1 Sao Thái Dương Là Sao Gì

Trong Tử Vi Đẩu Số, Thái Dương là một trong những quý tinh quan trọng bậc nhất. Người xưa lấy hình ảnh mặt trời để gọi tên sao này. Mặt trời là nguồn sáng của muôn loài, soi rọi vạn vật, ban phát hơi ấm mà không đòi hỏi đáp đền, nên Thái Dương mang tính quang minh, nhiệt tình và bác ái.
Thái Dương thuộc chòm Trung thiên, gần với hệ Nam Đẩu, ngũ hành Dương Hỏa. Vì là mặt trời nên nó chủ về ban ngày, đối lại với Thái Âm là mặt trăng chủ ban đêm. Sao này chủ về quan lộc, công danh và sự quý hiển, tức là phần danh tiếng, địa vị và sự nghiệp ngoài xã hội của một người.
Về tượng nhân sự, Thái Dương đại diện cho người cha trong lá số của cả nam lẫn nữ. Với nữ mệnh, sao này còn tượng cho người chồng, và với cả hai phái nó liên quan tới con trai. Bởi vậy khi luận về quan hệ với cha, với chồng hay với con trai, người ta phải xét kỹ Thái Dương sáng hay tối. Thái Dương sáng thì những mối quan hệ ấy thuận hòa, được nâng đỡ, còn Thái Dương hãm thì dễ trục trặc, sớm xa cách hoặc lao tâm vì họ.
Một đặc điểm cốt lõi cần nhớ ngay từ đầu: Thái Dương là mặt trời, nên nó rất xem trọng giờ sinh và vị trí đóng. Người sinh ban ngày hợp với khí của Thái Dương thì thuận lý, sao càng thêm rực rỡ. Người sinh ban đêm, nhất là khi Thái Dương lại đóng vào nửa tối của vòng địa chi, thì như mặt trời đã lặn, ánh sáng yếu đi, công danh chậm phát và đời nhiều vất vả hơn. Đây là điểm phân biệt rất rõ giữa một lá Thái Dương đẹp và một lá Thái Dương kém.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Thái Dương thuộc chuỗi sao đi theo Tử Vi. Khi đã định được vị trí Tử Vi thì Thiên Cơ lùi một cung, Thái Dương lùi ba cung, Vũ Khúc lùi bốn, Thiên Đồng lùi năm, Liêm Trinh lùi tám. Vì cách an cứng như vậy nên có những điều về Thái Dương không bao giờ thay đổi, bất kể tuổi nào, giờ nào. Nắm được chúng thì đọc lá số nhanh hơn rất nhiều, vì có những thế sao không cần tra cũng biết chắc là không thể xảy ra.
Bốn điều bất biến của Thái Dương
- Luôn có Vũ Khúc ở cung liền trước. Thái Dương đóng cung nào thì Vũ Khúc đóng ngay cung trước nó (Thái Dương Ngọ thì Vũ Khúc Tỵ, Thái Dương Mão thì Vũ Khúc Dần). Vì thế Thái Dương luôn ở thế giáp một bên bởi Vũ Khúc, bên kia là một sao trong chuỗi Thiên Phủ.
- Tam phương tứ chính chỉ gặp Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương hoặc cung trống. Bốn sao này hợp với nhau thành bộ Nhật Nguyệt Cự Lương. Thái Dương không bao giờ có Tử Vi, Thiên Phủ, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Tướng, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh hay Thiên Cơ chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Ai nói "Thái Dương hội Sát Phá Tham" là đã an sai lá số.
- Đồng cung chỉ có ba khả năng. Thái Dương độc tọa tại Tý, Thìn, Tỵ, Ngọ, Tuất, Hợi; đi cặp với Thái Âm tại Sửu, Mùi; với Cự Môn tại Dần, Thân; với Thiên Lương tại Mão, Dậu. Không có cặp nào khác.
- Sáu vị trí độc tọa luôn bị Thái Âm hoặc Cự Môn hoặc Thiên Lương xung chiếu. Thái Dương Ngọ có Thiên Lương Tý đối diện, Thái Dương Tỵ có Cự Môn Hợi, Thái Dương Thìn có Thái Âm Tuất. Nghĩa là nói "Thái Dương cư Ngọ" là đã ngầm nói "Thiên Lương cư Tý chiếu về".
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.
| Thái Dương tại | Đồng cung | Tam hợp chiếu | Xung chiếu | Giáp hai bên |
|---|---|---|---|---|
| Tý | độc tọa | Cự Môn (Thìn) · trống (Thân) | Thiên Lương (Ngọ) | Vũ Phá (Hợi) · Thiên Phủ (Sửu) |
| Sửu | Thái Âm | Thiên Lương (Tỵ) · trống (Dậu) | trống (Mùi) | Vũ Phủ (Tý) · Tham Lang (Dần) |
| Dần | Cự Môn | trống (Ngọ) · trống (Tuất) | trống (Thân) | Vũ Tham (Sửu) · Thiên Tướng (Mão) |
| Mão | Thiên Lương | trống (Mùi) · Thái Âm (Hợi) | trống (Dậu) | Vũ Tướng (Dần) · Thất Sát (Thìn) |
| Thìn | độc tọa | trống (Thân) · Cự Môn (Tý) | Thái Âm (Tuất) | Vũ Sát (Mão) · trống (Tỵ) |
| Tỵ | độc tọa | Thái Âm (Dậu) · Thiên Lương (Sửu) | Cự Môn (Hợi) | Vũ Khúc (Thìn) · Phá Quân (Ngọ) |
| Ngọ | độc tọa | Cự Môn (Tuất) · trống (Dần) | Thiên Lương (Tý) | Vũ Phá (Tỵ) · Thiên Phủ (Mùi) |
| Mùi | Thái Âm | Thiên Lương (Hợi) · trống (Mão) | trống (Sửu) | Vũ Phủ (Ngọ) · Tham Lang (Thân) |
| Thân | Cự Môn | trống (Tý) · trống (Thìn) | trống (Dần) | Vũ Tham (Mùi) · Thiên Tướng (Dậu) |
| Dậu | Thiên Lương | trống (Sửu) · Thái Âm (Tỵ) | trống (Mão) | Vũ Tướng (Thân) · Thất Sát (Tuất) |
| Tuất | độc tọa | trống (Dần) · Cự Môn (Ngọ) | Thái Âm (Thìn) | Vũ Sát (Dậu) · trống (Hợi) |
| Hợi | độc tọa | Thái Âm (Mão) · Thiên Lương (Mùi) | Cự Môn (Tỵ) | Vũ Khúc (Tuất) · Phá Quân (Tý) |
Suy luận Từ bảng này rút ra một quy luật đọc rất tiện: Thái Dương độc tọa ở Tỵ và Hợi là hai vị trí "đủ bộ" nhất, vì tam phương có cả Thái Âm lẫn Thiên Lương, xung có Cự Môn, tức bốn sao của bộ Nhật Nguyệt Cự Lương cùng chầu về một lúc. Ngược lại Thái Dương ở Dần, Thân đi cặp Cự Môn thì tam phương tứ chính đều trống, cả cục diện dồn vào đúng một cung, nên cách Cự Nhật rất "đậm" mà cũng rất "đơn": sáng thì sáng hẳn, tối thì tối hẳn, không có sao nào bên ngoài cứu.
Kinh văn Vì Thái Dương chỉ hội với bộ Nhật Nguyệt Cự Lương, nên các cách cục của Thái Dương cũng chỉ xoay quanh bốn sao ấy: Nhật Nguyệt Tịnh Minh, Nhật Nguyệt Phản Bối, Cự Nhật, Dương Lương. Không có cách nào ghép Thái Dương với Sát Phá Tham, đó không phải thiếu sót của sách mà là hệ quả của cách an sao.
3 Đặc Tính Người Có Thái Dương Thủ Mệnh

Người có Thái Dương đóng ở cung Mệnh, khi sao miếu vượng, thường thông minh, nhân hậu, độ lượng và có khí chất sáng sủa. Tướng mạo dễ mến, dáng vẻ hoạt bát, ánh mắt có thần, nói năng cởi mở khiến người đối diện thấy ấm áp, gần gũi.
Về tính cách, họ hào phóng, thẳng thắn, trọng nghĩa khí, thích giúp người và ưa hoạt động. Họ không thích sự nhỏ nhặt, tính toán vụn vặt, mà hướng tới những việc lớn, việc chung. Vì thế người Thái Dương sáng hay được tin cậy, được giao trọng trách và dễ có công danh.
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, khi Thái Dương miếu vượng thì người tăng tài tiến lộc, uy quyền hiển hách, thông minh nhanh nhạy, làm việc gì cũng có khí thế. Mặt trái của sao này là tính hơi nóng nảy, bộc trực, đôi khi vì nhiệt tình quá mức mà ôm việc vào thân, lo cho người khác nhiều hơn lo cho mình. Họ có thể vất vả vì người, làm ơn mà chưa chắc được ghi nhận, đó là cái phận của mặt trời chiếu sáng cho thiên hạ.
Khi Thái Dương hãm địa, các đặc tính tốt bị suy giảm đáng kể. Người dễ kém phần thông minh sắc bén, hay nhầm lẫn, làm việc thiếu dứt khoát, uy quyền giảm sút. Cái nhiệt tình vẫn còn nhưng thường biến thành vất vả vô ích, lao tâm khổ tứ vì người khác mà bản thân lại chịu thiệt. Với những lá số như vậy, người luận phải xét thêm các cát tinh đi cùng và vận trình từng giai đoạn, không vội kết luận tốt xấu.
4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Thái Dương

Thái Dương là mặt trời, nên sức mạnh của nó thay đổi theo hành trình một ngày: mọc ở phương đông, lên cao tới đỉnh, rồi xế bóng và lặn về phương tây. Vòng địa chi cũng được hình dung như một ngày như thế.
Vì vậy Thái Dương sáng nhất ở Ngọ, lúc đứng giữa trời, gọi là Nhật Lệ Trung Thiên. Càng về phía Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, tức nửa tối, sao càng mờ và rơi vào hãm địa, sinh ban đêm thì càng bất lợi.
| Cung địa chi | Đồng cung | Theo Tân Biên | Theo Toàn Thư |
|---|---|---|---|
| Tý | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
| Sửu | Thái Âm | Đắc | (không nêu) |
| Dần | Cự Môn | Vượng | Vượng |
| Mão | Thiên Lương | Vượng | Miếu |
| Thìn | Đơn thủ | Vượng | Vượng |
| Tỵ | Đơn thủ | Miếu | Vượng |
| Ngọ | Đơn thủ | Miếu | Miếu |
| Mùi | Thái Âm | Đắc | (không nêu) |
| Thân | Cự Môn | Hãm | (không nêu) |
| Dậu | Thiên Lương | Hãm | (không nêu) |
| Tuất | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
| Hợi | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
Hai trường phái về miếu vượng
Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp: miếu tại Tỵ, Ngọ; vượng tại Dần, Mão, Thìn; đắc tại Sửu, Mùi; hãm tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục ghi: miếu tại Ngọ, Mão; vượng tại Dần, Thìn, Tỵ; hãm tại Tuất, Hợi, Tý, còn các cung Sửu, Mùi, Thân, Dậu thì Toàn Thư không liệt kê rõ, nên cột tương ứng ghi là không nêu. Hai phái thống nhất ở những điểm quan trọng nhất: Thái Dương miếu tại Ngọ và đều xếp Tuất, Hợi, Tý vào hãm địa. Điểm cốt lõi cần nắm: Thái Dương sáng nhất khi đứng giữa trời ở Ngọ, đây là cách Nhật Lệ Trung Thiên, và người sinh ban ngày thì thuận với khí của sao này.
Mẹo nhớ: hãy hình dung vòng địa chi như một ngày. Từ Dần tới Ngọ là mặt trời đang lên cao, sáng dần, nên đa phần vượng và miếu. Từ Thân trở đi là mặt trời đã ngả về tây rồi lặn, nên Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý đều mờ tối, dễ hãm. Riêng Ngọ là chính ngọ, mặt trời giữa đỉnh, sáng nhất.
5 Tứ Hóa Của Thái Dương Theo Tuổi Can
Miếu hãm là ánh sáng "trời cho" của mặt trời. Tứ Hóa là tấm áo mà tuổi can của người ấy khoác thêm lên mặt trời. Cùng một Thái Dương cư Ngọ, người tuổi Canh đọc khác người tuổi Giáp, vì một bên mặt trời đội thêm Lộc, bên kia mặt trời bị Kỵ che. Không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao.
| Tuổi can | Thái Dương hóa | Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ) |
|---|---|---|
| Canh | Hóa Lộc | Thái Dương · Vũ Khúc · Thiên Đồng · Thiên Tướng (Nam phái, bảng trang an lá số đang dùng). Bắc phái: Thái Dương · Vũ Khúc · Thái Âm · Thiên Đồng. |
| Tân | Hóa Quyền | Cự Môn · Thái Dương · Văn Khúc · Văn Xương. Hai phái thống nhất. |
| Giáp | Hóa Kỵ | Liêm Trinh · Phá Quân · Vũ Khúc · Thái Dương. Hai phái thống nhất. |
| Mậu | không hóa (dị bản: Hóa Khoa) | Tham Lang · Thái Âm · Hữu Bật · Thiên Cơ theo bảng trang này và cả hai phái Nam Bắc. Một số sách Việt xếp tuổi Mậu Thái Dương hóa Khoa thay cho Hữu Bật; bài này theo bảng an sao của thayungkhiem.vn. |
| Ất, Bính, Đinh, Kỷ, Nhâm, Quý | không hóa | Thái Dương giữ nguyên ánh sáng gốc theo miếu hãm; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của các sao chiếu về (xem phần phi hóa bên dưới). |
Thái Dương hóa Lộc (tuổi Canh)
Kinh văn Lộc là bổng lộc, là cái được. Mặt trời hóa Lộc thì công danh sinh ra của cải, làm việc gì cũng có người biết đến và được trả công xứng đáng. Thái Dương miếu vượng hóa Lộc là thế đẹp nhất trong mọi thế của sao này: danh và lợi đi cùng nhau, lại thêm lòng hào phóng nên tiền vào tay không giữ chặt mà vẫn dồi dào. Kinh nghiệm Thái Dương hãm địa hóa Lộc thì Lộc vẫn có nhưng là lộc lao lực: làm nhiều hưởng vừa phải, tiền đến nhờ chịu khó chứ không nhờ danh tiếng, và thường tiền ấy chảy sang người khác, cha, chồng, con trai, cấp dưới, nhiều hơn là ở lại với mình. Với nữ mệnh tuổi Canh, Thái Dương hóa Lộc hãm ở Phu Thê thường là chồng có lộc nhưng người vợ là người gánh.
Thái Dương hóa Quyền (tuổi Tân)
Kinh văn Quyền là quyền uy, là cái nắm được. Mặt trời hóa Quyền thì tính lãnh đạo trội hẳn, nói ra có người nghe, hợp vị trí đứng đầu, quản trị, cầm quân. Đáng chú ý là tuổi Tân có Cự Môn hóa Lộc cùng bộ, mà Cự Môn lại luôn nằm trong tam phương tứ chính của Thái Dương (mục 2), nên người tuổi Tân có Thái Dương thủ Mệnh gần như luôn được cặp Lộc Quyền chiếu nhau: rất hợp nghề dùng lời nói để tạo uy tín như giảng dạy, luật, ngoại giao, dẫn dắt đám đông. Kinh nghiệm Thái Dương miếu hóa Quyền ở Ngọ nếu không có Khoa hay Tả Hữu làm mềm thì dễ thành độc đoán, nóng và áp đặt, được việc nhưng mất người. Thái Dương hãm hóa Quyền thì quyền không ở tay mình mà là "gánh việc thay người có quyền".
Thái Dương hóa Kỵ (tuổi Giáp)
Kinh văn Kỵ là cái vướng, cái tối. Mặt trời hóa Kỵ là mặt trời bị mây che, sách nói thẳng: tổn mắt, hao danh, thị phi, trục trặc với cha hoặc chồng. Nhưng phải tách hai trường hợp. Thái Dương miếu vượng hóa Kỵ (tuổi Giáp, sao ở Tỵ, Ngọ, Thìn, Mão, Dần): mặt trời vẫn sáng, Kỵ chỉ là mây thoáng qua, biểu hiện là mắt dễ mỏi, hay bị nói xấu sau lưng dù mình quang minh, danh tiếng lên rồi có lúc bị kéo xuống rồi lại lên; sách gọi cái này là "sáng mà bị ghen". Thái Dương hãm địa hóa Kỵ (tuổi Giáp, sao ở Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý): đây mới là thế nặng thật, mặt trời đã lặn lại còn bị mây, cần xem kỹ cung Tật Ách về mắt và tim mạch, cung Phụ Mẫu về duyên với cha, và với nữ mệnh là cung Phu Thê. Kinh nghiệm Trong hai vị trí hãm, Thái Dương Kỵ tại Hợi và Tý (ban đêm thật sự) nặng hơn tại Thân và Dậu (chiều tà), vì ở Hợi và Tý còn bị Cự Môn hoặc Thiên Lương chiếu về nên thị phi và lo nghĩ chồng lên nhau.
Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)
Kinh nghiệm Thái Dương không hóa với tuổi mình vẫn có thể "ăn" Tứ Hóa của các sao chiếu về, vì tam phương tứ chính của nó luôn là Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:
- Tuổi Đinh, Cự Môn hóa Kỵ chiếu Thái Dương. Cự Môn nằm trong tam hợp hoặc xung chiếu của Thái Dương ở hầu hết vị trí (mục 2). Cự Kỵ chiếu vào mặt trời thì thị phi, miệng tiếng đến từ bên ngoài, không phải do mình gây ra; Thái Dương sáng thì chịu được, hãm thì rất mệt về lời ra tiếng vào.
- Tuổi Ất, Thái Âm hóa Kỵ chiếu Thái Dương. Mặt trăng tối chiếu vào mặt trời: nữ mệnh lo về mẹ hoặc về tiền bạc trong nhà, nam mệnh lo về vợ hoặc mẹ. Thái Dương và Thái Âm cùng hãm mà Âm lại Kỵ là thế Nhật Nguyệt cùng tối, phải xem cung Phúc Đức.
- Tuổi Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc chiếu Thái Dương. Đây là thế rất đẹp mà ít người để ý: Lương Lộc chiếu Nhật thành cái phúc được che chở và được tiếng thơm, hợp người làm nghề giúp người như y, giáo, tư vấn, pháp lý.
Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.
6 Thái Dương Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi

Cùng một sao Thái Dương nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, tùy theo sao đó đang ở vào lúc mặt trời mọc, đứng bóng hay đã lặn, và tùy sao đi kèm.
Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.
Thái Dương cư Ngọ (miếu, đẹp nhất)
Đây là vị trí lý tưởng nhất của Thái Dương, gọi là cách Nhật Lệ Trung Thiên, mặt trời đứng giữa trời. Ngọ là Hỏa địa, đồng khí với Dương Hỏa của Thái Dương nên uy quyền và ánh sáng lên tới đỉnh. Người có cách này thông minh, hào sảng, có khí chất lãnh đạo, công danh hiển đạt sớm. Nếu sinh ban ngày, lại hội Tả Phụ, Hữu Bật, Khôi Việt và bộ Khoa Quyền Lộc thì danh vọng rất lớn, dễ giữ trọng trách trong xã hội.
Thái Dương cư Tỵ (miếu theo Tân Biên)
Tỵ là lúc gần đứng bóng, mặt trời đã lên rất cao. Theo Tân Biên đây là miếu địa, theo Toàn Thư là vượng. Người có Thái Dương ở Tỵ đầy nhiệt huyết, năng động, có chí tiến thủ, hợp công danh sự nghiệp và những ngành cần sự xông xáo. Cần giữ tính nóng nảy, kẻo hăng quá mà hỏng việc.
Thái Dương cư Thìn (vượng)
Thìn là buổi sáng đẹp, mặt trời đang lên. Người trầm ổn hơn so với khi ở Tỵ Ngọ, vừa có sức sáng vừa có nền tảng vững. Hợp các ngành cần cả uy tín lẫn sự bền bỉ. Thái Dương ở Thìn thường có hậu vận tốt, càng về sau càng sáng.
Dương Lương đồng cung tại Mão và Dậu
Thái Dương gặp Thiên Lương tạo cách Dương Lương, còn gọi là Nhật Lương. Tại Mão, mặt trời mới mọc nơi phương đông nên tạo cách Nhật Xuất Phù Tang, rất đẹp cho công danh và học vấn thời trẻ, người thông tuệ, có phẩm cách, hợp nghề giáo dục, nghiên cứu, tư vấn, pháp luật. Toàn Thư còn xếp Thái Dương ở Mão là miếu. Ngược lại tại Dậu, mặt trời đã xế chiều, Thái Dương hãm, người tài giỏi nhưng vất vả, công danh chậm và dễ lao tâm, nên thiên về tu dưỡng và lấy hậu vận làm trọng.
Cự Nhật đồng cung tại Dần và Thân
Thái Dương gặp Cự Môn tạo cách Cự Nhật nổi tiếng. Tại Dần, Thái Dương vượng, mặt trời chiếu sáng làm tan cái ám của Cự Môn, đây là cách rất tốt, người có tài ăn nói, hùng biện, hợp các nghề dùng lời và danh tiếng như luật sư, ngoại giao, truyền thông, giảng dạy, kinh doanh quốc tế, dễ nổi danh nơi xa. Tại Thân, Thái Dương đã hãm, ánh sáng yếu nên cái thị phi khẩu thiệt của Cự Môn lộ ra nhiều hơn, người vẫn giỏi nhưng dễ vướng tranh cãi, miệng tiếng, cần giữ lời và tu dưỡng.
Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu và Mùi
Thái Dương gặp Thái Âm đóng chung một cung, mặt trời và mặt trăng cùng tọa, là thế rất đặc biệt. Tại Sửu và Mùi, Thái Dương ở mức đắc địa theo Tân Biên. Người có cách này tình cảm phong phú, vừa có cái cương của mặt trời vừa có cái nhu của mặt trăng, nội tâm dồi dào. Vì nhật nguyệt ở chung nên một sao sáng thì sao kia hơi mờ, tâm tính có phần mâu thuẫn, lúc nóng lúc lạnh. Nếu được cát tinh hội hợp và sinh đúng thời thì thành người đa tài, hài hòa được nhiều mặt.
Thái Dương cư Tý, Tuất, Hợi (hãm địa)
Đây là các vị trí mặt trời đã lặn, Thái Dương hãm theo cả hai phái. Người vẫn có thể thông minh, nhân hậu và giàu nhiệt tình, nhưng công danh chậm phát, hay vất vả vì người khác, làm nhiều mà hưởng ít, dễ trục trặc với người cha hoặc người chồng trong nữ mệnh. Sinh ban ngày sẽ đỡ hơn sinh ban đêm rất nhiều. Với những vị trí này nên sống thiên về hậu vận, lấy đức và sự bền bỉ làm gốc, đồng thời rất cần thêm cát tinh phù trợ để giải bớt cái tối.
Một câu để nhớ
Thái Dương ở Ngọ là mặt trời đứng giữa trời, sáng nhất. Ở Mão là mặt trời vừa mọc, hứa hẹn cả ngày. Cự Nhật ở Dần là mặt trời xua tan sương mù khẩu thiệt. Dương Lương là mặt trời soi đường cho người hiền. Còn Thái Dương ở Tuất, Hợi, Tý là mặt trời đã khuất bóng, ánh sáng phải tìm trong lòng người.
7 Thái Dương An Tại 12 Cung Chức

Thái Dương không chỉ có ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì rọi ánh sáng công danh, quý khí và nhiệt tình vào lĩnh vực đó của cuộc đời.
Đặc biệt, vì Thái Dương tượng cha và chồng nên khi nó đóng ở Phụ Mẫu hay Phu Thê, việc sao sáng hay tối càng có ý nghĩa quyết định.
| Cung | Thái Dương sáng | Thái Dương hãm | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Quang minh, hào sảng, có chí lãnh đạo, được tín nhiệm, công danh sớm. | Vẫn tốt bụng và nhiệt tình nhưng làm nhiều hưởng ít, hay nhầm lẫn, dễ vất vả vì người. | Sáng gặp Xương Khúc là người có danh về chữ nghĩa. Hãm gặp Kỵ, Đà là mắt kém sớm, đời nhiều bận tâm cho cha hoặc chồng. |
| Phụ Mẫu | Cha có địa vị, độ lượng, là chỗ dựa lớn; được thừa hưởng danh tiếng của cha. | Duyên với cha mỏng: cha vất vả, xa cách sớm, hoặc hai cha con khó gần nhau. | Thái Dương hãm hóa Kỵ tại Phụ Mẫu cộng lưu Tang Môn hay Bạch Hổ chạm tới là năm cần lo cho sức khỏe cha. Sáng gặp Khôi Việt là cha làm quan hay có học vị. |
| Phúc Đức | Phúc dày, tinh thần lạc quan, tổ tiên bên nội có danh, thích làm việc thiện. | Hay lo nghĩ cho người mà tâm mình chưa an, phúc phần bên nội mỏng. | Nhật ở Phúc mà Nguyệt ở Tài hay Điền cùng sáng là cả nhà thịnh cả danh lẫn của. Phúc có Thái Dương Kỵ thì đời hay tự trách mình. |
| Điền Trạch | Nhà cửa sáng sủa, hướng đẹp, dễ có bất động sản gắn với công việc, cơ quan. | Điền sản tốn công giữ, nhà thường ở nơi nhiều nắng gắt hay gần đường lớn ồn. | Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi ở Điền là cách Nhật Nguyệt Chiếu Bích, sách khen về nhà đất. Điền có Thái Dương Lộc là của cải nhờ danh mà có. |
| Quan Lộc | Vị trí Thái Dương thích nhất: sự nghiệp hiển đạt, hợp công vụ, lãnh đạo, giáo dục, truyền thông, ngành có danh. | Sự nghiệp nhiều thay đổi, làm công cho người, hoặc có chức mà không có thực quyền. | Quan có Thái Dương Quyền là nắm quyền thật. Quan có Thái Dương hãm gặp Không Kiếp là hay đổi nghề, danh đến rồi đi. |
| Nô Bộc | Bạn bè, cấp dưới nhiệt tình, hào hiệp; được người giúp việc trung thành, được bạn nam giới nâng đỡ. | Giúp người mà ít được đáp lại, cấp dưới hay làm mình mệt, dễ bị bạn lợi dụng lòng tốt. | Nô có Thái Dương hóa Kỵ là bị bạn nói xấu hoặc cấp dưới gây họa. Nô có Thái Dương Lộc thì nhân viên làm ra tiền cho mình. |
| Thiên Di | Ra ngoài được quý nhân nam giúp, dễ nổi danh nơi xa, hợp đi xa, xuất ngoại, ngoại giao. | Ra ngoài vất vả, đi xa mà chưa gặp thời, hay bận tâm việc người khác nơi đất khách. | Thiên Di có Thái Dương sáng gặp Thiên Mã là cách Nhật Mã, đi xa mà phát. Di có Nhật hãm gặp Kỵ thì ra đường dễ va chạm miệng tiếng. |
| Tật Ách | Thể chất nóng, sức khỏe nhìn chung tốt; điểm yếu vẫn là mắt và huyết áp. | Mắt kém, tim mạch, huyết áp, đau đầu, chứng do nhiệt; nữ mệnh chú ý chu kỳ. | Thái Dương gặp Hóa Kỵ tại Tật là mắt trước hết (cận, loạn, bệnh về giác mạc). Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh là huyết áp, tim mạch. Gặp Kình Dương là mắt do thương tích hoặc mổ. |
| Tài Bạch | Tiền vào theo danh: chức vụ, uy tín, quan hệ rộng sinh tiền; tiền minh bạch, không giấu được. | Kiếm tiền lao tâm, tiền đến từ việc lo cho người, thu nhập lên xuống theo thời của người khác. | Tài có Thái Dương Lộc là danh và lợi cùng về, nhưng vẫn phải có Lộc Tồn hay Vũ Khúc mới giữ được. Tài có Thái Dương hãm gặp Đại Tiểu Hao thì cho vay không đòi được. |
| Tử Tức | Hợp có con trai, con sáng sủa, có chí; con cái thành đạt và có hiếu. | Muộn con hoặc lo cho con nhiều, con trai hay xa nhà, phải chăm con mà con chưa hiểu mình. | Tử Tức có Thái Dương Kỵ cần xem kỹ chuyện thụ thai và sức khỏe con đầu. Tử có Nhật sáng gặp Thiên Hỷ, Long Phượng thì tin vui sinh con trai. |
| Phu Thê | Nữ mệnh: chồng có địa vị, độ lượng, hơn mình về tuổi hoặc về vai vế. Nam mệnh: vợ sáng sủa, tính mạnh, giỏi việc ngoài. | Nữ mệnh: chồng vất vả, duyên trắc trở, hoặc mình phải gánh phần chồng. Nam mệnh: vợ mạnh hơn mình, hay bất đồng. | Nữ mệnh Phu có Thái Dương hãm hóa Kỵ là thế cần luận kỹ về hôn nhân, không kết luận vội. Phu có Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi là vợ chồng một sáng một tối, tính khí bù nhau nhưng hay lệch pha. |
| Huynh Đệ | Anh em trai có địa vị, nhiệt tình, là chỗ dựa; anh em đông và hòa thuận. | Anh em thưa, mỗi người một phương, hoặc mình phải lo cho anh em mà ít được đáp lại. | Huynh có Thái Dương gặp Kình Đà là anh em bất hòa vì tiền hay danh. Huynh có Nhật sáng gặp Tả Hữu là anh em giúp nhau làm ăn. |
Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Thái Dương ở bất kỳ cung nào cũng kéo theo người cha, người chồng và con trai vào lĩnh vực của cung ấy. Thái Dương ở Tài Bạch thì tiền bạc dính tới cha hoặc chồng, ở Điền Trạch thì nhà đất dính tới bên nội, ở Nô Bộc thì bạn thân thường là nam giới lớn tuổi hơn. Đây là cách người luận có kinh nghiệm dùng Thái Dương để hỏi ngược khách, chứ không chỉ đọc xuôi.
8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Thái Dương

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về một chỗ, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.
Thái Dương là trung tâm của nhiều cách cục quý nổi tiếng, phần lớn gắn với việc mặt trời sáng hay tối và việc nó kết hợp với mặt trăng, với Cự Môn hay Thiên Lương.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai, vì đây là chỗ người mới hay mừng hụt: thấy Thái Dương ở Ngọ đã gọi là Nhật Lệ Trung Thiên trong khi người ấy sinh giờ Hợi và tuổi Giáp.
Nhật Lệ Trung Thiên (mặt trời giữa trời)
Kinh văn Thành cách: Thái Dương thủ Mệnh tại Ngọ. Đủ đẹp: sinh ban ngày (giờ Mão tới giờ Thân), tuổi Canh hoặc Tân để có Lộc hoặc Quyền, thêm Tả Hữu, Khôi Việt hoặc Xương Khúc chầu. Người hợp cách này công danh hiển hách, uy quyền lớn, đứng đầu một tổ chức. Phá cách: tuổi Giáp (Thái Dương hóa Kỵ ngay tại Mệnh), sinh giờ Hợi Tý Sửu, hoặc Tuần Triệt án ngữ cung Ngọ. Khi phá cách, người vẫn sáng nhưng "sáng cho người khác": làm phó, làm cố vấn, làm thầy chứ không làm chủ.
Nhật Xuất Phù Tang (mặt trời mọc ở phương đông)
Kinh văn Thành cách: Thái Dương thủ Mệnh tại Mão, đương nhiên đồng cung Thiên Lương (mục 2). Đủ đẹp: có Văn Xương và Lộc Tồn cùng chầu, sách gọi riêng là cách Dương Lương Xương Lộc, phú viết "Dương Lương Xương Lộc, lư truyền đệ nhất danh", là cách của người đỗ đầu, nổi danh về học vấn. Tuổi Ất có Lộc Tồn an tại Mão nên dễ thành cách nhất; tuổi khác có thể thay Lộc Tồn bằng Hóa Lộc chiếu về. Phá cách: Thái Dương hóa Kỵ (tuổi Giáp) hoặc gặp Không Kiếp, Hỏa Linh đồng cung, khi ấy tài hoa vẫn có mà danh đến muộn.
Nhật Nguyệt Tịnh Minh (mặt trời mặt trăng cùng sáng)
Kinh văn Thành cách: hai thế chính. Một là Mệnh an tại Sửu, Thái Dương ở Tỵ và Thái Âm ở Dậu cùng chiếu về (Nhật vượng, Nguyệt sáng ở Dậu). Hai là Mệnh an tại Mùi, Thái Dương ở Mão và Thái Âm ở Hợi cùng chiếu về. Cả hai đều là trường hợp Thái Dương độc tọa Tỵ hoặc đồng cung Thiên Lương tại Mão, đối chiếu đúng bảng cấu trúc ở mục 2. Người hợp cách được cả uy của cha lẫn phúc của mẹ, cả danh lẫn tài. Phá cách: chỉ cần một trong hai sao hóa Kỵ (tuổi Giáp hay tuổi Ất) là cách bị "một sáng một tối", hoặc Mệnh có Không Kiếp thủ.
Nhật Nguyệt Phản Bối (mặt trời mặt trăng quay lưng)
Kinh văn Thành cách (đây là cách xấu): Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở Thìn, hai sao xung chiếu nhau mà cùng hãm, mặt trời đã lặn còn mặt trăng chưa lên. Người có Mệnh ở Thìn hoặc Tuất rơi vào thế này cần hết sức chú ý về cha mẹ và về mắt. Kinh nghiệm Cách này đỡ được đáng kể khi có Tuần hoặc Triệt án tại cung có sao hãm (tối bị che thì thành đỡ tối), hoặc khi sinh vào giờ đúng với sao: sinh ban ngày cứu Thái Dương, sinh ban đêm cứu Thái Âm. Sách gọi là phản bối được giải.
Cự Nhật (Cự Môn Thái Dương)
Kinh văn Thành cách: Thái Dương đồng cung Cự Môn tại Dần hoặc Thân, hoặc Thái Dương thủ Mệnh mà Cự Môn ở tam phương chiếu về. Tại Dần là cách tốt, phú viết "Cự Nhật Dần cung, thực lộc trì danh": có tài ăn nói, hùng biện, nổi danh nhờ lời, hợp luật, ngoại giao, giảng dạy, kinh doanh với người nước ngoài. Tại Thân, Thái Dương đã yếu nên cái thị phi của Cự Môn lộ ra. Đủ đẹp nhất: tuổi Tân, Cự Môn hóa Lộc và Thái Dương hóa Quyền cùng lúc trong một cung, là thế Lộc Quyền đồng cung hiếm có. Phá cách: tuổi Đinh (Cự Môn hóa Kỵ đồng cung) là miệng tiếng theo sát, tuổi Giáp (Thái Dương Kỵ) là danh bị che.
Dương Lương (Thái Dương Thiên Lương)
Kinh văn Thành cách: Thái Dương đồng cung Thiên Lương tại Mão hoặc Dậu. Mão tốt, Dậu kém, như đã nói ở Nhật Xuất Phù Tang. Đây là cách của người hiền có danh, hợp y, giáo, luật, nghiên cứu, tôn giáo. Suy luận Thiên Lương là ấm tinh, mặt trời rọi vào cây lớn thì cây tỏa bóng cho người; nên cách này danh không phải là danh của người đứng đầu mà là danh của người được nhờ cậy. Tuổi Nhâm có Thiên Lương hóa Lộc là cách ăn lộc nhờ giúp người.
Cách hay cũng có mặt cần dè chừng
Thái Dương dù sáng đến đâu mà gặp Hóa Kỵ thì như mặt trời bị mây che, dễ tổn về mắt, hao danh, vướng thị phi. Thái Dương miếu vượng mà gặp Tuần, Triệt án ngữ thì ánh sáng bị chặn, cái quý khó phát trọn vẹn. Ngược lại, Thái Dương hãm địa nếu gặp Tuần, Triệt lại được đỡ xấu phần nào, vì cái tối vốn đã bất lợi nay bị che bớt đi. Bởi vậy luận Thái Dương phải xét cả thế sáng tối lẫn các sao án ngữ, không thể vội mừng hay vội lo.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Thái Dương sáng hay tối đã quyết định phần lớn, nhưng dàn sao vây quanh còn làm cho nó rạng thêm hoặc mờ đi đáng kể.
Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Thái Dương mừng được gặp và những sao Thái Dương e ngại.
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thái Dương là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Hóa Kỵ đồng cung là mây che ngay trên đầu; Hóa Kỵ tam hợp chiếu chỉ là mây ở chân trời.
Thái Dương rất thích gặp
- Thái Âm sáng (xung chiếu hoặc tam hợp): thành Nhật Nguyệt tịnh minh. Đồng cung tại Sửu Mùi thì hay nhưng không bằng chiếu nhau, vì một sao sáng thì sao kia mờ.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng tốt): thêm người phò tá, cách "Nhật Nguyệt tịnh minh tá cửu trùng".
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân nâng đỡ công danh, thi cử.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): danh về chữ nghĩa; tuổi Tân còn được Khúc hóa Khoa.
- Lộc Tồn (đồng cung): danh sinh lợi và giữ được lợi, nhất là ở Mão thành Dương Lương Xương Lộc.
- Thiên Mã (đồng cung, chỉ có tại Dần Thân Tỵ Hợi): cách Nhật Mã, đi xa mà phát danh.
Thái Dương e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): mặt trời bị mây che, tổn mắt, hao danh, thị phi. Kỵ tam hợp chiếu chỉ là điều tiếng thoáng qua.
- Đà La (đồng cung): ánh sáng bị ám, lòng phiền muộn, mắt kém; Kình Dương đồng cung là mắt do thương tích.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): danh đến rồi đi, làm nhiều mà không giữ được; giáp là thế xấu hơn chiếu.
- Thiên Riêu (đồng cung): mặt trời gặp sương, danh tiếng dính chuyện tình cảm.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): thêm nóng, hỏa khí quá vượng, cần xem Tật Ách.
- Hãm địa và sinh ban đêm: không phải sao mà là thế; hai điều kiện này cộng lại thì mọi cát tinh chỉ đỡ được một phần.
Nguyên tắc xuyên suốt rất dễ nhớ: Thái Dương là mặt trời, nó mừng những gì làm ánh sáng tỏa rộng và sợ những gì che khuất ánh sáng. Cát tinh phù trợ thì như trời quang mây tạnh, mặt trời chiếu khắp. Ám tinh và hung tinh thì như mây mù và nhật thực, ánh sáng bị chặn lại. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi: mặt trời này đang chiếu giữa trời quang hay đang bị mây che.
10 Thái Dương Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Thái Dương "tĩnh": nó nằm ở đâu, sáng hay tối. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Đây là chỗ Thái Dương "động", cũng là chỗ khách hay hỏi nhất: năm nay tôi có được thăng chức không, năm nay cha tôi thế nào.
Đại vận đi vào cung có Thái Dương
Kinh văn Đại vận đến cung Thái Dương miếu vượng là mười năm công danh: được cất nhắc, được người biết đến, việc làm gắn với tổ chức lớn, hoặc là giai đoạn cha, chồng phát đạt và mình được nhờ. Nếu cung ấy lại có Lộc hay Quyền theo tuổi thì đó thường là đại vận đỉnh của đời. Đại vận đến cung Thái Dương hãm là mười năm lao lực vì người: gánh việc cho cơ quan, chăm cha mẹ, lo cho chồng con; công việc có nhưng danh không tới, và cần giữ mắt. Kinh nghiệm Người có Mệnh vốn tối mà đại vận đi tới Thái Dương sáng thì phát muộn nhưng phát thật, đó là lý do sách hay khuyên người Thái Dương hãm "trọng hậu vận". Ngược lại Mệnh Thái Dương sáng mà đại vận rơi vào Thái Âm hãm là thời gian nên lui về giữ cái đang có.
Lưu niên: năm nào mặt trời đổi áo
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế mỗi mười năm, Thái Dương trong lá số của mọi người lần lượt đội Lộc, đội Quyền rồi bị Kỵ:
| Can năm | Thái Dương lưu hóa | Các năm gần đây và sắp tới | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Canh | Lưu Lộc | 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân | Năm thuận cho công danh, thăng chức, được ghi nhận; cung nào có Thái Dương thì lĩnh vực ấy có lộc trong năm. |
| Tân | Lưu Quyền | 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu | Năm được giao quyền, nhận trách nhiệm lớn; Thái Dương hãm thì là năm gánh việc thay người. |
| Giáp | Lưu Kỵ | 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần · 2044 Giáp Tý | Năm mặt trời bị mây: giữ mắt, giữ tiếng, để ý sức khỏe cha hoặc chồng; Thái Dương ở Quan thì công việc bị soi, ở Phụ Mẫu thì lo cho cha. |
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Thái Dương bản mệnh nằm ở cung nào, rồi hỏi năm nay Thái Dương lưu hóa gì. Thái Dương bản mệnh hóa Kỵ (tuổi Giáp) mà gặp năm Giáp lưu Kỵ nữa là Kỵ chồng Kỵ, là năm phải cẩn thận thật sự về mắt và về cha. Thái Dương bản mệnh hóa Lộc (tuổi Canh) gặp năm Canh lưu Lộc là Lộc chồng Lộc, thường là năm thăng tiến rõ rệt. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các sao lưu chạm vào cung Thái Dương
- Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Thái Dương: năm có việc dính tới công quyền, giấy tờ, danh phận; sáng thì được việc, hãm thì lôi thôi.
- Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Thái Dương hãm: năm cần xem mắt, và xem tai nạn liên quan đến cha hoặc chồng. Lưu Kình chạm Thái Dương tại Tật Ách là năm hay phải mổ mắt hoặc đau mắt.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Phụ Mẫu có Thái Dương hãm, nhất là trùng năm Giáp: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách để ý sức khỏe người cha trong năm, không kết luận tang nhưng phải đi khám.
- Kinh văn Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung Thái Dương sáng: năm thi cử, xét tuyển, phong tặng thuận lợi.
- Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Thái Dương sáng tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm đi xa mà có danh, hợp chuyển công tác, xuất ngoại.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Thái Dương

Nam mệnh Thái Dương khi sao sáng thì hào sảng, nghĩa khí, có chí lớn và khả năng đứng đầu. Họ thẳng thắn, nhiệt tình, thích giúp người, dễ được tín nhiệm và có công danh.
Điều cần giữ là tính nóng nảy và thói ôm việc, lo cho thiên hạ quá mức mà quên thân, dễ vất vả vô ích nếu không biết chọn việc và chọn người.
Nữ mệnh Thái Dương thường mạnh mẽ, độc lập, có chí tiến thủ và năng lực không thua nam giới, nếu sao sáng thì là người phụ nữ có sự nghiệp, được kính trọng. Tuy nhiên Thái Dương với nữ mệnh còn tượng cho người chồng, nên sao sáng thì chồng có địa vị, độ lượng, hôn nhân thuận; còn sao hãm thì duyên chồng dễ trắc trở, chồng vất vả hoặc tình cảm long đong, người nữ nhiều khi phải gánh vác thay phần chồng. Với nữ mệnh Thái Dương, hiểu rõ thế sáng tối của sao để chủ động vun đắp gia đạo và biết khi nào cần buông bớt gánh nặng là điều rất quan trọng.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thái Dương
Một sao càng nổi tiếng càng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Thái Dương không chủ về gì, để người đọc khỏi mừng hụt hay lo oan.
Thái Dương trong Tử Vi không phải sao Thái Dương trong cúng sao giải hạn
Kinh văn Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất. "Năm nay sao Thái Dương chiếu mệnh" mà người ta nói khi cúng sao đầu năm là sao Thái Dương trong hệ Cửu Diệu (La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức), an theo tuổi mụ và giới tính, mỗi năm đổi một sao. Sao Thái Dương trong Tử Vi Đẩu Số là chính tinh an theo tháng và giờ sinh, nằm cố định trong lá số suốt đời. Hai hệ không liên quan gì nhau: người có Thái Dương Tử Vi hãm địa vẫn có thể gặp năm Thái Dương Cửu Diệu chiếu mệnh tốt, và ngược lại. Muốn tra sao hạn từng năm thì dùng công cụ sao hạn, không phải bài này.
Thái Dương hãm không đồng nghĩa với nghèo hay bất tài
Kinh văn Sách nói Thái Dương hãm thì "vất vả vì người, uy quyền giảm", không nói nghèo. Thái Dương không phải tài tinh; tiền bạc trong lá số do Tài Bạch, Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ quyết định nhiều hơn. Kinh nghiệm Thầy gặp rất nhiều lá Thái Dương hãm mà giàu, họ chỉ không có danh, hoặc có danh mà danh thuộc về người khác. Nhầm "hãm" thành "nghèo" là lỗi hay gặp nhất khi người mới đọc lá số cho chính mình.
Sinh ban đêm không làm Thái Dương "vô dụng"
Kinh văn Sách chỉ nói sinh ban ngày thì thuận lý cho Thái Dương, tức là thêm điểm, chứ không nói sinh ban đêm thì mất Thái Dương. Thái Dương miếu tại Ngọ mà sinh giờ Hợi vẫn là Thái Dương miếu, chỉ bớt rực rỡ một bậc; người sinh đêm mà Thái Dương sáng vẫn có công danh, có điều danh thường đến muộn hơn và thường qua đường học vấn hơn là đường quan trường.
Thái Dương hóa Kỵ không mặc định là bệnh mắt
Kinh văn Sách ghi Thái Dương chủ mắt và Thái Dương Kỵ thì "tổn mắt", nhưng đó là khi Kỵ ấy rơi vào cung Tật Ách hoặc cung Mệnh với sao hãm. Thái Dương Kỵ tại Quan Lộc chủ yếu là chuyện công việc bị soi, tại Nô Bộc là bị bạn nói xấu. Suy luận Đọc bệnh phải đọc ở Tật Ách, đọc từ cung Mệnh sang chỉ được phép suy ra khuynh hướng, không được phán bệnh.
Thái Dương không "khắc cha" như nhiều người sợ
Kinh văn Thái Dương tượng cha, sao hãm thì duyên với cha mỏng: xa cách, ít gần gũi, cha vất vả. Sách không dùng chữ khắc. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thái Dương hãm ở Phụ Mẫu hay gặp nhất là cha đi làm xa, hoặc hai cha con thương nhau mà không nói được với nhau, chứ không phải điều gì đáng sợ. Chỉ khi Thái Dương hãm hóa Kỵ, thêm Kình Đà hay Tang Hổ, và có lưu niên chạm tới mới cần đặt vấn đề sức khỏe của cha, và cũng chỉ để đi khám sớm.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Thái Dương Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Dậu (nên Thái Dương rơi vào Ngọ đúng như quy tắc lùi ba cung), Mệnh an tại Ngọ, tuổi Canh, sinh ban ngày. Chính tinh và Tứ Hóa lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn.
hội Cự Môn, chiếu Thiên Lương
Tử Vi tại Dậu, Mệnh tại Ngọ
không phải người thật
Bước một: sáng hay tối
Thái Dương độc tọa tại Ngọ, miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư, lại sinh ban ngày. Đây là Nhật Lệ Trung Thiên thành cách. Ngay bước này đã biết người có khí chất sáng, hợp đứng đầu, và cha là người có vai vế.
Bước hai: hóa gì
Tuổi Canh nên Thái Dương hóa Lộc ngay tại Mệnh: danh sinh lợi, làm việc có người biết đến và được trả công. Cả bộ Tứ Hóa tuổi Canh rải ra như sau: Vũ Khúc hóa Quyền ở Huynh Đệ (anh em hoặc cộng sự nắm tiền và có thực quyền), Thiên Đồng hóa Khoa ở Phu Thê (người bạn đời hiền, có học), Thiên Tướng hóa Kỵ ở Nô Bộc (điểm cần giữ: cấp dưới hoặc bạn bè là chỗ dễ vướng, chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh). Lộc Tồn tuổi Canh an tại Thân, rơi vào Phúc Đức cùng Cơ Âm: phúc bên nội dày và tiền có chỗ tích.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Thái Dương Ngọ có Cự Môn tại Tuất (cung Quan Lộc) hợp chiếu, Thiên Lương tại Tý (cung Thiên Di) xung chiếu, cung Dần trống nên mượn Thiên Di. Vậy tam phương của Mệnh là Nhật, Cự, Lương: bộ ba của người làm nghề dùng lời nói và uy tín, và Cự Môn nằm ở Quan Lộc thì nghề ấy là nghề chính chứ không phải nghề tay trái. Cung Mệnh bị giáp bởi Vũ Phá (Tỵ) và Phủ Đà (Mùi): một bên là thế phá cũ lập mới, một bên là kho lẫm nhưng có Đà La trì kéo, nên đường lên có nhưng không thẳng tắp.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Tân: Thái Dương hóa Quyền tại Mệnh, Cự Môn hóa Lộc tại Quan Lộc chiếu về. Người này không chỉ có danh mà nắm quyền thật, nghề nói năng sinh ra tiền; nhưng cần Thiên Đồng hay Tả Hữu làm mềm kẻo độc đoán.
- Đổi sang tuổi Giáp: Thái Dương hóa Kỵ tại Mệnh dù đang miếu. Mặt trời giữa trời bị mây: người vẫn sáng nhưng "sáng mà bị ghen", hay bị nói sau lưng, mắt mỏi sớm, và Nhật Lệ Trung Thiên coi như phá cách, làm phó tốt hơn làm trưởng.
- Đổi sang tuổi Đinh: Thái Dương không hóa, nhưng Cự Môn ở Quan Lộc hóa Kỵ chiếu về Mệnh. Công việc chính là nơi sinh thị phi; người sáng nên chịu được, nhưng nên chọn nghề ít phải tranh cãi.
Đó là lý do bài này nói "không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao". Muốn thấy Thái Dương của chính mình đứng ở đâu và hóa gì, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Thái Dương trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu hãm và Tứ Hóa của riêng quý vị.
14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Thái Dương vốn là sao tốt, nên việc cần làm không phải là lo sợ, mà là biết phát huy cái quang minh, bác ái và tiết chế cái nóng nảy, ôm đồm.
Với người có Thái Dương hãm, hướng giải không phải trấn yểm, mà là sống đúng cách để cái tối dần được bù lại bằng đức và sự bền bỉ.
- Cho đi nhưng biết giữ lại cho mình. Người Thái Dương dễ lo cho thiên hạ mà quên thân. Giúp người là tốt, nhưng phải biết chọn việc và chừa lại sức cho chính mình, kẻo vất vả vô ích.
- Tiết chế nóng nảy. Cái nhiệt tình của mặt trời đôi khi hóa nóng vội. Tập kiên nhẫn, nghĩ trước nói sau, sẽ giữ được nhiều cơ hội và bớt va chạm.
- Người có Thái Dương hãm nên trọng hậu vận. Mặt trời đã lặn thì đừng nóng lòng tỏa sáng ngay, hãy bền bỉ tích đức, nuôi quan hệ tốt, công danh sẽ phát muộn mà chắc.
- Giữ gìn đôi mắt. Thái Dương chủ về mắt, nhất là khi gặp Hóa Kỵ hay hãm địa. Tránh thức khuya, dùng mắt điều độ và khám định kỳ là việc rất nên làm.
- Xem kỹ cả lá số trước khi mừng hay lo. Thái Dương sáng tối còn tùy giờ sinh, sao đi cùng, đại vận lưu niên. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp cho thấu đáo.
Về phong thủy bổ trợ: người có Thái Dương nổi bật vốn hợp khí Hỏa, hợp ánh sáng và không gian thoáng đãng, nhiều nắng. Có thể ưu tiên nhà hướng đón sáng, dùng gam ấm như đỏ, cam, vàng làm điểm nhấn vừa phải. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần đặc tính các sao, mục Thái Dương: thuộc Dương Hỏa, chủ quan lộc và công danh, tượng mặt trời, đại diện cha và chồng trong nữ mệnh; miếu tại Tỵ, Ngọ; vượng tại Dần, Mão, Thìn; đắc tại Sửu, Mùi; hãm tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý. Khi miếu vượng thì thông minh, tăng tài tiến lộc, uy quyền hiển hách; khi hãm thì kém thông minh, hay nhầm lẫn, giảm uy quyền, vất vả vì người khác; sinh ban ngày thì thuận lý. Phần Tứ Hóa và các cách Nhật Nguyệt Tịnh Minh, Nhật Nguyệt Phản Bối, Cự Nhật, Dương Lương Xương Lộc lấy từ phần cách cục của cùng sách.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Thái Dương: miếu tại Ngọ, Mão; vượng tại Dần, Thìn, Tỵ; hãm tại Tuất, Hợi, Tý; các cung Sửu, Mùi, Thân, Dậu Toàn Thư không liệt kê rõ. Thái Dương chủ quý hiển, công danh, sợ nhất Hóa Kỵ và hãm địa. Các câu phú "Dương Lương Xương Lộc, lư truyền đệ nhất danh" và "Cự Nhật Dần cung, thực lộc trì danh" dẫn theo bản dịch này.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp) được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số; bảng Tứ Hóa ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), có ghi chỗ Bắc phái khác. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: hai bộ sách xếp miếu vượng của Thái Dương có chỗ khác nhau, nhất là ở Mão (Toàn Thư là miếu, Tân Biên là vượng), ở Tỵ (Tân Biên là miếu, Toàn Thư là vượng), cùng các cung Sửu, Mùi, Thân, Dậu mà Toàn Thư không nêu rõ. Tứ Hóa tuổi Canh và tuổi Nhâm cũng khác giữa Nam phái và Bắc phái, và một số sách Việt xếp tuổi Mậu Thái Dương hóa Khoa. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thái Dương
Thái Dương là quý tinh thuộc chòm Trung thiên trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Dương Hỏa, chủ về quan lộc, công danh và sự quý hiển. Sao này tượng cho mặt trời, đại diện cho người cha trong lá số, và với nữ mệnh còn đại diện cho người chồng. Người có Thái Dương sáng thường thông minh, nhân hậu, nhiệt tình, bác ái và ưa hoạt động.
Thái Dương miếu địa tại Ngọ là vị trí sáng nhất, gọi là cách Nhật Lệ Trung Thiên, mặt trời đứng giữa trời. Đây là lúc đế tinh của ban ngày rực rỡ nhất, chủ công danh hiển hách, uy quyền lớn. Ngoài ra Thái Dương ở Mão tạo cách Nhật Xuất Phù Tang, mặt trời mọc ở phương đông, cũng rất tốt cho công danh thời trẻ.
Thái Dương là mặt trời nên rất xem trọng giờ sinh. Người sinh ban ngày hợp lý với khí của Thái Dương, sao sáng thì càng thêm rực rỡ, công danh thuận lợi. Người sinh ban đêm thì mặt trời không đúng thời, nhất là khi Thái Dương lại đóng hãm địa, dễ vất vả, lao tâm vì người khác, công danh chậm phát.
Đó là cách Thái Dương và Thái Âm cùng sáng và cùng chiếu về Mệnh, nhật nguyệt cùng tỏa rạng. Người hợp cách này được cả uy của mặt trời lẫn phúc của mặt trăng, công danh và tài lộc đều thịnh, lại được cả cha lẫn mẹ, cả nam lẫn nữ quý nhân nâng đỡ, là cách rất quý trong Đẩu Số.
Thái Dương hãm địa, tức đóng tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi hay Tý, ví như mặt trời đã lặn, ánh sáng yếu đi. Người có Thái Dương hãm thường kém phần rực rỡ, hay nhầm lẫn, uy quyền giảm, vất vả vì lo cho người khác mà ít được ghi nhận, dễ trục trặc với người cha hoặc người chồng. Cần thêm cát tinh phù trợ và sống thiên về hậu vận, lấy đức và sự bền bỉ để bù lại.
Theo bảng Tứ Hóa mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng: tuổi Canh Thái Dương hóa Lộc, tuổi Tân hóa Quyền, tuổi Giáp hóa Kỵ. Các tuổi còn lại Thái Dương không hóa, giữ ánh sáng gốc theo miếu hãm và chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương chiếu về. Một số sách Việt xếp tuổi Mậu Thái Dương hóa Khoa, đó là dị bản.
Không. Sao Thái Dương chiếu mệnh trong cúng sao đầu năm thuộc hệ Cửu Diệu, an theo tuổi mụ và giới tính, mỗi năm đổi một sao. Sao Thái Dương trong Tử Vi Đẩu Số là chính tinh an theo tháng và giờ sinh, nằm cố định trong lá số suốt đời. Hai hệ không liên quan nhau.
Năm có can Giáp thì Thái Dương lưu hóa Kỵ, gần đây là 2024 Giáp Thìn, sắp tới là 2034 Giáp Dần. Năm ấy nên giữ mắt, giữ tiếng và để ý sức khỏe người cha hoặc người chồng, nhất là khi Thái Dương bản mệnh cũng đã hóa Kỵ vì tuổi Giáp, gọi là Kỵ chồng Kỵ. Ngược lại năm can Canh Thái Dương lưu hóa Lộc, năm can Tân lưu hóa Quyền, là những năm thuận cho công danh.
Do cách an sao, tam phương tứ chính của Thái Dương chỉ có thể gặp Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương hoặc cung trống, hợp thành bộ Nhật Nguyệt Cự Lương. Thái Dương không bao giờ có Tử Vi, Thiên Phủ, Sát Phá Tham, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh hay Thiên Cơ chiếu về. Ngoài ra Vũ Khúc luôn nằm ở cung liền trước Thái Dương.