuộc Thủy, an theo tháng sinh âm lịch, đắc địa tại Dần, Mão, Thìn, Tuất; tính chất đa nghi, huyễn hoặc, có tín ngưỡng, hãm địa thì dâm đãng; đắc địa thì dù dìm vào tửu sắc cũng không nhơ nhuốc, ví như sen mọc trong bùn, hãm địa thì nguy khốn vì tửu sắc; gặp Văn Xương Văn Khúc thì dâm đãng và giảm thọ; gặp Đào Hoa Hồng Loan thì lẳng lơ hoa nguyệt; gặp Long Trì Phượng Các thì hóa tốt đẹp, liên quan cưới hỏi sinh nở; gặp Thiên Đức và Thiên Hình thì chế bớt tính hoa nguyệt; Mệnh có Thiên Riêu thủ thì răng xấu hay đau răng.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn): đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh an theo tháng sinh. Toàn Thư không lập mục riêng dài cho Thiên Riêu như Tân Biên, nên phần đắc hãm và phần tính chất của bài này lấy Tân Biên làm chuẩn.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc của bài được sinh và đối chiếu bằng chương trình chạy đủ mười hai tháng sinh, mười hai chi năm, mười can năm và mười hai giờ sinh, dùng đúng thuật toán an sao đang chạy trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: Thiên Riêu khởi từ Sửu đếm thuận theo tháng và an được đủ mười hai cung; Thiên Y dùng chung công thức nên luôn đồng cung; Thiên Hình khởi từ Dậu nên luôn cách Thiên Riêu tám cung, tức luôn tam hợp và không bao giờ đồng cung hay xung chiếu; Tả Phụ luôn cách Riêu ba cung và Hữu Bật luôn cách một số lẻ cung nên cả hai không bao giờ vào tam phương tứ chính của Riêu; tám cặp tuổi và tháng làm Riêu đồng cung Đà La; bốn tháng làm Riêu có thể đồng cung Đào Hoa; mười hai cặp chi năm và tháng làm Riêu đồng cung Hồng Loan; hai trường hợp duy nhất làm Riêu, Đào Hoa và Hồng Loan cùng một cung; hai trường hợp duy nhất làm Riêu đồng cung cả Văn Xương lẫn Văn Khúc; và lá số minh họa ở mục lá số cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.

Lưu ý về dị bản: các sách xếp mức đắc hãm của Thiên Riêu không hoàn toàn giống nhau; bài này theo Tân Biên với bốn cung đắc địa là Dần, Mão, Thìn, Tuất. Một số bản Tử Vi Việt còn thêm cung Sửu hoặc Mùi vào nhóm đắc, một số bản khác không phân đắc hãm cho phụ tinh này. Về cách an, có bản khởi Thiên Riêu từ Sửu đếm thuận như trang này dùng, có bản trình bày theo lối khác nhưng cho cùng kết quả. Việc Thiên Y luôn đồng cung Thiên Riêu là hệ quả của công thức an sao mà thayungkhiem.vn đang dùng; một vài trường phái an Thiên Y theo cách khác nên kết quả có thể lệch, khi tra sách khác xin đối chiếu lại. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư bản Vũ Tài Lục, phần cấu trúc an sao kiểm bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc hiểu đúng bản chất từng sao, phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

15 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiên Riêu

Thiên Riêu là một sao đào hoa thiên về phần kín đáo và chiều sâu tình cảm, ngũ hành Thủy. Sao chủ sự đa tình ngấm ngầm, đa nghi, có tín ngưỡng và liên quan tâm linh.

Theo Tân Biên, Thiên Riêu đắc địa ở Dần, Mão, Thìn, Tuất. Đắc địa thì dù trong tửu sắc cũng không nhơ nhuốc, ví như sen mọc trong bùn; hãm địa thì dễ nguy khốn vì tửu sắc.

Có, Thiên Riêu gắn với tín ngưỡng và thiên hướng tâm linh; nhiều người tu hành hoặc nghiên cứu huyền học có sao này nổi bật trong lá số.

Thiên Riêu an theo tháng sinh âm lịch, cố định trong lá số.

Không, đó là hai sao khác nhau nhưng luôn đóng chung một cung. Theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn, Thiên Y dùng chung công thức với Thiên Riêu là khởi từ cung Sửu đếm thuận theo tháng sinh âm lịch, nên hai sao dính nhau suốt đời. Điều đáng nói là cùng một vị trí mà hai tên gọi hai nghĩa: Thiên Riêu chủ đa tình, ám muội, nhạy cảm; Thiên Y chủ thuốc men, chữa bệnh, gặp thầy gặp thuốc. Muốn biết lớp nghĩa nào đang hiện thì nhìn sao đi cùng, nhìn cung chức, và nhìn nghề nghiệp thật của người ấy.

Không bao giờ. Thiên Hình khởi từ cung Dậu còn Thiên Riêu khởi từ cung Sửu, hai sao cùng đếm thuận theo tháng sinh nên luôn cách nhau đúng tám cung ở cả mười hai tháng. Tám cung là một chân của tam hợp, cho nên Thiên Hình và Thiên Riêu luôn tam hợp nhau, không thể đồng cung và cũng không thể xung chiếu. Nghĩa là mọi lá số có Thiên Riêu đều sẵn có một liều chế là Thiên Hình chiếu tới, chỉ khác nhau ở chỗ liều ấy mạnh hay yếu.

Thiên Riêu đồng cung Đà La chỉ xảy ra ở tám cặp cố định: tuổi Giáp sinh tháng một, tuổi Ất tháng hai, tuổi Bính và Mậu tháng tư, tuổi Đinh và Kỷ tháng năm, tuổi Canh tháng bảy, tuổi Tân tháng tám, tuổi Nhâm tháng mười, tuổi Quý tháng mười một. Người sinh tháng ba, tháng sáu, tháng chín hoặc tháng mười hai thì Thiên Riêu đóng ở Mão, Ngọ, Dậu hoặc Tý, mà Đà La không bao giờ đóng bốn cung ấy, nên cả đời không gặp Đà La kể cả Đà La lưu niên.

Không. Sách không có câu nào nói Thiên Riêu chủ về phản bội hay ngoại tình. Tân Biên chỉ mô tả Thiên Riêu là sao đa nghi, huyễn hoặc, có tín ngưỡng, hãm địa thì dâm đãng theo nghĩa cổ là buông theo cảm xúc. Thiên Riêu tại Phu Thê thường cho một cuộc hôn nhân nhiều tâm sự chứ không nhiều biến cố, biểu hiện hay gặp nhất là sự nghi ngờ và giữ trong lòng chứ không phải hành vi. Chỉ khi hội đủ ba yếu tố là đào hoa tinh, sát tinh và Hóa Kỵ thì mới nên đặt vấn đề, và ngay cả khi ấy vẫn còn Thiên Hình tam hợp chiếu về để chế.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.