1 Sao Thiếu Âm là gì

Thiếu Âm là một sao trong vòng Thái Tuế, đi cặp với Thiếu Dương, ngũ hành Thủy. Đây là cát tinh nhỏ, mang khí âm dịu, chủ về sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã và khả năng giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Thiếu Âm không an theo can, không an theo tháng, không an theo giờ, mà an theo địa chi của năm sinh. Phép an gọn tới mức chỉ một câu: đặt Thái Tuế vào cung cùng tên với chi năm sinh, rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ ba cung, cung thứ ba ấy là Thiếu Âm. Tuổi Tý thì Thái Tuế ở Tý, Thiếu Âm ở Mão. Tuổi Dậu thì Thái Tuế ở Dậu, Thiếu Âm ở Tý. Không có ngoại lệ nào, không phân biệt nam nữ, không phân biệt âm dương can, không phụ thuộc giờ sinh hay tháng sinh.
Suy luận Cách an đơn giản ấy kéo theo một hệ quả lớn mà người mới học hay bỏ qua: vị trí Thiếu Âm cố định trọn đời, không đại vận nào dời nó, không lưu niên nào đổi nó. Cái đổi theo năm là lưu Thiếu Âm, một bản sao tạm thời tính theo chi của năm đang xem, phải gọi đúng tên để khỏi lẫn với sao gốc.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai tuổi chi và vị trí Thiếu Âm tương ứng, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang, không chép tay.
| Tuổi chi | Thiếu Âm an tại |
|---|---|
| Tý | Mão |
| Sửu | Thìn |
| Dần | Tỵ |
| Mão | Ngọ |
| Thìn | Mùi |
| Tỵ | Thân |
| Ngọ | Dậu |
| Mùi | Tuất |
| Thân | Hợi |
| Dậu | Tý |
| Tuất | Sửu |
| Hợi | Dần |
Những điều bất biến của Thiếu Âm
- Thiếu Âm đi đủ mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Thiếu Âm rơi đúng mười hai địa chi khác nhau, mỗi tuổi một cung, không cung nào bị bỏ và không cung nào được lặp. Vì thế mọi câu kiểu "Thiếu Âm không bao giờ tới cung này" đều sai. Đây là điểm khác hẳn những sao an theo tam hợp như Đào Hoa hay Thiên Mã, vốn chỉ tới được bốn cung.
- Mọi chính tinh đều có thể đứng cùng cung với Thiếu Âm. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí, kết quả là cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Thiếu Âm tại bất kỳ địa chi nào. Nói cách khác, cấu trúc không cấm bất kỳ cặp nào. Việc Thiếu Âm gặp ai là chuyện của giờ sinh và ngày sinh, không phải chuyện của tuổi chi.
- Luôn bị Tang Môn và Quan Phù giáp hai bên. Trong vòng Thái Tuế, Tang Môn đứng ngay trước Thiếu Âm một cung và Quan Phù đứng ngay sau một cung. Thế giáp này có ở mọi lá số, mọi tuổi, nên khi sách nói Thiếu Âm bị Tang Điếu vây thì phải hiểu đó là mô tả một cấu trúc mặc định chứ không phải một điều kiện hiếm gặp.
- Luôn xung chiếu Phúc Đức, và Phúc Đức ấy luôn có Thiên Đức ngồi cùng. Sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế cách Thiếu Âm đúng sáu cung nên luôn ở cung đối diện. Sao Thiên Đức an theo chi năm sinh cũng rơi đúng cung Phúc Đức ấy ở cả mười hai tuổi. Vậy đối diện Thiếu Âm luôn có hai phúc tinh chiếu về.
- Luôn tam hợp với Long Đức và Trực Phù. Long Đức cách Thiếu Âm bốn cung, Trực Phù cách tám cung, nên ba sao này lập thành một tam hợp cố định ở mọi tuổi. Sao Quán Sách cũng luôn nằm chung cung với Trực Phù nên cũng nằm trong tam hợp ấy.
- Long Trì luôn ở cung liền sau Thiếu Âm. Long Trì an theo chi năm sinh cách Thái Tuế bốn cung, tức trùng cung Quan Phù, tức đúng cung liền sau Thiếu Âm ở cả mười hai tuổi.
- Vĩnh viễn không gặp Thiếu Dương. Đây là điều đáng ngạc nhiên nhất. Sách xếp Thiếu Dương và Thiếu Âm thành một cặp, chép chung một mục, giảng chung một nghĩa. Nhưng trên địa bàn, Thiếu Dương đứng thứ hai còn Thiếu Âm đứng thứ tư trong vòng, tức cách nhau đúng hai cung. Hai cung là khoảng cách không tạo ra quan hệ nào trong Đẩu Số: không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu, cũng không giáp. Vậy hai sao được sách gọi là một cặp lại là hai sao không bao giờ nhìn thấy nhau.
Kinh nghiệm Điều thứ bảy ở trên là chỗ Thầy hay dừng lại khi dạy học trò. Người ta quen nghĩ "sao đi cặp" nghĩa là "sao đi cùng nhau", rồi từ đó suy ra những thứ không có. Thiếu Dương và Thiếu Âm là một cặp về nghĩa, cùng chủ sự thông minh hòa nhã và giải tai nhỏ, một bên nghiêng khí dương ấm, một bên nghiêng khí âm dịu. Nhưng về vị trí thì chúng là hai điểm rời nhau trên vành bánh xe, và không có lá số nào cho phép chúng gặp nhau. Ai viết "Mệnh có Thiếu Dương Thiếu Âm đồng cung" là đã an sai vòng Thái Tuế.
Suy luận Từ bảy điều bất biến ấy rút ra một cách đọc rất nhanh: chỉ cần biết tuổi chi là biết ngay Thiếu Âm ở đâu, hai bên nó là ai và đối diện nó là ai, không cần nhìn lá số. Phần còn lại, tức chính tinh nào đứng cùng và cung chức nào chứa nó, thì phải an lá số thật mới biết.
3 Tóm Tắt Phép An Theo Chi Năm Sinh

Vòng Thái Tuế gồm mười hai sao an theo chi của năm sinh. Người ta khởi sao Thái Tuế đặt vào cung cùng tên với chi năm sinh, rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Mỗi cung nhận đúng một sao của vòng này.
Thiếu Âm được an cách Thái Tuế ba cung theo chiều thuận. Cả vòng an theo chi năm sinh, nên biết Thái Tuế là suy ra vị trí Thiếu Âm.
4 Đặc Tính Và Mức Mạnh Yếu Của Thiếu Âm

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Thiếu Âm cùng Thiếu Dương chủ sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện, giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Gặp Hóa Khoa, dù đồng cung hay xung chiếu, Thiếu Âm kết thành bộ sao gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy.
Là cát tinh nhỏ, Thiếu Âm góp phần làm dịu cái xấu và thêm phần êm đềm cho cung nó đóng. So với Thiếu Dương thiên về khí dương ấm, Thiếu Âm thiên về khí âm dịu, kín đáo.
5 Vị Trí Của Thiếu Âm Trong Vòng Thái Tuế
Kinh văn Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng phụ tinh mười hai sao của Đẩu Số. Ba vòng kia là vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo thiên can, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát mười hai vị đếm theo tam hợp chi. Riêng vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, khởi tại chính cung mang tên chi ấy, rồi đi thuận chiều kim đồng hồ, mỗi cung nhận đúng một sao, hết mười hai cung là khép vòng.
Thứ tự mười hai sao, đếm thuận từ Thái Tuế: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Thiếu Âm giữ vị trí thứ tư, tức cách Thái Tuế ba cung theo chiều thuận.
Suy luận Vòng này có một tính chất mà ba vòng kia không có: nó không phụ thuộc giới tính, không phụ thuộc âm dương can, không phụ thuộc Cục. Vòng Bác Sĩ phải hỏi dương nam âm nữ mới biết đếm thuận hay nghịch, vòng Tràng Sinh phải biết Cục mới biết khởi ở đâu, còn vòng Thái Tuế chỉ cần một chữ: tuổi gì.
Bốn quan hệ cố định của Thiếu Âm trong vòng
- Sao đứng trước: Tang Môn, ngay cung liền kề phía trước. Đây là bại tinh chủ tang chế, buồn phiền.
- Sao đứng sau: Quan Phù, ngay cung liền kề phía sau. Đây là sao chủ giấy tờ, thị phi, cửa công.
- Hai sao tam hợp: Long Đức và Trực Phù. Long Đức là phúc tinh chủ giải trừ, Trực Phù là sao chủ thị phi ngầm và những việc phải trình báo.
- Sao xung chiếu: Phúc Đức, tức sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế, một phúc tinh chủ hưởng phúc và hóa hung. Chú ý phân biệt sao Phúc Đức với cung Phúc Đức, hai thứ hoàn toàn khác nhau.
Suy luận Đặt bốn quan hệ ấy cạnh nhau thì thấy ngay hình dáng của cung Thiếu Âm: một cung cát khí nhẹ, bị hai bại tinh kẹp hai bên, nhưng lại được hai phúc tinh chiếu về. Bên trái là Tang Môn với khí buồn, bên phải là Quan Phù với khí giấy tờ kiện tụng, đối diện là Phúc Đức cùng Thiên Đức đưa phúc tới, tam hợp có Long Đức đỡ thêm một tay và Trực Phù kéo lại một chút. Cái thế ấy đúng với tính chất mà Tân Biên chép cho Thiếu Âm: một sao dịu, không tự làm nên việc lớn, nhưng có mặt thì cung ấy êm hơn và tai nhỏ dễ qua hơn.
Bảng dưới trình đủ mười hai sao của vòng Thái Tuế theo cả mười hai tuổi chi. Đọc theo hàng ngang là biết trọn vòng của một tuổi; đọc theo cột dọc là thấy một sao đi hết mười hai cung như thế nào.
| Tuổi chi | Thái Tuế | Thiếu Dương | Tang Môn | Thiếu Âm | Quan Phù | Tử Phù | Tuế Phá | Long Đức | Bạch Hổ | Phúc Đức | Điếu Khách | Trực Phù |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
| Sửu | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý |
| Dần | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Mão | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Thìn | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Tỵ | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Ngọ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mùi | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ |
| Thân | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Dậu | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Tuất | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu |
| Hợi | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
Thiếu Âm không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo thiên can chỉ gồm mười bốn chính tinh cộng thêm bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Thiếu Âm không có tên trong bảng ấy, nên không tuổi nào làm Thiếu Âm hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Đây là điều cần nói thẳng, vì trên mạng có chỗ ghi "Thiếu Âm hóa Khoa" do lẫn với câu sách nói Thiếu Âm gặp Hóa Khoa.
Suy luận Tuy không hóa, Thiếu Âm vẫn đổi màu theo Tứ Hóa của chính tinh đứng cùng cung. Cách đọc gọn thành bốn dòng. Cùng chính tinh hóa Lộc: cái êm thành cái thuận, việc ở cung ấy trôi nhẹ, cơ hội đến mà không phải giành. Cùng chính tinh hóa Quyền: cái dịu làm mềm cái cứng của Quyền, người có thế mà không lấn; tổ hợp đẹp cho người quản lý. Cùng chính tinh hóa Khoa: đúng chỗ sở trường, vì Tân Biên chép Thiếu Âm gặp Hóa Khoa thì gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy. Cùng chính tinh hóa Kỵ: Thiếu Âm không gỡ được Kỵ, chỉ làm nó bớt gay gắt, chuyện xấu tới âm thầm hơn là bùng nổ; vừa là may vừa là bẫy, vì việc âm thầm thì phát hiện muộn.
Vì sao đọc Thiếu Âm thì phải đọc cả vòng
Suy luận Mười hai sao vòng Thái Tuế không phải mười hai sao rời rồi tình cờ xếp cạnh nhau. Chúng là một cơ chế duy nhất chia thành mười hai chặng, giống mười hai tháng của một năm hay mười hai chặng của một đời. Khi đã biết Thiếu Âm ở đâu, quý vị biết luôn cả mười một sao còn lại mà không cần tra thêm một dòng nào: lùi ba cung là Thái Tuế, lùi một cung là Tang Môn, tiến một cung là Quan Phù, tiến hai là Tử Phù, tiến ba là Tuế Phá, đối diện là Phúc Đức. Ngược lại cũng vậy: biết bất kỳ sao nào trong vòng là suy ra Thiếu Âm.
Kinh nghiệm Hệ quả thực hành: khi luận một cung có Thiếu Âm, đừng chỉ nhìn cái êm của nó, hãy nhìn luôn cung liền trước có Tang Môn, cung liền sau có Quan Phù và cung đối diện có Phúc Đức cùng Thiên Đức. Ba cái nhìn ấy mất chừng mười giây mà cho bức tranh đầy đủ hơn hẳn việc đọc riêng một sao. Với phụ tinh theo vòng, vị trí trong vòng chính là phần có sức nặng nhất.
6 Bốn Cung Người Ta Hỏi Nhiều Nhất
Thiếu Âm đóng ở cung nào thì thêm sự êm đềm, hòa nhã và may mắn nhỏ cho lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Thiếu Âm |
|---|---|
| Mệnh | Tính tình hòa nhã, thông minh, kín đáo, dễ mến. |
| Phúc Đức | Tinh thần an dịu, có phúc nhỏ, ít sóng gió. |
| Tật Ách | Giải bệnh tật tai họa nhỏ, được che chở phần nào. |
| Phu Thê | Quan hệ êm đẹp, nhẹ nhàng nếu đi cùng cát tinh. |
7 Thiếu Âm An Tại 12 Cung Chức
Địa chi là địa chỉ của cung trên địa bàn, còn cung chức là vai trò của cung trong đời sống. Thiếu Âm đi đủ mười hai địa chi, mà cung chức nào rơi vào địa chi nào thì tùy nơi an Mệnh, nên Thiếu Âm có thể xuất hiện ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận trọn mười hai vai trò ấy, tách hai cảnh: khi Thiếu Âm được chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi Thiếu Âm bị sát tinh, Hóa Kỵ hoặc Tuần Triệt kéo xuống.
| Cung | Khi Thiếu Âm gặp chính tinh sáng, cát tinh | Khi Thiếu Âm gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt |
|---|---|---|
| Mệnh | Người hòa nhã, kín đáo, thông minh theo lối lặng lẽ, ít khi to tiếng, dễ được lòng người mà không cần gắng sức. Việc khó thường có người đỡ hộ vào phút cuối. | Vẫn hiền nhưng thành nhu, ngại va chạm tới mức bỏ mất phần của mình, hay nhận thiệt cho xong chuyện, để bụng lâu mà không nói ra. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ tính ôn hòa, nhà cửa ít tiếng cãi, người trên hay chở che ngầm, con cái được nếp nhã nhặn ấy. | Sự quan tâm của bậc trên thiên về im lặng, dễ thành xa cách; chuyện trong nhà không ai nói thẳng nên tồn đọng lâu. |
| Phúc Đức | Tâm tính an, ngủ được, biết đủ, phúc phần đến từ nếp sống lành và từ những việc tử tế nhỏ làm đều đặn. | Hay ưu tư một mình, nghĩ nhiều mà nói ít, vui buồn giấu kỹ nên người ngoài không biết đường mà đỡ. |
| Điền Trạch | Nhà cửa yên tĩnh, chỗ ở mát và kín, hợp nơi có nước hoặc cây cối; tài sản tăng chậm mà chắc. | Nhà thiếu sáng, ẩm thấp, hoặc chỗ ở thay đổi âm thầm vì lý do không tiện nói; giấy tờ nhà đất nên soát kỹ. |
| Quan Lộc | Hợp nghề cần sự nhã và sự kín: giáo dục, y tế, thư viện, biên tập, kế toán, hành chính, nghiên cứu, chăm sóc khách hàng. Thăng tiến đều, ít sóng. | Làm nhiều mà tiếng ít, công lao dễ bị người khác đứng tên, ngại nhận vai trò đứng đầu nên cơ hội trôi qua. |
| Nô Bộc | Bạn bè ít mà bền, có người bạn cũ giúp đúng lúc, cấp dưới hiền và trung. | Quan hệ nhạt dần vì không ai chủ động, dễ bị người thân cận giấu chuyện, biết sau cùng. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp người tử tế, đi xa được đón tiếp nhẹ nhàng, hợp môi trường yên và có kỷ luật mềm. | Ra ngoài dễ bị lấn, không tranh được phần, hoặc chọn cách rút lui thay vì lên tiếng nên chịu thiệt. |
| Tật Ách | Sách chép Thiếu Âm giải trừ bệnh tật và tai họa nhỏ, nên đây là một trong hai cung Thiếu Âm có ích rõ nhất: bệnh vặt qua nhanh, gặp thầy gặp thuốc đúng lúc. | Cần lưu ý những chứng thuộc khí âm và thuộc nước: khí huyết kém, tay chân lạnh, tiêu hóa yếu, giấc ngủ nông, và những rối loạn do lo nghĩ dồn nén. Đây là chỉ dấu để đi khám định kỳ, không phải để phán bệnh. |
| Tài Bạch | Tiền vào đều, không lớn nhưng ít hụt, hợp cách tích cóp và hợp nguồn thu ổn định hơn là nguồn thu đột biến. | Tiền ra âm thầm, chi cho việc không tên nhiều, hay cho mượn rồi ngại đòi; cần ghi chép thay vì nhớ trong đầu. |
| Tử Tức | Con cái ngoan, hiền, học được, cha mẹ con cái ít va chạm; cũng chủ những sản phẩm mình tạo ra một cách lặng lẽ mà bền. | Con cái kín tính, ít chia sẻ, dễ có khoảng cách; hoặc việc con cái đến muộn hơn mong đợi. |
| Phu Thê | Bạn đời tính dịu, biết nhường, hôn nhân êm; hợp mẫu người ít nói mà chu đáo. Sách chép Thiếu Âm gặp Thái Âm sáng thì càng thêm dịu sáng. | Hai bên cùng ngại nói thẳng nên hiểu lầm tích lại; êm ngoài mặt mà nguội bên trong. Cung này cần xét đủ tam phương chứ không xét một sao. |
| Huynh Đệ | Anh chị em hòa thuận, có người trong nhà tính nhã đứng ra dàn xếp mỗi khi có chuyện. | Anh em thân mà xa, mỗi người một nơi, việc chung ít ai nhận; thường không thành chuyện lớn. |
Mẹo đọc bảng: hai cung Thiếu Âm nói được nhiều nhất
Kinh nghiệm Bảng trên có đủ mười hai dòng cho trọn khung, nhưng khi cầm lá số thật thì không phải mười hai dòng ấy nặng bằng nhau. Thiếu Âm là phụ tinh nhỏ, nên ở phần lớn cung nó chỉ thêm một nét chứ không đổi cục diện. Hai cung nó nói được nhiều nhất là Tật Ách và Mệnh. Ở Tật Ách vì đó đúng chức năng sách giao cho nó, tức giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ. Ở Mệnh vì nét ôn hòa kín đáo là nét dễ nhận ra nhất trên người thật.
Kinh nghiệm Ba cung nó nói được ít nhất là Huynh Đệ, Nô Bộc và Điền Trạch, trừ khi cung ấy đồng thời là cung của đại vận đang xét. Thầy dặn học trò một câu: với phụ tinh nhỏ, thấy ít thì nói ít.
Suy luận Còn một mẹo nữa rút từ cấu trúc. Vì Thiếu Âm luôn bị Tang Môn và Quan Phù giáp hai bên, nên khi Thiếu Âm rơi vào một cung chức, hai cung chức liền kề của nó cũng đã được định sẵn nội dung: một bên mang khí buồn phiền tang chế, một bên mang khí giấy tờ thị phi. Ví dụ Thiếu Âm ở Quan Lộc thì Tang Môn ở Điền Trạch và Quan Phù ở Nô Bộc, hoặc ngược lại tùy chiều đếm cung chức. Nhìn được cả cụm ba cung ấy thì lời luận mới có hình.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thiếu Âm là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Thiếu Âm phải nhớ thêm một tầng: có những sao mà vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng, không thể thay đổi ở bất kỳ lá số nào. Tang Môn với Quan Phù mãi mãi chỉ giáp, Phúc Đức với Thiên Đức mãi mãi chỉ xung chiếu, Long Đức với Trực Phù mãi mãi chỉ tam hợp, Thiếu Dương thì mãi mãi không gặp. Danh sách dưới ghi rõ vị thế của từng sao để quý vị khỏi đi tìm thứ không tồn tại.
Thiếu Âm hợp khi gặp
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu cũng tính): đây là điều sách chép rõ nhất về Thiếu Âm, gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy. Hóa Khoa tới qua chính tinh cùng cung nên phải xem tuổi can mới biết có hay không.
- Thái Âm miếu vượng (đồng cung là đẹp nhất, chiếu cũng được): cùng khí âm dịu, một bên là chính tinh có lực, một bên là phụ tinh nhỏ; đi với nhau thì nét kín đáo thành nét sang.
- Phúc Đức và Thiên Đức (luôn luôn xung chiếu, không bao giờ đồng cung): hai phúc tinh này là nguồn đỡ cố định của Thiếu Âm ở mọi lá số. Đừng đi tìm thế đồng cung, cấu trúc không cho.
- Long Đức (luôn luôn tam hợp): phúc tinh chủ giải trừ, cùng Thiếu Âm và Trực Phù lập thành tam hợp cố định. Đây là lý do nhiều lá có Thiếu Âm mà tai nhỏ hay tự qua.
- Thiên Quan, Thiên Phúc, Giải Thần (đồng cung hoặc chiếu, tùy can và chi): các sao giải cứu cộng hưởng đúng chức năng giải tai nhỏ của Thiếu Âm.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng): nét thông minh của Thiếu Âm có chỗ thể hiện thành chữ nghĩa và lời nói khéo.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung được ở một số tuổi can, thường là chiếu): quý nhân đỡ đúng lúc, rất hợp với sao vốn chủ được người khác giúp mà không phải mở lời.
- Chính tinh miếu vượng bất kỳ (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): Thiếu Âm không kén chính tinh, nó chỉ cần chính tinh ấy đủ sáng để cái êm của nó có chỗ bám.
Thiếu Âm e ngại khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung, nặng nhất trong các thế bất lợi): Thiếu Âm vốn đã nhẹ, bị chặn nữa thì gần như mất tác dụng. Đây là trường hợp duy nhất Thầy đồng ý nói rằng một phụ tinh có thể bị vô hiệu.
- Nhiều sát tinh tụ một cung (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung): cát khí nhỏ bị lấn át, phần dịu chỉ còn là sự nhẫn nhịn chứ không còn là sự an.
- Hóa Kỵ (đồng cung, tới qua chính tinh cùng cung): Thiếu Âm không gỡ được Kỵ, chỉ làm cái Kỵ ấy diễn ra âm thầm hơn, mà âm thầm thì phát hiện muộn.
- Tang Môn (luôn luôn giáp, không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu): thế giáp mặc định. Nói Thiếu Âm gặp Tang Môn đồng cung là nói chuyện không có.
- Quan Phù (luôn luôn giáp ở phía còn lại): cùng Tang Môn tạo thành thế bao vây cố định, một bên buồn, một bên giấy tờ.
- Điếu Khách (luôn luôn cách năm cung, không tạo quan hệ nào): sách hay ghép Tang Điếu thành bộ, nhưng với Thiếu Âm thì chỉ Tang Môn giáp, còn Điếu Khách nằm ngoài tầm.
- Thiên Hư (luôn cách ba cung, không tạo quan hệ nào): ghi vào đây vì có sách ghép Thiếu Âm với Khốc Hư. Trên địa bàn thì Thiên Hư không tới được Thiếu Âm bằng bất kỳ đường nào; riêng Thiên Khốc thì thay đổi theo tuổi nên phải tra từng lá.
- Chính tinh hãm địa mà lại thêm sát (đồng cung): cung ấy đã tối, Thiếu Âm chỉ đủ sức làm cái tối bớt gay gắt chứ không đủ sức thắp sáng.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Thiếu Âm còn thêm một tầng nữa: nhiều vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng từ trước, không lá số nào đổi được. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
9 Thiếu Âm Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Thiếu Âm đứng yên. Mục này nói về chuyện động, tức ba tầng thời gian chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính sao Thiếu Âm.
Khi đại vận đi vào cung có Thiếu Âm
Suy luận Đại vận là mười năm mà lá số dời trọng tâm sang một cung. Khi cung ấy có Thiếu Âm, mười năm ấy thường mang một chất chung: êm hơn, chậm hơn, ít biến cố lớn hơn các vận khác của cùng lá số. Việc đến từ từ, quan hệ hình thành từ từ, và cái được thường tới qua đường người khác giúp chứ không qua đường giành lấy. Nếu cung đại vận ấy có chính tinh sáng và có Hóa Khoa, đây là vận hợp cho học hành, thi cử, xin cấp phép, ổn định gia đạo, làm nghề cần chữ tín lâu dài.
Kinh nghiệm Mặt cần giữ của một vận Thiếu Âm nằm ở chữ chậm. Người đang trong vận này hay kể rằng mọi thứ đều ổn mà không thấy tiến, năm nào cũng như năm nào. Thầy thường khuyên đúng một việc: vận êm là vận để đặt nền, không phải vận để chờ. Học thêm một nghề, lấy thêm một chứng chỉ, xây thêm một mối quan hệ bền, dồn tiền vào chỗ chắc. Đến vận sau có sóng thì cái nền ấy mới đỡ được.
Suy luận Nếu cung đại vận có Thiếu Âm mà lại tụ sát tinh hoặc bị Tuần Triệt, cái êm biến thành cái đọng: mười năm không hỏng mà cũng không mở, dễ sinh cảm giác bị bỏ lại. Khi ấy phải xem cung xung chiếu, tức cung có Phúc Đức và Thiên Đức, và xem tam hợp có Long Đức, vì đó là ba chỗ cấu trúc đã cấp sẵn để gỡ.
Thiếu Âm có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Kinh văn Không phải sao nào cũng có bản lưu. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên, vì hai vòng ấy an theo can chi năm sinh, mà mỗi năm lại có can chi riêng, nên chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi năm đang xem là ra một bộ sao lưu. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục, mà Cục thì cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì không ai đổi tháng sinh hay giờ sinh theo từng năm.
Suy luận Vậy Thiếu Âm có lưu Thiếu Âm. Cách tính đúng một câu: lấy chi của năm đang xem đặt lưu Thái Tuế, rồi đếm thuận ba cung. Vì chi năm chạy đủ mười hai giá trị nên lưu Thiếu Âm quay trọn một vòng mười hai năm, mỗi năm dời đúng một cung theo chiều thuận, và cứ mười hai năm lại về đúng cung có Thiếu Âm bản mệnh một lần. Năm trùng phùng ấy chính là những năm có chi trùng tuổi của quý vị.
| Năm | Can chi năm | Lưu Thái Tuế tại | Lưu Thiếu Âm tại |
|---|---|---|---|
| 2024 | Giáp Thìn | Thìn | Mùi |
| 2025 | Ất Tỵ | Tỵ | Thân |
| 2026 | Bính Ngọ | Ngọ | Dậu |
| 2027 | Đinh Mùi | Mùi | Tuất |
| 2028 | Mậu Thân | Thân | Hợi |
| 2029 | Kỷ Dậu | Dậu | Tý |
| 2030 | Canh Tuất | Tuất | Sửu |
| 2031 | Tân Hợi | Hợi | Dần |
| 2032 | Nhâm Tý | Tý | Mão |
| 2033 | Quý Sửu | Sửu | Thìn |
Suy luận Một chỗ dễ nhầm: lưu Thiếu Âm của một năm là sao của năm ấy, đúng cho mọi người. Cái riêng nằm ở chỗ nó rơi vào cung chức nào trên lá số từng người. Năm 2026 Bính Ngọ lưu Thiếu Âm đều ở Dậu, nhưng với người an Mệnh tại Dậu thì đó là năm nó nhập Mệnh, còn với người an Mệnh tại Mão thì nó chiếu từ Thiên Di về.
Các lưu sao khác chạm vào cung Thiếu Âm
Suy luận Ngoài lưu Thiếu Âm còn phải xem những bộ lưu khác có ghé cung Thiếu Âm bản mệnh hay không. Đáng chú ý nhất là bốn nhóm. Lưu Thái Tuế: năm nó đóng đúng cung Thiếu Âm bản mệnh là năm cái êm bị đánh thức, việc lâu nay để yên bỗng có người nhắc tới. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ: Tang Môn bản mệnh vĩnh viễn không đồng cung được với Thiếu Âm, nhưng lưu Tang Môn thì hoàn toàn có thể, đây là con đường duy nhất để hai sao gặp nhau. Lưu Kình Dương và lưu Đà La: theo lưu Lộc Tồn, chu kỳ mười năm; năm chúng ghé cung Thiếu Âm thì cái êm bị cứa, chuyện nhỏ hóa gai. Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc: ghé vào thì phần thông minh nhã nhặn có dịp dùng tới, hợp cho thi cử, phỏng vấn, xin việc.
Kinh nghiệm Thầy nhắc một điều về cách dùng bảng lưu niên. Người mới học hay lấy một sao lưu rồi phán cả năm. Với phụ tinh nhỏ như Thiếu Âm thì một mình nó không đủ tư cách quyết định điều gì cho một năm. Nó chỉ là một nét trong bức tranh gồm cung đại vận, cung lưu niên, chính tinh của hai cung ấy, Tứ Hóa của can năm và các lưu sát tinh. Đặt nó vào đúng chỗ thì nó cho một thông tin nhỏ mà chính xác; đặt nó lên bàn cân một mình thì cân sẽ sai.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiếu Âm
Thiếu Âm là sao ít bị nói xấu, nhưng lại hay bị nói quá và nói nhầm. Mục này tách rõ sách nói gì và sách không nói gì.
Thiếu Âm không phải Thái Âm, và cũng không phải khí âm của thuyết âm dương
Kinh văn Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất, chỉ vì hai cái tên cùng có chữ Âm. Thái Âm là một trong mười bốn chính tinh, an theo vị trí Thiên Phủ, có bảng miếu vượng đắc hãm riêng, có tên trong bảng Tứ Hóa, chủ tài sản, mẹ, vợ, nhà cửa, sự nhu thuận. Thiếu Âm là một phụ tinh nhỏ, an theo chi năm sinh, không có bảng miếu hãm riêng trong Tân Biên, không nằm trong bảng Tứ Hóa, chỉ chủ sự thông minh hòa nhã và giải tai nhỏ. Hai sao có thể đồng cung, và khi ấy sách khen là đẹp, nhưng đó là hai sao khác hẳn nhau về hạng và về chức năng. Còn chữ thiếu âm trong y học cổ truyền hay trong Kinh Dịch lại là chuyện thứ ba, không liên quan.
Thiếu Âm và Thiếu Dương là một cặp về nghĩa, không phải một cặp trên địa bàn
Kinh văn Tân Biên chép hai sao chung một mục, cùng chủ thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện, giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ. Vì thế nhiều người tưởng hai sao đi liền nhau như Long Trì Phượng Các hay Tam Thai Bát Tọa. Suy luận Chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao thì kết quả rõ ràng: Thiếu Dương đứng thứ hai trong vòng, Thiếu Âm đứng thứ tư, luôn cách nhau đúng hai cung. Hai cung là khoảng cách trắng trong Đẩu Số, không phải đồng cung, không phải giáp, không phải tam hợp, không phải xung chiếu. Vậy hai sao ấy không bao giờ gặp nhau trên bất kỳ lá số nào. Sách nói chung về nghĩa, không nói chung về vị trí, và người đọc phải tự phân biệt hai chuyện đó.
Thiếu Âm giải được tai nhỏ, sách không nói nó giải được tai lớn
Kinh văn Nguyên văn của Tân Biên là giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Chữ nhỏ ấy nằm trong sách chứ không phải do người sau thêm vào. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy chưa gặp trường hợp nào có thể nói rằng một cái nạn lớn đã được hóa giải nhờ Thiếu Âm. Cái nó làm được là khiến chuyện vặt qua nhanh, khiến người ta gặp đúng thầy đúng thuốc, khiến một rắc rối được ai đó nói giúp một câu. Đem một phụ tinh nhỏ ra hứa với khách rằng năm nay không sao là việc Thầy nghiêm cấm học trò làm. Muốn biết một cái nạn có qua được không thì phải xem cung Tật Ách, cung Phúc Đức, chính tinh của cung hạn, Tứ Hóa của năm và bộ sát tinh, chứ không xem một sao.
Thế bị Tang Môn Quan Phù giáp là cấu trúc mặc định, không phải điềm xấu riêng
Suy luận Có tài liệu viết rằng Thiếu Âm bị Tang Điếu vây thì niềm vui khó trọn, và người đọc tưởng đó là một tình huống hiếm gặp báo hiệu điều chẳng lành. Chạy thuật toán thì thấy mọi lá số đều có Thiếu Âm bị Tang Môn và Quan Phù giáp hai bên, không trừ ai. Một điều đúng với một trăm phần trăm số người thì không dùng để phân biệt người này với người kia được. Nó chỉ có nghĩa khi kết hợp thêm dữ kiện riêng: hai cung giáp ấy có sát tinh không, có Hóa Kỵ không, có bị Tuần Triệt không, và cung Thiếu Âm có chính tinh gì. Đó mới là chỗ luận. Điều tương tự cũng đúng cho hai phúc tinh xung chiếu: Phúc Đức và Thiên Đức chiếu về cung Thiếu Âm ở mọi lá số, nên không thể lấy riêng nó ra để khen ai.
Kinh nghiệm Lời cuối của mục này, cũng là ranh giới lớn nhất: Thiếu Âm là một nét, không phải một kết luận. Thấy nó thì thêm được một chữ dịu vào lời luận, thế thôi. Ai nói về Thiếu Âm nhiều hơn ba câu là đang nói về thứ khác.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiếu Âm Qua Ba Bước
Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh đã chọn: tuổi Đinh Dậu, Tử Vi an tại Tỵ, Mệnh an tại Tý. Vì tuổi chi là Dậu nên Thái Tuế đóng Dậu, đếm thuận ba cung ra Thiếu Âm tại Tý, rơi đúng cung Mệnh. Cùng lúc đó Tang Môn ở Hợi và Quan Phù ở Sửu giáp hai bên, Phúc Đức cùng Thiên Đức ở Ngọ xung chiếu, Long Đức ở Thìn và Trực Phù ở Thân tam hợp chiếu về. Lưới mười hai cung dưới đây vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; riêng các sao vòng Thái Tuế không vẽ trên lưới nên được ghi bằng chữ trong lời luận.
Tử Vi tại Tỵ, Mệnh tại Tý
không phải người thật
tuổi Đinh Dậu
Thiếu Âm tại Tý, ngay cung Mệnh
Bước một: Thiếu Âm đứng ở đâu và đứng cùng ai
Thiếu Âm tại Tý, tức cung Mệnh, đồng cung với Thiên Đồng và Thái Âm. Đây đúng là thế mà Tân Biên khen: Thiếu Âm gặp Thái Âm sáng thì thêm phần dịu sáng. Thái Âm tại Tý là chỗ đắc địa của nó, lại có Thiên Đồng là phúc tinh cùng ngồi, nên cung Mệnh này vốn đã mang khí ôn hòa; Thiếu Âm thêm vào một lớp nữa. Người có cung Mệnh kiểu này thường được mô tả bằng những chữ rất giống nhau: hiền, kín, dễ chịu, nói năng nhẹ nhàng, ít khi để lộ giận.
Ngay bước này đã có ba việc chắc chắn. Một, Tang Môn ở Hợi tức Huynh Đệ và Quan Phù ở Sửu tức Phụ Mẫu giáp lấy Mệnh, thế cố định của mọi lá có Thiếu Âm ở Mệnh. Hai, cung Thiên Di tại Ngọ có Phúc Đức và Thiên Đức chiếu về, nên đường ra ngoài có người đỡ. Ba, Long Đức ở Thìn tức Quan Lộc và Trực Phù ở Thân tức Tài Bạch lập tam hợp với Mệnh.
Bước hai: hóa gì và Lộc Tồn Kình Đà ở đâu
Tuổi Đinh nên bộ Tứ Hóa là Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa, Cự Môn hóa Kỵ. Nhìn lại cung Mệnh tại Tý: cả hai chính tinh của cung này đều đang hóa, một Lộc một Quyền, và Thiếu Âm ngồi ngay giữa. Theo cách đọc đã nêu ở mục vị trí trong vòng, Thiếu Âm đứng cùng chính tinh hóa Lộc thì việc trôi nhẹ, đứng cùng chính tinh hóa Quyền thì cái dịu làm mềm cái cứng. Ở đây có cả hai, nên đọc thành một câu: người này có thế mà không lấn, có phần mà không phải giành.
Thiên Cơ hóa Khoa tại Thìn cùng Thiên Lương, tức cung Quan Lộc, đúng một chân tam hợp của Mệnh, nên Hóa Khoa chiếu về Mệnh, đúng chỗ Tân Biên nói Thiếu Âm gặp Hóa Khoa thì gia tăng phúc thọ. Cự Môn hóa Kỵ tại Dần cùng Thái Dương, tức cung Phúc Đức, nằm ngoài tam phương tứ chính nên không đánh thẳng vào Mệnh mà tác động vào phần tâm tính. Tuổi Đinh có Lộc Tồn tại Ngọ, Kình Dương tại Mùi, Đà La tại Tỵ: Lộc Tồn rơi đúng cung Thiên Di đang có hai phúc tinh, còn Kình Đà nằm ở Tật Ách và Nô Bộc, không chạm tam phương tứ chính của Mệnh. Với một cung Mệnh có Thiếu Âm, đây là bố cục dễ chịu bậc nhất mà cấu trúc cho phép.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì và kết luận
Cung Mệnh tại Tý có tam hợp là Thân và Thìn, xung chiếu là Ngọ. Thìn là Quan Lộc có Thiên Cơ hóa Khoa cùng Thiên Lương, Thân là Tài Bạch bỏ trống nên phải mượn sao cung đối diện là Dần có Thái Dương và Cự Môn hóa Kỵ, Ngọ là Thiên Di cũng trống nhưng có Lộc Tồn. Gộp lại, tam phương tứ chính của Mệnh mang bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, đúng mẫu người hợp nghề ổn định, cần chữ tín và cần sự bền: hành chính, giáo dục, y tế, kế toán, nghiên cứu, chăm sóc người khác.
Thiếu Âm đặt vào nền ấy không làm người này mạnh lên, nó làm người này dễ được giúp. Đó là toàn bộ đóng góp của nó, và đó cũng là mức mà một phụ tinh nhỏ được phép đóng góp. Điểm cần giữ nằm ở chỗ Cự Môn hóa Kỵ tại cung Phúc Đức và Kình Dương tại cung Tật Ách: lo nghĩ dồn nén là điều phải để ý, vì cả Thiếu Âm lẫn Thiên Đồng Thái Âm đều thiên về giữ trong lòng chứ không thiên về nói ra. Lời khuyên cụ thể cho lá số kiểu này rất đơn giản: có chuyện thì nói sớm, và mỗi năm đi khám tổng quát một lần.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên can Đinh nhưng đổi tuổi chi từ Dậu sang Mùi, tức tuổi Đinh Mùi: Thái Tuế dời về Mùi nên Thiếu Âm dời sang Tuất, rơi vào cung Phu Thê nếu vẫn an Mệnh tại Tý. Cung Mệnh mất Thiếu Âm nhưng vẫn còn Thiên Đồng hóa Quyền và Thái Âm hóa Lộc, nên phần lớn mẫu người không đổi, chỉ mất đi lớp dịu ngoài cùng. Bù lại cung Phu Thê được thêm một nét ôn hòa, hợp mẫu bạn đời ít nói mà chu đáo. Cả vòng Thái Tuế dời theo, nên Tang Môn về Dậu và Quan Phù về Hợi, hai cung ấy mới là hai cung giáp Thiếu Âm.
- Giữ tuổi chi Dậu nhưng đổi sang can Ất, tức tuổi Ất Dậu: Thiếu Âm vẫn ở Tý cùng cung Mệnh, nhưng bộ Tứ Hóa đổi thành Thiên Cơ hóa Lộc, Thiên Lương hóa Quyền, Tử Vi hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ. Cung Mệnh không còn Lộc và Quyền nữa mà có Thái Âm hóa Kỵ ngay tại chỗ. Cùng một cung Mệnh, cùng một Thiếu Âm, mà đọc ra người khác hẳn: vẫn hiền vẫn kín, nhưng cái kín ấy thành cái vướng, chuyện tình cảm và chuyện tiền nong dễ dây dưa. Ở đây Thiếu Âm không gỡ được Kỵ, nó chỉ làm cái Kỵ diễn ra âm thầm, nên người ngoài nhìn vào tưởng yên. Lộc Tồn tuổi Ất về Mão tức cung Điền Trạch, rời khỏi cung Thiên Di, nên chỗ đỡ ở đối cung cũng mỏng đi.
- Giữ nguyên tuổi Đinh Dậu nhưng đổi vị trí an Mệnh từ Tý sang Ngọ: Thiếu Âm vẫn ở Tý, nhưng Tý bây giờ là cung Thiên Di chứ không còn là Mệnh. Cung Mệnh tại Ngọ bỏ trống, có Lộc Tồn cùng Phúc Đức và Thiên Đức. Đọc thành một người bên ngoài trông bình thường, ra tới môi trường ngoài thì mới lộ nét dịu và dễ được lòng, tức nét Thiếu Âm hiện ra qua cách người khác đối xử với mình chứ không qua tính cách bộc lộ. Điều kiện để Mệnh rơi vào Ngọ là tháng sinh và giờ sinh khác đi, nên đây là chỗ phải an lá số thật chứ không suy được bằng miệng.
Ba trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Thiếu Âm mà chỉ nhìn một mình nó thì mới đọc được một phần nhỏ. Muốn biết Thiếu Âm của chính mình đóng ở cung chức nào, đồng cung với chính tinh nào và chịu Tứ Hóa gì, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Thiếu Âm trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Thiếu Âm không phải sao cần hóa giải. Nó là cát tinh nhỏ, và mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ khác: dùng. Sao này chỉ trở thành đáng tiếc khi người có nó để cái dịu của mình trở thành cái nhường mãi.
Cho cái ôn hòa một chỗ đứng
Suy luận Người có Thiếu Âm nổi bật ở Mệnh, Phúc Đức hoặc Quan Lộc nên chọn môi trường mà sự nhã nhặn được trả công: giáo dục, y tế, nhân sự, hành chính, biên tập, kế toán, nghiên cứu, những nghề cần giữ chữ tín nhiều năm. Ngược lại, môi trường phải giành từng phần, phải nói to mới được nghe, thường làm người có Thiếu Âm mệt sớm và bỏ cuộc trong im lặng.
Ba việc rất đời thường để cái dịu không thành cái thiệt
Kinh nghiệm Thầy hay dặn khách có Thiếu Âm đậm ba việc, đều làm được ngay. Một, nói phần của mình ra thành lời. Không cần to tiếng, chỉ cần nói rõ một lần: việc này tôi làm, phần này là của tôi. Người có Thiếu Âm hay nghĩ rằng làm tốt thì tự khắc người ta biết; trên thực tế thì không. Hai, đặt hạn cho việc giúp người. Giúp là nết hay, nhưng phải có mức, vì cái Tang Môn và Quan Phù giáp hai bên nhắc rằng chuyện buồn và chuyện giấy tờ của người khác rất dễ tràn sang mình. Cho mượn tiền thì viết giấy, đứng tên hộ thì cân nhắc kỹ. Ba, mỗi tuần có một buổi nói chuyện thật. Với vợ chồng, với bạn thân, với người trong nhà. Sao này thiên về giữ trong lòng, mà giữ lâu thì sinh bệnh.
Khi Thiếu Âm bị Tuần Triệt hoặc bị sát tinh vây
Suy luận Với các thế bất lợi, cách xử lý không phải là tìm bùa mà là chuyển chỗ dựa. Cấu trúc đã cấp sẵn ba chỗ: cung xung chiếu có Phúc Đức và Thiên Đức, cung tam hợp có Long Đức, và chính tinh của cung Thiếu Âm. Dịch ra đời thường là ba việc: tìm một người đỡ đầu đáng tin, giữ nếp sinh hoạt đều đặn, và dồn sức vào đúng nghề chính. Kinh nghiệm Thầy thấy ba việc ấy hiệu quả hơn hẳn mọi thứ bày biện.
Với năm lưu Thiếu Âm về đúng cung mình
Suy luận Mười hai năm một lần, lưu Thiếu Âm về đúng cung có Thiếu Âm bản mệnh, tức năm có chi trùng tuổi. Đó là năm nên chủ động dùng chứ không phải năm nên ngồi yên: hợp để xin việc, thi cử, nộp hồ sơ, hòa giải một mối quan hệ cũ, chữa dứt điểm một cái bệnh vặt kéo dài. Nếu cung ấy lành thì hãy đặt sẵn kế hoạch. Nếu cung ấy có sát tinh hoặc Hóa Kỵ thì vẫn dùng được, chỉ cần thêm giấy tờ rõ ràng và bớt việc nhận hộ.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Người có Thiếu Âm đậm thường hợp chỗ ở yên và đủ sáng, vì bản thân sao đã thiên về khí âm nên không cần thêm phần tối. Bàn làm việc nên quay ra chỗ có ánh sáng tự nhiên. Trong nhà nên có một chỗ để tiếp chuyện, dù chỉ là một bàn nhỏ hai ghế, vì đây là mẫu người cần được kéo ra khỏi thói quen im lặng. Về màu sắc, sắc ấm và sáng vừa phải thường dễ chịu hơn sắc lạnh và sắc trầm. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Kinh nghiệm Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi tiễn khách có Thiếu Âm thủ Mệnh: hiền là một cái vốn, nhưng vốn nào cũng phải đem ra dùng mới sinh lời. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay; dùng nó thế nào thì vẫn là chuyện của người cầm.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc mà trang này thật sự dẫn, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách nêu dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiếu Dương Thiếu Âm: hai sao chủ sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện, giải trừ những bệnh tật và tai họa nhỏ; gặp Hóa Khoa dù đồng cung hay xung chiếu thì thành bộ sao gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy. Đây là nguồn kinh văn duy nhất của bài về tính chất sao.
- Phép an vòng Thái Tuế theo địa chi năm sinh, khởi Thái Tuế tại cung cùng tên với chi năm sinh rồi an thuận mười hai sao, Thiếu Âm đứng thứ tư tức cách Thái Tuế ba cung. Trật tự mười hai sao lấy theo bảng an sao chuẩn đang dùng trong khoa Tử Vi Đẩu Số.
- Không có câu phú riêng cho Thiếu Âm. Thầy đã soát lại phần phú trong các bộ đang dùng và không thấy câu nào lập riêng cho sao này. Vì luật nhà cấm bịa phú, bài này không dẫn câu phú nào, và nếu quý vị gặp một câu phú được gán cho Thiếu Âm ở đâu đó thì nên hỏi rõ nguồn.
- Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu: vị trí Thiếu Âm ở đủ mười hai tuổi chi; xác nhận Thiếu Âm đi trọn mười hai cung và không kiêng cung nào; danh sách chính tinh có thể đồng cung tại từng địa chi, chạy đủ mười hai thế Tử Vi; khoảng cách cố định giữa Thiếu Âm với cả mười một sao còn lại của vòng Thái Tuế; khoảng cách cố định giữa Thiếu Âm với Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Trì, Thiên Hư, Thiên Không, Quán Sách; và bảng lưu Thái Tuế cùng lưu Thiếu Âm theo từng năm dương lịch. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: một số tài liệu dựng bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho Thiếu Âm. Bài này không dùng bảng ấy vì Tân Biên không lập bảng miếu hãm cho sao này, và những bảng lưu hành trên mạng không thống nhất với nhau. Ngoài ra, có sách xếp Thiếu Âm vào nhóm cát tinh, có sách xếp vào nhóm trung tinh; khác biệt ấy thuộc về cách phân loại của từng trường phái, không phải lỗi, nhưng khi luận thì nên bám vào nguyên văn mô tả chức năng chứ đừng bám vào nhãn phân loại. Cuối cùng, chữ Thiếu Âm còn là một thuật ngữ của y học cổ truyền và của Kinh Dịch với nghĩa hoàn toàn khác; bài này chỉ nói về sao Thiếu Âm trong Tử Vi Đẩu Số.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiếu Âm
Thiếu Âm là một cát tinh nhỏ trong vòng Thái Tuế của Tử Vi Đẩu Số, đi cặp với Thiếu Dương, ngũ hành Thủy. Sao này mang khí âm dịu, chủ sự thông minh, hòa nhã và khả năng hóa giải những bệnh tật, tai họa nhỏ.
Thiếu Âm được an cách Thái Tuế ba cung theo chiều thuận. Vì cả vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh, biết vị trí Thái Tuế là suy ra được Thiếu Âm.
Thiếu Âm là cát tinh nhỏ, mang điềm lành dịu. Tự nó không tạo đại cách, nhưng góp phần làm dịu cái xấu và thêm êm đềm cho cung nó đóng, nhất là khi gặp Thái Âm sáng sủa hoặc Hóa Khoa.
Hai sao đi cặp trong vòng Thái Tuế. Thiếu Dương mang khí dương ấm, thiên về sự vui vẻ rạng rỡ; Thiếu Âm mang khí âm dịu, thiên về sự êm đềm kín đáo. Cả hai đều là cát tinh nhỏ chủ thông minh hòa nhã và giải tai nhỏ.
Không, và cũng không bao giờ tam hợp, xung chiếu hay giáp nhau. Trong vòng Thái Tuế, Thiếu Dương đứng thứ hai còn Thiếu Âm đứng thứ tư, nên hai sao luôn cách nhau đúng hai cung ở mọi tuổi chi. Hai cung là khoảng cách không tạo ra quan hệ nào trong Đẩu Số. Sách xếp hai sao thành một cặp là xếp theo nghĩa, vì cùng chủ thông minh hòa nhã và giải tai nhỏ, chứ không phải xếp theo vị trí trên địa bàn.
Ba quan hệ cố định ở mọi lá số. Một, Tang Môn giáp một bên và Quan Phù giáp bên kia, vì hai sao ấy đứng liền trước và liền sau Thiếu Âm trong vòng. Hai, sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế luôn xung chiếu, và sao Thiên Đức luôn nằm chung cung Phúc Đức ấy. Ba, Long Đức và Trực Phù luôn tam hợp. Ngoài ra Long Trì luôn ở cung liền sau Thiếu Âm, tức trùng cung Quan Phù.
Không. Bảng Tứ Hóa theo thiên can chỉ gồm mười bốn chính tinh cộng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; Thiếu Âm không có tên trong đó nên không tuổi nào làm nó hóa. Điều sách nói là Thiếu Âm gặp Hóa Khoa thì gia tăng phúc thọ, tức Hóa Khoa tới từ chính tinh đồng cung hoặc xung chiếu, chứ không phải Thiếu Âm tự hóa Khoa.
Có. Vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh nên chỉ cần thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem là ra bộ sao lưu. Lưu Thiếu Âm đặt cách lưu Thái Tuế ba cung theo chiều thuận, dời đúng một cung mỗi năm và quay trọn vòng trong mười hai năm. Ví dụ năm 2026 Bính Ngọ thì lưu Thái Tuế tại Ngọ và lưu Thiếu Âm tại Dậu. Cứ mười hai năm lưu Thiếu Âm lại về đúng cung Thiếu Âm bản mệnh một lần, đó là những năm có chi trùng tuổi của quý vị.