1 Sao Cự Môn Là Sao Gì

Trong Tử Vi Đẩu Số, Cự Môn là một trong các chính tinh quan trọng thuộc chòm Bắc Đẩu. Tên gọi Cự Môn nghĩa là cánh cửa lớn, ngụ ý đây là cửa khẩu để mọi lời nói đi ra. Bởi vậy Cự Môn chủ về ngôn ngữ, miệng lưỡi, khẩu thiệt, và đi liền với nó là thị phi tranh luận.
Cự Môn thuộc hành Thủy, mang tính âm, trong một số luận giải còn pha thêm chút khí Kim. Thủy chủ trí, chủ sự lưu chuyển, nên người có sao này thường sắc sảo, biết ăn nói, có óc phân tích và phản biện nhanh nhạy.
Điểm đặc biệt nhất của Cự Môn là nó được xếp vào hàng ám tinh. Chữ ám ở đây không phải là tối tăm xấu xa, mà chỉ tính chất ngầm ẩn, hay che giấu, hay sinh nghi ngờ và dễ nói ra điều khiến người khác phật lòng. Cùng một câu nói, qua miệng Cự Môn có thể trở nên sắc bén tới mức làm tổn thương, mà người nói đôi khi không hề cố ý. Vì thế từ xưa các sách đã nhấn mạnh rằng Cự Môn vừa là sao của tài hùng biện, vừa là sao của tai vạ do lời nói.
Chính vì bản chất hai mặt đó, luận về Cự Môn phải đặc biệt chú ý tới việc sao này đắc cách hay hãm địa, và có sao nào soi sáng cho nó hay không. Khi đắc cách, nhất là khi gặp Thái Dương miếu vượng hoặc được Hóa Lộc, Hóa Quyền, lời nói của Cự Môn biến thành quyền uy và tài lộc. Khi hãm địa và gặp hung tinh, lời nói lại biến thành mầm mống của kiện cáo, hiểu lầm và tai họa.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Cự Môn thuộc chuỗi sao đi theo Thiên Phủ, không đi theo Tử Vi. Khi đã định được vị trí Thiên Phủ thì Thái Âm tiến một cung, Tham Lang tiến hai, Cự Môn tiến ba, Thiên Tướng tiến bốn, Thiên Lương tiến năm, Thất Sát tiến sáu, rồi cách ba cung trống mới tới Phá Quân. Còn Thiên Phủ và Tử Vi luôn đối xứng nhau qua trục Dần Thân, nên vị trí Cự Môn cũng suy ra được từ vị trí Tử Vi: Tử Vi ở Sửu thì Cự Môn ở Ngọ, Tử Vi ở Mùi thì Cự Môn ở Tý. Vì cách an cứng như vậy nên có những điều về Cự Môn không bao giờ thay đổi, dù người tuổi gì, sinh giờ nào. Biết trước những điều ấy, người đọc lá số tiết kiệm được rất nhiều công tra cứu, và nhận ra ngay một lá số an sai khi thấy thế sao "không thể có".
Bốn điều bất biến của Cự Môn
- Luôn bị kẹp giữa Tham Lang và Thiên Tướng. Cự Môn đóng cung nào thì Tham Lang ở ngay cung liền trước, Thiên Tướng ở ngay cung liền sau, không có ngoại lệ. Cửa lớn luôn có dục vọng đứng bên này và ấn tín đứng bên kia. Tùy vị trí, Tham Lang có thể đi cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc hoặc Tử Vi, và Thiên Tướng có thể đi cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc hoặc Tử Vi, nên thế giáp của Cự Môn đổi sắc theo từng cung, nhưng hai sao nòng cốt thì cố định.
- Tam phương tứ chính chỉ gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương hoặc cung trống. Cự Môn không bao giờ có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thái Âm, Tham Lang, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát hay Phá Quân chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Ai nói "Cự Môn hội Thái Âm" hay "Cự Môn gặp Thất Sát chiếu" là đã an sai lá số. Đây là điểm rất đáng nhớ vì Cự Môn hay được xếp cùng bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, nhưng thực ra trong tam phương của nó chỉ có Cơ và Đồng, không có Nguyệt, không có Lương.
- Đồng cung chỉ có ba khả năng. Cự Môn độc tọa tại Tý, Thìn, Tỵ, Ngọ, Tuất, Hợi; đi cặp với Thiên Đồng tại Sửu, Mùi; với Thái Dương tại Dần, Thân; với Thiên Cơ tại Mão, Dậu. Không có cặp nào khác.
- Sáu vị trí độc tọa luôn bị Thiên Cơ, Thiên Đồng hoặc Thái Dương xung chiếu. Cự Môn Tý và Ngọ có Thiên Cơ đối diện, Cự Môn Thìn và Tuất có Thiên Đồng đối diện, Cự Môn Tỵ và Hợi có Thái Dương đối diện. Nghĩa là nói "Cự Môn cư Tý" là đã ngầm nói "Thiên Cơ cư Ngọ chiếu về", và nói "Cự Môn cư Hợi" là đã ngầm nói "Thái Dương cư Tỵ soi sang".
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.
| Cự Môn tại | Đồng cung | Tam hợp chiếu | Xung chiếu | Giáp hai bên |
|---|---|---|---|---|
| Tý | độc tọa | Thái Dương (Thìn) · trống (Thân) | Thiên Cơ (Ngọ) | Liêm Trinh, Tham Lang (Hợi) · Thiên Tướng (Sửu) |
| Sửu | Thiên Đồng | Thiên Cơ (Tỵ) · trống (Dậu) | trống (Mùi) | Tham Lang (Tý) · Vũ Khúc, Thiên Tướng (Dần) |
| Dần | Thái Dương | trống (Ngọ) · trống (Tuất) | trống (Thân) | Vũ Khúc, Tham Lang (Sửu) · Thiên Tướng (Mão) |
| Mão | Thiên Cơ | trống (Mùi) · Thiên Đồng (Hợi) | trống (Dậu) | Tham Lang (Dần) · Tử Vi, Thiên Tướng (Thìn) |
| Thìn | độc tọa | trống (Thân) · Thái Dương (Tý) | Thiên Đồng (Tuất) | Tử Vi, Tham Lang (Mão) · Thiên Tướng (Tỵ) |
| Tỵ | độc tọa | Thiên Đồng (Dậu) · Thiên Cơ (Sửu) | Thái Dương (Hợi) | Tham Lang (Thìn) · Liêm Trinh, Thiên Tướng (Ngọ) |
| Ngọ | độc tọa | Thái Dương (Tuất) · trống (Dần) | Thiên Cơ (Tý) | Liêm Trinh, Tham Lang (Tỵ) · Thiên Tướng (Mùi) |
| Mùi | Thiên Đồng | Thiên Cơ (Hợi) · trống (Mão) | trống (Sửu) | Tham Lang (Ngọ) · Vũ Khúc, Thiên Tướng (Thân) |
| Thân | Thái Dương | trống (Tý) · trống (Thìn) | trống (Dần) | Vũ Khúc, Tham Lang (Mùi) · Thiên Tướng (Dậu) |
| Dậu | Thiên Cơ | trống (Sửu) · Thiên Đồng (Tỵ) | trống (Mão) | Tham Lang (Thân) · Tử Vi, Thiên Tướng (Tuất) |
| Tuất | độc tọa | trống (Dần) · Thái Dương (Ngọ) | Thiên Đồng (Thìn) | Tử Vi, Tham Lang (Dậu) · Thiên Tướng (Hợi) |
| Hợi | độc tọa | Thiên Đồng (Mão) · Thiên Cơ (Mùi) | Thái Dương (Tỵ) | Tham Lang (Tuất) · Liêm Trinh, Thiên Tướng (Tý) |
Suy luận Từ bảng này rút ra ba quy luật đọc rất tiện. Một, Cự Môn ở Tỵ và Hợi là hai vị trí "đủ bộ" nhất: tam hợp có cả Thiên Cơ lẫn Thiên Đồng, xung có Thái Dương, cả ba sao có thể gặp đều chầu về một lúc. Nhưng hai vị trí ấy lệch nhau ở chỗ Thái Dương chiếu: Cự Môn Hợi được Thái Dương Tỵ đang miếu soi sang, còn Cự Môn Tỵ chỉ có Thái Dương Hợi đã lặn chiếu tới, nên cùng là độc tọa mà sách xếp Hợi đắc, Tỵ hãm là có lý do cấu trúc chứ không phải tùy tiện. Hai, Cự Môn Tý và Ngọ cũng lệch nhau theo cùng lối ấy: Cự Môn Tý có Thái Dương Thìn đang vượng hợp chiếu, Cự Môn Ngọ chỉ có Thái Dương Tuất đã hãm hợp chiếu; nên trong hai thế Thạch Trung Ẩn Ngọc, thế ở Tý có sẵn ánh sáng bên ngoài hơn thế ở Ngọ. Ba, Cự Nhật đồng cung tại Dần Thân thì tam phương tứ chính đều trống, cả cục diện dồn vào đúng một cung: sáng thì sáng hẳn, thị phi thì cũng dồn hẳn vào một chỗ, không có chính tinh nào bên ngoài san sẻ.
Kinh văn Vì Cự Môn chỉ hội với Thiên Cơ, Thiên Đồng và Thái Dương, nên các cách cục của Cự Môn cũng chỉ xoay quanh ba sao ấy và các sao phụ: Thạch Trung Ẩn Ngọc (Cự Môn độc tọa Tý Ngọ, Thiên Cơ xung chiếu), Cự Nhật (với Thái Dương), Cự Cơ hay Cơ Cự (với Thiên Cơ), Đồng Cự (với Thiên Đồng), và các thế xấu Cự Hỏa, Cự Kình, Cự Kỵ. Sách không có cách nào ghép Cự Môn với Thái Âm, với Thiên Lương hay với Sát Phá Tham trong tam phương, không phải vì sách thiếu mà vì cách an sao không cho phép. Còn Tham Lang và Thiên Tướng thì luôn đứng hai bên Cự Môn, sách nhắc tới chúng là ở thế giáp, không phải thế chiếu.
3 Đặc Tính Người Có Cự Môn Thủ Mệnh

Người có Cự Môn đóng ở cung Mệnh, theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, thường có bản chất nhân hậu, tính tình vui vẻ, dễ gần. Nét nổi bật nhất là tài ăn nói: họ nói năng đanh thép, mạch lạc, có sức thuyết phục và rất biết cách dùng lời để đạt mục đích.
Đi kèm với cái miệng giỏi là một bộ óc phân tích sắc sảo. Họ nhìn vấn đề rất nhanh, hay đặt câu hỏi, thích mổ xẻ đến tận gốc, không dễ tin vào điều gì chưa được kiểm chứng.
Mặt trái của óc phân tích quá mạnh là tính hay nghi ngờ. Người Cự Môn dễ đa nghi, hay suy diễn, đôi khi tự làm khổ mình vì nghĩ ngợi quá nhiều. Khi sao đắc cách, sự nghi ngờ này trở thành sự cẩn trọng và khả năng nhìn thấu lòng người. Nhưng khi hãm địa, nó dễ biến thành ích kỷ, gian trá, kém sáng suốt, hay nhầm lẫn và thường tự rước thị phi kiện cáo vào thân. Đây chính là lý do cùng một sao Cự Môn mà có người thành nhà hùng biện được trọng vọng, có người lại suốt đời lận đận vì vạ miệng.
Về nghề nghiệp, Cự Môn rất hợp những công việc dùng tới miệng lưỡi và khả năng phân tích. Đó là luật sư, công tố, thẩm phán, là giảng viên, giáo viên, diễn giả, là người bán hàng, môi giới, đàm phán, là nhà ngoại giao, người làm truyền thông, phát thanh, dẫn chương trình, phóng viên. Nói chung, hễ là nghề mà giá trị nằm ở lời nói và lập luận thì người Cự Môn dễ phát huy được sở trường. Ngược lại, đặt họ vào công việc lặng lẽ, ít giao tiếp thì như cá thiếu nước.
4 Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Cự Môn

Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Với Cự Môn, vị trí còn liên hệ mật thiết tới sao đồng cung, vì Cự Môn đứng một mình ở sáu cung và đứng chung với một chính tinh khác ở sáu cung còn lại.
Bảng dưới đặt song song hai bộ sách gốc, ghi rõ sao đồng cung ở mỗi vị trí, để người đọc tiện đối chiếu và tự chọn một phái khi luận.
| Cung địa chi | Đồng cung | Theo Tân Biên | Theo Toàn Thư |
|---|---|---|---|
| Tý | Đơn thủ | Vượng | Vượng |
| Sửu | Thiên Đồng | Hãm | Hãm |
| Dần | Thái Dương | Vượng | Miếu |
| Mão | Thiên Cơ | Miếu | Miếu |
| Thìn | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
| Tỵ | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
| Ngọ | Đơn thủ | Vượng | Vượng |
| Mùi | Thiên Đồng | Hãm | Hãm |
| Thân | Thái Dương | Đắc | Miếu |
| Dậu | Thiên Cơ | Miếu | Miếu |
| Tuất | Đơn thủ | Hãm | Hãm |
| Hợi | Đơn thủ | Đắc | Vượng |
Hai trường phái về miếu vượng
Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp Cự Môn miếu tại Mão, Dậu; vượng tại Tý, Ngọ, Dần; đắc tại Thân, Hợi; hãm tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục ghi Cự Môn miếu tại Mão, Dậu, Dần, Thân; vượng tại Tý, Ngọ, Hợi; hãm tại Tỵ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Hai phái thống nhất rằng Mão và Dậu là vị trí miếu đẹp nhất, còn nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ thì hãm yếu. Điểm cốt lõi cần nhớ: Cự Môn đóng tại Tý hoặc Ngọ tuy vượng nhưng còn ám, đây chính là cách Thạch trung ẩn ngọc, rất cần Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền để lộ sáng. Khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán.
Mẹo nhớ: Cự Môn đứng một mình ở Tý, Thìn, Tỵ, Ngọ, Tuất, Hợi. Sáu cung còn lại Cự Môn đi cùng một chính tinh khác: với Thiên Đồng tại Sửu Mùi thành Đồng Cự, với Thái Dương tại Dần Thân thành Cự Nhật, với Thiên Cơ tại Mão Dậu thành Cơ Cự. Muốn luận đúng, phải đọc cả cặp sao chứ không chỉ riêng Cự Môn.
5 Tứ Hóa Của Cự Môn Theo Tuổi Can
Miếu hãm là độ sáng "trời cho" của cánh cửa. Tứ Hóa là tấm biển mà tuổi can của người ấy treo thêm lên cửa. Cùng một Cự Môn cư Tý, người tuổi Tân đọc khác hẳn người tuổi Đinh, vì một bên cửa treo biển Lộc, bên kia cửa bị dán chữ Kỵ. Với Cự Môn điều này còn quan trọng hơn với nhiều chính tinh khác, vì bản thân Cự Môn là ám tinh: nó cần một cái gì đó từ bên ngoài để lộ ra, và Tứ Hóa chính là thứ ấy. Không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao, riêng với Cự Môn là mới đọc được một phần ba.
| Tuổi can | Cự Môn hóa | Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ) |
|---|---|---|
| Tân | Hóa Lộc | Cự Môn · Thái Dương · Văn Khúc · Văn Xương. Hai phái Nam Bắc thống nhất, bảng trang an lá số đang dùng cũng vậy. |
| Quý | Hóa Quyền | Phá Quân · Cự Môn · Thái Âm · Tham Lang. Hai phái thống nhất. |
| Đinh | Hóa Kỵ | Thái Âm · Thiên Đồng · Thiên Cơ · Cự Môn. Hai phái thống nhất. |
| Giáp, Ất, Bính, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm | không hóa | Cự Môn giữ nguyên độ sáng gốc theo miếu hãm; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương chiếu về (xem phần phi hóa bên dưới). |
Kinh văn Cự Môn không bao giờ hóa Khoa, ở cả hai phái. Điều này hợp với tượng sao: Khoa là văn danh, là tiếng thơm nhẹ nhàng; còn Cự Môn là cửa lớn và cái miệng, chỉ có hai đường, hoặc lời nói sinh lộc và sinh quyền, hoặc lời nói sinh Kỵ. Không có đường "nói cho đẹp mà không được không mất". Đáng chú ý nữa là ba tuổi làm Cự Môn hóa đều đi kèm một sao trong tam phương của nó: tuổi Tân có Thái Dương hóa Quyền, tuổi Đinh có Thiên Đồng hóa Quyền và Thiên Cơ hóa Khoa. Vì Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Cơ là ba sao duy nhất có thể chiếu về Cự Môn (mục 2), nên người tuổi Tân và tuổi Đinh gần như luôn có hai hóa trở lên cùng vào một bộ tam phương.
Cự Môn hóa Lộc (tuổi Tân)
Kinh văn Lộc là bổng lộc, là cái được. Cửa lớn hóa Lộc là cửa mở ra tiền: lời nói sinh ra của cải, nghề nghiệp gắn với ăn nói, giảng dạy, tư vấn, luật, môi giới, thương thuyết, và thường ăn lộc ở nơi đông người hoặc nơi xa quê. Cự Môn miếu vượng hóa Lộc (Mão, Dậu, Tý, Ngọ, Dần, Hợi) là thế đẹp nhất trong mọi thế của sao này: ám tinh được Lộc soi vào thì cái ám hóa thành cái sâu, người vừa có tài nói vừa có tài nghĩ, nói ra là được trả công. Tuổi Tân lại có Thái Dương hóa Quyền, và Thái Dương thì hoặc đồng cung với Cự Môn (Dần, Thân) hoặc chiếu về (Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi), nên Cự Lộc rất hay đi đôi với Nhật Quyền: đây là bộ hai hóa của người có tiếng nói được nghe và được trả tiền để nói. Kinh nghiệm Cự Môn hãm địa hóa Lộc (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ) thì Lộc vẫn có nhưng là lộc kèm tiếng: tiền vào tay cùng lúc với lời ra tiếng vào, làm ăn khấm khá mà hay bị nói là khôn lỏi; và Lộc ở thế hãm dễ thành lộc của nghề "nói giùm người khác" như trung gian, môi giới, đại lý. Thầy để ý thêm một chi tiết cấu trúc: tuổi Tân có Lộc Tồn an tại Dậu, nên Cự Môn cư Dậu (miếu, đồng cung Thiên Cơ) của người tuổi Tân được cả Hóa Lộc lẫn Lộc Tồn cùng một cung, là thế song Lộc rất hiếm, nhưng Cự Môn cư Tuất của cùng tuổi ấy lại có Kình Dương đồng cung với Hóa Lộc, nên "phản vi kỳ" ở Tuất không sạch bằng ở Thìn.
Cự Môn hóa Quyền (tuổi Quý)
Kinh văn Quyền là quyền uy, là cái nắm được. Cửa lớn hóa Quyền là cửa có người canh: lời nói có trọng lượng, nói ra người ta phải nghe, hợp vị trí phát ngôn, xét xử, giảng dạy, chỉ huy bằng lời. Cự Môn miếu vượng hóa Quyền là người dùng cái miệng để cầm trịch, hợp luật sư, công tố, chủ tọa, người dẫn dắt đám đông; và vì Quyền làm cái ám bớt đi, người này nói thẳng mà người khác chịu nghe, thay vì nói thẳng mà người khác giận. Kinh nghiệm Cự Môn hãm hóa Quyền là "quyền của cái miệng": người có quyền ép người khác bằng lời nói, dễ thành lấn át, cãi cho bằng được, và quyền ấy hay đi kèm oán. Tuổi Quý có Lộc Tồn an tại Tý, nên Cự Môn cư Tý hóa Quyền lại được Lộc Tồn đồng cung, đúng cái "Khoa Quyền Lộc" mà phú Thạch Trung Ẩn Ngọc đòi hỏi, là thế Thầy gặp nhiều ở người giảng dạy hoặc làm luật mà phát muộn nhưng phát bền. Ngược lại tuổi Quý cũng có Tham Lang hóa Kỵ, mà Tham Lang luôn ở cung liền trước Cự Môn, nên người tuổi Quý có Cự Môn thủ Mệnh thì cung Huynh Đệ luôn mang Tham Kỵ, anh em hoặc cộng sự là chỗ hay có chuyện tiền bạc và dục vọng.
Cự Môn hóa Kỵ (tuổi Đinh)
Kinh văn Kỵ là cái vướng, cái tối. Ám tinh hóa Kỵ là tối chồng lên tối, sách nói thẳng: thị phi, khẩu thiệt, kiện tụng, hiểu lầm, và bệnh ở miệng, họng, đường tiêu hóa. Nhưng phải tách hai trường hợp. Cự Môn miếu vượng hóa Kỵ (tuổi Đinh, sao ở Mão, Dậu, Tý, Ngọ, Dần, Hợi): cửa vẫn to, Kỵ chỉ làm cửa kêu; biểu hiện là người nói hay nhưng hay bị người ta bắt lời, làm việc bằng lời nói mà lời nói hay bị trích dẫn sai, sự nghiệp vẫn có, chỉ nhiều miệng tiếng. Cơ Cự tại Mão Dậu hóa Kỵ là cách sách gọi đích danh Cự Cơ Hóa Kỵ, nhưng nếu người ấy làm nghề tranh tụng, điều tra, phản biện, thì cái Kỵ ấy là nghề chứ không phải họa. Cự Môn hãm địa hóa Kỵ (tuổi Đinh, sao ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ): đây mới là thế nặng thật, cửa tối lại bị khóa, cần xem kỹ cung Tật Ách về họng, dạ dày, và cung có Kỵ về kiện cáo giấy tờ. Kinh nghiệm Trong các vị trí hãm, Cự Kỵ tại Tỵ của người tuổi Đinh nặng nhất, vì tuổi Đinh có Đà La an tại Tỵ, thành Cự Kỵ Đà đồng cung; còn Cự Kỵ tại Mùi thì dính Kình Dương của tuổi Đinh. Thầy thường dặn khách tuổi Đinh có Cự Kỵ: ba việc phải giữ là ký kết, phát ngôn nơi công cộng, và ăn uống; giữ được ba việc ấy thì Cự Kỵ chỉ là người hay bị hiểu lầm chứ không phải người gặp họa.
Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)
Kinh nghiệm Cự Môn không hóa với tuổi mình vẫn có thể "ăn" Tứ Hóa của các sao chiếu về, vì tam phương tứ chính của nó chỉ có Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:
- Tuổi Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ chiếu Cự Môn. Thiên Cơ đồng cung với Cự Môn tại Mão Dậu, xung chiếu tại Tý Ngọ, tam hợp chiếu tại Sửu Mùi Tỵ Hợi. Cơ Kỵ vào cửa lớn là mưu tính thành nghi kỵ: người tuổi Mậu có Cự Môn thủ Mệnh dễ suy diễn lời người khác, lo nghĩ vặt, và hay đổi ý giữa chừng. Cự Môn sáng thì thành người cẩn thận quá mức, hãm thì thành người tự làm khổ mình vì nghĩ.
- Tuổi Giáp, Thái Dương hóa Kỵ chiếu Cự Môn. Thái Dương đồng cung tại Dần Thân, xung chiếu tại Tỵ Hợi, tam hợp chiếu tại Tý Ngọ Thìn Tuất. Mặt trời bị mây thì cửa lớn mất người soi: cách Cự Nhật của tuổi Giáp là cách "có tiếng mà tiếng bị che", danh có nhưng hay bị nói ngược lại; nếu Thái Dương ấy còn hãm (Thân, Tuất, Hợi, Tý) thì cần xem cả cung Phụ Mẫu, vì Thái Dương Kỵ chạm tới người cha.
- Tuổi Bính, Thiên Đồng hóa Lộc và Thiên Cơ hóa Quyền cùng chiếu Cự Môn. Đây là thế rất đẹp mà ít người để ý vì Cự Môn không hóa gì với tuổi Bính. Đồng Lộc và Cơ Quyền là hai trong ba sao có thể chiếu về Cự Môn, và với Cự Môn ở Tỵ, Hợi thì cả hai cùng nằm trong tam hợp: phúc và mưu cùng chầu về cửa lớn, người ăn nói có duyên mà nghĩ sâu, hợp nghề tư vấn, giảng dạy, thương lượng. Riêng tuổi Canh, Thiên Đồng hóa Khoa theo bảng Nam phái nhưng hóa Kỵ theo Bắc phái, nên Đồng Cự tại Sửu Mùi của người tuổi Canh đọc khác nhau giữa hai phái, trang an lá số của thayungkhiem.vn hiện Khoa vì dùng bảng Nam phái mặc định.
Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.
6 Cự Môn Và Các Cặp Đồng Cung Tại 12 Chi

Cùng một sao Cự Môn nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do địa chi đó sinh hay khắc với hành Thủy, và quan trọng hơn là do sao đi kèm.
Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.
Cự Môn cư Tý và Ngọ (Thạch trung ẩn ngọc)
Cự Môn đơn thủ tại Tý hoặc Ngọ là cách nổi tiếng mang tên Thạch trung ẩn ngọc, nghĩa là viên ngọc còn ẩn trong đá. Sao ở đây vượng, người có tài năng thật sự và óc phân tích sâu sắc, nhưng vì Cự Môn vẫn ám nên tài năng ấy còn bị che, chưa lộ ra hết. Cần có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền đồng cung, hoặc có Tuần, Triệt án ngữ để phá lớp đá, thì ngọc mới lộ. Khi hợp cách, người này hùng biện hơn người, công danh hiển đạt, tiếng nói có trọng lượng và thường thành đạt nhờ chính cái miệng và bộ óc của mình.
Cự Nhật đồng cung tại Dần và Thân
Cự Môn gặp Thái Dương tạo thành cách Cự Nhật, một trong những cách đẹp nhất của Cự Môn. Thái Dương là vầng dương soi sáng, đẩy lùi nét ám của Cự Môn, biến tài ăn nói thành thanh danh và uy tín công khai. Tại Dần, Thái Dương vượng ở phương đông buổi sáng nên cách này càng rực rỡ, người danh tiếng lan xa, hợp ngoại giao, truyền thông, chính trị, giảng dạy. Tại Thân, Thái Dương đã ngả về tây nên ánh sáng yếu hơn, sức phát giảm bớt, cần thêm phụ tinh tốt mới trọn vẹn, nhưng vẫn là cách quý có danh có tiếng.
Cơ Cự đồng cung tại Mão và Dậu (miếu)
Cự Môn gặp Thiên Cơ thành cách Cơ Cự, đóng tại Mão và Dậu, là vị trí miếu địa của Cự Môn theo cả hai phái. Thiên Cơ chủ mưu trí, cộng với khẩu thiệt của Cự Môn cho người cực kỳ thông minh, giỏi tính toán, nói năng có chiều sâu, hợp nghiên cứu, tư vấn, chiến lược, kỹ thuật và những nghề cần đầu óc linh hoạt. Mặt cần dè chừng là nếu gặp Hóa Kỵ thì thành Cự Cơ Hóa Kỵ, mưu trí hóa đa nghi, lời nói thành thị phi kiện tụng, đời nhiều biến động. Cơ Cự đẹp khi có cát tinh, đáng lo khi gặp Hóa Kỵ và sát tinh.
Đồng Cự đồng cung tại Sửu và Mùi
Cự Môn gặp Thiên Đồng tại Sửu và Mùi là vị trí hãm của Cự Môn. Thiên Đồng chủ phúc, ôn hòa, hưởng thụ; ghép với Cự Môn ám cho người tình cảm phong phú, giỏi giao tiếp nhưng dễ đa cảm, hay phiền muộn, lời nói lúc ngọt lúc gắt thất thường. Cách này dễ vướng thị phi tình cảm, sóng gió hôn nhân, nên rất cần phụ tinh và Hóa cát để điều hòa. Khi được hỗ trợ tốt, người vẫn có duyên ăn nói và sống tình nghĩa, hợp nghề dịch vụ, chăm sóc, nghệ thuật.
Cự Môn cư Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi
Bốn cung này Cự Môn đều đứng một mình. Tại Thìn và Tuất, sao hãm, lại nằm trong vùng thiên la địa võng, người dễ vất vả về lời ăn tiếng nói, hay bị hiểu lầm, gặp thị phi, nên giữ mồm giữ miệng và lấy chữ tín làm gốc. Tại Tỵ, sao cũng hãm theo cả hai phái, cần cẩn trọng tương tự. Tại Hợi, Cự Môn khá hơn, theo Tân Biên là đắc còn Toàn Thư xếp vượng, người có tài ăn nói, hợp các nghề giao tiếp, nếu thêm cát tinh thì phát về danh và tài.
Một câu để nhớ
Cự Môn ở Tý Ngọ là ngọc trong đá chờ người mài. Cự Nhật là cánh cửa được mặt trời soi sáng. Cơ Cự là cánh cửa của người mưu trí, nhưng gặp Kỵ thì cửa ấy rước thị phi. Đồng Cự là cánh cửa nhiều tình cảm mà lắm sóng gió. Còn Cự Môn ở Thìn Tuất Tỵ thì như cửa mở vào lúc trời chưa sáng, dễ va vấp.
7 Cự Môn An Tại 12 Cung Chức

Cự Môn không chỉ ý nghĩa khi ở cung Mệnh. Nó đóng ở cung nào thì gắn yếu tố ngôn ngữ, tranh luận và cả thị phi vào lĩnh vực đó của cuộc đời.
Vì là ám tinh, hễ Cự Môn ở vị trí miếu vượng và có cát tinh thì cung ấy hưởng tài hùng biện, còn khi hãm và gặp hung tinh thì cung ấy dễ vướng khẩu thiệt.
| Cung | Cự Môn sáng | Cự Môn hãm | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Ăn nói đanh thép, óc phân tích sắc, thành đạt nhờ lời nói và lập luận; hợp luật, giảng dạy, truyền thông. | Vẫn nói giỏi nhưng hay nói hớ, đa nghi, tự rước thị phi; đời lận đận vì cái miệng nhiều hơn vì việc. | Sáng gặp Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền là Thạch Trung Ẩn Ngọc lộ ngọc. Hãm gặp Hóa Kỵ, Kình Dương là người hay vướng cãi vã, kiện cáo; gặp thêm Hỏa Linh là thế Cự Hỏa sách rất kiêng. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ nghiêm, nói thẳng, có học, hay dạy con bằng lý lẽ; cha mẹ có nghề dùng lời nói. | Cha mẹ và con hay lời qua tiếng lại, khó nói chuyện với nhau, hoặc cha mẹ vướng thị phi; duyên với mẹ đỡ hơn với cha. | Cự Môn hóa Kỵ tại Phụ Mẫu là mình và cha mẹ nói không hiểu nhau, cần xem thêm Thái Dương ở đâu. Cự Nhật tại Phụ Mẫu (Dần Thân) là cha có tiếng nói trong xã hội. |
| Phúc Đức | Tinh thần thích tranh biện, ham triết lý, nghĩ sâu; dòng họ có người làm thầy, làm nghề nói. | Hay lo xa, hay nghĩ ngợi tự làm phiền mình, phúc phần hao vì miệng tiếng trong họ. | Phúc có Cự Kỵ là người khó ngủ vì nghĩ, và họ hàng hay có tranh chấp. Phúc có Cự Lộc thì hưởng phúc từ nghề nói năng của tổ tiên hoặc tự tạo phúc bằng lời khuyên người. |
| Điền Trạch | Nhà cửa gần chợ, gần đường lớn, nơi đông người; điền sản vẫn vững, giấy tờ rõ ràng thì giữ được. | Nhà đất dễ tranh chấp với hàng xóm, anh em, hoặc vướng kiện tụng giấy tờ; nên tránh đứng tên chung. | Điền có Cự Môn hãm gặp Hóa Kỵ, Đà La là thế phải kiểm tra giấy tờ nhà đất thật kỹ trước khi ký. Điền có Cự Nhật sáng là nhà mặt tiền, nhà có cửa hàng. |
| Quan Lộc | Vị trí Cự Môn thích: sự nghiệp gắn với lời nói, luật, giáo dục, truyền thông, bán hàng, ngoại giao, đàm phán; danh vọng nhờ miệng lưỡi. | Sự nghiệp hay bị lời ra tiếng vào, đổi nghề vì thị phi, hoặc làm nghề phải nói nhiều mà ít được ghi công. | Quan có Cự Lộc là nghề nói ra tiền. Quan có Cự Kỵ là công việc hay vướng cãi cọ nội bộ. Quan có Cự Nhật Dần là cách sách khen về danh, "thực lộc trì danh". |
| Nô Bộc | Bạn bè, cấp dưới giỏi ăn nói, thích tranh luận, có người làm luật, làm thầy; bàn bạc với bạn ra được việc. | Bạn bè hay nói xấu sau lưng, cấp dưới lắm lời, thị phi từ người quen; dễ bị bạn lôi vào kiện cáo. | Nô có Cự Kỵ là bị bạn bè hoặc nhân viên nói xấu, phải rõ ràng khi hùn hạp. Nô có Cự Môn gặp Kình Đà là bạn bè gây hấn, tranh chấp với người làm. |
| Thiên Di | Ra ngoài giỏi giao tiếp, nổi tiếng nhờ nói, hợp đi xa, xuất ngoại, làm việc với người lạ, người nước ngoài. | Ra ngoài dễ vướng miệng tiếng, đi xa gặp chuyện cãi vã; nơi đông người nên ít nói. | Di có Cự Lộc là kiếm tiền ở xa bằng lời nói. Di có Cự Kỵ gặp lưu Thái Tuế chạm tới là năm ra đường dễ va chạm, nên tránh tranh cãi với người lạ. |
| Tật Ách | Thể chất nhìn chung ổn, điểm yếu là miệng, họng, dạ dày và các chứng do lo nghĩ. | Bệnh ở miệng họng, răng lợi, dạ dày, đường ruột; chứng mất ngủ vì nghĩ; bệnh khó chẩn, hay chẩn nhầm. | Cự Môn gặp Hóa Kỵ tại Tật là họng và dạ dày trước hết, kèm bệnh "thầy thuốc nói mỗi người một kiểu". Gặp Hỏa Linh là viêm, loét, nhiệt ở miệng. Gặp Kình Dương là mổ vùng họng, răng, hoặc tiêu hóa. |
| Tài Bạch | Tiền đến từ tài ăn nói, đàm phán, môi giới, giảng dạy, bán hàng; tiền có đường vào rõ, hay đi kèm hợp đồng. | Kiếm tiền mà hay bị nói, tiền dính thị phi, tranh chấp tiền bạc với người quen; nên tránh vay mượn miệng. | Tài có Cự Lộc là phát tài nhờ miệng lưỡi, nhất là khi có Thái Dương sáng chiếu. Tài có Cự Kỵ gặp Đại Tiểu Hao là cho vay không đòi được, hoặc mất tiền vì kiện tụng. |
| Tử Tức | Con thông minh, giỏi nói, có chính kiến sớm; con hợp nghề dùng lời nói. | Con bướng, hay cãi, cha mẹ con cái nói không hiểu nhau; con đầu nhiều lo lắng. | Tử có Cự Kỵ là con hay bị hiểu lầm ở trường, cần dạy con cách nói. Tử có Cự Nhật sáng là con nổi bật, có tiếng ở nơi học. |
| Phu Thê | Bạn đời giỏi ăn nói, có cá tính, có nghề dùng lời nói; vợ chồng hay tranh luận nhưng hiểu nhau. | Vợ chồng khẩu chiến, lời ra tiếng vào, hôn nhân dính thị phi từ người thứ ba nói vào; dễ ly tán vì lời hơn vì việc. | Phu có Đồng Cự Sửu Mùi là bạn đời tình cảm mà hay dỗi, sách xếp hãm nên cần cát tinh. Phu có Cự Kỵ là thế Thầy luôn dặn "chuyện vợ chồng không kể cho người thứ ba". |
| Huynh Đệ | Anh em có người giỏi nói, có chính kiến, bàn bạc với nhau ra việc; anh em có người làm luật, làm thầy. | Anh em bất đồng quan điểm, hay cãi vã, chia của mà tranh chấp; nên rõ ràng từ đầu. | Huynh có Cự Kỵ gặp Kình Đà là anh em kiện nhau vì nhà đất. Huynh có Cự Lộc là anh em giúp mình bằng lời giới thiệu, quan hệ. |
Kinh nghiệm Một mẹo đọc bảng này: Cự Môn ở bất kỳ cung nào cũng kéo theo lời nói và người thứ ba vào lĩnh vực của cung ấy. Cự Môn ở Phu Thê thì hôn nhân có người ngoài nói vào, ở Tài Bạch thì tiền bạc có hợp đồng và có tranh cãi, ở Điền Trạch thì nhà đất có hàng xóm và giấy tờ. Cho nên gặp Cự Môn ở cung nào, Thầy thường hỏi ngược khách "chuyện ấy đã có ai nói ra nói vào chưa", chín phần mười là có. Và nhớ điều bất biến ở mục 2: cung liền trước cung có Cự Môn luôn có Tham Lang, cung liền sau luôn có Thiên Tướng, nên đọc Cự Môn ở cung nào thì liếc sang hai cung bên cạnh là biết thêm được cái muốn và cái ấn của người ấy trong lĩnh vực đó.
8 Các Cách Cục Quan Trọng Của Cự Môn

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về, tạo hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.
Cự Môn là trung tâm của vài cách cục rất đáng nhớ, có cách đại quý và cũng có cách đại kỵ cần cẩn trọng.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai, vì đây là chỗ người mới hay mừng hụt: thấy Cự Môn ở Tý đã gọi là Thạch Trung Ẩn Ngọc, trong khi ngọc vẫn nằm trong đá nếu không có Lộc hay Quyền mài ra.
Thạch Trung Ẩn Ngọc (ngọc ẩn trong đá)
Kinh văn Thành cách: Cự Môn độc tọa thủ Mệnh tại Tý hoặc Ngọ, đương nhiên có Thiên Cơ xung chiếu (mục 2). Phú Toàn Thư viết "Cự Môn Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc phúc hưng long": ngọc trong đá chỉ lộ ra và phúc chỉ hưng khi có Khoa Quyền Lộc. Đủ đẹp: tuổi Tân (Cự Môn hóa Lộc) hoặc tuổi Quý (Cự Môn hóa Quyền, lại có Lộc Tồn an tại Tý nên Cự Môn Tý của tuổi Quý được Quyền và Lộc Tồn cùng cung); thêm Xương Khúc, Tả Hữu hoặc Khôi Việt chầu. Người hợp cách này thành danh bằng cái đầu và cái miệng, thường phát sau ba mươi, càng về sau càng vững. Suy luận Trong hai vị trí, Cự Môn Tý có Thái Dương Thìn đang vượng hợp chiếu, Cự Môn Ngọ chỉ có Thái Dương Tuất đã hãm hợp chiếu, nên thế Tý sẵn ánh sáng hơn thế Ngọ; điều này rút từ bảng cấu trúc, sách không nói. Phá cách: tuổi Đinh (Cự Môn hóa Kỵ ngay tại Mệnh, ngọc bị đá bọc thêm một lớp; tuổi Đinh còn có Lộc Tồn tại Ngọ nên Cự Môn Ngọ tuổi Đinh vừa Kỵ vừa Lộc Tồn, đọc là có tiền mà lắm tiếng), hoặc Hỏa Linh, Kình Đà đồng cung. Sách còn nói Tuần Triệt án ngữ có thể phá đá lộ ngọc, mục 4 đã nhắc.
Cự Nhật Dần Thân (cửa lớn có mặt trời)
Kinh văn Thành cách: Cự Môn đồng cung Thái Dương thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân, tam phương tứ chính đều trống (mục 2). Phú viết "Cự Nhật Dần cung, thực lộc trì danh" và "Cự Nhật đồng cung, quan phong tam đại": tại Dần mặt trời đang lên soi thẳng vào cửa lớn, người có danh có lộc nhờ tiếng nói, hợp ngoại giao, truyền thông, giảng dạy, kinh doanh với người nước ngoài; "quan phong tam đại" là chữ khen về danh phận kéo dài qua nhiều đời. Tại Thân, Thái Dương đã ngả chiều, danh vẫn có nhưng phải làm nhiều hơn để giữ. Đủ đẹp nhất: tuổi Tân, Cự Môn hóa Lộc và Thái Dương hóa Quyền cùng nằm trong một cung, là thế Lộc Quyền đồng cung hiếm có, thêm Xương Khúc thì Văn Khúc còn hóa Khoa nữa. Phá cách: tuổi Đinh (Cự Kỵ đồng cung với Thái Dương, cửa kêu ngay dưới mặt trời, danh có mà tiếng xấu đi kèm), tuổi Giáp (Thái Dương hóa Kỵ, mặt trời bị mây, cửa mất người soi), hoặc Không Kiếp, Hỏa Linh đồng cung.
Cự Cơ Mão Dậu (cửa lớn có mưu thần)
Kinh văn Thành cách: Cự Môn đồng cung Thiên Cơ thủ Mệnh tại Mão hoặc Dậu, vị trí miếu của Cự Môn theo cả hai phái, tam hợp có Thiên Đồng chiếu về, xung chiếu trống. Phú Toàn Thư viết "Cự Cơ đồng cung, công khanh chi vị": mưu thần đứng canh cửa lớn thì cửa ấy mở ra chốn công khanh. Người hợp cách nói năng có chiều sâu, giỏi tính toán, hợp nghiên cứu, tham mưu, chiến lược, tư vấn, kỹ thuật. Đủ đẹp: tuổi Tân (Cự Lộc, và với Dậu thì Lộc Tồn tuổi Tân cũng an tại Dậu, thành song Lộc), tuổi Ất (Thiên Cơ hóa Lộc), tuổi Bính (Thiên Cơ hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Lộc chiếu về), có Xương Khúc, Tả Hữu chầu. Kinh nghiệm Mão đẹp hơn Dậu ở chỗ Mão là phương đông, mộc khí nuôi Thiên Cơ; Dậu thì Thiên Cơ bị kim khí bó, người ở Dậu mưu nhiều mà thực hiện chậm hơn. Phá cách: tuổi Đinh (Cự Môn hóa Kỵ) hoặc tuổi Mậu (Thiên Cơ hóa Kỵ), khi ấy thành cách Cự Cơ Hóa Kỵ mà trang này đã nhắc ở mục 6: mưu hóa nghi, lời hóa kiện. Thêm Kình Đà, Hỏa Linh thì phá hẳn.
Đồng Cự Sửu Mùi (cửa lớn có phúc tinh)
Kinh văn Thành cách: Cự Môn đồng cung Thiên Đồng thủ Mệnh tại Sửu hoặc Mùi, tam hợp có Thiên Cơ chiếu về, xung chiếu trống. Đây là vị trí sách xếp hãm cho Cự Môn, nên gọi "thành cách" chỉ có nghĩa là hội đủ thế sao, không có nghĩa là tốt. Người có cách này tình cảm phong phú, giỏi giao tiếp, nhưng đa cảm, hay dỗi, lời nói lúc ngọt lúc gắt. Đủ đẹp: phải có Hóa cát mới lên được: tuổi Tân (Cự Lộc) hoặc tuổi Bính (Thiên Đồng hóa Lộc), tuổi Quý (Cự Quyền); thêm Tả Hữu, Xương Khúc thì thành người có duyên ăn nói, hợp dịch vụ, chăm sóc, nghệ thuật, làm nghề mà khách hàng đến vì cảm tình. Suy luận Thiên Đồng là trẻ thơ, Cự Môn là cái miệng; trẻ thơ nói thì thật mà hay làm mất lòng, đó là cái khó của cách này: người ta không ghét nhưng không tin hẳn. Phá cách: tuổi Đinh là phá cách nặng nhất, vì Cự Môn hóa Kỵ, Thiên Đồng hóa Quyền, hai hóa trái chiều trong cùng một cung, lại có Kình Dương tuổi Đinh an tại Mùi: Đồng Cự Mùi tuổi Đinh là thế Kỵ Kình đồng cung với Đồng Quyền, hôn nhân và tình cảm rất nhiều sóng gió. Tuổi Canh theo Bắc phái Thiên Đồng hóa Kỵ, theo Nam phái hóa Khoa, hai phái đọc khác nhau.
Cự Môn Thìn Tuất (Thiên La Địa Võng, tuổi Tân Quý phản vi kỳ)
Kinh văn Thành cách: Cự Môn độc tọa thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất, Thiên Đồng xung chiếu, Thái Dương hợp chiếu (Cự Môn Thìn có Thái Dương Tý hãm chiếu, Cự Môn Tuất có Thái Dương Ngọ miếu chiếu). Thìn là Thiên La, Tuất là Địa Võng, hai cung lưới trời lưới đất, sách xếp Cự Môn ở đây là hãm, người dễ vất vả về lời ăn tiếng nói, hay bị hiểu lầm. Nhưng phú Toàn Thư viết "Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát lộc tranh vanh": người tuổi Tân có Cự Môn hóa Lộc thì cái hãm lại thành cái lạ, lộc lên cao vút. Đủ đẹp: tuổi Tân, hoặc tuổi Quý có Cự Môn hóa Quyền, đây là hai tuổi sách và người luận đời sau gọi là "phản vi kỳ cách", cách hãm mà hóa quý. Suy luận Vì sao lại là hai tuổi ấy: Cự Môn trong lưới cần một cái gì đủ mạnh để phá lưới, Lộc và Quyền là hai lực ấy; Khoa thì Cự Môn không bao giờ có. Thầy xét thêm bằng cấu trúc Lộc Tồn: tuổi Quý có Lộc Tồn Tý, Kình Sửu, Đà Hợi, nên Cự Quyền ở Thìn Tuất của tuổi Quý sạch, không dính Kình Đà; còn tuổi Tân có Kình Dương an tại Tuất, nên Cự Lộc ở Tuất của tuổi Tân bị Kình Dương đồng cung, phản vi kỳ ở Thìn trọn hơn ở Tuất. Cự Môn Tuất lại có lợi thế riêng là Thái Dương Ngọ miếu chiếu về, nên hai vị trí bù trừ nhau, không có cái nào hơn hẳn. Phá cách: mọi tuổi khác, nhất là tuổi Đinh (Cự Kỵ trong lưới) và tuổi Giáp (Thái Dương Kỵ chiếu vào lưới), cùng Hỏa Linh, Kình Đà đồng cung.
Cự Môn hóa Kỵ tuổi Đinh (cửa bị khóa)
Kinh văn Thành cách (đây là thế xấu): người tuổi Đinh, Cự Môn hóa Kỵ ở bất kỳ cung nào, nặng nhất khi ở Mệnh, Tật Ách, Phu Thê, Điền Trạch. Nghĩa là thị phi, khẩu thiệt, kiện tụng, bệnh miệng họng dạ dày, và bệnh khó chẩn. Trên lá số tuổi Đinh, Cự Kỵ luôn đi cùng Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa; vì Thái Âm không bao giờ nằm trong tam phương của Cự Môn (mục 2), nên cái Lộc của tuổi Đinh không bao giờ chiếu được vào cung Cự Kỵ, chỉ có Đồng Quyền và Cơ Khoa là có thể chiếu về để cứu. Đỡ được khi: Cự Môn ở vị trí miếu (Mão, Dậu) hoặc vượng (Tý, Ngọ), có Thiên Cơ hóa Khoa đồng cung hoặc chiếu, có Xương Khúc, Tả Hữu, hoặc Tuần Triệt án ngữ cung Kỵ; khi ấy Kỵ chỉ là tiếng, không thành họa. Kinh nghiệm Nặng thêm khi: Cự Kỵ ở Tỵ (có Đà La tuổi Đinh đồng cung), ở Mùi (có Kình Dương tuổi Đinh đồng cung), hoặc gặp Hỏa Linh. Thầy để ý người tuổi Đinh có Cự Kỵ thường làm nghề rất hợp với Kỵ, như luật tranh tụng, kiểm toán, điều tra, phê bình, khi ấy Kỵ thành nghề, và đó là cách hóa giải tự nhiên nhất.
Cự Môn gặp Hỏa Linh Kình Đà (cửa cháy, cửa gãy)
Kinh văn Thành cách (đây là thế đại kỵ): Cự Môn hãm địa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ) đồng cung với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, hoặc với Kình Dương, Đà La, nặng nhất khi có cả hai loại và thêm Hóa Kỵ. Phú xưa có câu "Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử", nghĩa đen là chết vì treo cổ, một trong những câu phú nặng lời nhất của Toàn Thư. Kinh nghiệm Người đời sau và Thầy đều không đọc câu ấy theo nghĩa đen. Cái sách muốn nói là Cự Môn hãm mà gặp lửa và gặp dao thì lời nói thành nguồn tai họa cho chính mình: nóng giận buột miệng (Hỏa Linh), nói gây hấn (Kình Dương), nói dai dẳng đeo bám (Đà La), rồi hậu quả quay lại người nói. Trên lá số thật thế này biểu hiện là người hay bị kiện, hay bị đánh vì lời, hay tự dồn mình vào chân tường bằng chính lời mình nói. Đỡ được khi: Cự Môn miếu vượng (khi ấy Hỏa Linh chỉ làm người nóng, không làm người họa), có Hóa Lộc Hóa Quyền, có Thái Dương sáng chiếu, hoặc Tuần Triệt án ngữ. Suy luận Thế giáp cũng đáng xét: vì Cự Môn luôn bị Tham Lang và Thiên Tướng kẹp hai bên, Hỏa Linh nếu rơi vào cung Tham Lang thì thành cách Hỏa Tham, Linh Tham, là cách tốt về tiền cho cung ấy, và Cự Môn bên cạnh không bị hại; chỉ khi Hỏa Linh đóng ngay cung Cự Môn hãm mới thành thế xấu này.
Cách hay cũng có mặt cần dè chừng
Cự Môn dù đẹp đến đâu cũng là ám tinh, cái ám không mất đi mà chỉ chuyển thành cái sâu khi có Lộc Quyền, thành cái sáng khi có Thái Dương. Thạch Trung Ẩn Ngọc hợp cách vẫn là người phát muộn, Cự Nhật hợp cách vẫn là người hay bị người khác nhắc tên, Cự Cơ hợp cách vẫn là người nghĩ nhiều hơn nói. Ngược lại, Cự Môn hãm mà có Tuần Triệt hay Hóa cát thì cái xấu bị che bớt. Cho nên luận Cự Môn phải xét cả ba tầng: miếu hãm, Tứ Hóa, và sao đồng cung; thiếu một tầng là dễ vội mừng hoặc vội lo.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Cự Môn tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào dàn sao vây quanh. Cùng một ám tinh, gặp sao soi sáng thì lời nói thành quyền lực, gặp sao ám hại thì lời nói thành tai vạ.
Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Cự Môn mừng được gặp và những sao Cự Môn e ngại.
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Cự Môn là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Cự Môn còn một quy tắc riêng: sao soi sáng thì chiếu cũng đủ, sao ám hại thì phải đồng cung mới nặng. Thái Dương sáng chiếu về từ xa vẫn soi được cửa, nhưng Hóa Kỵ tam hợp chiếu chỉ là tiếng đồn ở chân trời, phải Kỵ đồng cung mới là cửa bị khóa.
Cự Môn rất thích gặp
- Hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, tức tuổi Tân; chiếu về từ Thiên Cơ tuổi Ất, Thiên Đồng tuổi Bính, Thái Dương tuổi Canh cũng tốt): lời nói thành tiền, ám tinh thành sâu sắc.
- Hóa Quyền (đồng cung, tức tuổi Quý; Thái Dương hóa Quyền tuổi Tân chiếu về cũng đủ): lời nói thành uy, người khác phải nghe.
- Thái Dương miếu vượng (đồng cung tại Dần là mạnh nhất, xung chiếu tại Hợi và tam hợp chiếu tại Tý, Tuất vẫn tốt): mặt trời soi cửa, đẩy lùi cái ám; đây là sao duy nhất mà Cự Môn "thích chiếu hơn thích đồng cung ở Thân".
- Lộc Tồn (đồng cung): danh sinh lợi và giữ được lợi; tuổi Quý tại Tý, tuổi Tân tại Dậu là hai thế song Lộc tự nhiên của Cự Môn.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): cái miệng có chữ, nói ra thành văn; tuổi Tân còn được Khúc hóa Khoa bù cho Cự Môn không bao giờ hóa Khoa.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp): có người đỡ lời, bớt cô độc trong tranh luận.
- Tuần, Triệt (án ngữ cung Cự Môn, chỉ tốt khi ở Tý Ngọ hoặc khi Cự Môn hãm): phá đá lộ ngọc, che bớt cái ám. Cự Môn miếu tại Mão Dậu gặp Tuần Triệt lại là bị chặn.
Cự Môn e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, tức tuổi Đinh; Thiên Cơ hóa Kỵ tuổi Mậu đồng cung tại Mão Dậu cũng nặng; Kỵ tam hợp chiếu chỉ là điều tiếng thoáng qua): cửa bị khóa, thị phi kiện tụng.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, nhất là khi Cự Môn hãm): cửa cháy, nóng nảy lỡ lời rước họa; Hỏa Linh chiếu từ tam hợp thì nhẹ hơn nhiều.
- Kình Dương (đồng cung): lời nói gây hấn, cửa gãy; tuổi Tân tại Tuất, tuổi Đinh tại Mùi là hai thế cấu trúc hay gặp Cự Kình.
- Đà La (đồng cung): thị phi dai dẳng, chuyện cũ nhắc mãi; tuổi Đinh tại Tỵ là Cự Kỵ Đà nặng nhất.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): nói nhiều mà không ai tin, danh đến rồi đi; giáp là thế xấu hơn chiếu.
- Thái Dương hãm (đồng cung tại Thân, xung chiếu tại Tỵ, tam hợp chiếu tại Ngọ và Thìn): mặt trời đã lặn thì cửa không có người soi, cái ám lộ ra; không phải sao xấu mà là thế thiếu sáng.
- Hãm địa Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ mà không có Hóa cát: không phải sao mà là thế; hãm mà có Lộc Quyền thì phản vi kỳ, hãm mà không có gì thì mọi cát tinh chỉ đỡ được một phần.
Nguyên tắc xuyên suốt rất đơn giản: Cự Môn cần ánh sáng và cần được dẫn dắt. Có Thái Dương soi vào, có Hóa Lộc Hóa Quyền nâng đỡ thì cái miệng giỏi trở thành tài sản lớn nhất của đời người. Ngược lại, để ám tinh này một mình trong vùng hãm, lại thêm Hóa Kỵ và sát tinh, thì chính cái miệng ấy là nguồn gốc của mọi rắc rối. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi: cánh cửa này đang được soi sáng hay đang chìm trong bóng tối.
10 Cự Môn Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Cự Môn "tĩnh": nó nằm ở đâu, sáng hay tối, hóa gì theo tuổi. Nhưng đời người là dòng chảy, mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Đây là chỗ Cự Môn "động", cũng là chỗ khách hay hỏi nhất: năm nay tôi có bị kiện không, năm nay ký hợp đồng lớn có ổn không, sao dạo này ai cũng nói xấu tôi.
Đại vận đi vào cung có Cự Môn
Kinh văn Đại vận đến cung Cự Môn miếu vượng là mười năm sống bằng lời nói: được giao việc phát ngôn, giảng dạy, tranh tụng, thương thuyết; danh tiếng lan bằng miệng người khác; và nếu cung ấy có Lộc hay Quyền theo tuổi thì đó là đại vận mà cái miệng nuôi được cả nhà. Đại vận đến cung Cự Môn hãm là mười năm phải giữ miệng: dễ vướng kiện cáo, giấy tờ, hiểu lầm với người thân, thị phi nơi làm việc; việc vẫn có nhưng lời ra tiếng vào đi kèm. Kinh nghiệm Thầy để ý hai điều trên lá số thật. Một, đại vận Cự Môn thường là đại vận chuyển nghề sang nghề dùng lời: người làm kỹ thuật đi dạy, người làm kinh doanh đi tư vấn, người ở nhà ra mở cửa hàng. Hai, đại vận Cự Môn hãm hay trùng với giai đoạn có tranh chấp nhà đất hoặc chia tài sản trong họ, vì Cự Môn luôn có Thiên Tướng ở cung liền sau, đại vận vào Cự Môn thì đại vận Phụ Mẫu rơi đúng vào Thiên Tướng, là ấn tín, giấy tờ. Người có Mệnh vốn kín tiếng mà đại vận đi tới Cự Môn sáng thì đó là mười năm bỗng dưng được biết đến, nên chuẩn bị trước cái để nói.
Lưu niên: năm nào cửa lớn đổi biển
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế mỗi mười năm, Cự Môn trong lá số của mọi người lần lượt treo biển Lộc, biển Quyền rồi bị dán Kỵ:
| Can năm | Cự Môn lưu hóa | Các năm gần đây và sắp tới | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Tân | Lưu Lộc | 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu | Năm thuận cho việc dùng lời nói kiếm tiền: ký hợp đồng, mở lớp, ra mắt, đàm phán; cung nào có Cự Môn thì lĩnh vực ấy có lộc nhờ nói trong năm. |
| Quý | Lưu Quyền | 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi | Năm được giao quyền phát ngôn, làm đại diện, cầm trịch; Cự Môn hãm thì là năm phải nói thay người khác và gánh trách nhiệm lời nói. |
| Đinh | Lưu Kỵ | 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ | Năm cửa bị dán Kỵ: giữ miệng, giữ giấy tờ, tránh kiện tụng và cam kết miệng; Cự Môn ở Tật thì xem họng và dạ dày, ở Phu Thê thì đừng để người thứ ba nói vào. |
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem Cự Môn bản mệnh nằm ở cung nào, rồi hỏi năm nay Cự Môn lưu hóa gì. Cự Môn bản mệnh hóa Kỵ (tuổi Đinh) mà gặp năm Đinh lưu Kỵ nữa là Kỵ chồng Kỵ, năm 2027 Đinh Mùi sắp tới là một năm như thế cho mọi người tuổi Đinh có Cự Môn ở cung quan trọng: năm ấy không ký gì bằng lời, không nói gì ở chỗ đông người mà mình chưa nghĩ kỹ. Cự Môn bản mệnh hóa Lộc (tuổi Tân) gặp năm Tân lưu Lộc là Lộc chồng Lộc, thường là năm lời nói ra tiền rõ rệt. Còn một tổ hợp nữa ít người để ý: năm Đinh, lưu Kình Dương an tại Mùi và lưu Đà La an tại Tỵ (vì lưu Lộc Tồn năm Đinh ở Ngọ), nên năm 2027 Đinh Mùi, ai có Cự Môn cư Mùi thì cung ấy vừa lưu Kỵ vừa lưu Kình, ai có Cự Môn cư Tỵ thì vừa lưu Kỵ vừa lưu Đà; hai thế này cần được dặn trước. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các sao lưu chạm vào cung Cự Môn
- Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung Cự Môn: Thái Tuế vốn chủ thị phi và quan sự, gặp Cự Môn là thị phi gặp cái miệng; năm có việc phải ra trước đám đông, trước cơ quan, trước tòa; sáng thì được việc, được nói và được nghe, hãm thì lôi thôi giấy tờ, cãi vã.
- Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Cự Môn hãm: năm dễ tranh chấp thành hành động, lời nói dẫn tới xô xát hoặc đơn kiện. Lưu Kình chạm Cự Môn tại Tật Ách là năm hay phải đụng dao kéo ở vùng miệng, họng, răng hoặc tiêu hóa.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Cự Môn: Bạch Hổ chủ quan tụng, gặp Cự Môn hãm là tổ hợp Thầy luôn dặn khách tránh kiện tụng trong năm, dù mình đúng cũng nên hòa giải; Tang Môn chạm Cự Môn ở Phụ Mẫu hay Huynh Đệ là năm có việc buồn trong họ kèm lời qua tiếng lại về chia phần.
- Kinh văn Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung Cự Môn sáng: năm thi cử, phỏng vấn, thuyết trình, bảo vệ luận án, xin việc thuận lợi, vì lời nói được chữ nghĩa và quý nhân đỡ.
- Kinh văn Lưu Thiên Mã đến cung Cự Môn sáng tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm đi xa để nói, đi công tác thuyết trình, đi dạy nơi khác, xuất ngoại làm việc bằng ngôn ngữ; Cự Môn hãm gặp lưu Mã là năm chạy đi chạy lại vì chuyện kiện cáo.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Cự Môn

Nam mệnh Cự Môn thường thông minh, ăn nói lưu loát, giỏi tranh luận và thuyết phục, hợp các nghề dùng lời nói để làm nên sự nghiệp. Nếu đắc cách thì là người có thanh danh, được trọng vọng nhờ tài hùng biện.
Điều cần giữ là tránh nói nhiều, nói gắt, hay phê phán, vì người Cự Môn dễ làm phật lòng người khác mà không hay biết, từ đó chuốc lấy thị phi.
Nữ mệnh Cự Môn thông minh, sắc sảo, có cá tính và chính kiến mạnh, nói năng rõ ràng, không dễ bị thuyết phục. Khi đắc cách và có cát tinh, đó là người phụ nữ bản lĩnh, giỏi giao tiếp, có sự nghiệp riêng và tiếng nói trong xã hội. Tuy nhiên nếu sao hãm và gặp hung tinh, nữ mệnh Cự Môn dễ vướng thị phi tình cảm, hôn nhân nhiều khẩu chiến, lời ra tiếng vào. Với nữ mệnh Cự Môn, học cách mềm mỏng trong lời nói và bớt phê phán bạn đời sẽ giúp đời sống hôn nhân êm ấm hơn nhiều.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Cự Môn
Cự Môn là sao bị mang tiếng nhiều nhất trong mười bốn chính tinh, và vì thế cũng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Cự Môn không chủ về gì, để người đọc khỏi lo oan hay mừng hụt.
Ám tinh không có nghĩa là sao xấu
Kinh văn Sách gọi Cự Môn là ám tinh vì tính chất ngầm ẩn, che giấu, hay sinh nghi, không phải vì nó là hung tinh. Hung tinh trong Tử Vi là Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp; Cự Môn là chính tinh, và tại Mão Dậu nó miếu, tại Tý Ngọ nó vượng, sách khen rõ ràng "công khanh chi vị", "thực lộc trì danh". Kinh nghiệm Thầy gặp rất nhiều khách nghe chữ "ám" liền lo, trong khi lá số của họ là Cự Cơ Mão hoặc Cự Nhật Dần rất đẹp. Ám chỉ có nghĩa là cần được soi sáng, và mục 5 đã nói rõ thứ soi sáng nó là Lộc, Quyền, và Thái Dương. Cự Môn chỉ thật sự xấu khi hãm, gặp Kỵ và sát tinh cùng lúc, còn chỉ hãm thôi thì chưa phải xấu.
Cự Môn không "khắc" ai, chỉ hay lời qua tiếng lại
Kinh văn Sách nói Cự Môn ở Phu Thê thì vợ chồng khẩu thiệt, ở Phụ Mẫu thì cha mẹ con cái tranh biện, ở Huynh Đệ thì anh em bất đồng. Sách không dùng chữ khắc, không nói Cự Môn ở Phu Thê là ly hôn, không nói Cự Môn ở Tử Tức là khó con. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Cự Môn ở Phu Thê hay gặp nhất là hai vợ chồng đều có chính kiến, hay tranh luận, và điều hay đổ vỡ không phải cuộc tranh luận mà là người thứ ba nói vào. Chỉ khi Cự Môn hãm hóa Kỵ, thêm Kình Đà hay Hỏa Linh, và lưu niên chạm tới mới cần đặt vấn đề hôn nhân, và cũng chỉ để dặn nhau bớt lời.
Thị phi của Cự Môn không phải lúc nào cũng do mình gây ra
Suy luận Người ta hay đọc Cự Môn là "người hay nói xấu người khác". Sách nói Cự Môn chủ khẩu thiệt thị phi, tức là lời nói và điều tiếng, nhưng chiều của điều tiếng thì phải xem Tứ Hóa và vị trí. Cự Môn hóa Lộc, hóa Quyền là mình nói và người ta nghe; Cự Môn hóa Kỵ là mình nói và người ta hiểu sai, hoặc người ta nói mà mình phải chịu. Cự Môn ở Nô Bộc hay Thiên Di thì thị phi từ ngoài vào; ở Mệnh, Quan thì thị phi từ trong ra. Đọc Cự Môn bao giờ cũng phải hỏi "lời của ai và về ai", không gán mặc định cho chủ lá số cái tính nói xấu.
Cự Môn không thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương theo nghĩa cấu trúc
Kinh văn Nhiều sách và nhiều người xếp Cự Môn vào nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương vì cùng là các sao "văn" đối lập với Sát Phá Tham. Về tính chất thì đúng, nhưng về cấu trúc thì mục 2 đã kiểm bằng thuật toán: tam phương tứ chính của Cự Môn chỉ có Thiên Cơ, Thiên Đồng và Thái Dương, không bao giờ có Thái Âm và Thiên Lương. Nên nói "Cự Môn hội Cơ Nguyệt Đồng Lương" là sai một nửa. Bộ đúng của Cự Môn là Cự Cơ Đồng Nhật, và bốn sao này mới là bốn sao quyết định Cự Môn sáng hay tối trong tam phương. Người đọc gặp lá số có Cự Môn và Thái Âm cùng chiếu nhau thì nên nghi lá số ấy an sai.
Cự Môn không phải sao "kiện tụng" mặc định, và không phải sao bệnh
Kinh văn Sách nói Cự Môn hãm gặp hung tinh và Hóa Kỵ thì "thị phi kiện cáo", tức là có điều kiện, không phải cứ có Cự Môn là ra tòa. Về bệnh, sách nói Cự Môn chủ miệng, họng, tiêu hóa, nhưng đó là khi Cự Môn ở Tật Ách hoặc hóa Kỵ. Suy luận Đọc bệnh phải đọc ở Tật Ách; từ Cự Môn thủ Mệnh chỉ được suy ra khuynh hướng hay lo nghĩ, hay mất ngủ vì nghĩ, không được phán bệnh dạ dày. Cũng đừng nhầm "bệnh khó chẩn" của Cự Môn Kỵ thành "bệnh nặng": sách nói khó chẩn, tức nhiều thầy nói nhiều kiểu, chứ không nói nan y.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Cự Môn Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Mùi, nên Thiên Phủ ở Dậu và Cự Môn rơi vào Tý đúng như quy tắc tiến ba cung từ Thiên Phủ; Mệnh an tại Tý, tuổi Tân, sinh ban ngày. Chính tinh, Tứ Hóa và Lộc Tồn Kình Đà lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn.
Tử Vi tại Mùi, Mệnh tại Tý
không phải người thật
Bước một: sáng hay tối
Cự Môn độc tọa tại Tý, vượng theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư. Đây là thế Thạch Trung Ẩn Ngọc: ngọc có, nhưng còn trong đá. Ngay bước này đã biết người có óc phân tích thật, nói năng có trọng lượng, nhưng phát muộn, và mọi thứ tùy vào bước hai có gì mài được đá hay không. Hai bên Mệnh, đúng như điều bất biến ở mục 2, là Liêm Tham tại Hợi (cung Huynh Đệ) và Thiên Tướng tại Sửu (cung Phụ Mẫu).
Bước hai: hóa gì
Tuổi Tân nên Cự Môn hóa Lộc ngay tại Mệnh: đá được mài, ngọc lộ, lời nói sinh ra tiền, đúng cái "Khoa Quyền Lộc" mà phú Thạch Trung Ẩn Ngọc đòi (ở đây là Lộc). Cả bộ Tứ Hóa tuổi Tân rải ra như sau: Thái Dương hóa Quyền tại Thìn, tức cung Quan Lộc, mặt trời đang vượng ở Thìn lại đội Quyền, sự nghiệp có danh có quyền và soi thẳng về Mệnh; Văn Khúc hóa Khoa và Văn Xương hóa Kỵ là hai phụ tinh an theo giờ sinh, lá số minh họa không vẽ, khi an lá số thật phải xem Xương Kỵ rơi vào cung nào vì đó là chỗ giấy tờ dễ sai. Lộc Tồn tuổi Tân an tại Dậu, rơi vào cung Tử Tức cùng Thiên Phủ: con cái là kho, có của để dành cho con. Kình Dương tại Tuất, cung Phu Thê cùng Thái Âm: bạn đời là người phụ nữ sắc sảo nhưng hôn nhân có góc cạnh. Đà La tại Thân, cung Tài Bạch trống: tiền vào chậm, phải mượn Đồng Lương ở Dần chiếu sang, tức tiền đến nhờ phúc và nhờ người che chở hơn là nhờ tranh giành.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Đúng như bảng cấu trúc ở mục 2, Cự Môn Tý có Thái Dương tại Thìn (cung Quan Lộc) hợp chiếu, cung Thân (Tài Bạch) trống nên mượn Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần, và Thiên Cơ tại Ngọ (cung Thiên Di) xung chiếu. Vậy tam phương tứ chính của Mệnh là Cự, Nhật, Cơ, cộng Đồng Lương mượn về: bộ đủ của người làm nghề dùng lời nói và trí tuệ, và Thái Dương hóa Quyền nằm ở Quan Lộc thì nghề ấy là nghề chính, có chức phận. Cự Lộc tại Mệnh cộng Nhật Quyền tại Quan là thế Lộc Quyền chiếu nhau của tuổi Tân mà mục 5 đã nói. Thiên Cơ xung chiếu từ Thiên Di là mưu thần đứng ngoài cửa: ra ngoài gặp người khôn, và bản thân hay đổi hướng theo tình thế. Cung Mệnh bị giáp bởi Liêm Tham (Hợi) và Thiên Tướng (Sửu): một bên là dục vọng và đào hoa, một bên là ấn tín, nên đường lên có nhưng phải giữ mình về tình cảm và giấy tờ.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Quý: Cự Môn hóa Quyền tại Mệnh, và Lộc Tồn tuổi Quý an tại Tý nên Quyền và Lộc Tồn cùng cung Mệnh, Thạch Trung Ẩn Ngọc thành cách rất trọn. Nhưng Tham Lang hóa Kỵ tại Hợi (Huynh Đệ), Kình Dương tại Sửu (Phụ Mẫu), Đà La tại Hợi: hai cung giáp Mệnh đều có sát, người này thành đạt bằng miệng mà anh em và cha mẹ là chỗ hay có chuyện.
- Đổi sang tuổi Đinh: Cự Môn hóa Kỵ tại Mệnh dù đang vượng. Ngọc bị bọc thêm một lớp đá: người vẫn giỏi phân tích nhưng hay bị hiểu sai, làm nghề tranh tụng hay phê bình thì hợp, làm nghề cần được lòng người thì mệt. Thiên Đồng hóa Quyền và Thiên Cơ hóa Khoa lần lượt ở Dần (mượn về Tài) và Ngọ (Thiên Di) chiếu về, nên có cứu; Thái Âm hóa Lộc tại Tuất (Phu Thê) là bạn đời có tiền, đúng như mục 5 nói Lộc tuổi Đinh không bao giờ chiếu được vào Cự Môn. Lộc Tồn tuổi Đinh tại Ngọ đi cùng Thiên Cơ, Kình Dương tại Mùi cùng Tử Phá ở Tật Ách.
- Đổi sang tuổi Giáp: Cự Môn không hóa, nhưng Thái Dương tại Quan Lộc hóa Kỵ chiếu về Mệnh. Mặt trời soi cửa bị mây: sự nghiệp là nơi sinh thị phi, danh có mà hay bị nói ngược; Liêm Trinh hóa Lộc tại Hợi (Huynh Đệ) và Vũ Khúc hóa Khoa tại Mão (Điền Trạch) thì lại tốt cho anh em và nhà đất. Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần cùng Đồng Lương chiếu về Tài Bạch, tiền có chỗ tích.
Đó là lý do bài này nói "không xét Tứ Hóa là mới đọc được một phần ba Cự Môn". Muốn thấy Cự Môn của chính mình đứng ở đâu và hóa gì, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Cự Môn trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức miếu hãm và Tứ Hóa của riêng quý vị.
14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Cự Môn là sao có cả mặt tốt lẫn mặt cần dè chừng, nên việc cần làm không phải là sợ hãi, mà là biết phát huy tài ăn nói và tiết chế thói vạ miệng, đa nghi.
Dưới đây là vài điều người có Cự Môn nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.
- Uốn lưỡi trước khi nói. Cái họa lớn nhất của Cự Môn nằm ở lời buột miệng. Tập dừng lại một nhịp trước khi phản biện hay phê phán, nhất là khi đang nóng giận.
- Biến tài nói thành nghề. Hãy chọn công việc cho phép dùng tài hùng biện và phân tích như luật, giảng dạy, truyền thông, đàm phán, để sở trường thành sự nghiệp thay vì gây thị phi.
- Bớt đa nghi, tin người hơn một chút. Óc phân tích là quý, nhưng nghi ngờ quá mức làm hao tổn các mối quan hệ. Cho người khác cơ hội được tin tưởng.
- Cẩn trọng giấy tờ và cam kết. Cự Môn dễ vướng kiện cáo, nên mọi hợp đồng, vay mượn, đất đai cần rõ ràng minh bạch, tránh tranh chấp về sau.
- Xem kỹ cả lá số trước khi mừng hay lo. Có Cự Môn đắc cách chưa đủ, phải xem có Thái Dương soi sáng không, có Hóa Lộc Hóa Quyền không, có gặp Hóa Kỵ không. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.
Về phong thủy bổ trợ: người mệnh có Cự Môn vốn hành Thủy, hợp các gam màu xanh dương, đen, xám và không gian sống thoáng, sạch, có yếu tố nước nhẹ nhàng. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Cự Môn: ám tinh chủ ngôn ngữ và thị phi, người nhân hậu vui vẻ, ăn nói đanh thép, có tài hùng biện và óc phân tích, hay nghi ngờ; đắc cách thì uy quyền tài lộc nhờ tài ăn nói, hãm thì gian trá, kém sáng suốt, hay gây thị phi kiện cáo; miếu tại Mão, Dậu; vượng tại Tý, Ngọ, Dần; đắc tại Thân, Hợi; hãm tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ. Phần Tứ Hóa (Tân Lộc, Quý Quyền, Đinh Kỵ) và các cách Thạch Trung Ẩn Ngọc, Cự Nhật, Cự Cơ, Đồng Cự lấy từ phần cách cục của cùng sách.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), mục Sao Cự Môn: Cự Môn thuộc Thủy, là ám tinh chủ thị phi khẩu thiệt; miếu tại Mão, Dậu, Dần, Thân; vượng tại Tý, Ngọ, Hợi; hãm tại Tỵ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; gặp Thái Dương thành Cự Nhật, gặp Hóa Kỵ cùng Thiên Cơ thành thị phi kiện tụng nặng. Các câu phú "Cự Môn Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc phúc hưng long", "Cự Nhật Dần cung, thực lộc trì danh", "Cự Nhật đồng cung, quan phong tam đại", "Cự Cơ đồng cung, công khanh chi vị", "Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát lộc tranh vanh" và "Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử" dẫn theo các bài phú trong bản dịch này.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng cấu trúc 12 vị trí ở mục 2 (đồng cung, tam hợp, xung chiếu, giáp) được sinh bằng chương trình chạy đủ 12 vị trí Tử Vi và đối chiếu với thuật toán an sao đang dùng trên trang an lá số, cho kết quả: Cự Môn luôn có Tham Lang kề trước, Thiên Tướng kề sau, tam phương tứ chính chỉ gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương. Bảng Tứ Hóa ở mục 5 và mục 10 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), Cự Môn ở hai phái không khác nhau. Vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo tuổi nêu trong bài (tuổi Tân tại Dậu, Tuất, Thân; tuổi Quý tại Tý, Sửu, Hợi; tuổi Đinh tại Ngọ, Mùi, Tỵ) cũng lấy từ bảng ấy. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán này.
Lưu ý về dị bản: hai bộ sách trên xếp miếu vượng của Cự Môn hơi khác nhau ở một số cung, rõ nhất là Dần, Thân và Hợi, trong đó Toàn Thư xếp Dần Thân là miếu còn Tân Biên xếp Dần vượng, Thân đắc; Hợi thì Tân Biên đắc, Toàn Thư vượng. Ngũ hành Cự Môn có sách ghi thuần Thủy, có sách ghi Âm Thủy kiêm chút Kim. Riêng Tứ Hóa của Cự Môn (Tân Lộc, Quý Quyền, Đinh Kỵ) hai phái Nam Bắc thống nhất, nhưng Thiên Đồng chiếu về Cự Môn thì tuổi Canh hóa Khoa theo Nam phái và hóa Kỵ theo Bắc phái, nên Đồng Cự của người tuổi Canh đọc khác nhau giữa hai phái. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Cự Môn
Cự Môn là một trong các chính tinh thuộc chòm Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Thủy kiêm chút Kim. Đây là ám tinh, chủ về ngôn ngữ, khẩu thiệt và thị phi. Người có Cự Môn thường nhân hậu, vui vẻ, ăn nói đanh thép, có tài hùng biện và óc phân tích, nhưng cũng hay nghi ngờ và dễ vướng thị phi nếu sao hãm địa.
Cự Môn được gọi là ám tinh vì bản chất nó thiên về che giấu, ngầm ẩn, hay sinh nghi ngờ và nói ra điều khiến người khác phật lòng. Sao này chủ về cái miệng, lời nói nên gắn với khẩu thiệt. Khi đắc cách và có Thái Dương soi sáng thì lời nói thành quyền uy tài lộc, khi hãm địa thì dễ gây thị phi, kiện cáo, tai họa do lời nói.
Thạch trung ẩn ngọc là cách Cự Môn đóng tại Tý hoặc Ngọ, ví như viên ngọc quý còn ẩn trong đá. Cự Môn ở đây vốn vượng nhưng còn ám, cần có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền đồng cung, hoặc có Tuần Triệt án ngữ để phá lớp đá lộ ngọc. Khi hợp cách, người này tài cao, ăn nói có uy, công danh hiển đạt từ tài hùng biện.
Cự Nhật là cách Cự Môn đồng cung với Thái Dương, xảy ra tại Dần và Thân. Thái Dương miếu vượng tỏa sáng đẩy lùi nét ám của Cự Môn, biến tài ăn nói thành thanh danh và uy tín. Người hợp cách Cự Nhật, nhất là tại Dần, thường có tài ngoại giao, hùng biện, danh tiếng lan xa, hợp các nghề dùng miệng lưỡi và ánh sáng công khai.
Cự Cơ Hóa Kỵ là Cự Môn đồng cung với Thiên Cơ tại Mão hoặc Dậu mà gặp Hóa Kỵ. Thiên Cơ chủ mưu trí, Cự Môn chủ khẩu thiệt, thêm Hóa Kỵ thì thành thị phi kiện tụng nặng, tính toán quá mức sinh đa nghi, lời nói dễ rước họa, công việc nhiều biến động trắc trở. Đây là tổ hợp rất cần cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói và giấy tờ pháp lý.
Theo bảng Tứ Hóa mà trang an lá số thayungkhiem.vn đang dùng, và cả hai phái Nam Bắc đều thống nhất: tuổi Tân Cự Môn hóa Lộc, tuổi Quý hóa Quyền, tuổi Đinh hóa Kỵ. Cự Môn không bao giờ hóa Khoa. Các tuổi còn lại Cự Môn không hóa, giữ độ sáng gốc theo miếu hãm và chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương chiếu về, ví dụ tuổi Mậu có Thiên Cơ hóa Kỵ, tuổi Giáp có Thái Dương hóa Kỵ.
Do cách an sao theo chuỗi Thiên Phủ, tam phương tứ chính của Cự Môn chỉ có thể gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Dương hoặc cung trống. Cự Môn không bao giờ có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thái Âm, Thiên Lương, Sát Phá Tham chiếu về. Ngoài ra Tham Lang luôn nằm ở cung liền trước và Thiên Tướng luôn nằm ở cung liền sau Cự Môn.
Năm có can Đinh thì Cự Môn lưu hóa Kỵ, gần nhất là 2027 Đinh Mùi, sau đó là 2037 Đinh Tỵ. Năm ấy nên giữ miệng, giữ giấy tờ, tránh kiện tụng và cam kết miệng, nhất là khi Cự Môn bản mệnh cũng đã hóa Kỵ vì tuổi Đinh, gọi là Kỵ chồng Kỵ. Ngược lại năm can Tân Cự Môn lưu hóa Lộc (2031 Tân Hợi), năm can Quý lưu hóa Quyền (2033 Quý Sửu), là những năm thuận cho việc dùng lời nói kiếm tiền và nắm quyền phát ngôn.
Không. Sách xếp Cự Môn tại Thìn Tuất là hãm vì hai cung ấy là Thiên La Địa Võng, nhưng phú Toàn Thư nói rõ người tuổi Tân có Cự Môn hóa Lộc thì cái hãm thành cái quý, và người luận đời sau thêm tuổi Quý có Cự Môn hóa Quyền, gọi chung là phản vi kỳ cách. Xét cấu trúc thì Cự Môn Tuất còn được Thái Dương Ngọ miếu chiếu về, còn tuổi Tân có Kình Dương an tại Tuất nên phản vi kỳ ở Thìn trọn hơn ở Tuất. Chỉ khi hãm mà gặp Hóa Kỵ, Hỏa Linh, Kình Đà mới thật sự xấu.