1 Sao Thiếu Dương là gì

Thiếu Dương là một sao trong vòng Thái Tuế, đứng liền sau Thái Tuế. Đây là một cát tinh nhỏ, mang khí dương, chủ về sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã và khả năng hóa giải những bệnh tật, tai họa nhỏ. Thiếu Dương đi cặp với Thiếu Âm, một dương một âm.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Thiếu Dương an theo địa chi của năm sinh, và phép an gọn tới mức đếm nhẩm cũng ra: tìm cung mang tên chi tuổi, đó là cung Thái Tuế, rồi bước thêm đúng một cung theo chiều thuận. Người tuổi Tý thì Thiếu Dương ở Sửu, tuổi Thìn thì ở Tỵ, tuổi Hợi thì ở Tý. Không phụ thuộc tháng sinh, giờ sinh hay can năm.
| Tuổi chi | Thái Tuế | Thiếu Dương | Thiên Không |
|---|---|---|---|
| Tý | Tý | Sửu | Sửu |
| Sửu | Sửu | Dần | Dần |
| Dần | Dần | Mão | Mão |
| Mão | Mão | Thìn | Thìn |
| Thìn | Thìn | Tỵ | Tỵ |
| Tỵ | Tỵ | Ngọ | Ngọ |
| Ngọ | Ngọ | Mùi | Mùi |
| Mùi | Mùi | Thân | Thân |
| Thân | Thân | Dậu | Dậu |
| Dậu | Dậu | Tuất | Tuất |
| Tuất | Tuất | Hợi | Hợi |
| Hợi | Hợi | Tý | Tý |
Suy luận Cột thứ ba của bảng là điều quan trọng nhất phải nói ngay. Theo thuật toán an sao đang chạy trên thayungkhiem.vn, sao Thiên Không cũng an tại cung cách chi năm sinh một cung theo chiều thuận, tức Thiên Không luôn đồng cung với Thiếu Dương ở cả mười hai tuổi. Không có ngoại lệ, không có tuổi nào tách được. Đây là điều bắt buộc phải nói rõ, vì Thiếu Dương là cát tinh nhỏ còn Thiên Không là sao của sự trống rỗng và hư hao. Ai đọc bài về Thiếu Dương mà không biết điều này thì sẽ tưởng cung ấy chỉ toàn khí lành. Một số tài liệu khác đặt Thiên Không ở cung liền trước Thái Tuế, tức cùng cung Trực Phù; bài này viết theo bảng đang chạy trên trang và ghi rõ dị bản ở mục Nguồn để quý vị đối chiếu.
Suy luận Vì phép an là ánh xạ một đối một từ mười hai chi sang mười hai cung, Thiếu Dương đi hết cả mười hai cung địa bàn, không chừa cung nào. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Thiếu Dương, và cung của Thiếu Dương cũng có thể vô chính diệu. Vậy nên câu sách chép "gặp Thái Dương sáng sủa đồng cung thì rực rỡ tốt đẹp" là khả năng có thật, xảy ra ở những tuổi mà chi năm sinh lùi đúng một cung so với vị trí Thái Dương.
Sáu điều bất biến của Thiếu Dương
- Luôn kề ngay sau Thái Tuế và ngay trước Tang Môn, tức bị giáp bởi đúng hai sao ấy ở mọi tuổi: một bên là cái uy của lời nói, một bên là việc buồn việc hiếu.
- Luôn đồng cung Thiên Không theo thuật toán của trang, như đã nói ở trên.
- Luôn bị Long Đức xung chiếu. Long Đức đứng vị trí thứ tám của vòng, cách Thiếu Dương đúng sáu cung, nên hai sao vĩnh viễn nhìn thẳng vào nhau.
- Luôn có Tử Phù và Phúc Đức ở hai cung tam hợp. Tử Phù cách bốn cung, Phúc Đức cách tám cung.
- Đủ bộ tứ đức trong tam phương tứ chính. Vì Thiên Đức luôn đồng cung Phúc Đức và Nguyệt Đức luôn đồng cung Tử Phù, nên tam phương tứ chính của Thiếu Dương gom đủ Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức. Đã kiểm đủ mười hai tuổi. Trong cả vòng Thái Tuế, không sao nào khác hội đủ bốn đức tinh như vậy. Đây chính là cơ sở cấu trúc cho câu sách gọi Thiếu Dương là cát tinh giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ.
- Không bao giờ gặp Thiếu Âm trong tam phương tứ chính. Thiếu Âm đứng vị trí thứ tư, cách Thiếu Dương đúng hai cung, nên hai sao không bao giờ đồng cung, không xung chiếu và cũng không tam hợp chiếu. Chúng chỉ là một cặp về ý nghĩa, không phải một cặp về vị trí.
Những sao khác luôn hoặc không bao giờ gặp Thiếu Dương
Suy luận Chạy đủ mười hai tuổi chi cho thêm mấy kết luận chắc chắn, đều là loại không nhớ được bằng trí nhớ mà phải tính. Đào Hoa luôn nằm trong tam phương tứ chính của Thiếu Dương: đồng cung ở bốn tuổi tứ sinh Dần, Tỵ, Thân, Hợi, tam hợp chiếu ở tám tuổi còn lại. Cô Thần đồng cung Thiếu Dương ở bốn tuổi tứ mộ Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Hồng Loan đồng cung ở tuổi Sửu và tuổi Mùi, xung chiếu ở tuổi Thìn và tuổi Tuất; còn Thiên Hỷ đồng cung ở tuổi Thìn và tuổi Tuất, xung chiếu ở tuổi Sửu và tuổi Mùi. Bốn tuổi tứ mộ vì thế là bốn tuổi mà cung Thiếu Dương đậm khí vui nhất.
Suy luận Với ba sao an theo can năm, quan hệ phụ thuộc hoa giáp. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì Lộc Tồn đóng đúng cung Thiếu Dương ở sáu tuổi Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi; Kình Dương đóng đúng cung Thiếu Dương ở bốn tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân, Tân Dậu; Đà La ở bốn tuổi Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi. Kinh nghiệm Sáu tuổi có Lộc Tồn ngồi cùng là sáu tuổi mà cái vui nhỏ có chỗ đọng lại thành của cải. Tám tuổi có Kình hoặc Đà ngồi cùng thì cái vui ấy hay bị cắt ngang.
3 Phép An Vòng Thái Tuế, Bản Tóm Tắt

Vòng Thái Tuế gồm mười hai sao an theo chi của năm sinh. Người ta khởi sao Thái Tuế đặt vào cung cùng tên với chi năm sinh, rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Mỗi cung nhận đúng một sao của vòng này.
Thiếu Dương được an cách Thái Tuế một cung theo chiều thuận. Vì cả vòng an theo chi năm sinh, nên biết vị trí Thái Tuế là suy ra được Thiếu Dương.
4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Thiếu Dương chủ sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện và có khả năng giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Khi Thiếu Dương gặp Thái Dương sáng sủa đồng cung thì càng rực rỡ tốt đẹp, ví như mặt trời thứ hai.
Là cát tinh nhỏ, Thiếu Dương không tạo nên đại cách một mình, nhưng góp phần làm dịu cái xấu và thêm phần vui vẻ cho cung nó đóng. Gặp Hóa Khoa, dù đồng cung hay xung chiếu, Thiếu Dương kết thành bộ sao gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy.
5 Vị Trí Của Thiếu Dương Trong Vòng Thái Tuế
Kinh văn Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng phụ tinh của Đẩu Số, gồm đúng mười hai sao rải kín mười hai cung, mỗi cung nhận một sao. Vòng này đếm theo địa chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung trùng chi tuổi rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Khác vòng Bác Sĩ có chiều thuận nghịch theo âm dương nam nữ, khác vòng Tràng Sinh khởi theo Cục, vòng Thái Tuế chỉ có một chiều thuận và một tham số là chi năm sinh, nên nó đi theo tuổi và cả đời cố định, không đổi một cung nào.
Suy luận Nói vòng này chủ về cái gì bằng một câu thì đây là vòng của cái danh và cái tiếng ngoài xã hội. Vòng Bác Sĩ nói chuyện tiền nong và phận sự, vòng Tràng Sinh nói chuyện sinh trưởng suy tàn, còn vòng Thái Tuế nói chuyện người đời nhìn mình ra sao. Nhìn danh sách thì rõ: Quan Phù là giấy tờ công đường, Tang Môn Bạch Hổ là hiếu hỉ tang chế, Long Đức Phúc Đức là được che chở. Vòng này lại có bản lưu theo chi của năm đang xem, nên vừa là bản đồ cả đời vừa là bản đồ từng năm.
Thiếu Dương đứng ở vị trí thứ hai của vòng
Kinh văn Trong danh sách mười hai sao, Thiếu Dương ở vị trí thứ hai, ngay sau sao khởi vòng. Quan hệ vị trí của nó, tính bằng khoảng cách cố định nên đúng ở mọi tuổi:
- Đứng ngay trước: Thái Tuế, sao khởi vòng, đóng đúng cung trùng chi tuổi.
- Đứng ngay sau: Tang Môn, tức Tang Môn. Vậy Thiếu Dương luôn kẹp giữa cái uy và cái buồn.
- Ở cung xung chiếu: Long Đức, luôn cách sáu cung.
- Hai sao ở tam hợp: Tử Phù cách bốn cung, kèm Nguyệt Đức đồng cung; và Phúc Đức cách tám cung, kèm Thiên Đức đồng cung.
Suy luận Xếp lại thì tam phương tứ chính của Thiếu Dương là Long Đức xung chiếu, Tử Phù cùng Nguyệt Đức tam hợp, Phúc Đức cùng Thiên Đức tam hợp. Ba trong bốn góc là phúc tinh và đức tinh, chỉ một góc là bại tinh Tử Phù. Bảng dưới liệt kê đủ mười hai tuổi để quý vị tự kiểm.
| Tuổi chi | Thiếu Dương và Thiên Không | Long Đức xung chiếu | Tử Phù và Nguyệt Đức tam hợp | Phúc Đức và Thiên Đức tam hợp |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Sửu | Mùi | Tỵ | Dậu |
| Sửu | Dần | Thân | Ngọ | Tuất |
| Dần | Mão | Dậu | Mùi | Hợi |
| Mão | Thìn | Tuất | Thân | Tý |
| Thìn | Tỵ | Hợi | Dậu | Sửu |
| Tỵ | Ngọ | Tý | Tuất | Dần |
| Ngọ | Mùi | Sửu | Hợi | Mão |
| Mùi | Thân | Dần | Tý | Thìn |
| Thân | Dậu | Mão | Sửu | Tỵ |
| Dậu | Tuất | Thìn | Dần | Ngọ |
| Tuất | Hợi | Tỵ | Mão | Mùi |
| Hợi | Tý | Ngọ | Thìn | Thân |
Kinh nghiệm Đây là chỗ Thầy muốn quý vị nhớ nhất trong cả bài. Sách chỉ nói vắn tắt Thiếu Dương là cát tinh nhỏ chủ thông minh vui vẻ, giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ, mà không nói vì sao. Cấu trúc trả lời giúp: vì cung Thiếu Dương là cung duy nhất trong vòng có đủ bốn đức tinh chầu về. Cái khả năng giải tai nhỏ ấy không nằm ở bản thân Thiếu Dương, nó nằm ở tam phương tứ chính mà cấu trúc đã dọn sẵn. Nhưng cũng chính vì thế mà phải nói cho cân: ngay trong cung ấy luôn có Thiên Không ngồi cùng, một sao chủ hư hao và hụt hẫng. Cung Thiếu Dương do đó không phải cung toàn lành, mà là cung lành ở ngoài, rỗng ở trong: bên ngoài bốn đức tinh đỡ, bên trong có một khoảng trống. Đọc đúng như vậy thì mới hiểu vì sao người có Thiếu Dương thủ Mệnh thường vui vẻ dễ gần mà lại hay có cảm giác thiếu một cái gì không gọi tên được.
Thiếu Dương không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng vẫn chịu Tứ Hóa
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, tùy phái thêm Thiên Phủ. Thiếu Dương không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên tự nó không hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ. Sách không lập cách hóa riêng cho sao này và bài này không bịa thêm. Nhưng nó chịu Tứ Hóa qua chính tinh đồng cung:
- Hóa Khoa: Kinh văn sách chép Thiếu Dương gặp Hóa Khoa dù đồng cung hay xung chiếu thì kết thành bộ gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy. Đây là hóa hợp nhất với sao này, vì Khoa cùng chiều với bốn đức tinh trong tam phương.
- Hóa Lộc: cái vui nhỏ có chỗ đọng lại thành lợi thật, hợp nghề dịch vụ và nghề chăm sóc người.
- Hóa Quyền: Thiếu Dương vốn nhẹ, gặp Quyền thì được việc hơn nhưng cũng mất phần hòa nhã; nên đọc là người vui vẻ mà quyết đoán chứ đừng đọc thành uy quyền.
- Hóa Kỵ: thế đáng nói nhất, vì Hóa Kỵ cộng với Thiên Không đồng cung cho một cung vừa dính vừa rỗng. Suy luận Đọc thành: việc vui đến rồi hụt, người vui vẻ ở ngoài mà bên trong nặng, hoặc cái được trông thấy mà không cầm được. Ở cung ấy nên nhìn thêm cung xung chiếu có Long Đức không, vì Long Đức là chỗ đỡ cố định duy nhất còn lại.
Vì sao đọc Thiếu Dương thì phải đọc cả vòng
Kinh nghiệm Thiếu Dương là một sao nhẹ, nhẹ tới mức đọc riêng nó thì gần như không nói được gì. Nhưng vị trí của nó trong vòng lại nói rất nhiều: nó là cung nằm giữa Thái Tuế và Tang Môn, có bốn đức tinh chầu và có Thiên Không ngồi cùng. Chỉ cần biết tuổi chi là dựng được ngay cả cấu trúc ấy, trước khi tra tới chính tinh. Đọc một sao mà cắt nó khỏi vòng thì giống như đọc một chữ trong một câu.
6 Bốn Cung Hay Được Hỏi Nhất, Bản Rút Gọn
Thiếu Dương đóng ở cung nào thì thêm chút sáng sủa, vui vẻ và may mắn nhỏ cho lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Thiếu Dương |
|---|---|
| Mệnh | Tính tình vui vẻ, thông minh, hòa nhã, dễ gần. |
| Phúc Đức | Tinh thần lạc quan, có phúc nhỏ, gặp khó dễ qua. |
| Tật Ách | Giải được bệnh tật tai họa nhỏ, sức khỏe được che chở phần nào. |
| Phụ Mẫu | Quan hệ êm đẹp, được cha mẹ và người trên quý mến. |
7 Thiếu Dương An Tại 12 Cung Chức
Địa chi là địa chỉ của cung trên địa bàn, cung chức là vai trò của cung trong đời sống. Thiếu Dương bị khóa vào một địa chi theo tuổi, nhưng địa chi ấy rơi vào cung chức nào thì tùy nơi an Mệnh, nên sao này có thể xuất hiện ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới tách hai cảnh: khi cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi cung ấy bị sát tinh, Hóa Kỵ hoặc Tuần Triệt lấn át. Xin nhớ trong cả mười hai dòng, Thiên Không luôn ngồi cùng Thiếu Dương, nên cột bên phải không phải là chuyện hiếm gặp.
| Cung | Khi có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Khoa | Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt |
|---|---|---|
| Mệnh | Tính vui vẻ, hòa nhã, thông minh, dễ gần, gặp khó thì có người đỡ; hợp việc cần thiện cảm ngay từ lần gặp đầu. | Vui ở ngoài mà rỗng ở trong, hay cả nể, dễ bỏ dở việc vì thấy nhạt; cái duyên có mà không đọng thành kết quả. |
| Huynh Đệ | Anh chị em hòa thuận, có người tính nhẹ nhàng làm chất keo trong nhà, giúp nhau việc nhỏ mà đều đặn. | Tình anh em nhạt dần vì ai cũng ngại nói thẳng, giúp nhau bằng lời nhiều hơn bằng việc. |
| Phu Thê | Bạn đời tính sáng sủa dễ chịu, hôn nhân êm, cãi nhau xong làm lành nhanh. | Êm mà nhạt, hai người tránh va chạm nên cũng tránh luôn chuyện cần nói; cần chủ động hâm lại. |
| Tử Tức | Con cái sáng dạ, tính vui, ít quấy, ốm vặt thì mau khỏi; cha mẹ con cái dễ nói chuyện. | Con hay ốm vặt lặt vặt không rõ nguyên nhân, hoặc chuyện con cái đến muộn hơn mong đợi. |
| Tài Bạch | Tiền vào đều đặn từng khoản nhỏ, có lộc bất ngờ vừa phải, hợp nghề dịch vụ và nghề chăm sóc người. | Tiền đến rồi đi, khoản nào cũng nhỏ nên không tích được; đây là chỗ Thiên Không đồng cung nói rõ nhất. |
| Tật Ách | Kinh văn Sách nêu đích danh: giải trừ được bệnh tật và tai họa nhỏ, ốm thì nhẹ và mau lại người, hay gặp thầy đúng thuốc. | Sức khỏe không nặng nhưng lai rai, hay mệt không rõ lý do, cần chú ý giấc ngủ và thể lực nền. |
| Thiên Di | Ra ngoài được quý mến, đi đâu cũng có người giúp một tay, hợp nghề giao tiếp và đi lại. | Ra ngoài vui mà không được việc, quen nhiều mà không sâu, đi nhiều mà về tay không. |
| Nô Bộc | Bạn bè và cấp dưới dễ chịu, giúp mình những việc nhỏ đúng lúc, ít khi phản trắc. | Bạn bè đông mà nhạt, lúc cần thì không tìm được ai; nên chọn vài người mà giữ cho kỹ. |
| Quan Lộc | Công việc thuận hòa, đồng nghiệp quý, hợp nghề y tế, giáo dục, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, những việc lấy sự dễ chịu làm vốn. | Việc êm nhưng không lên, ở lâu một chỗ mà không có bước ngoặt; cần chủ động xin việc khó chứ đừng chờ giao. |
| Điền Trạch | Nhà cửa sáng sủa thoáng đãng, chỗ ở yên, hàng xóm dễ chịu. | Nhà cửa có mà không vững, hay phải chuyển, hoặc mua chỗ này lại thích chỗ khác. |
| Phúc Đức | Tinh thần lạc quan, biết vui với cái nhỏ, gặp khó dễ qua, ngủ ngon; đây là cung Thiếu Dương phát huy đúng nhất. | Lạc quan tới mức không chuẩn bị, hoặc vui bề nổi mà bên trong trống; nên có một việc để theo đuổi dài hơi. |
| Phụ Mẫu | Quan hệ với cha mẹ và bề trên êm đẹp, được quý mến, xin gì cũng dễ được gật đầu. | Bề trên chiều mà không dạy, hoặc quan hệ nhẹ nhàng nhưng ít chỗ dựa thật khi có việc lớn. |
Mẹo đọc bảng: một điểm sáng nhỏ thì phải hỏi nó soi vào đâu
Kinh nghiệm Bảng mười hai cung dễ bị đọc thành mười hai lời phán. Với Thiếu Dương, Thầy dạy học trò đọc theo một trục duy nhất: Thiếu Dương đóng cung nào thì lĩnh vực của cung ấy là chỗ đời mình nhẹ gánh nhất, và cũng là chỗ dễ bị bỏ lửng nhất. Nhẹ gánh vì bốn đức tinh chầu về; bỏ lửng vì Thiên Không ngồi cùng. Cùng một cung, ai biết dùng thì đó là chỗ mình đi qua đời một cách êm; ai không để ý thì đó là chỗ mình mãi không xong việc.
Suy luận Mẹo thứ hai: đừng đòi Thiếu Dương làm việc lớn. Nó là cát tinh nhỏ, sức của nó là giải tai nhỏ và thêm phần dễ chịu, chứ không dựng nổi một cách cục. Khi cung ấy có chính tinh miếu vượng thì Thiếu Dương làm đẹp thêm; khi cung ấy toàn sát tinh thì một mình Thiếu Dương không cứu nổi, phải trông vào Long Đức xung chiếu và hai cung tam hợp có Phúc Đức Thiên Đức. Mẹo thứ ba: cung nào có Thiếu Dương thì cung liền trước là Thái Tuế và cung liền sau là Tang Môn, nên khi đọc một dòng, hãy đọc luôn hai dòng của hai cung kề. Ba cung ấy là một mạch chuyện.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất vì hai khí trộn thẳng vào nhau, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn và mang tính hoàn cảnh, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Thiếu Dương phải nhớ thêm hai tầng: Thiên Không luôn ngồi cùng cung, và bốn đức tinh luôn chầu về tam phương tứ chính. Nghĩa là mọi sao khác tới đều rơi vào một cung đã có sẵn một khoảng trống bên trong và bốn lớp đỡ bên ngoài.
Thiếu Dương hợp khi gặp
- Thái Dương miếu vượng (đồng cung, khả dĩ ở nhiều tuổi vì Thiếu Dương đi đủ mười hai cung): Kinh văn sách chép gặp Thái Dương sáng sủa đồng cung thì càng rực rỡ tốt đẹp, ví như mặt trời thứ hai.
- Hóa Khoa (đồng cung hoặc xung chiếu, sách nêu cả hai thế): Kinh văn kết thành bộ gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy. Hóa hợp nhất với sao này.
- Long Đức (luôn xung chiếu ở mọi tuổi): chỗ đỡ cố định từ phía đối diện, đáng để tâm nhất khi cung Thiếu Dương gặp hung.
- Phúc Đức cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức (luôn tam hợp chiếu): ba đức tinh còn lại, làm nhẹ mọi mặt xấu, khiến tam phương của Thiếu Dương không bao giờ trơ trọi.
- Lộc Tồn (đồng cung ở sáu tuổi Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi): cái phanh quý nhất, làm cho vui nhỏ đọng lại thành của cải.
- Hồng Loan, Thiên Hỷ (đồng cung ở bốn tuổi tứ mộ Sửu, Thìn, Mùi, Tuất): hỷ khí cộng hưởng, cung ấy thành cung của tin vui và việc mừng.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): sao sáng làm nền, Thiếu Dương làm dịu, đây là thế đẹp mà rất thường gặp.
Thiếu Dương e ngại khi gặp
- Thiên Không (luôn đồng cung ở mọi tuổi theo thuật toán của trang): không né được. Đây là lý do cấu trúc khiến cái vui của Thiếu Dương hay hụt ở phút cuối; phải đọc kèm chứ không được bỏ qua.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): Kinh văn sách nêu đích danh, Tuần Triệt án ngữ thì giảm phần tốt đẹp. Với một cát tinh nhỏ thì bị chặn gần như là mất hẳn tác dụng.
- Nhiều sát tinh cùng cung (Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp): Kinh văn cát khí nhỏ bị lấn át. Một mình Thiếu Dương không đủ sức cân lại một cung nhiều sát.
- Kình Dương (đồng cung ở bốn tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân, Tân Dậu): niềm vui bị cắt ngang, việc đang thuận thì gãy.
- Đà La (đồng cung ở bốn tuổi Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi): việc vui đến chậm và dây dưa, hay lỡ nhịp.
- Tang Môn (luôn kề ngay sau ở mọi tuổi) và Thái Tuế (luôn kề ngay trước): thế giáp cố định. Giáp không mạnh bằng đồng cung, nhưng giải thích vì sao cái vui của sao này hiếm khi trọn vẹn: một bên là chuyện phải lên tiếng, một bên là việc buồn phải lo.
- Tử Phù (luôn tam hợp chiếu ở mọi tuổi): bại tinh duy nhất trong tam phương, lực nhẹ vì có Nguyệt Đức ngồi cùng nó, nhưng vẫn phải ghi cho đủ.
- Thiếu Âm (về mặt cấu trúc không bao giờ đồng cung, không xung, không tam hợp): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Hai sao luôn cách nhau đúng hai cung, nên mọi cách cục ghép Thiếu Dương Thiếu Âm thành một cặp trên lá số đều là ghép nhầm; chúng chỉ là một cặp về ý nghĩa âm dương.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Thiếu Dương còn thêm hai tầng cố định: Thiên Không luôn ngồi cùng cung, bốn đức tinh luôn chầu về tam phương tứ chính, còn Thiếu Âm thì vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính của nó. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
9 Thiếu Dương Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Thiếu Dương đứng yên. Nhưng cái khách hỏi lại là chuyện động: năm nay có tin vui không, giai đoạn này có dễ thở hơn không. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Thái Tuế.
Đại vận đi vào cung có Thiếu Dương
Suy luận Mười năm đại vận đóng vào cung có Thiếu Dương bản mệnh thường là mười năm dễ thở: việc lớn thì không, nhưng những việc nhỏ hay xuôi, ốm đau thì nhẹ, gặp khó thì có người đỡ tay. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, có Hóa Khoa, có Lộc Tồn thì đây là vận an và tích: không bùng nổ nhưng đủ để dựng nền, hợp để học thêm nghề, sinh con, mua nhà nhỏ, ổn định chỗ làm.
Kinh nghiệm Mặt còn lại: vì Thiên Không luôn ngồi cùng, đại vận này cũng hay là mười năm trôi qua mà nhìn lại không thấy dấu mốc nào. Thầy dặn khách ở vận này ba việc: tự đặt một mốc lớn mỗi hai năm; cái gì đã vui thì chốt lại bằng giấy tờ; đừng đổi việc chỉ vì thấy nhạt.
Thiếu Dương có bản lưu niên, vì nó thuộc vòng Thái Tuế
Kinh văn Trong bốn vòng phụ tinh, vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu theo năm xem, còn vòng Tràng Sinh thì không, vì vòng ấy khởi theo Cục chứ không theo can chi; các sao an theo tháng sinh và giờ sinh cũng không có bản lưu. Vòng Thái Tuế lưu được vì tham số của nó là địa chi, mà mỗi năm lại có một địa chi mới: lấy chi của năm đang xem đặt lưu Thái Tuế rồi an thuận đủ mười hai sao, nên lưu Thiếu Dương luôn ở cung cách chi năm xem một cung theo chiều thuận.
| Năm xem | Lưu Thái Tuế tại | Lưu Thiếu Dương tại | Tuổi có lưu Thiếu Dương về đúng cung Thiếu Dương bản mệnh |
|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Ngọ | Mùi | tuổi Ngọ |
| 2027 Đinh Mùi | Mùi | Thân | tuổi Mùi |
| 2028 Mậu Thân | Thân | Dậu | tuổi Thân |
| 2029 Kỷ Dậu | Dậu | Tuất | tuổi Dậu |
| 2030 Canh Tuất | Tuất | Hợi | tuổi Tuất |
| 2031 Tân Hợi | Hợi | Tý | tuổi Hợi |
| 2032 Nhâm Tý | Tý | Sửu | tuổi Tý |
| 2033 Quý Sửu | Sửu | Dần | tuổi Sửu |
Suy luận Cột cuối của bảng cho một quy tắc rất gọn: lưu Thiếu Dương về đúng cung Thiếu Dương bản mệnh khi năm xem có chi trùng chi năm sinh, tức đúng vào năm bản mệnh, mười hai năm một lần. Người tuổi Thìn thì năm Thìn là năm ấy. Năm đó cả vòng lưu chồng khít lên vòng bản mệnh nên mọi sao đều đậm nét hơn. Kinh nghiệm Trên lá số thật, đó thường là năm có một tin vui nhỏ mà đúng lúc: một lời mời, một khoản không tính trước, một chuyện sức khỏe tưởng nặng hóa nhẹ.
Các lưu sao khác chạm vào cung Thiếu Dương
- Lưu Hóa Khoa (theo can năm xem): rơi vào cung Thiếu Dương là thế đẹp nhất, đúng câu sách nói gia tăng phúc thọ cứu khốn phò nguy. Hợp thi cử, hợp chữa bệnh, hợp xin giúp đỡ.
- Lưu Lộc Tồn (theo can năm xem): năm cái vui nhỏ đọng lại thành tiền, hợp mở một việc nhỏ.
- Lưu Kình Dương, lưu Đà La: rơi vào cung Thiếu Dương thì cái êm bị cắt, việc đang thuận thì gãy giữa chừng; nên chốt sớm thay vì để dài.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ (cùng vòng): năm có việc hiếu hỉ, thăm nom bệnh tật phải lo; cái nhẹ của Thiếu Dương giúp việc ấy qua êm hơn nhưng không xóa được việc.
- Lưu Thiên Khốc, lưu Thiên Hư (theo chi năm xem): tâm trạng nặng, cộng với Thiên Không sẵn có thì năm ấy dễ thấy trống trải. Nên có người để nói chuyện và có việc để làm.
Kinh nghiệm Thầy vẫn nhắc: một năm không tốt vì một sao, cũng không xấu vì một sao. Cách làm đúng là xếp chồng ba tầng cung Mệnh, cung đại vận, cung lưu niên rồi đếm xem có bao nhiêu sao cùng chiều. Riêng với Thiếu Dương, đừng bao giờ kết luận một năm tốt chỉ vì lưu Thiếu Dương chạm vào cung ấy; sức của nó chỉ đủ làm nhẹ đi, không đủ để đổi chiều.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiếu Dương
Một: Thiếu Dương và Thiếu Âm không phải một cặp trên lá số
Suy luận Câu "Thiếu Dương đi cặp với Thiếu Âm, một dương một âm" đúng về mặt tên gọi và về mặt ý nghĩa, nhưng rất dễ khiến người đọc tưởng hai sao ấy đứng gần nhau hoặc chiếu nhau trên lá số. Chạy đủ mười hai tuổi thì thấy ngược lại: Thiếu Dương ở vị trí thứ hai của vòng, Thiếu Âm ở vị trí thứ tư, luôn cách nhau đúng hai cung, nên hai sao không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và cũng không bao giờ tam hợp chiếu. Giữa chúng luôn có Tang Môn chen vào. Vậy nên không có cái gọi là cách Thiếu Dương Thiếu Âm hội chiếu; ai luận như thế là đã an sai hoặc nhớ nhầm.
Hai: Thiếu Dương không phải Thái Dương thu nhỏ
Suy luận Hai cái tên gần nhau và cùng mang chữ dương, lại cùng hành Hỏa theo cách xếp của Tân Biên, nên nhiều người đọc lướt rồi luận Thiếu Dương như một Thái Dương nhỏ: chủ cha, chủ chồng, chủ công danh, chủ mắt. Không phải. Thái Dương là chính tinh, có bảng miếu vượng đắc hãm đủ mười hai cung, có Tứ Hóa, có cách cục mang tên riêng. Thiếu Dương là phụ tinh nhỏ thuộc vòng Thái Tuế, không hóa, không có cách cục riêng, và ý nghĩa mà sách gán cho nó chỉ gồm thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện và giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ. Khi hai sao đồng cung, sách nói Thiếu Dương làm Thái Dương thêm rực rỡ, tức nó là sao phụ họa chứ không phải sao chủ.
Ba: cát tinh nhỏ không có nghĩa là cung ấy lành
Kinh nghiệm Đây là hiểu lầm gây hại nhất trên thực tế. Thấy chữ cát tinh, nhiều người kết luận cung có Thiếu Dương là cung yên tâm được. Nhưng cấu trúc nói rõ: Thiên Không luôn ngồi cùng cung với Thiếu Dương, và hai cung kề luôn là Thái Tuế với Tang Môn. Cung ấy vì thế là cung lành ở ngoài mà rỗng ở trong, lại bị kẹp giữa chuyện lên tiếng và chuyện buồn. Cách đọc đúng là: Thiếu Dương làm nhẹ đi cái xấu đang có, chứ không tạo ra cái tốt mới, và tuyệt đối không cân lại được một cung nhiều sát tinh.
Bốn: giải trừ bệnh tật tai họa nhỏ là câu có giới hạn
Kinh văn Sách chép Thiếu Dương có khả năng giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Chữ nhỏ nằm ngay trong câu gốc, không phải do bài này thêm vào. Sách không nói Thiếu Dương giải được đại hạn, không nói nó cứu được cung Tật Ách nhiều sát tinh, và cũng không nói nó thay được việc đi khám. Kinh nghiệm Thầy luôn dặn: gặp Thiếu Dương ở cung Tật Ách thì đọc là người này ốm thường nhẹ và mau lại, chứ đừng đọc thành người này không bệnh. Một phụ tinh nhỏ không bao giờ là căn cứ để hoãn một việc phải làm với thầy thuốc.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiếu Dương Qua Ba Bước
Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh đã chọn: tuổi Bính Thìn, Tử Vi an tại Thân, Mệnh an tại Tỵ. Tuổi chi Thìn nên Thái Tuế đóng cung Thìn, Thiếu Dương đóng cung Tỵ cùng Thiên Không, rơi đúng cung Mệnh; cả vòng an thuận: Tang Môn Ngọ, Thiếu Âm Mùi, Quan Phù Thân, Tử Phù Dậu kèm Nguyệt Đức, Tuế Phá Tuất kèm Thiên Hư, Long Đức Hợi, Bạch Hổ Tý, Phúc Đức Sửu kèm Thiên Đức, Điếu Khách Dần, Trực Phù Mão. Lưới dưới đây chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao của vòng không vẽ trên lưới nên đã ghi vị trí bằng chữ ở trên.
Tử Vi tại Thân, Mệnh tại Tỵ
không phải người thật
tuổi Bính Thìn, Thiếu Dương tại Tỵ
Bước một: Thiếu Dương đứng ở đâu và đứng cùng ai
Thiếu Dương tại Tỵ, rơi đúng cung Mệnh, đồng cung với Thái Dương độc tọa, với Thiên Không và với Lộc Tồn. Ba điều chắc chắn ngay bước này. Một, đây đúng là thế mà sách gọi là gặp Thái Dương sáng sủa đồng cung thì càng rực rỡ, vì Thái Dương tại Tỵ là đất vượng. Hai, tuổi Bính Thìn là một trong sáu hoa giáp có Lộc Tồn đóng đúng cung Thiếu Dương, nên Kình Dương tại Ngọ và Đà La tại Thìn giáp lấy cung Mệnh. Ba, cũng vì Thìn là cung Thái Tuế và Ngọ là cung Tang Môn, nên cung Mệnh này bị giáp bởi Thái Tuế cùng Đà La một bên, Tang Môn cùng Kình Dương một bên, đúng thế giáp cố định của Thiếu Dương chồng lên thế giáp cố định của Lộc Tồn.
Còn Cô Thần thì sao. Tuổi Thìn thuộc nhóm Dần Mão Thìn nên Cô Thần an tại Tỵ, tức cũng ngay cung Mệnh, đúng quy luật Cô Thần đồng cung Thiếu Dương ở bốn tuổi tứ mộ. Cũng vì Thìn là tứ mộ nên Thiên Hỷ an tại Tỵ, tức cũng ngồi chung cung Mệnh. Vậy cung Mệnh này có một mặt trời vượng địa, một cát tinh nhỏ, một Lộc Tồn giữ của, mà bên trong lại có cả Thiên Không lẫn Cô Thần: sáng và ấm ở ngoài, một mình và trống ở trong.
Bước hai: hóa gì và bốn đức tinh ở đâu
Tuổi Bính nên Tứ Hóa là Thiên Đồng hóa Lộc tại Mão là cung Phu Thê, Thiên Cơ hóa Quyền tại Mùi là cung Phúc Đức, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ tại Tý là cung Tật Ách. Cung Mệnh không mang hóa nào, nên Thái Dương ở đây giữ nguyên chất sáng của nó, không bị Kỵ kéo. Hóa Kỵ rơi vào Tật Ách cùng Liêm Trinh và Thiên Tướng, lại đúng cung có Bạch Hổ, nên sức khỏe là chỗ phải để tâm nhất của lá số này, và cũng là chỗ mà câu sách về Thiếu Dương giải tai nhỏ có đất dùng.
Bốn đức tinh nằm đúng chỗ mà cấu trúc đã hẹn: Long Đức tại Hợi xung chiếu cung Mệnh, Phúc Đức cùng Thiên Đức tại Sửu và Tử Phù cùng Nguyệt Đức tại Dậu tam hợp chiếu. Sửu là cung Tài Bạch có Thiên Lương, Dậu là cung Quan Lộc có Thái Âm, Hợi là cung Thiên Di có Cự Môn. Nghĩa là ba góc tam phương tứ chính của Mệnh đều có đức tinh chầu về, đúng như bảng đã dựng ở mục vòng Thái Tuế.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Về chính tinh, cung Mệnh tại Tỵ có Thái Dương, tam hợp là Thái Âm ở Dậu và Thiên Lương ở Sửu, xung chiếu là Cự Môn ở Hợi. Vậy đây là bộ Nhật Nguyệt Cự Lương hội đủ, một trong những cấu trúc sáng sủa nhất mà Thái Dương độc tọa có thể có. Người này tính sáng, ưa lẽ phải, hợp nghề chữ nghĩa và nghề phải đứng trước người, lại thêm Thiếu Dương nên dễ gần và được quý mến ngay từ lần gặp đầu.
Điểm cần giữ nằm ở ba chỗ, và cả ba đều do cấu trúc mà ra: Thiên Không cùng Cô Thần ngay tại Mệnh nên hay có cảm giác thiếu một cái gì không gọi tên được, dù ngoài mặt vui; Kình Đà giáp Mệnh nên hai bên sườn là chỗ dễ va; và Hóa Kỵ tại Tật Ách cùng Bạch Hổ nên sức khỏe cần khám định kỳ chứ không trông vào chữ giải tai nhỏ. Lời khuyên cụ thể cho lá số kiểu này: có Lộc Tồn thì hãy tích thật, đặt mốc rõ ràng cho từng giai đoạn, và đừng để cái êm ru lấy mất mười năm.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Đổi chi năm từ Thìn sang Tuất, thành tuổi Bính Tuất: cả vòng Thái Tuế xoay đi sáu cung. Thiếu Dương và Thiên Không dời sang Hợi, tức rơi vào cung Thiên Di, còn cung Mệnh tại Tỵ nhận Long Đức. Cùng một bộ chính tinh Nhật Nguyệt Cự Lương, nhưng nay cái duyên dễ mến phát biểu ở bên ngoài: ra đường được quý, ở nhà thì lặng. Tuổi Tuất cũng là tứ mộ nên Thiên Hỷ đồng cung Thiếu Dương, cung Thiên Di thêm khí vui.
- Giữ chi Thìn, đổi can sang Nhâm, thành tuổi Nhâm Thìn: cả vòng Thái Tuế không đổi một cung nào, vì vòng này chỉ đếm theo chi; Thiếu Dương và Thiên Không vẫn ở Tỵ thủ Mệnh. Nhưng Tứ Hóa đổi thành Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Tả Phụ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ; Lộc Tồn về Hợi nên không còn ở Mệnh mà chuyển sang xung chiếu, Kình Dương về Tý và Đà La về Tuất, không còn giáp Mệnh. Cùng một cung Mệnh mà đọc khác hẳn: mất cái phanh giữ của, nhưng cũng thoát thế bị Kình Đà kẹp. Đây là ví dụ rõ nhất cho thấy vòng Thái Tuế cố định theo chi, còn sắc thái do can quyết định.
- Giữ nguyên tuổi Bính Thìn, đổi cung Mệnh từ Tỵ sang Sửu: Thiếu Dương vẫn ở cung Tỵ nhưng cung ấy không còn là Mệnh; cung Mệnh tại Sửu khi ấy có Phúc Đức và Thiên Đức. Người này không còn là người mang sẵn nét dễ mến trên mặt, mà là người được che chở từ bên trong, gặp việc thì có người đỡ. Mệnh rơi vào đâu là do tháng sinh và giờ sinh, nên đây là chỗ phải an lá số thật.
Muốn biết Thiếu Dương của chính mình đứng ở cung chức nào, đồng cung với ai và chịu hóa gì, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Thiếu Dương trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Thiếu Dương không phải sao cần hóa giải, nó vốn đã là sao đi hóa giải cho sao khác. Lời khuyên ở mục này vì thế không hướng vào việc trừ khử, mà hướng vào việc đừng để cái êm biến thành cái trôi, vì đó mới là rủi ro thật của người có sao này nổi bật.
Tự đặt mốc, vì vận này không tự đẩy mình đi
Suy luận Người có Thiếu Dương nổi bật ở Mệnh, Phúc Đức hoặc Quan Lộc thường sống dễ chịu, ít va chạm, được quý mến. Chính vì thế mà hay thiếu áp lực để đổi. Việc cụ thể nên làm: mỗi năm chọn đúng một việc khó và làm cho xong, dù là học một chứng chỉ, thi một kỳ, hoàn thành một sản phẩm. Một việc thôi, nhưng phải có ngày kết thúc và có bằng chứng. Đó là cách bù đúng chỗ mà Thiên Không đồng cung khoét vào.
Chốt lại bằng giấy tờ những gì đã vui
Kinh nghiệm Vì Thiên Không luôn ngồi cùng, người có Thiếu Dương đậm hay gặp cảnh việc đã gần xong thì hụt: lời hứa không thành văn bản, đơn hàng nói miệng, cơ hội được nhắc tới rồi thôi. Cách xử lý rất đời thường: cái gì đã thỏa thuận thì viết ra ngay trong ngày, dù chỉ là một tin nhắn xác nhận. Việc nhỏ ấy chuyển rất nhiều cái vui hụt thành cái vui thật.
Dùng đúng sức của một cát tinh nhỏ
Suy luận Đừng trông vào Thiếu Dương để giải một cung nhiều sát tinh, cũng đừng trông vào nó để yên tâm về sức khỏe. Sức của nó là làm nhẹ đi, không phải làm mất đi. Với cung Tật Ách có Thiếu Dương thì vẫn khám định kỳ; với đại vận có Thiếu Dương mà nhiều sát tinh thì vẫn phải đề phòng, chỉ khác là mọi việc thường có lối ra và thường có người đỡ. Ngược lại, hãy chủ động dùng nó ở chỗ nó mạnh: xin giúp đỡ. Người có Thiếu Dương nổi bật ngỏ lời thì rất dễ được gật đầu, đó là tài sản thật mà nhiều người không biết mình có.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Giữ chỗ làm việc có ánh sáng tự nhiên và mở cửa sổ mỗi ngày, vì Thiếu Dương là khí ấm cần được nuôi. Bàn làm việc nên có một chỗ ghi việc đang dở, để cái gì bỏ lửng thì nhìn thấy được. Trong nhà nên có một khu nhỏ trồng cây xanh sống lâu năm thay vì hoa cắt cành, vì nếp sống của người có sao này cần thêm phần bền chứ không cần thêm phần vui. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Kinh nghiệm Lời cuối của mục này: được người quý mến là một cái vốn, biến cái vốn ấy thành việc mới là cái tài. Thiếu Dương cho quý vị chỗ đứng dễ chịu trong lòng người khác; đi bao xa từ chỗ đứng ấy thì vẫn là chuyện của người cầm lá số.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiếu Dương Thiếu Âm: chủ sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện, có khả năng giải trừ những bệnh tật và tai họa nhỏ; gặp Thái Dương sáng sủa đồng cung thì càng rực rỡ tốt đẹp; gặp Hóa Khoa dù đồng cung hay xung chiếu thì gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy; Tuần Triệt án ngữ thì giảm phần tốt đẹp; nhiều sát tinh thì cát khí nhỏ bị lấn át. Phép an vòng Thái Tuế theo chi năm sinh, Thiếu Dương cách Thái Tuế một cung thuận chiều, cũng lấy theo sách này.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn): cách luận đại hạn và tiểu hạn, cơ sở cho phần lưu niên của bài.
- Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Đã chạy đối chiếu: vị trí Thiếu Dương theo đủ mười hai tuổi chi; thứ tự và khoảng cách cố định của mười hai sao trong vòng; quan hệ xung chiếu cố định với Long Đức và tam hợp cố định với Tử Phù, Phúc Đức; việc Thiên Không luôn đồng cung Thiếu Dương, Thiên Đức luôn đồng cung Phúc Đức, Nguyệt Đức luôn đồng cung Tử Phù, từ đó suy ra tam phương tứ chính của Thiếu Dương hội đủ bốn đức tinh; việc Thiếu Dương và Thiếu Âm luôn cách nhau hai cung nên không bao giờ vào tam phương tứ chính của nhau; các tuổi có Đào Hoa, Cô Thần, Hồng Loan, Thiên Hỷ đồng cung; quan hệ với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La chạy đủ sáu mươi hoa giáp; chính tinh có thể đồng cung, chạy đủ mười hai thế Tử Vi. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Về câu phú: hai bộ sách trên không lập câu phú riêng cho sao Thiếu Dương như vẫn lập cho chính tinh, nên bài này không dẫn phú, chỉ dẫn phần đặc tính.
Lưu ý về dị bản: vị trí sao Thiên Không có dị bản giữa các phái, và điều này ảnh hưởng trực tiếp tới bài viết. Thuật toán an sao của thayungkhiem.vn đặt Thiên Không tại cung cách chi năm sinh một cung theo chiều thuận, tức luôn đồng cung với Thiếu Dương, và bài này viết theo bảng ấy. Một số tài liệu khác đặt Thiên Không ở cung liền trước Thái Tuế, tức đồng cung Trực Phù; nếu quý vị dùng bảng ấy thì phần nói về Thiên Không trong bài không áp dụng, còn mọi phần khác vẫn đúng vì chúng chỉ dựa vào chính vòng Thái Tuế. Ngoài ra, Tứ Hóa tuổi Canh và tuổi Nhâm khác nhau giữa Nam phái và Bắc phái; trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiếu Dương
Thiếu Dương là một cát tinh nhỏ trong vòng Thái Tuế của Tử Vi Đẩu Số, đứng liền sau Thái Tuế. Sao này mang khí dương, chủ sự thông minh, vui vẻ, hòa nhã và khả năng hóa giải những bệnh tật, tai họa nhỏ.
Thiếu Dương được an cách Thái Tuế một cung theo chiều thuận. Vì cả vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh, biết vị trí Thái Tuế là suy ra được Thiếu Dương.
Thiếu Dương là cát tinh nhỏ, mang điềm lành. Tự nó không tạo đại cách, nhưng góp phần làm dịu cái xấu và thêm vui cho cung nó đóng, nhất là khi gặp Thái Dương sáng sủa hoặc Hóa Khoa.
Trong lưu niên, cung gặp Thiếu Dương thường có thêm chút may mắn, niềm vui hoặc tin tốt nhỏ trong năm. Đây là dấu hiệu lành nhẹ, cần nhìn cùng cả vòng Thái Tuế và bộ sao lưu niên.
Theo thuật toán an sao đang chạy trên thayungkhiem.vn thì có: Thiên Không cũng an tại cung cách chi năm sinh một cung theo chiều thuận, nên nó luôn đồng cung với Thiếu Dương ở cả mười hai tuổi, không có ngoại lệ. Vì vậy cung có Thiếu Dương là cung lành ở ngoài mà rỗng ở trong, phải đọc kèm chứ không được bỏ qua. Một số tài liệu khác đặt Thiên Không ở cung liền trước Thái Tuế, tức đồng cung Trực Phù; đó là dị bản giữa các phái, đã ghi rõ ở mục Nguồn.
Không. Thiếu Dương đứng vị trí thứ hai của vòng Thái Tuế, Thiếu Âm đứng vị trí thứ tư, nên hai sao luôn cách nhau đúng hai cung ở mọi tuổi, giữa chúng luôn có Tang Môn chen vào. Vì thế chúng không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và cũng không bao giờ tam hợp chiếu. Hai sao này là một cặp về ý nghĩa âm dương, không phải một cặp về vị trí.
Sách chép như vậy nhưng không nói lý do; cấu trúc an sao thì trả lời được. Vì Long Đức luôn xung chiếu, Phúc Đức cùng Thiên Đức luôn ở một cung tam hợp, Tử Phù cùng Nguyệt Đức ở cung tam hợp còn lại, nên tam phương tứ chính của Thiếu Dương gom đủ bốn đức tinh Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức. Trong cả vòng Thái Tuế không sao nào khác hội đủ như vậy. Nhưng chữ nhỏ nằm ngay trong câu gốc: sách chỉ nói giải bệnh tật và tai họa nhỏ, không nói giải đại hạn.
Thường là mười năm dễ thở: việc nhỏ hay xuôi, ốm đau thì nhẹ, gặp khó thì có người đỡ. Có chính tinh sáng, Hóa Khoa hoặc Lộc Tồn cùng cung thì là vận an và tích, hợp học nghề, sinh con, ổn định chỗ làm. Mặt còn lại là vì Thiên Không luôn ngồi cùng nên vận này dễ trôi qua mà không có dấu mốc nào; cách bù là tự đặt cho mình một việc khó mỗi năm và chốt mọi thỏa thuận bằng giấy tờ.