1 Sao Thiên Sứ là gì

Thiên Sứ là một sao buồn của lá số Tử Vi, ngũ hành Thủy, có vị trí đặc biệt là luôn cố định tại cung Tật Ách. Tên Thiên Sứ gợi sứ giả của tai ương, nên sao gắn với buồn thảm, bệnh tật và những trở ngại về sức khỏe.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Thiên Sứ là một trong rất ít sao của Đẩu Số không an theo can năm, không an theo chi năm, không an theo tháng sinh, cũng không an theo giờ sinh. Nó an theo cung Mệnh, và luật an chỉ có một câu: đếm nghịch từ cung Mệnh đúng năm cung thì tới chỗ đứng của Thiên Sứ. Năm cung đếm nghịch từ Mệnh, theo trật tự mười hai cung chức của Đẩu Số, chính là cung Tật Ách. Vì thứ tự Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách là thứ tự cố định của mọi lá số, nên câu vừa rồi cũng có thể phát biểu gọn hơn nhiều: Thiên Sứ luôn nằm ở cung Tật Ách, ở mọi lá số của mọi người, không có ngoại lệ.
Kinh văn Đi cặp với nó là Thiên Thương, đếm nghịch từ Mệnh bảy cung, tức cung Nô Bộc. Giữa Nô Bộc và Tật Ách là cung Thiên Di, đếm nghịch sáu cung. Vậy ba cung liền nhau Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách nằm sát nhau trên vành lá số, và hai sao Thương Sứ đứng đúng hai đầu, kẹp cung Thiên Di vào giữa. Đây là điểm cấu trúc quan trọng nhất của cặp sao này, và cũng là điểm bị bỏ sót nhiều nhất khi người ta chỉ chép rằng Thiên Sứ chủ tai ách.
Bảng dưới đặt đủ mười hai khả năng của cung Mệnh, để quý vị thấy hai sao không đứng yên một địa chi mà đứng yên một vai trò. Bảng sinh thẳng từ trật tự mười hai cung chức mà thuật toán an sao của trang đang chạy.
| Mệnh an tại | Thiên Thương tại (cung Nô Bộc) | Cung Thiên Di tại | Thiên Sứ tại (cung Tật Ách) |
|---|---|---|---|
| Tý | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Sửu | Ngọ | Mùi | Thân |
| Dần | Mùi | Thân | Dậu |
| Mão | Thân | Dậu | Tuất |
| Thìn | Dậu | Tuất | Hợi |
| Tỵ | Tuất | Hợi | Tý |
| Ngọ | Hợi | Tý | Sửu |
| Mùi | Tý | Sửu | Dần |
| Thân | Sửu | Dần | Mão |
| Dậu | Dần | Mão | Thìn |
| Tuất | Mão | Thìn | Tỵ |
| Hợi | Thìn | Tỵ | Ngọ |
Những điều bất biến của Thiên Sứ
- Lá số nào cũng có Thiên Sứ, và nó luôn ở cung Tật Ách. Đây là điều đầu tiên phải nói, vì nó đổi hẳn cách đọc. Với phần lớn phụ tinh, câu hỏi đầu là sao ấy có rơi vào cung nào đáng để ý của tôi không. Với Thiên Sứ thì câu hỏi ấy vô nghĩa: một trăm phần trăm người có sao này, và một trăm phần trăm người có nó ở đúng cung Tật Ách. Một dấu hiệu mà ai cũng có thì không phân biệt được người này với người kia, nên bản thân sự có mặt của Thiên Sứ không nói lên điều gì riêng của quý vị cả.
- Thiên Sứ có thể đóng đủ mười hai địa chi, không kiêng chi nào. Cung Tật Ách rơi vào địa chi nào là do tháng sinh và giờ sinh quyết định, và chạy đủ mười hai tháng nhân mười hai giờ thì Tật Ách phủ kín cả mười hai chi. Hệ quả: Thiên Sứ có thể đồng cung với cả mười bốn chính tinh, không sao nào là không thể gặp.
- Thiên Sứ và Thiên Thương luôn cách nhau đúng hai cung, không hơn không kém. Chạy đủ mười hai vị trí Mệnh thì hiệu số luôn bằng hai. Hệ quả rất mạnh: hai sao ấy vĩnh viễn không đồng cung, vĩnh viễn không tam hợp nhau, vĩnh viễn không xung chiếu nhau. Cái mà sách gọi là bộ Thương Sứ là một bộ kẹp, không phải một bộ hội tụ. Ai gặp một lá số vẽ Thiên Thương và Thiên Sứ chung một cung thì nên xem lại phần mềm an sao.
- Cung bị hai sao ấy kẹp luôn là cung Thiên Di. Nói theo lối nhà nghề: cung Thiên Di của mọi người đều bị Thương Sứ giáp. Đây là câu duy nhất về thế giáp Thương Sứ mà cấu trúc cho phép nói chắc chắn. Mọi câu kiểu Thương Sứ giáp Mệnh, Thương Sứ giáp Phu Thê, Thương Sứ giáp Tài Bạch đều là câu không thể xảy ra trên bản mệnh.
- Thiên Sứ có bốn quan hệ cố định với các cung chức, đúng cho mọi lá số. Nó giáp cung Tài Bạch và cung Thiên Di, vì Tài Bạch đứng liền trước còn Thiên Di đứng liền sau Tật Ách. Nó tam hợp cung Huynh Đệ và cung Điền Trạch. Nó xung chiếu cung Phụ Mẫu. Bốn quan hệ ấy không đổi một ly ở bất cứ lá số nào, và chúng vẽ ra đúng vùng ảnh hưởng của sao: sức khỏe, chuyện đi lại ra ngoài, tiền bạc, nhà cửa, anh em và cha mẹ.
- Thiên Sứ vĩnh viễn không đóng ở mười một cung chức còn lại. Không có Thiên Sứ ở Mệnh, ở Phu Thê, ở Tử Tức, ở Tài Bạch, ở Quan Lộc, ở Phúc Đức hay ở bất cứ cung nào khác ngoài Tật Ách. Ai nghe nói mình có Thiên Sứ thủ Mệnh thì xin yên tâm rằng câu ấy sai về cấu trúc, không phải sai về mức độ.
- Thiên Sứ không có quan hệ cố định với bất kỳ sao nào an theo năm sinh. Cung Mệnh an bằng tháng sinh và giờ sinh, hoàn toàn độc lập với can chi năm sinh. Vì thế khoảng cách giữa Thiên Sứ với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Mã, Thiên Khốc, Thiên Hư có thể nhận đủ mười hai giá trị. Mọi thế đồng cung, tam hợp, xung chiếu với các sao ấy đều có thể xảy ra, và không thế nào là bắt buộc.
- Nhưng với các sao an theo tháng và theo giờ thì lại có hằng số. Đây là phát hiện đáng giá nhất của bài, xin xem mục kế tiếp: khoảng cách từ Thiên Sứ tới Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Tả Phụ, Thiên Giải, Địa Giải chỉ phụ thuộc giờ sinh, còn khoảng cách tới Văn Xương và Địa Không chỉ phụ thuộc tháng sinh. Riêng câu kinh văn nổi tiếng về Thương Sứ gặp Xương Khúc trở nên rất cụ thể nhờ điều này.
Kinh nghiệm Thầy xin chốt mục này bằng một câu mà quý vị nên mang theo suốt bài. Thiên Sứ không phải một dấu hiệu, nó là một cái nhãn dán sẵn. Cái đáng đọc không phải là quý vị có nó hay không, vì ai cũng có, mà là cung Tật Ách của quý vị đang chứa những gì: chính tinh nào, sáng hay hãm, có Tứ Hóa nào rơi vào, có Tuần Triệt án ngữ không, có sát tinh hay sao giải nào ngồi cùng. Thiên Sứ chỉ là cái tên đặt cho vị trí ấy, chứ không phải nội dung của vị trí ấy.
3 Tóm Tắt Phép An Theo Cung Mệnh

Thiên Sứ luôn cố định tại cung Tật Ách, đi cặp ý nghĩa với Thiên Thương ở cung Nô Bộc.
Vì là phụ tinh, Thiên Sứ làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
4 Đặc Tính Và Sức Mạnh Yếu Của Thiên Sứ

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Thiên Sứ cùng Thiên Thương chủ sự buồn thảm, ngăn trở mọi công việc, đem lại nhiều sự không may, gây tang thương, bệnh tật, tai họa. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì tác họa một cách khủng khiếp.
Vì cố định ở cung Tật Ách, Thiên Sứ thường nhắc về bệnh tật, sức khỏe và tai ách bất ngờ. Là sao hung nhẹ, Thiên Sứ cần phúc tinh, sao giải như Thiên Y, Thiên Lương để chế bớt; gặp chính tinh sáng thì tai ách được giảm.
5 Thiên Sứ Trong Tương Quan Với Thiên Thương Và Các Sao Cùng Hệ
Kinh văn Thiên Sứ không thuộc bốn vòng mười hai sao của Đẩu Số, tức vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn, vòng Tràng Sinh an theo Cục và vòng thần sát an theo tam hợp chi năm. Nó cũng không thuộc nhóm nào an theo can năm hay chi năm. Nó đứng riêng cùng Thiên Thương thành một cặp hai sao, và cặp ấy nghe theo cung Mệnh, tức nghe theo tháng sinh và giờ sinh gộp lại. Vì vậy mục này không kể một vòng nào cả, mà kể ba tầng quan hệ mà cấu trúc bắt buộc phải có.
Tầng một: quan hệ với Thiên Thương, một khoảng cách không bao giờ đổi
Suy luận Thiên Thương ở Nô Bộc, Thiên Sứ ở Tật Ách, giữa hai cung ấy là Thiên Di. Chạy đủ mười hai vị trí có thể của cung Mệnh thì hiệu số giữa hai sao luôn bằng hai cung, không nhận giá trị nào khác. Vì hai và mười là hai số duy nhất có thể, còn không, bốn, sáu, tám thì không bao giờ xảy ra, nên toàn bộ các thế hội tụ giữa hai sao đều bị loại: không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu. Hai sao ấy chỉ có đúng một cách gặp nhau, là cùng kẹp một cung ở giữa, và cung ở giữa ấy mãi mãi là Thiên Di.
Kinh nghiệm Điều này đổi hẳn cách đọc câu quen thuộc rằng gặp Thương Sứ thì nặng. Trên bản mệnh, quý vị không bao giờ gặp cả hai sao trong một cung. Cái duy nhất có thật là cung Thiên Di bị giáp, và Thầy đọc nó rất dè dặt như sau: đây là một lời nhắc rằng việc ra ngoài, đi xa, giao thiệp với người ngoài của bất cứ ai cũng có hai bên hông không được che kín, một bên là chuyện bạn bè và người dưới tay, một bên là chuyện thân thể. Vì ai cũng có thế này nên nó là một lời nhắc chung của khoa Đẩu Số, không phải một dấu riêng của lá số nào.
Tầng hai: các sao mà khoảng cách tới Thiên Sứ chỉ phụ thuộc giờ sinh
Suy luận Cung Mệnh khởi từ cung Dần, đếm thuận tới tháng sinh rồi đếm nghịch tới giờ sinh, nên vị trí Thiên Sứ là một hàm của cả tháng lẫn giờ. Nhưng khi đem trừ đi vị trí một sao an theo tháng, phần tháng triệt tiêu, chỉ còn phần giờ. Kết quả là những sao dưới đây có khoảng cách tới Thiên Sứ chỉ do giờ sinh quyết định, hoàn toàn không phụ thuộc tháng sinh. Đã chạy đủ một trăm bốn mươi tư tổ hợp tháng nhân giờ để xác nhận.
| Sao an theo tháng | Đồng cung với Thiên Sứ khi sinh giờ | Xung chiếu khi sinh giờ | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Thiên Hình | Tý | Ngọ | Hình tinh chủ hình thương, mổ xẻ, kỷ luật. Đồng cung Thiên Sứ tại Tật Ách là tổ hợp đáng lưu tâm về thương tích và can thiệp dao kéo, nhưng vẫn phải xét chính tinh trước. |
| Thiên Riêu | Thân | Dần | Riêu chủ sự ngấm ngầm, tật kín, mê đắm. Cùng Thiên Sứ thì nhắc tới bệnh âm ỉ lâu ngày và thói quen giấu bệnh hơn là tai nạn. |
| Thiên Y | Thân | Dần | Thiên Y là sao thuốc thang, chủ chữa được. Cùng an theo tháng như Thiên Riêu nên hai sao luôn đồng cung với nhau, và cùng vào Tật Ách ở người sinh giờ Thân. Đây là chỗ Thiên Sứ được chế rõ nhất. |
| Tả Phụ | Tỵ | Hợi | Tả Phụ là cát tinh phù trợ. Đóng ở Tật Ách cùng Thiên Sứ thì việc chữa chạy có người giúp, có thầy có thuốc, tai ách dễ qua. |
| Thiên Giải | Sửu | Mùi | Sao giải cứu chuyên trách. Đồng cung Thiên Sứ là thế hóa giải tốt nhất mà cấu trúc cho phép, nên nhớ giờ Sửu này. |
| Địa Giải | Dần | Thân | Sao giải thứ hai, nghĩa tương tự nhưng thiên về gỡ vướng việc đời hơn là gỡ bệnh. |
Tầng ba: hai sao mà khoảng cách chỉ phụ thuộc tháng sinh, và câu kinh văn về Xương Khúc
Kinh văn Tân Biên chép rằng Thiên Thương và Thiên Sứ gặp Văn Xương, Văn Khúc thì tác họa một cách khủng khiếp. Đây là câu kinh văn nặng nhất của cặp sao này, và cũng là câu bị chép lại nhiều nhất mà ít khi được nói cho hết.
Suy luận Chạy thuật toán thì thấy điều sau. Văn Xương an theo giờ sinh, nên khi trừ với Thiên Sứ thì phần giờ triệt tiêu, chỉ còn phần tháng: Thiên Sứ đồng cung Văn Xương đúng với người sinh tháng hai âm lịch, bất kể sinh giờ nào; sinh tháng tám âm lịch thì hai sao xung chiếu; sinh tháng tư hoặc tháng mười hai thì tam hợp. Địa Không cũng an theo giờ nên cùng tính chất ấy: Thiên Sứ đồng cung Địa Không đúng với người sinh tháng ba âm lịch. Riêng Văn Khúc thì khác hẳn, vì công thức của nó đi ngược chiều Văn Xương nên phần giờ không triệt tiêu: khoảng cách tới Thiên Sứ phụ thuộc cả tháng lẫn giờ, và thế đồng cung chỉ xảy ra ở một số cặp tháng giờ nhất định chứ không theo một tham số đơn nào.
Kinh nghiệm Thầy nêu điều này không phải để dọa người sinh tháng hai âm lịch, mà để chỉ ra một chuyện nghề. Câu kinh văn nặng ấy chỉ ứng vào một phần nhỏ số lá số, và phần nhỏ ấy xác định được bằng tham số sinh chứ không cần đoán. Ai bảo lá số của quý vị có Thương Sứ gặp Xương Khúc thì quý vị hoàn toàn có quyền hỏi lại: sinh tháng mấy, và Văn Xương Văn Khúc đang đóng ở cung nào. Nếu người luận không trả lời được thì câu ấy chỉ là câu chép sách.
Thiên Sứ không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng đổi màu theo Tứ Hóa của chính tinh cùng cung
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo thiên can chỉ gồm mười bốn chính tinh cộng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Thiên Sứ không có tên trong bảng ấy, nên không tuổi nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Nó cũng không bị Tứ Hóa chọn làm đích bay tới.
Suy luận Nhưng vì nó luôn ngồi ở cung Tật Ách, nên câu hỏi đúng là: chính tinh ở cung Tật Ách của quý vị đang hóa gì. Chính tinh cùng cung hóa Lộc: thân thể có vốn, sức bền tốt, gặp việc thuốc thang thì có điều kiện lo, và nếu là Thiên Lương hay Thiên Đồng hóa Lộc thì nghĩa che chở càng rõ. Hóa Quyền: chuyện sức khỏe của người này thường do chính họ nắm, họ chủ động kiêng khem, tập luyện, quyết định phác đồ; mặt cần giữ là dễ tự làm bác sĩ cho mình. Hóa Khoa: gặp thầy giỏi, gặp đúng chỗ chữa, bệnh có tên có thuốc; đây là hóa hợp nhất với cung Tật Ách. Hóa Kỵ: chỗ đáng lưu tâm nhất, vì Kỵ vào Tật Ách chủ sự dây dưa, tái đi tái lại, chữa lâu khỏi; đọc cùng Thiên Sứ thì thành một lời nhắc đi khám sớm và khám cho đến nơi, chứ không phải một lời phán về bệnh nặng. Xin nhớ thứ tự: chính tinh và Tứ Hóa nói trước, Thiên Sứ chỉ tô đậm sau.
6 Thiên Sứ Hội Họp Với Các Sao Khác
Thiên Sứ phối với các sao cho kết quả khác nhau:
| Khi Thiên Sứ gặp | Ý nghĩa kết hợp |
|---|---|
| Văn Xương, Văn Khúc | Tác họa một cách khủng khiếp. |
| Thiên Thương | Trục Thương Sứ, tăng nét tang thương. |
| Thiên Y, Thiên Lương, sao giải | Chế bớt bệnh tật, tai qua nạn khỏi. |
| Sát tinh, Hóa Kỵ | Bệnh tật, tai họa rõ hơn. |
7 Thiên Sứ Và 12 Cung Chức: Một Chỗ Đứng, Mười Hai Quan Hệ
Với phần lớn phụ tinh, bảng mười hai cung chức trả lời câu hỏi sao ấy rơi vào cung nào thì nghĩa gì. Với Thiên Sứ thì câu hỏi ấy chỉ có một đáp án là Tật Ách, nên bảng dưới đây trả lời một câu hỏi khác và hữu ích hơn: đứng ở Tật Ách, Thiên Sứ có quan hệ gì với từng cung chức, và quan hệ ấy đọc ra sao. Cột giữa nói khi cung Tật Ách được chính tinh sáng, sao giải, cát tinh nâng đỡ; cột phải nói khi cung ấy gặp sát tinh, Hóa Kỵ hoặc Tuần Triệt. Mọi quan hệ trong cột đầu là hằng số của mọi lá số, đã kiểm bằng thuật toán.
| Cung (và quan hệ cố định với Thiên Sứ) | Khi cung Tật Ách có chính tinh sáng, sao giải, cát tinh | Khi cung Tật Ách có sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt |
|---|---|---|
| Tật Ách (đồng cung, mọi lá số) | Đây là chỗ đứng thật của sao. Thân thể có sức chống đỡ, bệnh tới thì có thuốc có thầy, mổ xẻ thì thuận, hồi phục nhanh. Thiên Sứ ở đây chỉ còn nghĩa nhắc nhở: nhớ khám định kỳ, nhớ ngủ đủ. | Sức khỏe là mảng cần chú tâm nhất của lá số, thường theo lối dây dưa tái phát hơn là biến cố lớn. Việc cần làm là đi khám sớm và khám đến nơi, chọn một cơ sở theo dõi lâu dài, không tự chữa. Không được kết luận bệnh gì, nặng hay nhẹ, từ chỗ này. |
| Thiên Di (giáp, một bên; cung này luôn bị Thương Sứ kẹp) | Ra ngoài vẫn thuận, đi xa được, nhưng nên có nếp giữ thân: ăn uống ngủ nghỉ điều độ khi đi đường, mang theo thuốc quen dùng, mua bảo hiểm khi đi xa. | Chuyện dễ vướng thường xảy ra lúc đang di chuyển hoặc đang ở nơi lạ: mệt, cảm, đau dạ dày, va quệt nhỏ. Đây là lời nhắc chuẩn bị, không phải lời cấm đi. |
| Tài Bạch (giáp, bên còn lại) | Thân thể và túi tiền dựa vào nhau: có sức thì có tiền, và có tiền thì lo được sức. Người có Tật Ách sáng thường ít mất tiền vì chuyện thuốc thang. | Chỗ hao đáng kể của đời là hao vì sức khỏe, của mình hoặc của người nhà. Việc cụ thể nên làm là lập một khoản dự phòng y tế và giữ bảo hiểm liên tục, đó là cách hóa giải thiết thực nhất. |
| Phụ Mẫu (xung chiếu, mọi lá số) | Cha mẹ khỏe hoặc biết giữ gìn; người con cũng hưởng được nếp sống lành mà cha mẹ truyền lại. | Chuyện sức khỏe của cha mẹ là việc phải để mắt, nhất là ở những vận mà cung Phụ Mẫu bị động. Nên nhớ đây là gợi ý đưa cha mẹ đi khám, không phải một điềm báo. |
| Huynh Đệ (tam hợp) | Anh em có sức, gặp việc thì đỡ được nhau; người bệnh trong nhà có người chăm. | Anh em có người sức yếu, hoặc chuyện chăm sóc dồn lên một người. Nên chia việc từ sớm thay vì để dồn. |
| Điền Trạch (tam hợp) | Chỗ ở lành, thoáng, sáng; nhà cửa góp phần giữ sức cho người trong nhà. | Cần soát lại nơi ở: ẩm thấp, thiếu nắng, bếp và chỗ ngủ bố trí bí, nước không sạch. Đây là mảng sửa được bằng việc rất đời thường. |
| Mệnh (cách năm cung, không có thế chiếu) | Bản thân không bị Thiên Sứ chạm tới. Tính cách, tài năng, mệnh cách của quý vị do chính tinh cung Mệnh quyết định, sao này không có tiếng nói ở đó. | Xin đọc kỹ dòng này: Thiên Sứ không bao giờ thủ Mệnh, nên mọi câu bàn về người có Thiên Sứ thủ Mệnh đều sai về cấu trúc. Cái duy nhất đúng là ai cũng có Thiên Sứ ở cung Tật Ách. |
| Nô Bộc (cách hai cung; đây là chỗ Thiên Thương đứng) | Bạn bè và người dưới tay là chỗ dựa lúc ốm đau; một cuộc gọi đúng lúc đôi khi quý hơn thuốc. | Thiên Thương chủ sự tổn hại trong giao thiệp: bị bạn làm phiền lụy, giúp người rồi mang vạ. Xét cung này phải xét Thiên Thương chứ không phải Thiên Sứ. |
| Phu Thê (cách ba cung, không có thế chiếu) | Thiên Sứ không chiếu tới cung này. Chuyện vợ chồng nhờ đó mà nhẹ đi một mối lo: bạn đời khỏe hay yếu, hợp hay không, do chính tinh cung Phu Thê nói. | Điều nói được là gián tiếp: người có Tật Ách nặng thì sức khỏe của mình dễ thành gánh chung của hai người, nên vợ chồng cần thẳng thắn với nhau về chuyện thân thể. Đây không phải chỉ dấu về ly hợp. |
| Tử Tức (cách hai cung, không có thế chiếu) | Thiên Sứ không nói gì về con cái. Muốn luận con cái thì xem chính tinh cung Tử Tức, Tứ Hóa và tam phương của cung ấy. | Cái liên quan xa là sức khỏe sinh sản, và mảng ấy vẫn phải đọc từ chính tinh cung Tật Ách cùng cung Tử Tức chứ không đọc từ tên sao. |
| Quan Lộc (cách ba cung, không có thế chiếu) | Không bị chạm. Nhưng người có cung Tật Ách sáng thường bền sức, hợp nghề đòi thể lực hoặc đòi trực đêm. | Điều đáng nói là chọn nghề: cung Tật Ách nặng thì nên tránh nghề bào mòn thân thể, tránh làm ca đêm triền miên. Đây là lời khuyên chọn nghề, không phải lời phán về công danh. |
| Phúc Đức (cách năm cung, không có thế chiếu) | Tâm an thì thân đỡ. Cung Phúc Đức sáng là chỗ chống đỡ tốt nhất cho một cung Tật Ách nhiều sao xấu. | Nếu cả Phúc Đức lẫn Tật Ách đều nặng thì mảng đáng lo là sức khỏe tinh thần: mất ngủ, lo âu kéo dài. Việc nên làm là đi gặp người có chuyên môn, đúng như đi khám bất cứ bệnh nào khác. |
Mẹo đọc bảng: bỏ tên sao đi rồi đọc lại
Kinh nghiệm Mẹo Thầy dùng cho bảng này gọn hơn mọi sao khác. Hãy che chữ Thiên Sứ đi, rồi đọc cung Tật Ách như đọc một cung bình thường: chính tinh nào, miếu vượng hay hãm, Tứ Hóa nào rơi vào, có Tuần Triệt không, sát tinh và sao giải ai nhiều hơn ai. Đọc xong rồi mới mở chữ Thiên Sứ ra, và lúc ấy nó chỉ thêm được đúng một câu: đây là cung mà khoa Đẩu Số quy ước là chỗ tai ách bất ngờ trú lại. Nếu cung ấy sáng thì câu ấy thành lời nhắc giữ gìn; nếu cung ấy tối thì nó thành lời nhắc đi khám. Không có trường hợp thứ ba.
Kinh nghiệm Điều thứ hai, và Thầy phải nói vì đã gặp nhiều lần. Có người nghe hai chữ Tật Ách rồi tưởng cung ấy chỉ nói bệnh. Không phải. Cung Tật Ách nói cả cái thân thể mà quý vị được giao, tức thể chất, sức bền, chỗ mạnh chỗ yếu bẩm sinh, và cách quý vị đối xử với nó. Một cung Tật Ách đẹp là một tin vui rất lớn, và Thiên Sứ ngồi trong một cung như thế không làm nó xấu đi.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thiên Sứ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Thiên Sứ phải nhớ thêm hai tầng nữa. Một là mọi thế trong bảng này đều xảy ra ngay tại cung Tật Ách, nên chúng nói về thân thể chứ không nói về công danh hay tình duyên. Hai là Thiên Thương vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu với Thiên Sứ, hai sao chỉ kẹp cung Thiên Di, nên đừng đi tìm thế hội tụ của bộ Thương Sứ, nó không tồn tại.
Thiên Sứ hợp khi gặp
- Thiên Giải (đồng cung với người sinh giờ Sửu, xung chiếu với người sinh giờ Mùi): sao giải cứu chuyên trách, thế chế Thiên Sứ tốt nhất mà cấu trúc cho phép. Việc nguy hóa nhẹ, có người gỡ đúng lúc.
- Thiên Y và Thiên Riêu (hai sao này luôn đồng cung với nhau, cùng vào Tật Ách với người sinh giờ Thân): Thiên Y là sao thuốc thang, chủ bệnh có thuốc và gặp đúng thầy. Riêng Thiên Riêu đi kèm thì nhắc thêm tật kín và thói quen giấu bệnh, nên đọc hai mặt.
- Thiên Lương (đồng cung, có thể xảy ra ở mọi tuổi): ấm tinh, sao che chở và giải ách nổi tiếng nhất trong nhóm chính tinh. Thiên Lương ở Tật Ách là thế Thầy yên tâm nhất, nhất là khi nó hóa Lộc hoặc hóa Khoa.
- Tả Phụ và Hữu Bật (Tả Phụ đồng cung với người sinh giờ Tỵ; Hữu Bật tùy cả tháng lẫn giờ): việc chữa chạy có người đỡ, có thầy có thuốc, có người chăm.
- Chính tinh miếu vượng cùng Hóa Khoa (đồng cung, mạnh nhất): gặp đúng thầy, bệnh có tên có thuốc. Đây là tổ hợp hợp nhất với cung Tật Ách trong cả bốn hóa.
- Tuần hoặc Triệt án ngữ cung Tật Ách (chặn cả cung): với một sao mang nghĩa xấu thì bị chặn thường là điều mừng. Nhưng Tuần Triệt chặn cả cung chứ không chọn sao, nên nó chặn luôn chính tinh sáng và sao giải ở đó; phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận.
Thiên Sứ e ngại khi gặp
- Văn Xương (đồng cung với người sinh tháng hai âm lịch, xung chiếu với người sinh tháng tám): đây là vế cụ thể của câu kinh văn Thương Sứ gặp Xương Khúc thì tác họa. Xin đọc kèm mục ranh giới bên dưới, vì câu ấy nặng lời hơn thực tế rất nhiều.
- Văn Khúc (đồng cung ở một số cặp tháng giờ, không theo một tham số đơn): cùng nghĩa như trên nhưng không xác định được bằng riêng tháng hay riêng giờ, phải an lá số mới biết.
- Hóa Kỵ (đồng cung là nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung hoặc bay từ cung khác vào): chủ sự dây dưa, tái đi tái lại, chữa lâu khỏi. Đây là tổ hợp đáng lưu tâm nhất của sao này, và cũng là chỗ dễ bị nói quá nhất.
- Kình Dương và Đà La (đồng cung, mọi thế đều có thể vì hai sao ấy an theo can năm còn Thiên Sứ an theo cung Mệnh): Kình chủ vết thương do vật sắc, Đà chủ đau âm ỉ dai dẳng. Cùng Thiên Hình nữa thì phải để ý chuyện dao kéo và tai nạn lao động.
- Hỏa Tinh và Linh Tinh (đồng cung): sốt cao, viêm nhiễm, bỏng, biến chứng nhanh. Nghĩa là bệnh đến gấp chứ không phải bệnh nặng.
- Địa Không và Địa Kiếp (Địa Không đồng cung với người sinh tháng ba âm lịch; Địa Kiếp tùy cả tháng lẫn giờ): chủ sự bất ngờ và mất mát. Ở Tật Ách thì đọc là biến cố đột ngột về thân thể, và cũng là lời nhắc mua bảo hiểm.
- Thiên Hình (đồng cung với người sinh giờ Tý, xung chiếu với người sinh giờ Ngọ): hình thương, dao kéo, mổ xẻ. Có mặt tích cực là nếu phải mổ thì mổ dứt điểm.
- Thiên Thương (luôn cách đúng hai cung, vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Bộ Thương Sứ là một bộ kẹp cung Thiên Di, không phải một bộ hội tụ.
Tóm lại, Thiên Sứ là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
9 Thiên Sứ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Các mục trên nói về Thiên Sứ đứng yên trên bản mệnh. Mục này nói chuyện động, và với sao này thì phần động lại là phần dễ hiểu lầm nhất, nên xin nói từng tầng một.
Khi đại vận đi vào cung có Thiên Sứ, tức đại vận đi vào cung Tật Ách
Suy luận Vì Thiên Sứ luôn ở Tật Ách, câu đại vận đi vào cung có Thiên Sứ đồng nghĩa với câu đại vận đi vào cung Tật Ách của bản mệnh. Trong đời người, chuyện này xảy ra với mọi lá số, thường đúng một lần, và ai cũng phải đi qua. Đó là điều đầu tiên phải nói cho rõ: đây là một chặng bình thường của mọi cuộc đời, không phải một tai họa được hẹn trước.
Kinh nghiệm Mười năm ấy thường mang một chất chung mà Thầy thấy lặp lại: thân thể lên tiếng. Người ta bắt đầu để ý tới sức khỏe theo cách trước đó chưa từng, hoặc vì một đợt ốm, hoặc vì một lần khám phát hiện điều gì đó, hoặc chỉ vì thấy mình không còn thức khuya được như xưa. Nếu cung Tật Ách có chính tinh sáng, sao giải, Hóa Khoa thì đây thường là vận sửa lại nếp sống và được lợi vì sửa sớm. Nếu cung ấy có Hóa Kỵ, Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì đây là vận phải đi khám cho đến nơi, chọn một chỗ theo dõi dài hạn, và tuyệt đối không tự chữa theo lời mách. Việc cần làm rất cụ thể và rất đời thường, không có gì huyền bí.
Suy luận Xin nói thêm một điều mà cấu trúc cho phép nói chắc: khi đại vận vào Tật Ách thì cung Nô Bộc và cung Thiên Di là hai cung liền kề, tức hai vận sát cạnh trước sau. Vì thế chặng đời quanh đó thường có ba việc đi liền nhau: chuyện bạn bè và người dưới tay, chuyện đi lại ra ngoài, chuyện thân thể. Ai đang ở một trong ba vận ấy thì nên xem cả ba cung một lượt.
Thiên Sứ không có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Kinh văn Không phải sao nào cũng có bản lưu. Sao an theo can hoặc chi năm sinh thì có, vì chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi của năm đang xem: vòng Thái Tuế theo chi năm và vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn đều có bản lưu, nên mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Kình Đà. Ngược lại vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Hữu, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp cũng không có bản lưu.
Suy luận Thiên Sứ thuộc loại thứ ba, còn dứt khoát hơn nữa: nó không an theo bất kỳ tham số sinh nào, mà an theo cung Mệnh. Không có can chi năm nào để thay vào, nên không có lưu Thiên Sứ. Trên bản mệnh, Thiên Sứ đứng yên một chỗ suốt đời, và cái đổi là các lưu sao chạy qua chỗ ấy chứ không phải nó chạy đi đâu.
Suy luận Có một dị bản cần ghi cho đủ: một số phái an thêm Thiên Thương và Thiên Sứ theo cung Mệnh của đại hạn, tức mỗi đại vận lại có một cặp Thương Sứ riêng chạy theo. Trang thayungkhiem.vn không dùng cách ấy, chỉ an một cặp duy nhất theo cung Mệnh bản mệnh. Quý vị đọc sách khác thấy nói tới Thương Sứ của đại hạn thì đó là dị bản, không phải trang này sót.
Các lưu sao chạm vào cung Thiên Sứ
Suy luận Vì cung Tật Ách đứng yên, việc đáng theo dõi từng năm là năm nào các lưu sao ghé vào đó. Lưu Thái Tuế đóng đúng cung Tật Ách bản mệnh: năm mà chuyện thân thể trở thành việc chính, nên chủ động khám tổng quát đầu năm. Lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ ghé vào: năm nên cẩn thận với dao kéo, tai nạn giao thông, và với những việc đòi sức. Lưu Hóa Kỵ của năm bay vào cung Tật Ách: năm mà một chuyện sức khỏe cũ dễ trở lại, nên đi tái khám thay vì chờ. Ngược lại, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Hóa Khoa ghé vào thường là năm gặp đúng thầy đúng thuốc, hợp để giải quyết dứt điểm một việc đã kéo dài.
Kinh nghiệm Thầy phải nói một câu nghiêm về cách dùng mục này, vì đây là chỗ dễ bị lạm dụng nhất trong cả trang. Một năm có lưu Kình lưu Đà ghé vào Tật Ách, cộng thêm Thiên Sứ vốn nằm sẵn ở đó, vẫn không đủ tư cách để nói bất cứ điều gì về bệnh tật cụ thể hay về sinh mệnh của ai. Nó chỉ đủ để nói một câu duy nhất: năm nay nên đi khám và nên cẩn thận hơn khi làm việc nguy hiểm. Ai dùng những sao này để phán một cái tên bệnh, một ca mổ hay một con số tuổi thọ thì người ấy đang làm điều mà khoa Đẩu Số không cho phép, và làm điều mà Thầy xin quý vị đừng tin.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Sứ
Đây là mục quan trọng nhất của cả bài, và Thầy xin quý vị đọc kỹ hơn mọi mục khác. Thiên Sứ là sao hội đủ ba điều kiện khiến một cái tên gây hại nhiều hơn bản thân nó: tên nghe như sứ giả của tai ương, chỗ đứng là cung nói về thân thể, và lá số nào cũng có.
Không được phán bệnh nặng từ một phụ tinh, càng không từ sao này
Kinh nghiệm Đây là câu Thầy muốn quý vị mang theo nếu chỉ nhớ được một dòng của cả trang. Thiên Sứ là một phụ tinh nhỏ. Trong khoa Đẩu Số không được phán họa từ một sao, và tuyệt đối không được phán một cái tên bệnh, một ca mổ, một con số tuổi thọ từ một phụ tinh. Đó là luật nghề, không phải lời an ủi. Lý do rất giản dị và đã nói ở mục cấu trúc: một trăm phần trăm lá số đều có Thiên Sứ, và đều có nó ở đúng cung Tật Ách. Một dấu hiệu mà bảy tỉ người cùng có thì không phân biệt được ai với ai. Nếu Thiên Sứ đủ sức báo bệnh thì cả nhân loại đã cùng một bệnh.
Kinh nghiệm Nói thế không phải để coi nhẹ cung Tật Ách. Trái lại, Thầy coi trọng cung ấy và luôn xem kỹ. Nhưng cái đáng xem là chính tinh của cung, độ sáng của nó, Tứ Hóa rơi vào, Tuần Triệt, sát tinh và sao giải, rồi đối chiếu với đại vận và lưu niên. Kết luận có được sau chừng ấy bước cũng chỉ nên dừng ở mức mảng nào cần chú tâm và nên đi khám cái gì. Chẩn đoán là việc của thầy thuốc, và không có lá số nào thay được một lần xét nghiệm.
Tên sao không phải điều sẽ xảy ra
Kinh văn Tân Biên chép Thiên Thương và Thiên Sứ chủ sự buồn thảm, ngăn trở mọi công việc, đem lại nhiều sự không may, gây tang thương, bệnh tật, tai họa. Đó là lời sách và bài này không giấu đi. Suy luận Nhưng xin đọc cho đúng thể loại của câu ấy: nó mô tả tính chất của một sao, tức cái màu mà sao ấy nhuộm lên cung nó đóng, chứ không mô tả một sự kiện đã định sẵn cho người mang nó. Chữ Sứ trong tên sao nghĩa là người đưa tin, và cái mà sách muốn nói là cung này được quy ước làm chỗ mà tai ách bất ngờ ghé qua khi có đủ điều kiện. Chữ khi có đủ điều kiện mới là phần quan trọng, và điều kiện ấy nằm ở chính tinh, Tứ Hóa, sát tinh, chứ không nằm ở cái tên.
Không có chuyện Thiên Sứ thủ Mệnh, giáp Mệnh hay đóng ở cung Phu Thê
Suy luận Đây là hiểu lầm dễ bác bỏ nhất vì nó sai về cấu trúc chứ không sai về mức độ. Chạy đủ mười hai vị trí có thể của cung Mệnh thì Thiên Sứ luôn rơi vào cung Tật Ách, không lệch một trường hợp nào. Vậy không lá số nào có Thiên Sứ ở Mệnh, ở Phu Thê, ở Tài Bạch, ở Quan Lộc, ở Tử Tức hay ở Phúc Đức. Cũng không có chuyện Thương Sứ giáp Mệnh: hai sao ấy cách nhau đúng hai cung và luôn kẹp cung Thiên Di, nên cung bị chúng giáp mãi mãi là Thiên Di của mọi người. Nếu quý vị được xem ở đâu đó mà nghe nói Thiên Sứ đóng ở cung khác, xin cứ hỏi lại cho rõ, vì đó là lỗi an sao chứ không phải một trường phái khác.
Câu Thương Sứ gặp Xương Khúc thì tác họa khủng khiếp cần được đọc lại cho đúng cỡ
Kinh văn Câu này có thật trong Tân Biên, bài này đã dẫn ở mục trên và không rút bớt chữ nào. Suy luận Nhưng ba điều sau cần nói cùng nó. Thứ nhất, Thiên Thương và Thiên Sứ không bao giờ cùng đóng một cung, nên cảnh cả hai cùng gặp Xương Khúc trong một cung là cảnh không tồn tại; thực tế chỉ có Thiên Sứ gặp Xương Khúc tại Tật Ách, hoặc Thiên Thương gặp Xương Khúc tại Nô Bộc. Thứ hai, thế đồng cung ấy xác định được bằng tham số sinh: Thiên Sứ đồng cung Văn Xương đúng với người sinh tháng hai âm lịch, còn Văn Khúc thì tùy cặp tháng giờ. Nghĩa là câu kinh văn ấy chỉ ứng vào một phần nhỏ số lá số, chứ không phải một lời cảnh báo chung. Thứ ba, và quan trọng nhất, Văn Xương Văn Khúc vốn là hai cát tinh chủ văn chương, thi cử, thông tuệ; câu phú cổ nói chúng làm nặng thêm Thương Sứ là nói về một thế cục hẹp, không phải nói rằng người có Xương Khúc thì gặp họa. Đọc một câu phú nặng mà bỏ mất cỡ của nó thì thành ra dọa người.
Thiên Sứ của Tử Vi không phải thiên sứ của tôn giáo, cũng không phải sao hạn cúng sao
Suy luận Chữ Thiên Sứ trong tiếng Việt hiện đại thường được hiểu là sứ giả nhà trời theo nghĩa tôn giáo phương Tây, mang màu lành. Sao Thiên Sứ của Đẩu Số không liên quan gì tới nghĩa ấy, và ngược hẳn về sắc thái. Nó cũng không nằm trong hệ chín sao hạn của tục cúng sao giải hạn, tức bộ La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch và các sao khác mà nhiều người quen nghe ở đầu năm. Hai hệ khác nhau về nguồn gốc, cách an và cách dùng. Khoa Đẩu Số không có nghi lễ giải hạn nào dành riêng cho sao Thiên Sứ, và ai bán lễ giải hạn Thiên Sứ thì đó là chuyện của người bán.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiên Sứ Qua Ba Bước
Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh: tuổi Nhâm, Tử Vi an tại Tỵ, Mệnh an tại Dậu. Theo luật an, Thiên Sứ đóng ở cung Tật Ách tức cung Thìn, Thiên Thương đóng ở cung Nô Bộc tức cung Dần, và cung Thiên Di ở giữa hai sao là cung Mão. Lưới dưới vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; hai sao Thương Sứ ghi bằng chữ trong lời luận vì lưới minh họa chỉ vẽ nhóm sao chính.
Tử Vi tại Tỵ, Mệnh tại Dậu
không phải người thật
Thiên Sứ tại Thìn, tức cung Tật Ách
Thiên Thương tại Dần, tức cung Nô Bộc
Bước một: Thiên Sứ đứng cùng ai, và cặp Thương Sứ kẹp cung nào
Thiên Sứ tại Thìn, tức cung Tật Ách, đồng cung với Thiên Cơ và Thiên Lương. Đây là chỗ đáng mừng chứ không đáng lo. Thiên Lương là ấm tinh, sao che chở và giải ách nổi tiếng nhất trong nhóm chính tinh, và Thiên Cơ chủ sự linh hoạt, hay nghĩ, hay tìm hiểu. Cơ Lương ở Tật Ách cho mẫu người biết bệnh của mình, chịu tìm hiểu, chịu đi khám, và thường gặp thầy đúng lúc.
Nhìn sang hai bên: Thiên Thương ở cung Dần cùng Thái Dương và Cự Môn, đó là cung Nô Bộc; cung Mão ở giữa có Thiên Tướng độc tọa, đó là cung Thiên Di và cũng là cung bị Thương Sứ kẹp. Xin nhắc lại điều đã nói ở mục cấu trúc: thế kẹp này lá số nào cũng có, cái riêng của từng người chỉ là cung Thiên Di ấy đang chứa sao gì. Ở đây là Thiên Tướng, một chính tinh ôn hòa, nên thế kẹp không đáng ngại.
Một chi tiết phải ghi cho đủ và nó rất đắt: tuổi Nhâm có Triệt án ngữ tại Dần và Mão. Nghĩa là Triệt chặn đúng cung Nô Bộc nơi Thiên Thương đóng, và chặn luôn cung Thiên Di ở giữa. Một nửa cái gọng kìm đã bị chặn ngay từ đầu. Đây là ví dụ rất tốt cho quy tắc mà bài này lặp lại nhiều lần: đừng đọc tên sao, hãy đọc cả cung.
Bước hai: cung Tật Ách hóa gì, Lộc Tồn Kình Đà ở đâu
Tuổi Nhâm nên bộ Tứ Hóa theo bảng Nam phái mà trang đang dùng là Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Tả Phụ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ. Nhìn lại cung Tật Ách: Thiên Lương ở đây đang hóa Lộc. Theo cách đọc đã nêu ở mục Tứ Hóa, chính tinh cùng cung hóa Lộc tại Tật Ách nghĩa là thân thể có vốn, sức bền tốt, và khi cần thuốc thang thì có điều kiện lo. Cộng thêm Thiên Lương vốn là sao giải ách thì đọc gọn thành một câu: người này có phúc về thân, gặp việc thì có chỗ chữa. Thiên Sứ ngồi giữa một cung như thế chỉ còn nghĩa nhắc nhở giữ gìn.
Tuổi Nhâm có Lộc Tồn tại Hợi, Kình Dương tại Tý, Đà La tại Tuất. Lộc Tồn đóng cung Phúc Đức cùng Thiên Phủ, Kình Dương đóng cung Điền Trạch cùng Thiên Đồng Thái Âm, Đà La đóng cung Phụ Mẫu bỏ trống. Đáng chú ý là không sao nào trong bộ Kình Đà rơi vào Tật Ách, nên cung ấy không có sát tinh chính. Đổi lại, Đà La ở cung Phụ Mẫu mà cung Phụ Mẫu thì luôn xung chiếu Tật Ách theo quan hệ bất biến đã nêu, nên có một dòng nhắc nhẹ: chuyện sức khỏe của cha mẹ là việc phải để mắt. Đó là mức mà một thế xung chiếu cho phép nói, không hơn.
Còn Hóa Kỵ tuổi Nhâm rơi vào Vũ Khúc tại Sửu, tức cung Quan Lộc. Vậy chỗ đáng lưu tâm nhất của lá số này là công việc chứ không phải thân thể. Đây chính là điều Thầy muốn quý vị thấy: đọc cho đủ rồi thì cái tên Thiên Sứ hóa ra không phải trọng tâm của lá số.
Bước ba: tam phương tứ chính của cung Tật Ách và kết luận
Cung Tật Ách tại Thìn có tam hợp là Thân và Tý, xung chiếu là Tuất. Theo quan hệ bất biến, hai cung tam hợp ấy đúng là Huynh Đệ và Điền Trạch, còn cung xung chiếu là Phụ Mẫu. Cụ thể trên lá số này: Thân là Huynh Đệ bỏ trống nên mượn sao của Nô Bộc; Tý là Điền Trạch có Thiên Đồng và Thái Âm cùng Kình Dương; Tuất là Phụ Mẫu bỏ trống có Đà La. Đồng Âm là bộ ôn hòa, chủ sự yên tĩnh và mềm, hợp với cung nhà cửa, nhưng có Kình Dương ngồi cùng nên đọc thành một lời nhắc rất cụ thể: xem lại chỗ ở cho thoáng và sáng, đừng để ẩm thấp, vì Điền Trạch là một chân tam hợp của Tật Ách.
Gộp cả ba bước, lá số này đọc được một câu ngắn: thân thể có phúc, sức bền khá, chỗ cần giữ là nếp ở và sức khỏe cha mẹ, còn chỗ đáng lưu tâm thật sự của cuộc đời nằm ở cung Quan Lộc nơi có Hóa Kỵ. Thiên Sứ đóng góp đúng một điều và chỉ một điều: nhắc rằng cung Tật Ách là cung phải xem, và đã xem thì phải xem cho hết.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên tuổi Nhâm, đổi tháng và giờ sinh sao cho Mệnh an tại Hợi thay vì Dậu: cả bộ mười hai cung chức xoay theo, Thiên Sứ dời sang cung Ngọ và Thiên Thương sang cung Thìn, cung bị kẹp thành Tỵ. Vì Tử Vi vẫn tại Tỵ nên cung Tật Ách mới ở Ngọ bỏ trống, tức vô chính diệu, phải mượn sao của cung xung chiếu là Tý có Thiên Đồng và Thái Âm; còn Thiên Lương hóa Lộc lúc này rơi vào cung Thìn, tức cung Nô Bộc, đúng chỗ Thiên Thương đóng. Đọc đổi hẳn: cung Tật Ách không còn sao giải ngồi ngay trong cung mà phải đi mượn, nên sức chống đỡ mềm hơn và lời khuyên chuyển từ giữ gìn sang theo dõi đều đặn; bù lại nửa gọng kìm bên Nô Bộc lại được Hóa Lộc làm dịu. Đây là điểm cốt lõi của sao này: đổi vị trí Mệnh là đổi cả nội dung cung Tật Ách, chứ Thiên Sứ thì không đổi vai trò bao giờ.
- Giữ nguyên lá số, đổi sang tuổi Bính: Thiên Sứ vẫn ở Thìn vì nó chỉ nghe theo cung Mệnh, nhưng Tứ Hóa đổi thành Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ. Cung Tật Ách không còn Hóa Lộc mà có Thiên Cơ hóa Quyền: chuyện sức khỏe do chính người ấy nắm, chủ động kiêng khem tập luyện, mặt cần giữ là dễ tự làm bác sĩ cho mình. Lộc Tồn tuổi Bính về Tỵ, Kình Dương về Ngọ, Đà La về Thìn, tức Đà La rơi thẳng vào cung Tật Ách cùng Thiên Sứ: thêm một nét đau âm ỉ dai dẳng, nên lời khuyên chuyển sang khám sớm và theo dõi dài hạn. Cùng một Thiên Sứ mà đổi can năm là đổi hẳn giọng đọc.
- Giữ nguyên lá số, đổi tháng sinh sang tháng hai âm lịch: đây là trường hợp làm Văn Xương đồng cung Thiên Sứ, tức ứng đúng vế Thương Sứ gặp Xương của câu kinh văn. Nhưng vì cung Tật Ách vẫn có Thiên Lương hóa Lộc che chở nên cách đọc đúng không phải là tác họa khủng khiếp, mà là một cung có cả sao giải lẫn sao làm nặng, nên phải cân cả hai bên rồi mới nói. Đây chính là chỗ mà đọc một câu phú mà bỏ mất cỡ của nó sẽ dẫn tới kết luận sai.
Ba trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Thiên Sứ mà chỉ nhìn cái tên thì không đọc được gì. Muốn biết cung Tật Ách của chính mình đang chứa chính tinh nào, hóa gì, có sát tinh hay sao giải nào, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào cung Tật Ách trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Và Cách Sống Cùng Thiên Sứ
Kinh nghiệm Thiên Sứ không cần hóa giải theo nghĩa trừ khử, vì không ai trừ được một sao mà cả nhân loại đều có. Nó cũng không cần lễ lạt, vì khoa Đẩu Số không lập nghi lễ nào cho sao này. Cái nó đòi hỏi rất cụ thể và nằm gọn trong tầm tay: đối xử tử tế với thân thể mình, và đối xử với nó sớm chứ đừng đợi.
Việc thiết thực nhất là biến cung Tật Ách thành một cuốn sổ theo dõi
Kinh nghiệm Đây là lời khuyên có ích nhất Thầy có thể đưa. Cung Tật Ách của quý vị nói được chỗ mạnh chỗ yếu bẩm sinh của thân thể, và người biết chỗ yếu của mình thì khám đúng chỗ, khám đúng nhịp. Việc cụ thể là ba điều: một là khám tổng quát định kỳ, và nếu cung Tật Ách nhiều sao xấu thì rút ngắn nhịp lại; hai là ghi lại các chỉ số của mình theo năm để so được với năm trước, vì cái đáng lo trong y học thường là chiều biến đổi chứ không phải một con số lẻ; ba là chọn một cơ sở theo dõi lâu dài thay vì mỗi lần một nơi. Ba việc ấy làm được ngay, không tốn kém bao nhiêu, và có ích hơn mọi thứ vật phẩm.
Nếu cung Tật Ách có sát tinh hoặc Hóa Kỵ, hãy sửa nếp sống trước khi lo
Suy luận Người có cung Tật Ách nặng thường không phải người dễ bệnh, mà là người có nếp sống dễ làm bệnh phát ra: thức khuya triền miên, ăn thất thường, làm quá sức, nhịn khám vì bận, giấu bệnh vì ngại phiền người nhà. Bốn việc nên đổi, theo thứ tự dễ làm nhất: giữ giờ ngủ cố định, bỏ thói ăn khuya, đặt lịch khám thay vì chờ tới lúc thấy đau, và nói cho ít nhất một người trong nhà biết mình đang theo dõi cái gì. Điều cuối cùng quan trọng hơn vẻ ngoài của nó, vì phần lớn ca chậm trễ mà Thầy được nghe kể đều bắt đầu bằng việc một người tự giấu.
Với người vừa nghe hai chữ Thiên Sứ mà lo
Kinh nghiệm Thầy nói riêng với quý vị. Xin nhớ ba điều theo đúng thứ tự này. Một, lá số nào cũng có Thiên Sứ và ai cũng có nó ở cung Tật Ách, nên việc quý vị có sao này không nói lên điều gì riêng cả. Hai, khoa Đẩu Số không cho phép phán bệnh từ một phụ tinh, và ai làm thế là làm sai nghề. Ba, nếu quý vị đang thật sự thấy trong người có gì khác thường thì việc cần làm không nằm ở lá số mà nằm ở phòng khám: đi khám, và đi sớm. Lá số giỏi lắm chỉ nhắc quý vị nhấc điện thoại đặt lịch, phần còn lại là việc của thầy thuốc.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được việc khám chữa bệnh và cũng không sửa được lá số. Vì cung Điền Trạch luôn tam hợp cung Tật Ách nên chỗ ở là chỗ đáng chỉnh nhất: giữ phòng ngủ thoáng và tối lúc ngủ nhưng đủ nắng ban ngày, tránh ngủ ngay dưới máy lạnh thổi thẳng, giữ bếp và khu vệ sinh khô ráo, xử lý ẩm mốc ngay khi thấy. Nước uống và không khí trong nhà là hai thứ đáng đầu tư hơn mọi vật phẩm phong thủy. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch cùng cung Tật Ách rồi hãy quyết. Xin nói rõ một lần nữa: khoa Đẩu Số không có nghi lễ giải hạn nào dành riêng cho sao Thiên Sứ, và cũng không có vật phẩm nào trừ được nó, vì nó vốn nằm sẵn trong mọi lá số.
Kinh nghiệm Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi tiễn khách vừa nghe hai chữ Thiên Sứ mà mặt còn tái: cung Tật Ách không phải cung báo bệnh, nó là cung giao cho quý vị một cái thân thể và hỏi quý vị định giữ gìn nó ra sao. Câu trả lời nằm ở nếp sống mỗi ngày, không nằm ở tên một ngôi sao.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc mà trang này thật sự dẫn. Đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách nêu dưới đây; đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ cấu trúc an sao, nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiên Thương Thiên Sứ: hai sao chủ sự buồn thảm, ngăn trở mọi công việc, đem lại nhiều sự không may, gây tang thương, bệnh tật, tai họa; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì tác họa một cách khủng khiếp. Đây là nguồn kinh văn duy nhất của bài về tính chất sao, và xin lưu ý sách chép chung cho cả cặp chứ không tách riêng Thiên Sứ.
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch và bình chú của Vũ Tài Lục, dùng để đối chiếu cách an và tính chất các phụ tinh nhóm tang thương. Toàn Thư không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho Thiên Sứ nên bài này cũng không dựng bảng ấy.
- Phép an Thiên Sứ và Thiên Thương theo cung Mệnh, lấy đúng theo bảng an sao mà trang thayungkhiem.vn đang chạy: đếm nghịch từ cung Mệnh năm cung được Thiên Sứ, tức cung Tật Ách; đếm nghịch bảy cung được Thiên Thương, tức cung Nô Bộc.
- Sách không lập câu phú riêng cho Thiên Sứ. Câu duy nhất được dẫn trong bài là câu về cặp Thương Sứ gặp Xương Khúc, chép trong phần đặc tính sao của Tân Biên chứ không phải một câu phú lập riêng. Thầy đã soát phần phú trong các bộ đang dùng và không thấy câu nào lập riêng cho Thiên Sứ; vì luật nhà cấm bịa phú nên bài này không dẫn thêm câu nào, và nếu quý vị gặp một câu phú được gán cho Thiên Sứ ở đâu đó thì nên hỏi rõ nguồn.
- Cấu trúc an sao đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Đã chạy đủ mười hai vị trí có thể của cung Mệnh, mười hai thế Tử Vi và một trăm bốn mươi tư tổ hợp tháng nhân giờ để xác nhận: Thiên Sứ luôn đóng cung Tật Ách và Thiên Thương luôn đóng cung Nô Bộc, không có ngoại lệ; khoảng cách giữa hai sao luôn bằng đúng hai cung nên chúng vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu, và cung bị chúng kẹp luôn là cung Thiên Di; Thiên Sứ luôn giáp cung Tài Bạch và cung Thiên Di, luôn tam hợp cung Huynh Đệ và cung Điền Trạch, luôn xung chiếu cung Phụ Mẫu; Thiên Sứ có thể đóng đủ mười hai địa chi và có thể đồng cung với cả mười bốn chính tinh; vì cung Mệnh an theo tháng và giờ nên Thiên Sứ không có quan hệ cố định với bất kỳ sao nào an theo can hoặc chi năm sinh; khoảng cách tới Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Tả Phụ, Thiên Giải, Địa Giải chỉ phụ thuộc giờ sinh, còn khoảng cách tới Văn Xương và Địa Không chỉ phụ thuộc tháng sinh, cụ thể Thiên Sứ đồng cung Văn Xương với người sinh tháng hai âm lịch và đồng cung Địa Không với người sinh tháng ba âm lịch. Lá số minh họa cũng dựng bằng thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: có phái an thêm một cặp Thiên Thương Thiên Sứ theo cung Mệnh của từng đại hạn, tức mỗi mười năm lại có một cặp chạy theo; trang này không dùng cách ấy, chỉ an một cặp duy nhất theo cung Mệnh bản mệnh. Cũng có sách xếp Thiên Thương ở Nô Bộc và Thiên Sứ ở Tật Ách theo lối đếm khác nhưng ra cùng kết quả, và có sách gọi cặp này là Thương Sứ hoặc trục Thương Sứ. Quý vị dùng sách khác thì phải đối chiếu lại cách đếm trước khi so kết luận. Ngoài ra xin nhắc lại một lần nữa cho rõ ràng: bài này bàn về sao Thiên Sứ trong Tử Vi Đẩu Số, không bàn về khái niệm thiên sứ trong tôn giáo, và cũng không liên quan tới bộ chín sao hạn của tục cúng sao giải hạn đầu năm. Mọi nội dung trong bài chỉ để tham khảo về mặt mệnh lý, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiên Sứ
Thiên Sứ là một sao buồn của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, luôn cố định tại cung Tật Ách. Sao chủ sự buồn thảm, ngăn trở, gây tang thương, bệnh tật, tai họa, nhất là về sức khỏe.
Thiên Sứ có vị trí cố định, luôn nằm tại cung Tật Ách trong mọi lá số, nên thường liên quan tới bệnh tật và tai ách về sức khỏe.
Hai sao đi cặp ý nghĩa, cùng chủ buồn thảm và trở ngại: Thiên Thương cố định ở cung Nô Bộc, Thiên Sứ cố định ở cung Tật Ách. Gặp Xương Khúc thì cả hai tác họa khủng khiếp.
Thiên Sứ an cố định tại cung Tật Ách trong lá số, đi cặp với Thiên Thương ở cung Nô Bộc.
Vì nó không an theo can năm, chi năm, tháng sinh hay giờ sinh, mà an theo cung Mệnh: đếm nghịch từ cung Mệnh đúng năm cung. Trong trật tự mười hai cung chức Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, cung thứ năm đếm nghịch từ Mệnh luôn là Tật Ách. Trật tự ấy cố định ở mọi lá số nên Thiên Sứ cũng cố định theo. Hệ quả là một trăm phần trăm lá số đều có Thiên Sứ và đều có nó ở đúng cung Tật Ách, nên bản thân việc có sao này không phân biệt được người này với người kia. Điều này đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn.
Không bao giờ. Thiên Thương luôn ở cung Nô Bộc, Thiên Sứ luôn ở cung Tật Ách, giữa hai cung ấy là cung Thiên Di, nên khoảng cách giữa chúng luôn đúng hai cung ở mọi lá số. Vì hai không phải là không, bốn, sáu hay tám, hai sao ấy vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và cũng không xung chiếu nhau. Cách gặp nhau duy nhất của chúng là cùng kẹp một cung ở giữa, và cung ấy mãi mãi là cung Thiên Di. Vậy bộ Thương Sứ là một bộ kẹp chứ không phải một bộ hội tụ, và mọi câu kiểu Thương Sứ giáp Mệnh hay Thương Sứ giáp Phu Thê đều không thể xảy ra.
Không, và không được kết luận như vậy. Thiên Sứ là một phụ tinh nhỏ, mà trong khoa Đẩu Số không được phán họa từ một sao, càng không được phán một cái tên bệnh hay một con số tuổi thọ từ một phụ tinh. Lý do giản dị là ai cũng có sao này ở cùng một cung, nên nó không phân biệt được ai với ai. Muốn luận sức khỏe thì phải xem chính tinh của cung Tật Ách, độ sáng của nó, Tứ Hóa rơi vào, Tuần Triệt, sát tinh và sao giải, rồi đối chiếu đại vận lưu niên, và kết luận cũng chỉ nên dừng ở mức mảng nào cần chú tâm và nên đi khám cái gì. Chẩn đoán là việc của thầy thuốc.
Câu ấy có thật trong Tân Biên nhưng cần đọc đúng cỡ. Thứ nhất, Thiên Thương và Thiên Sứ không bao giờ cùng một cung, nên cảnh cả hai cùng gặp Xương Khúc trong một cung là cảnh không tồn tại. Thứ hai, thế đồng cung xác định được bằng tham số sinh chứ không phải đoán: chạy thuật toán thì Thiên Sứ đồng cung Văn Xương đúng với người sinh tháng hai âm lịch bất kể giờ nào, xung chiếu với người sinh tháng tám, còn Văn Khúc thì tùy cả tháng lẫn giờ. Thứ ba, Văn Xương Văn Khúc vốn là hai cát tinh chủ văn chương và thi cử, nên câu phú ấy nói về một thế cục hẹp chứ không nói rằng người có Xương Khúc thì gặp họa.