1 Sao Hóa Lộc là gì

Tứ Hóa là bốn hóa khí của khoa Tử Vi Đẩu Số: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kỵ. Chúng không phải là sao có vị trí cố định, mà là khí biến hóa bám vào một chính tinh, sinh ra theo can của năm sinh. Hiểu nôm na, mỗi can năm sẽ khiến bốn ngôi sao nhất định khoác thêm một tầng ý nghĩa mới.
Hóa Lộc đứng đầu bộ Tứ Hóa, hành Mộc, là khí tài lộc. Sao nào được Hóa Lộc thì như cây gặp mưa thuận, mở ra của cải, cơ hội, sự hanh thông và may mắn ở lĩnh vực sao ấy cai quản.
2 Cơ Chế Phát Sinh Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Điều đầu tiên phải nói cho rõ, vì đây là chỗ chín phần mười người mới hiểu sai: Hóa Lộc không phải một ngôi sao có cung cố định. Một trăm mười bảy sao còn lại trong bộ 121 sao đều được an vào một cung nào đó theo tháng sinh, giờ sinh, chi năm hay can năm. Riêng bốn hóa khí Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ thì không. Chúng là khí biến hóa bám vào lưng một ngôi sao đã có sẵn trên lá số. Hỏi "Hóa Lộc của tôi ở cung nào" là hỏi ngược: phải hỏi "tuổi tôi thì sao nào hóa Lộc", rồi tìm ngôi sao ấy trên lá số, nó đứng đâu thì Hóa Lộc ở đó. Vì vậy Hóa Lộc có thể rơi vào bất kỳ cung nào trong mười hai cung, không có cung nào nó không bao giờ tới.
Kinh văn Điều thứ hai: Hóa Lộc sinh ra theo can, mà trên một lá số có tới bốn lớp can chồng lên nhau, nên cũng có bốn lớp Hóa Lộc chồng lên nhau. Đây chính là phần mà phần lớn trang viết về Tứ Hóa bỏ qua, và cũng là phần làm nên chiều sâu của khoa Tứ Hóa:
Bốn lớp can, bốn lớp Hóa Lộc
- Can năm sinh, sinh ra Hóa Lộc bản mệnh. Lớp này cố định suốt đời, là cái nền. Tuổi Kỷ thì Vũ Khúc hóa Lộc từ lúc lọt lòng tới lúc nhắm mắt.
- Can của cung đại vận, sinh ra Hóa Lộc đại vận. Mỗi mười năm đại vận đóng vào một cung, cung ấy có can riêng của nó, can ấy lại làm một ngôi sao khác hóa Lộc trong suốt mười năm. Đây là lý do có người bản mệnh không đẹp mà một đại vận bỗng phát.
- Can của năm xem, sinh ra Hóa Lộc lưu niên. Mỗi năm một bộ Tứ Hóa mới quét qua lá số. Năm Kỷ thì Vũ Khúc lưu hóa Lộc cho tất cả mọi người, nhưng rơi vào cung nào thì tùy lá số từng người.
- Can của từng cung, sinh ra phi hóa. Mười hai cung trên lá số mỗi cung mang một can riêng. Lấy can của cung Tài Bạch cho hóa Lộc bay đi, nó đậu vào cung nào thì tiền của cung Tài Bạch chảy về lĩnh vực ấy. Đây là phi hóa, sở trường của Bắc phái Trung Châu và cũng là sở trường của UK MASTER ACADEMY.
Bốn lớp ấy có thể chồng lên nhau tại cùng một cung. Khi Hóa Lộc bản mệnh, Hóa Lộc đại vận và Hóa Lộc lưu niên cùng đậu vào một cung trong một năm, đó thường là năm đổi đời về mặt tài lộc của lĩnh vực cung ấy. Đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi vì sao hai người cùng lá số mà một người phát năm nay, người kia phát năm khác.
Bảng đủ mười can: can nào thì sao nào hóa Lộc
Kinh văn Bảng dưới đây chép đúng bảng máy chủ đang an sao của thayungkhiem.vn. Suy luận Có một điểm ít người để ý mà chạy thuật toán đối chiếu hai phái thì thấy ngay: riêng cột Hóa Lộc, Nam phái và Bắc phái trùng khớp hoàn toàn ở cả mười can. Dị bản giữa hai phái chỉ nằm ở cột Khoa và cột Kỵ của tuổi Canh và tuổi Nhâm. Nghĩa là trong bốn hóa, Hóa Lộc là hóa ít tranh cãi nhất, ai học phái nào cũng tra ra một kết quả.
| Tuổi can | Sao hóa Lộc |
|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh |
| Ất | Thiên Cơ |
| Bính | Thiên Đồng |
| Đinh | Thái Âm |
| Mậu | Tham Lang |
| Kỷ | Vũ Khúc |
| Canh | Thái Dương |
| Tân | Cự Môn |
| Nhâm | Thiên Lương |
| Quý | Phá Quân |
Suy luận Chạy đủ mười can qua thuật toán còn rút ra hai điều bất biến nữa, đáng để nhớ nằm lòng:
Bốn chính tinh không bao giờ hóa Lộc
Mười ngôi sao hóa Lộc theo mười can đều là chính tinh, và mười ngôi ấy khác nhau, không sao nào lặp lại. Trong mười bốn chính tinh thì còn lại đúng bốn sao không bao giờ hóa Lộc với bất kỳ tuổi nào: Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát. Riêng Thất Sát là chính tinh duy nhất không hóa gì cả, không Lộc, không Quyền, không Khoa, không Kỵ, ở cả hai phái.
Suy luận Điều này không phải ngẫu nhiên. Tử Vi là đế tinh, Thiên Phủ là kho lẫm, Thiên Tướng là ấn tinh, ba sao ấy vốn đã là "cái có sẵn", không cần khoác thêm lộc. Thất Sát là tướng ngoài biên, thuần một khí sát phạt, không nhận hóa khí nào. Cho nên ai nói "Tử Vi hóa Lộc" hay "Thất Sát hóa Lộc" là đã tra nhầm bảng. Người có Mệnh Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng hay Thất Sát muốn có Lộc thì phải trông vào Lộc Tồn, hoặc trông vào Hóa Lộc của một sao khác chiếu về, chứ chính ngôi sao thủ Mệnh của họ không mang Lộc được.
Hóa Lộc khác Lộc Tồn ở chỗ nào
Kinh văn Hai sao cùng chữ Lộc, cùng an theo can năm sinh, nên rất hay bị gộp làm một. Thực ra chúng khác nhau về bản chất. Lộc Tồn là một ngôi sao thật, có cung cố định. Cho biết can năm sinh là biết ngay Lộc Tồn ở cung địa chi nào, không cần biết gì thêm. Còn Hóa Lộc là khí, phải biết cả cách an chính tinh mới biết nó rơi vào đâu. Bảng dưới đây là vị trí Lộc Tồn và hai sao luôn kèm nó:
| Tuổi can | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi |
Ba điều bất biến của Lộc Tồn mà Hóa Lộc không có
- Lộc Tồn không bao giờ vào bốn cung mộ. Chạy đủ mười can thì Lộc Tồn chỉ có thể an tại Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không bao giờ có Lộc Tồn. Hóa Lộc thì vào đủ mười hai cung. Vì thế người có Mệnh tại tứ mộ mà muốn có Lộc thì chỉ trông vào Hóa Lộc, hoặc trông vào Lộc Tồn chiếu về từ cung khác.
- Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên. Kình Dương an ở cung liền sau Lộc Tồn, Đà La an ở cung liền trước, không có ngoại lệ nào trong mười can. Nghĩa là hễ có Lộc Tồn là có thế Kình Đà giáp. Cổ nhân gọi cái này là "lộc có gai": tiền của Lộc Tồn là tiền giữ được nhưng giữ trong sự đề phòng, và cung đứng cạnh Lộc Tồn hai bên luôn phải chịu một sát tinh. Hóa Lộc thì không mang theo sát tinh nào cả, nó nhẹ nhàng hơn nhưng cũng không có tường bao.
- Song Lộc là khi hai thứ ấy gặp nhau. Hóa Lộc và Lộc Tồn cùng một cung là Song Lộc đồng cung, hai sao xung chiếu nhau hoặc cùng chầu về một cung là Song Lộc hội chiếu. Đây mới là nghĩa đúng của chữ Song Lộc, chứ không phải "hai lần Hóa Lộc".
Song Lộc hiếm tới mức nào
Suy luận Câu hỏi này chưa trang nào trả lời bằng số, mà chạy thuật toán thì ra rất gọn. Với mỗi tuổi can, chính tinh hóa Lộc của tuổi ấy có thể đứng ở mười hai vị trí tùy theo Tử Vi an ở đâu. Đối chiếu với vị trí cố định của Lộc Tồn, kết quả giống hệt nhau ở cả mười can: đúng một thế trong mười hai cho Song Lộc đồng cung, đúng một thế cho Song Lộc xung chiếu, và hai thế cho Hóa Lộc tam hợp chiếu Lộc Tồn. Tám thế còn lại thì hai Lộc không nhìn thấy nhau. Nói cách khác, cứ khoảng một phần mười hai số lá số của một tuổi mới có Song Lộc đồng cung, và khoảng một phần ba có hai Lộc chầu nhau ở mức nào đó.
| Tuổi can | Sao hóa Lộc | Lộc Tồn cố định tại | Thế cho Song Lộc đồng cung | Thế cho Song Lộc xung chiếu | Hóa Lộc tam hợp Lộc Tồn tại |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | Dần | Tử Vi tại Tuất, hai Lộc cùng ở Dần | Tử Vi tại Thìn, Hóa Lộc ở Thân xung Lộc Tồn | Ngọ hoặc Tuất |
| Ất | Thiên Cơ | Mão | Tử Vi tại Thìn, hai Lộc cùng ở Mão | Tử Vi tại Tuất, Hóa Lộc ở Dậu xung Lộc Tồn | Hợi hoặc Mùi |
| Bính | Thiên Đồng | Tỵ | Tử Vi tại Tuất, hai Lộc cùng ở Tỵ | Tử Vi tại Thìn, Hóa Lộc ở Hợi xung Lộc Tồn | Dậu hoặc Sửu |
| Đinh | Thái Âm | Ngọ | Tử Vi tại Hợi, hai Lộc cùng ở Ngọ | Tử Vi tại Tỵ, Hóa Lộc ở Tý xung Lộc Tồn | Dần hoặc Tuất |
| Mậu | Tham Lang | Tỵ | Tử Vi tại Sửu, hai Lộc cùng ở Tỵ | Tử Vi tại Mùi, Hóa Lộc ở Hợi xung Lộc Tồn | Sửu hoặc Dậu |
| Kỷ | Vũ Khúc | Ngọ | Tử Vi tại Tuất, hai Lộc cùng ở Ngọ | Tử Vi tại Thìn, Hóa Lộc ở Tý xung Lộc Tồn | Tuất hoặc Dần |
| Canh | Thái Dương | Thân | Tử Vi tại Hợi, hai Lộc cùng ở Thân | Tử Vi tại Tỵ, Hóa Lộc ở Dần xung Lộc Tồn | Tý hoặc Thìn |
| Tân | Cự Môn | Dậu | Tử Vi tại Tuất, hai Lộc cùng ở Dậu | Tử Vi tại Thìn, Hóa Lộc ở Mão xung Lộc Tồn | Tỵ hoặc Sửu |
| Nhâm | Thiên Lương | Hợi | Tử Vi tại Tuất, hai Lộc cùng ở Hợi | Tử Vi tại Thìn, Hóa Lộc ở Tỵ xung Lộc Tồn | Mùi hoặc Mão |
| Quý | Phá Quân | Tý | Tử Vi tại Dần, hai Lộc cùng ở Tý | Tử Vi tại Thân, Hóa Lộc ở Ngọ xung Lộc Tồn | Thân hoặc Thìn |
Suy luận Bảng này dùng được ngay khi luận nhanh. Ví dụ quý vị tuổi Kỷ: chỉ khi Tử Vi an tại Tuất thì Vũ Khúc hóa Lộc mới rơi vào Ngọ, đúng chỗ Lộc Tồn tuổi Kỷ đóng, thành Song Lộc đồng cung tại Ngọ. Tuổi Nhâm cũng vậy, cũng phải Tử Vi tại Tuất thì Thiên Lương hóa Lộc mới về Hợi gặp Lộc Tồn. Ngược lại tuổi Kỷ mà Tử Vi tại Thìn thì Vũ Khúc hóa Lộc rơi vào Tý, xung thẳng Lộc Tồn ở Ngọ, hai Lộc nhìn nhau qua trục mà không ở cùng nhà.
Kinh nghiệm Thầy nói thêm một điều thực tế. Nhiều người tra được mình có Song Lộc rồi mừng, nhưng Song Lộc mà đóng vào cung Nô Bộc hay cung Tật Ách thì cái mừng ấy phải đọc lại. Lộc rơi vào cung nào là rót của cải vào lĩnh vực cung ấy, không phải rót vào túi mình. Mục về cách cục ở dưới sẽ nói kỹ hai trường hợp này.
3 Ý nghĩa và đặc tính của Hóa Lộc

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Hóa Lộc được tôn là thần của cung Phúc Đức, ví như vị quan trông coi việc thu hoạch của cải ở cung Điền Trạch và cung Tài Bạch. Người có Hóa Lộc nổi bật thường nhân hậu, từ thiện, có lòng cứu khốn phò nguy, lại được tài lộc tăng tiến, giữ được chức vị và uy quyền.
Hóa Lộc còn có khả năng giải trừ bệnh tật, tai họa, làm dịu những thế xấu. Vì sinh theo can năm, Hóa Lộc bám vào sao nào thì khuếch đại mặt tốt của sao ấy về phía tài lộc và thuận lợi.
4 Bảng Tra Nhanh: Can Năm Sinh Và Sao Hóa Lộc
Mỗi can năm sinh khiến một chính tinh hóa Lộc. Đây là bảng tra cốt lõi: muốn biết lá số mình Hóa Lộc vào sao nào, hãy xem can của năm sinh.
| Can năm sinh | Sao được Hóa Lộc |
|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh |
| Ất | Thiên Cơ |
| Bính | Thiên Đồng |
| Đinh | Thái Âm |
| Mậu | Tham Lang |
| Kỷ | Vũ Khúc |
| Canh | Thái Dương |
| Tân | Cự Môn |
| Nhâm | Thiên Lương |
| Quý | Phá Quân |
Ghi nhớ: Hóa Lộc bám vào sao nào thì lĩnh vực sao ấy được hanh thông về tài lộc. Ví dụ tuổi Giáp thì Liêm Trinh hóa Lộc, tuổi Kỷ thì Vũ Khúc hóa Lộc (tài tinh gặp Lộc rất hợp).
5 Hóa Lộc Khi Gặp Các Sao Khác

Hóa Lộc phát huy mạnh nhất khi bám vào các sao tài như Vũ Khúc, Tham Lang, hoặc gặp Lộc Tồn đồng cung tạo thành Song Lộc, khi đó của cải càng thêm dồi dào. Gặp Thiên Mã thành cách Lộc Mã giao trì, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại hanh thông.
Ngược lại, Hóa Lộc mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không hay Đại Tiểu Hao thì như túi tiền thủng đáy, tài tới rồi đi, dễ hao tán. Vì vậy có Hóa Lộc chưa đủ, còn phải xem nó có bị các sao hao kiếp phá hay không.
6 Luận Từng Sao Hóa Lộc Theo Mười Can
Kinh văn Đây là trái tim của bài. Hóa Lộc không có nghĩa riêng, nó chỉ có nghĩa khi đã biết nó bám vào lưng ai. Cùng một chữ Lộc, đặt lên Vũ Khúc thì thành tiền do tay nghề làm ra, đặt lên Thiên Lương thì thành lộc của người cứu người, đặt lên Cự Môn thì thành tiền của cái miệng, đặt lên Phá Quân thì thành tiền của việc đập đi xây lại. Mười can là mười thứ lộc khác nhau về bản chất, không phải mười mức độ nhiều ít của cùng một thứ. Bảng tra ở mục trước cho biết ai hóa Lộc; mục này nói mỗi cái hóa ấy nghĩa là gì.
| Tuổi can | Sao hóa Lộc |
|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh |
| Ất | Thiên Cơ |
| Bính | Thiên Đồng |
| Đinh | Thái Âm |
| Mậu | Tham Lang |
| Kỷ | Vũ Khúc |
| Canh | Thái Dương |
| Tân | Cự Môn |
| Nhâm | Thiên Lương |
| Quý | Phá Quân |
Tuổi Giáp: Liêm Trinh hóa Lộc, tù tinh được cởi trói
Kinh văn Liêm Trinh là tù tinh, thứ đào hoa, chủ giao tế và cũng chủ cái nết cứng, cái tính hay tự trói mình vào nguyên tắc. Liêm Trinh hóa Lộc là ngôi sao ấy được cởi trói: cái cứng chuyển thành sức hút, cái nguyên tắc chuyển thành uy tín nghề nghiệp. Kinh nghiệm Trên lá số thật, tiền của Liêm Lộc vào bằng quan hệ và bằng mặt mũi, hợp những nghề mà khách mua vì tin người bán: bán hàng cao cấp, môi giới, giao tế, thẩm mỹ, giải trí, ngoại giao doanh nghiệp. Mặt cần giữ là Liêm vốn có tính đào hoa và tính đỏ đen, Lộc lại làm nó nồng hơn, nên tiền và tình rất dễ trộn vào nhau; ký hợp đồng với người mình có tình cảm là chỗ Thầy hay phải dặn nhất ở tuổi Giáp.
Suy luận Một ưu thế cấu trúc của tuổi Giáp mà chạy thuật toán mới thấy: tuổi Giáp có Liêm Trinh hóa Lộc và Thái Dương hóa Kỵ, mà hai sao này trên mọi lá số luôn cách nhau đúng bảy cung, không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp. Nghĩa là Lộc bản mệnh của tuổi Giáp gần như không bao giờ bị chính Kỵ bản mệnh của mình xung phá. Đó là một cái may về cấu trúc mà tuổi Quý ở cuối bảng không có.
Tuổi Ất: Thiên Cơ hóa Lộc, lộc của cái đầu
Kinh văn Thiên Cơ là mưu tinh, tượng bánh xe, chủ trí xảo và sự vận động. Thiên Cơ hóa Lộc là tiền sinh từ ý nghĩ: từ phương pháp, kế hoạch, môi giới, kỹ thuật, máy móc, phần mềm, dạy học, viết lách. Lộc của Thiên Cơ là lộc động chứ không phải lộc tĩnh: đến bằng nhiều nguồn nhỏ, đến rồi lại phải nghĩ ra nguồn mới, ít khi là một dòng tiền chảy đều suốt hai mươi năm. Kinh nghiệm Người tuổi Ất có Cơ Lộc rất hợp làm tư vấn, thiết kế giải pháp, đứng giữa hai bên ăn phần chênh; kém hợp nghề giữ kho và nghề cần ngồi yên một chỗ.
Suy luận Tuổi Ất có một điểm đặc biệt: chạy đủ mười can thì Ất là tuổi duy nhất mà Hóa Lộc và Hóa Kỵ bản mệnh có thể đứng chung một cung. Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ cùng đóng tại Dần khi Tử Vi an ở Mão, hoặc cùng tại Thân khi Tử Vi an ở Dậu. Cùng một cung vừa có Lộc vừa có Kỵ là thế "vừa được vừa mất", tiền vào tay rồi tuột, cơ hội mở ra rồi khép lại, và người ngoài nhìn vào thường không hiểu vì sao người ấy làm nhiều mà không dư. Tám tuổi can khác không có tình huống này.
Tuổi Bính: Thiên Đồng hóa Lộc, lộc hưởng chứ không phải lộc tranh
Kinh văn Thiên Đồng là phúc tinh, tượng đứa trẻ, chủ sự an nhàn và lòng hòa nhã. Thiên Đồng hóa Lộc là phúc tinh thêm phúc: cuộc sống dư dả một cách nhẹ nhàng, có người lo cho, gặp việc khó thì có người đỡ. Nghề hợp là nghề dịch vụ, ăn uống, chăm sóc, giải trí, những nghề làm cho người khác dễ chịu. Kinh nghiệm Nhưng đây là hóa Lộc mà Thầy hay phải nói thêm một câu dặn: Đồng Lộc dễ khiến người ta an phận. Có lộc mà thiếu chí, đủ ăn mà không lớn được, là hình ảnh rất hay gặp ở tuổi Bính có Thiên Đồng thủ Mệnh. Lá số kiểu này cần có Hóa Quyền hoặc một sát tinh đắc địa ở tam phương để thúc cho người ấy chịu bước ra.
Tuổi Đinh: Thái Âm hóa Lộc, lộc tích lũy
Kinh văn Thái Âm là điền trạch chủ, tượng mặt trăng, tượng mẹ và vợ, chủ của để dành. Thái Âm hóa Lộc là lộc tích chứ không phải lộc tiêu: nhà đất, tiết kiệm, tài sản âm thầm lớn lên, tiền từ bên nữ trong nhà, tiền từ nghề liên quan đến nhà cửa và chăm sóc. Đây là hóa Lộc phải xét miếu hãm kỹ nhất trong mười, vì Thái Âm sáng hay tối chênh nhau rất xa. Thái Âm sáng ở Dậu, Tuất, Hợi, Tý mà hóa Lộc thì của để dành là thật, mỗi năm mỗi dày. Thái Âm hãm ở Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ mà hóa Lộc thì có tiền nhưng tiền không chịu nằm yên, mua rồi bán, tích rồi tiêu, và thường phải lo cho người khác bằng chính khoản mình định để dành.
Suy luận Tuổi Đinh còn một thuận lợi về cấu trúc. Bộ ba Lộc Thái Âm, Quyền Thiên Đồng, Khoa Thiên Cơ của tuổi Đinh đều là chính tinh, và chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì có tới sáu thế cho ba sao ấy cùng nằm trong một tam hợp. Tuổi Giáp cũng được sáu thế. Còn tuổi Ất, tuổi Kỷ, tuổi Canh, tuổi Quý thì không một thế nào cho Lộc Quyền Khoa cùng tam hợp. Đây là điều nên biết trước khi đi tìm cách Tam Kỳ Gia Hội trên lá số của mình, sẽ nói kỹ ở mục cách cục.
Tuổi Mậu: Tham Lang hóa Lộc, lộc của lòng ham muốn
Kinh văn Tham Lang là sao dục vọng, chủ giao tế, tài nghệ và cả đào hoa. Tham Lang hóa Lộc là khát vọng biến thành của cải: kiếm được vì muốn nhiều, vì chịu ra ngoài quan hệ, vì biết chiều người. Nghề hợp là những nghề mà cuộc gặp gỡ sinh ra hợp đồng: thương mại, tiếp thị, bất động sản, nghệ thuật ứng dụng, ẩm thực, dịch vụ đêm. Kinh văn Khi Tham Lang đồng cung Vũ Khúc tại Sửu hoặc Mùi mà lại hóa Lộc thì thành bộ Vũ Tham rất mạnh về tiền, nhưng phú cổ đã dặn trước rằng bộ này phát muộn, "Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân", nghĩa là đừng nôn nóng ở tuổi trẻ. Kinh nghiệm Mặt cần giữ của Tham Lộc rất rõ: Lộc nuôi lòng tham, mà lòng tham của Tham Lang thì không dừng ở tiền, nó còn ở rượu, ở cờ bạc, ở tình. Người tuổi Mậu làm ăn khá lên thường phải giữ mình đúng ở khúc khá lên ấy.
Tuổi Kỷ: Vũ Khúc hóa Lộc, tài tinh gặp Lộc
Kinh văn Vũ Khúc là chính tài tinh của khoa Tử Vi, tượng kim khí, chủ quyết đoán và tiền do làm ra. Trong mười ngôi hóa Lộc thì đây là cặp hợp nhau nhất về bản chất: sao vốn chủ tiền lại được thêm khí tiền. Tiền của Vũ Lộc là tiền sạch của tay nghề, của kỷ luật, của việc làm thật, không phải tiền may rủi. Nghề hợp là tài chính, ngân hàng, kim khí, cơ khí, quân đội, công an, kinh doanh có sổ sách rõ ràng. Kinh nghiệm Người tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc thường không giàu nhanh, nhưng giàu chắc, và rất ít khi trắng tay hẳn vì họ luôn có một nghề trong tay.
Suy luận Tuổi Kỷ còn có Tham Lang hóa Quyền. Vũ Khúc và Tham Lang là đôi sao hoặc đồng cung tại Sửu Mùi, hoặc luôn nhìn thấy nhau ở nhiều thế, nên Vũ Lộc Tham Quyền là bộ tiền cộng với sức bung rất đáng chú ý. Điều phải xem thêm là Hóa Kỵ của tuổi Kỷ rơi vào Văn Khúc, mà Văn Khúc là phụ tinh an theo giờ sinh, nên hai người cùng tuổi Kỷ cùng ngày mà khác giờ thì cái Kỵ ấy đậu ở hai cung khác nhau. Không biết giờ sinh thì không luận trọn được Tứ Hóa tuổi Kỷ.
Tuổi Canh: Thái Dương hóa Lộc, danh sinh lợi
Kinh văn Thái Dương chủ quý chứ không chủ phú, tượng mặt trời, tượng cha và chồng. Thái Dương hóa Lộc là có tiếng rồi mới có tiền: công danh sinh ra của cải, làm việc gì cũng có người biết đến và được trả công xứng đáng. Thái Dương miếu vượng ở Tỵ, Ngọ, Dần, Mão, Thìn mà hóa Lộc là thế đẹp nhất của sao này, danh và lợi đi cùng nhau. Thái Dương hãm ở Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý mà hóa Lộc thì Lộc vẫn có nhưng là lộc lao lực: làm nhiều hưởng vừa, và tiền ấy thường chảy sang cha, chồng, con trai hay cấp dưới nhiều hơn là ở lại với mình.
Kinh văn Tuổi Canh là một trong hai can có dị bản giữa hai phái, nhưng dị bản không rơi vào Hóa Lộc. Cả Nam phái lẫn Bắc phái đều thống nhất tuổi Canh Thái Dương hóa Lộc và Vũ Khúc hóa Quyền; chỗ khác nhau là Hóa Khoa và Hóa Kỵ. Trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định, tuổi Canh là Thiên Đồng hóa Khoa và Thiên Tướng hóa Kỵ; Bắc phái đổi thành Thái Âm hóa Khoa và Thiên Đồng hóa Kỵ.
Tuổi Tân: Cự Môn hóa Lộc, cái miệng ra tiền
Kinh văn Cự Môn là ám tinh, chủ thị phi và khẩu thiệt, tượng cái miệng và cánh cửa lớn. Kinh nghiệm Trong mười ngôi hóa Lộc thì đây là cái hóa làm đổi chất ngôi sao mạnh nhất: từ ám thành sáng, từ tiếng ra tiếng vào thành tiếng nói có giá. Cự Môn hóa Lộc là tiền của lời nói: dạy học, luật sư, phát thanh, truyền thông, bán hàng bằng lời, đàm phán, phiên dịch, và cả nghề ăn uống vì Cự Môn cũng chủ khẩu. Tuổi Tân còn có Thái Dương hóa Quyền, mà Cự Môn với Thái Dương vốn hoặc đồng cung tại Dần Thân, hoặc thường nhìn thấy nhau, nên bộ Cự Nhật của tuổi Tân là Lộc và Quyền chầu nhau, rất hợp người sống bằng uy tín của lời nói.
Kinh nghiệm Mặt cần giữ: Cự Môn hóa Lộc vẫn là Cự Môn. Lộc làm cho lời nói ra tiền, nhưng không xóa được cái gốc ám của nó. Nói nhiều thì vẫn sinh tiếng, và tuổi Tân lại có Văn Xương hóa Kỵ, là cái Kỵ của chữ nghĩa giấy tờ. Nghề nói thì phát, nhưng hợp đồng và giấy tờ phải đọc kỹ, đó là chỗ Thầy dặn tuổi Tân nhiều nhất.
Tuổi Nhâm: Thiên Lương hóa Lộc, cái hóa gây tranh cãi nhất
Kinh văn Thiên Lương là ấm tinh, sao che chở, chủ sự thanh cao, chủ việc giải nạn cứu người. Trong sách xưa, Thiên Lương vốn được xem là ngôi sao không ưa tiền, cho nên Thiên Lương hóa Lộc là cái hóa bị bàn nhiều nhất trong mười: có nhà cho là đẹp, có nhà cho là ngôi sao trông coi việc cứu người mà nhận lộc thì dễ mang tiếng. Kinh nghiệm Cách đọc mà Thầy thấy đúng nhất trên lá số thật là thế này: Lương Lộc là lộc của người lấy chuyên môn ra giúp người và được trả công cho chuyên môn ấy. Bác sĩ, thầy giáo, luật sư, người làm bảo hiểm, người làm công tác xã hội có lương bổng, người làm tư vấn. Rất hợp nghề có phí chuyên môn, kém hợp nghề buôn thuần túy, vì buôn thì phải mặc cả mà Thiên Lương không hợp mặc cả. Người tuổi Nhâm làm nghề chuyên môn thì lộc bền; chuyển sang nghề chỉ mua đi bán lại thì hay vướng tiếng.
Kinh văn Tuổi Nhâm là can dị bản thứ hai, và cũng như tuổi Canh, dị bản không rơi vào Hóa Lộc: hai phái đều nhận Thiên Lương hóa Lộc và Tử Vi hóa Quyền. Chỗ khác là Hóa Khoa, Nam phái để Tả Phụ, Bắc phái để Thiên Phủ.
Tuổi Quý: Phá Quân hóa Lộc, lộc của việc đập đi xây lại
Kinh văn Phá Quân là sao hao, chủ phá cũ dựng mới, tượng sóng lớn. Phá Quân hóa Lộc là lộc đến từ sự thay đổi: phá dỡ rồi xây lại, bỏ nghề cũ mở nghề mới, khai phá thị trường chưa ai làm, làm những việc dở dang của người khác. Nghề hợp là xây dựng, phá dỡ, vận tải, hàng hải, thủy sản, tái chế, những nghề nặng và những nghề đi trước thiên hạ một bước. Kinh nghiệm Người tuổi Quý có Phá Lộc kiếm được nhiều mà tiêu cũng nhiều, tiền đi qua tay chứ ít khi nằm lại, cho nên lá số kiểu này rất cần Lộc Tồn hoặc Thiên Phủ để có chỗ chứa.
Suy luận Và đây là phát hiện đáng chú ý nhất khi chạy thuật toán qua đủ mười can: tuổi Quý là tuổi duy nhất mà Hóa Lộc bản mệnh luôn nằm trong tam hợp với Hóa Kỵ bản mệnh. Tuổi Quý có Phá Quân hóa Lộc và Tham Lang hóa Kỵ, mà Phá Quân với Tham Lang là hai chân của bộ Sát Phá Tham, trên mọi lá số luôn cách nhau tám cung, tức luôn tam hợp. Nghĩa là cái lộc của tuổi Quý lúc nào cũng có bóng cái kỵ đi kèm, không có lá số tuổi Quý nào thoát được thế này. Đối chiếu ngược lại: tuổi Giáp cách bảy cung, tuổi Bính cách ba cung, tuổi Đinh cách mười cung, tuổi Mậu, Canh, Nhâm luôn lệch số cung lẻ, nên ở sáu tuổi ấy Lộc và Kỵ bản mệnh không bao giờ gặp nhau trong tam phương tứ chính. Tuổi Kỷ và tuổi Tân có Hóa Kỵ rơi vào phụ tinh nên còn tùy giờ sinh.
Hóa Lộc bay tới từ cung khác: phi hóa Lộc
Kinh nghiệm Ba lớp Hóa Lộc bản mệnh, đại vận, lưu niên đều lấy can làm gốc từ bên ngoài lá số. Còn lớp thứ tư lấy can ngay trên lá số: mỗi cung trong mười hai cung mang một can riêng, và can ấy cho một hóa Lộc bay đi đậu vào cung khác. Cách đọc rất trực quan: cung A phi Lộc vào cung B nghĩa là A đem cái được của mình rót cho B. Ba đường phi Lộc hay gặp nhất trên lá số thật:
- Cung Tài Bạch phi Lộc vào cung Điền Trạch: tiền kiếm được biến thành nhà đất và tài sản để lại. Đây là đường phi Lộc mà Thầy thích nhất khi xem cho người muốn tích sản.
- Cung Mệnh phi Lộc vào cung Nô Bộc: cái được của mình chảy về phía bạn bè và cấp dưới. Người tốt bụng, hào phóng, nhưng nếu không tỉnh thì thành người bao cả nhóm suốt đời.
- Cung Phu Thê phi Lộc vào cung Tài Bạch: người bạn đời thật sự đem tiền về cho mình, hoặc hôn nhân mở ra đường tiền. Đây là một trong những dấu hiệu đáng tin của cái gọi là "lấy vợ lấy chồng thì phát".
Phi hóa còn có chiều ngược, gọi là hóa nhập và hóa xuất, và có cả trường hợp một cung phi Lộc vào chính nó. Đây là tầng sâu thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào dòng phi hóa dưới lá số là đọc được đường bay của từng cung.
7 Hóa Lộc tại 12 cung chức

Hóa Lộc đóng vào cung nào thì rót sự hanh thông và tài lộc vào lĩnh vực đó của đời người.
| Cung | Khi Hóa Lộc được cát trợ | Khi Hóa Lộc bị hung phá | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Người nhân hậu, rộng rãi, có duyên tài lộc, gặp việc khó thì có lối ra; cả đời ít khi túng quẫn thật sự. | Rộng rãi thành hoang phí, cả nể, hay bao đồng; lộc qua tay mà không đọng lại, làm nhiều mà nhìn lại không thấy của. | Mệnh có Hóa Lộc cùng Lộc Tồn là Song Lộc thủ Mệnh, thế mạnh nhất của bài này. Mệnh có Hóa Lộc mà bị Địa Không Địa Kiếp đồng cung là Lộc phùng xung phá, phải đọc ngược lại toàn bộ. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ khá giả, độ lượng, có của để cho; thừa hưởng cả tiền lẫn quan hệ của bề trên. | Cha mẹ có của mà mình không được nhờ, hoặc của ấy thành chỗ tranh chấp trong nhà. | Hóa Lộc tại Phụ Mẫu mà Kình Dương hoặc Đà La cùng cung là cái lộc có gai: được cho nhưng kèm điều kiện. Lộc tại đây gặp Thiên Mã thì tài sản của cha mẹ ở xa hoặc phải đi xa mới nhận được. |
| Phúc Đức | Vị trí Tân Biên tôn Hóa Lộc nhất, vì Hóa Lộc vốn được gọi là thần của cung Phúc Đức. Phúc dày, tâm an, hưởng được thành quả, tổ tiên có phúc để lại. | Ham hưởng thụ, tiêu vào cái vui trước mắt, phúc mỏng dần vì tiêu phúc mà không tích phúc. | Hóa Lộc tại Phúc Đức hội Thiên Lương hay Thiên Đồng là người sống nhàn mà đủ. Gặp Tham Lang hóa Lộc tại đây thì hưởng thụ mạnh, cần giữ chừng mực. |
| Điền Trạch | Nhà đất tích lũy tốt, mua được là giữ được, của để dành lớn dần; đây là cung giữ lộc bền nhất trong mười hai cung. | Mua rồi lại bán, nhà đất qua tay, hoặc có tài sản mà vướng giấy tờ, tranh chấp. | Thái Âm hóa Lộc tại Điền Trạch là tổ hợp đẹp nhất của cung này, sao điền trạch chủ lại mang khí lộc. Cung Tài Bạch phi Lộc vào Điền Trạch là dấu hiệu tiền hóa thành sản. |
| Quan Lộc | Sự nghiệp thuận, được trọng dụng, công việc tự nó sinh ra tiền, hợp làm chủ hoặc làm nghề ăn theo kết quả. | Có việc mà không có phần, làm ra lợi cho tổ chức chứ không cho mình; hoặc đổi nghề liên tục vì chỗ nào cũng thấy có lộc. | Quan Lộc có Hóa Lộc mà Mệnh có Hóa Quyền là thế người vừa nắm việc vừa hưởng lợi. Vũ Khúc hóa Lộc tại Quan Lộc hợp nghề tài chính, kim khí, kỷ luật. |
| Nô Bộc | Bạn bè và cấp dưới đem cơ hội tới, làm ăn theo nhóm thì thuận, người dưới tay làm ra tiền cho mình. | Đây là chỗ dễ hiểu nhầm nhất: lộc rót vào bạn bè chứ không vào mình. Bao bạn, đứng tên hộ, bảo lãnh, góp vốn rồi mất phần. | Mệnh phi Lộc vào Nô Bộc, hoặc Hóa Lộc bản mệnh đóng tại Nô Bộc mà Mệnh lại có Hóa Kỵ, là thế lộc chảy ra ngoài rõ nhất. Xem mục cách cục để đọc cho đúng. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp may, tiền từ phương xa, hợp đi xa làm ăn, xuất ngoại, mở chi nhánh; người ngoài quý mình hơn người nhà. | Đi xa thì được mà về nhà thì hết, chi phí đi lại nuốt hết phần lãi, hoặc phải bôn ba mãi mới đủ. | Hóa Lộc tại Thiên Di gặp Thiên Mã là Lộc Mã giao trì đúng nghĩa, cách hay nhất về đường tài lộc xa xứ. Thiên Di chỉ có Mã mà không Lộc thì là chạy chứ chưa chắc là được. |
| Tật Ách | Sách nói Hóa Lộc có sức giải bệnh giải tai, nên Lộc tại Tật Ách là thể chất dễ hồi phục, gặp thầy gặp thuốc, bệnh nặng hóa nhẹ. | Cung này càng "được" càng đáng ngại về một mặt khác: dễ thừa cân, dễ bệnh do ăn uống dư dả, và với Tham Lang hóa Lộc thì thêm phần tửu sắc. | Hóa Lộc tại Tật Ách là một trong hai chỗ mà chữ Lộc phải đọc ngược, sẽ nói riêng ở mục cách cục. Lộc tại đây gặp Thiên Đồng thì nghiêng về giải bệnh, gặp Tham Lang thì nghiêng về bệnh do hưởng thụ. |
| Tài Bạch | Tiền vào nhiều đường, dễ kiếm, dòng tiền thông; rất hợp người kinh doanh và người làm nghề tự do. | Vào nhiều ra cũng nhiều, không có chỗ đọng; hoặc tiền vào bằng đường không bền, ăn xổi rồi hết. | Tài Bạch có Hóa Lộc mà Điền Trạch không có gì giữ là thế tiền chảy qua tay. Tài Bạch có Hóa Lộc cùng Lộc Tồn là Song Lộc tại Tài, thế phú bền nhất. |
| Tử Tức | Con cái là phúc, dễ có con, con ngoan và về sau có của; cũng chủ cấp dưới trực tiếp và học trò đem lại lợi. | Chiều con quá, tiền của dồn hết cho con; hoặc có con muộn mà khi có thì tốn kém nhiều. | Hóa Lộc tại Tử Tức hội Thiên Đồng hay Thiên Lương là con hiếu thuận. Với người làm nghề đào tạo, cung này có Lộc là học trò nuôi thầy. |
| Phu Thê | Bạn đời đem may mắn tài lộc tới, hôn nhân có phần dư dả, lấy nhau rồi mới phát; người bạn đời rộng rãi và biết chiều. | Bạn đời rộng rãi tới mức khó giữ tiền, hoặc mình phải nuôi; Lộc tại đây gặp đào hoa tinh thì cái duyên ấy không chỉ dành cho một người. | Phu Thê phi Lộc vào Tài Bạch là dấu hiệu rõ của việc lấy vợ lấy chồng rồi mới phát. Liêm Trinh hoặc Tham Lang hóa Lộc tại Phu Thê thì tình và tiền dễ trộn, cần xét thêm đào hoa tinh. |
| Huynh Đệ | Anh em có của, giúp được nhau, hợp làm ăn chung với anh em ruột; cũng chủ đối tác ngang hàng. | Anh em có của mà mình là người chi; hoặc góp vốn với anh em rồi tiền chung thành tiền riêng của một bên. | Huynh Đệ có Hóa Lộc mà Nô Bộc có Hóa Kỵ là thế nên làm với người nhà hơn là với người ngoài, và ngược lại. Đây là cặp cung Thầy luôn đọc cùng nhau khi khách hỏi chuyện hùn hạp. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này gói trong một câu: Hóa Lộc không làm cho quý vị giàu, nó chỉ chỉ ra chỗ trời mở cửa. Cung nào có Hóa Lộc là cung ấy được mở, và nhiệm vụ của người luận là xem cái mở ấy có lợi cho chủ lá số hay lợi cho người khác. Lộc tại Mệnh, Tài Bạch, Điền Trạch, Quan Lộc là lộc vào; Lộc tại Nô Bộc, Phu Thê, Tử Tức, Huynh Đệ là lộc chảy qua người khác rồi mới quay lại, có khi không quay lại; Lộc tại Tật Ách và Phụ Mẫu thì phải đọc bằng nghĩa khác hẳn. Người mới học hay đọc mười hai cung bằng một giọng, đó là chỗ sai đầu tiên cần bỏ.
8 Các cách cục liên quan

Hóa Lộc tham gia nhiều cách quý. Song Lộc là Hóa Lộc cùng Lộc Tồn hội Mệnh, chủ phú quý, của cải vững. Lộc Mã giao trì là Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn gặp Thiên Mã, chủ tài tới từ xa, hanh thông mọi việc. Đặc biệt, khi Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng hội về tam phương tứ chính thì thành cách Tam Hóa liên châu, một trong những cách đại cát, chủ công danh tài lộc song toàn.
Trong lá số, người ta luôn tìm xem Hóa Lộc rơi vào cung nào, vì đó là nơi được trời ban thêm phần lộc.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một điều kiện phá. Với Hóa Lộc thì đây là chỗ dễ mừng hụt nhất, vì chữ Lộc nghe đã thấy hay rồi. Dưới đây bảy thế thường gặp nhất, mỗi thế ghi rõ điều kiện thành, điều kiện phá và cách giải.
Song Lộc giao trì (Hóa Lộc gặp Lộc Tồn)
Kinh văn Thành cách: Hóa Lộc và Lộc Tồn cùng đóng một cung, hoặc hai sao xung chiếu nhau, hoặc cùng chầu về cung đang xét. Phú trong Toàn Thư có câu "Song Lộc trùng phùng, chung thân phú quý", chính là nói thế này. Đủ đẹp: Song Lộc đồng cung tại Mệnh, Tài Bạch hoặc Điền Trạch, thêm Thiên Phủ hoặc Vũ Khúc để có chỗ chứa của, không có Không Kiếp. Đây là thế phú bền nhất mà một lá số có thể có: Lộc Tồn giữ, Hóa Lộc sinh, một đằng là kho, một đằng là dòng chảy. Suy luận Về mức hiếm, đối chiếu thuật toán thì với mỗi tuổi can chỉ đúng một trong mười hai thế Tử Vi cho Song Lộc đồng cung, nên đây không phải cách dễ gặp. Phá cách: Địa Không hoặc Địa Kiếp đồng cung, Tuần hay Triệt án ngữ, hoặc Hóa Kỵ xung vào. Điều phải nhớ: có Lộc Tồn thì đương nhiên có Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên Song Lộc bao giờ cũng đi kèm hai sát tinh ở hai cung liền kề; đọc Song Lộc mà quên Kình Đà là đọc thiếu một nửa.
Lộc Mã giao trì (Lộc gặp Thiên Mã)
Kinh văn Thành cách: Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn gặp Thiên Mã, đồng cung là mạnh nhất, xung chiếu là kế. Toàn Thư có câu "Lộc Mã tối hỷ giao trì", nghĩa là Lộc với Mã gặp nhau thì mừng nhất. Chủ tài lộc tới từ phương xa, hợp đi xa làm ăn, xuất ngoại, mở rộng địa bàn, nghề vận chuyển và thương mại đường dài. Đủ đẹp: đóng tại cung Mệnh, Thiên Di, Tài Bạch hoặc Quan Lộc.
Suy luận Chạy thuật toán qua đủ sáu mươi tuổi can chi thì có một kết quả rất đáng chú ý mà chưa thấy sách Việt nào nêu bằng số. Thiên Mã chỉ an được ở bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Lộc Tồn thì không bao giờ vào tứ mộ. Ghép hai điều kiện lại, Lộc Tồn đồng cung Thiên Mã chỉ xảy ra ở đúng sáu trong sáu mươi tuổi: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân đều có Lộc Tồn và Thiên Mã cùng tại Dần; Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất đều có cả hai cùng tại Thân. Sáu tuổi khác cho thế xung chiếu: Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất có Lộc ở Dần và Mã ở Thân; Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân thì ngược lại. Bốn mươi tám tuổi còn lại, Lộc Tồn và Thiên Mã không bao giờ gặp nhau. Vì thế khi nói Lộc Mã giao trì mà không nói rõ là Lộc Tồn hay Hóa Lộc thì rất dễ nói quá: Lộc Mã bằng Lộc Tồn là của mười hai tuổi trong sáu mươi, còn Lộc Mã bằng Hóa Lộc thì rộng hơn nhiều vì Hóa Lộc đi tới đủ mười hai cung. Phá cách: Thiên Mã gặp Tuần Triệt hoặc gặp Địa Không thành ngựa què, đi mà không tới; Hóa Lộc bị Kỵ xung thì càng đi càng hao.
Tam Kỳ Gia Hội (Lộc Quyền Khoa cùng chầu)
Kinh văn Thành cách: ba hóa Lộc, Quyền, Khoa cùng hội về tam phương tứ chính của một cung, thường xét ở cung Mệnh. Phú Toàn Thư có câu "Khoa Quyền Lộc củng, danh dự chiêu chương", là cách đại cát, chủ danh và lợi song toàn. Tên gọi trong sách Việt có chỗ ghi là Tam Hóa liên châu, chỗ ghi là Tam Kỳ Gia Hội, cùng chỉ một thế. Đủ đẹp: ba hóa rơi đúng vào Mệnh và hai cung tam hợp, không sao nào bị Tuần Triệt hay Không Kiếp chặn.
Suy luận Đây là chỗ mà thuật toán cho một kết quả nên biết trước khi đi tìm. Sáu can có cả ba sao Lộc, Quyền, Khoa đều là chính tinh, chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì: tuổi Giáp và tuổi Đinh có sáu thế cho ba sao ấy cùng một tam hợp; còn tuổi Ất, tuổi Kỷ, tuổi Canh và tuổi Quý thì không có thế nào cả. Nghĩa là người tuổi Ất, Kỷ, Canh, Quý không thể có Tam Kỳ Gia Hội bằng ba hóa bản mệnh, dù lá số dựng thế nào; muốn có thì phải mượn hóa của đại vận hoặc lưu niên. Bốn can Bính, Mậu, Tân, Nhâm có một trong ba hóa rơi vào phụ tinh là Văn Xương, Hữu Bật, Văn Khúc hay Tả Phụ, nên còn tùy giờ sinh và tháng sinh. Phá cách: chỉ cần một trong ba hóa bị Tuần Triệt án ngữ, hoặc cung Mệnh có Không Kiếp thủ, là cách còn tiếng mà thiếu thực.
Lộc phùng xung phá: khi Lộc chuyển thành Kỵ
Kinh văn Đây là thế đáng ngại, không phải cách quý. Thành thế: Hóa Lộc gặp Địa Không, Địa Kiếp, hoặc bị Tuần, Triệt án ngữ, hoặc bị Hóa Kỵ xung chiếu. Phú Toàn Thư nói thẳng: "Lộc phùng xung phá, cát dã thành hung", nghĩa là Lộc mà gặp xung phá thì cát cũng hóa hung. Hình ảnh mà cổ nhân dùng là túi tiền thủng đáy: tiền vẫn vào, chỉ có điều nó không ở lại.
Kinh nghiệm Trên lá số thật, ba mức nặng nhẹ khác nhau rõ rệt và không nên gộp làm một. Nặng nhất là Không Kiếp đồng cung: lộc bị rút ngay tại chỗ, người này càng làm ra càng mất, và thường mất vào những việc lớn như đầu tư, bảo lãnh, hùn hạp. Vừa là Hóa Kỵ xung chiếu: lộc vẫn có nhưng luôn kèm một điều kiện đắng, được cái này mất cái kia, và tuổi Quý thì thế này là mặc định vì Lộc với Kỵ bản mệnh luôn tam hợp. Nhẹ nhất là Tuần Triệt: lộc không mất, chỉ bị chặn lại một quãng, phát muộn, thường qua ba mươi tuổi mới thấy. Suy luận Cách giải không phải trấn yểm mà là đổi chỗ đặt lộc: người có Lộc bị Không Kiếp nên chuyển từ nghề đầu tư sang nghề ăn công, chuyển từ tiền lớn ít lần sang tiền nhỏ nhiều lần, và tuyệt đối tránh đứng tên hộ.
Lộc nhập cung Nô Bộc: lộc chảy ra ngoài
Kinh nghiệm Thành thế: Hóa Lộc bản mệnh đóng tại cung Nô Bộc, hoặc cung Mệnh phi Lộc vào cung Nô Bộc. Sách Việt gần như không bàn tới thế này, nhưng theo phép phi hóa thì đây là một trong những thế nói lên nhiều điều nhất về một đời người. Nghĩa gốc rất giản dị: cái được của quý vị rót về phía bạn bè và cấp dưới. Người có thế này thường hào phóng, được lòng bạn, đi đâu cũng có nhóm, và cũng thường là người trả tiền cho cả nhóm.
Kinh nghiệm Đủ đẹp: khi người ấy làm nghề mà nhóm chính là nguồn thu, như quản lý đội ngũ, làm chủ có nhiều nhân sự, làm cộng đồng, làm mạng lưới bán hàng; khi ấy lộc rót vào Nô Bộc rồi chảy ngược về Mệnh, càng cho càng được. Đáng ngại: khi cung Mệnh lại mang Hóa Kỵ hoặc bị Không Kiếp, tức mình đã thiếu mà còn phải cho; hoặc khi cung Nô Bộc có thêm sát tinh, là bạn bè đem lộc tới rồi đem cả họa tới. Suy luận Cách giải rất cụ thể: người có thế này nên lấy công làm lời một cách rành mạch, tức là có hợp đồng, có phần trăm, có sổ sách với chính bạn bè mình, đừng để cái tình thay cho cái giấy. Không phải bớt tốt với bạn, mà là làm cho cái tốt ấy có đường quay về.
Lộc nhập cung Tật Ách: chữ Lộc phải đọc ngược
Kinh văn Thành thế: Hóa Lộc đóng tại cung Tật Ách. Tân Biên có nói Hóa Lộc mang khả năng giải trừ bệnh tật tai họa, nên ở mặt thứ nhất thì đây là điều tốt: thể chất dễ hồi phục, ốm nặng hóa nhẹ, gặp thầy gặp thuốc, tai qua nạn khỏi. Người có Lộc tại Tật Ách hay được người nhà nói là "số có quý nhân", vì nhiều lần thoát hiểm.
Kinh nghiệm Nhưng có mặt thứ hai mà Thầy luôn nói cho khách nghe. Chữ Lộc nghĩa gốc là thêm vào, làm cho nhiều lên. Rót cái "nhiều lên" ấy vào cung bệnh tật thì mặt trái là bệnh cũng nhiều lên theo, đặc biệt là nhóm bệnh do dư thừa: thừa cân, mỡ máu, đường huyết, gan do rượu, những bệnh của người có điều kiện chứ không phải của người thiếu thốn. Đáng ngại nhất là khi sao hóa Lộc tại đây là Tham Lang hoặc Liêm Trinh, hai sao vốn chủ hưởng thụ và tửu sắc. Giải: đây là cung mà lời khuyên hữu ích nhất không phải là bùa chú mà là kỷ luật ăn uống và khám định kỳ, vì cái phúc giải bệnh của Hóa Lộc chỉ giúp người biết đi khám, không giúp người trốn khám.
Lộc Tồn thủ Mệnh mà Kình Đà giáp Mệnh
Suy luận Thành thế: Lộc Tồn đóng ngay cung Mệnh. Đây không phải một cách do người đời chọn, mà là hệ quả bắt buộc của cách an sao: Kình Dương luôn ở cung liền sau và Đà La luôn ở cung liền trước Lộc Tồn, nên hễ Lộc Tồn thủ Mệnh thì Mệnh luôn bị Kình Đà giáp, không có ngoại lệ ở mười can. Kinh nghiệm Đọc thế này cho đúng thì như sau: người ấy có của và giữ được của, nhưng cái của ấy nằm giữa hai gọng kìm, nghĩa là luôn phải đề phòng, luôn có người muốn phần của mình, và tính người thường dè dặt, kỹ tính, đôi khi bị chê là chặt chẽ. Đủ đẹp: khi có thêm Hóa Lộc cùng cung thành Song Lộc, hoặc có Thiên Phủ, Thiên Tướng làm cho cung Mệnh có thế. Đáng ngại: khi hai cung giáp còn có thêm Hỏa Linh hay Không Kiếp, khi ấy hai bên đều là sát, cái giữ của thành cái khổ vì của.
Một câu để nhớ về mọi cách cục của Hóa Lộc
Hóa Lộc chưa bao giờ là câu trả lời, nó chỉ là câu hỏi. Có Lộc thì phải hỏi tiếp ba điều: Lộc bám vào sao nào (lộc ấy là lộc của nghề gì), Lộc đóng cung nào (lộc ấy rót cho ai), và Lộc có bị phá không (lộc ấy có ở lại không). Trả lời xong ba câu ấy mới nói được người này có phú hay không. Người luận vội thấy chữ Lộc là mừng, người luận kỹ thấy chữ Lộc là bắt đầu tra.
9 Sao hợp và sao kỵ
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực. Với Hóa Lộc, đồng cung là mạnh nhất vì hóa khí vốn bám vào sao nên nó ăn thua ngay tại chỗ nó đậu; xung chiếu mạnh nhì, nhất là khi cái xung ấy là Hóa Kỵ; tam hợp chiếu nhẹ hơn, thường chỉ đủ làm nền chứ không đổi cục diện; còn giáp là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh, riêng thế Kình Đà giáp thì luôn phải xét vì nó đi kèm Lộc Tồn một cách bắt buộc. Cùng một Địa Không mà đồng cung với Hóa Lộc là túi thủng đáy, còn tam hợp chiếu thì chỉ là hao vặt.
Hóa Lộc rất mừng khi gặp
- Lộc Tồn (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ hơn): thành Song Lộc, một bên là kho một bên là dòng chảy, thế phú bền nhất.
- Thiên Mã (đồng cung hoặc xung chiếu, chỉ có thể tại Dần Thân Tỵ Hợi): thành Lộc Mã giao trì, tiền tới từ xa.
- Hóa Quyền và Hóa Khoa (tam hợp chiếu là đủ thành cách): Tam Kỳ Gia Hội, danh lợi song toàn.
- Thiên Phủ (đồng cung): kho lẫm gặp dòng tiền, có chỗ chứa nên lộc đọng lại được.
- Vũ Khúc và Tham Lang (đồng cung, thế Vũ Tham tại Sửu Mùi): tài tinh và sao giao tế cùng mang khí lộc, phát muộn mà lớn.
- Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): có người phò tá và quý nhân, lộc đến qua tay người giúp.
Hóa Lộc e ngại khi gặp
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp hai bên kế, tam hợp nhẹ): Lộc phùng xung phá, tiền vào rồi ra, càng làm lớn càng mất lớn.
- Hóa Kỵ (xung chiếu nặng nhất, đồng cung chỉ có ở tuổi Ất, tam hợp là bóng theo suốt như tuổi Quý): lộc luôn kèm một điều kiện đắng.
- Tuần, Triệt án ngữ (án ngay cung có Hóa Lộc): lộc không mất mà bị chặn, phát muộn; đây là thế nhẹ nhất trong nhóm phá.
- Đại Hao, Tiểu Hao (đồng cung hoặc xung): hao vặt liên tục, tiền rò rỉ chứ không vỡ trận.
- Thiên Không (đồng cung): cái được thành hư, hay gặp ở người kiếm tiền bằng dự án dài mà không có gì trong tay.
- Kình Dương, Đà La (thế giáp bắt buộc khi có Lộc Tồn): không phá lộc nhưng làm lộc có gai, giữ được mà giữ trong lo.
Nguyên tắc với Hóa Lộc rất gọn: nó là phần lộc trời cho, nhưng giữ được hay không lại tùy có bị Không Kiếp Hao phá hay không. Có Lộc mà thêm sao giữ của thì mới thành phú bền.
10 Hóa Lộc Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Hóa Lộc bản mệnh, tức lớp can năm sinh, lớp cố định suốt đời. Nhưng như đã nói ở mục cơ chế, Hóa Lộc là hóa khí sinh theo can, mà can thì có bốn lớp. Đây là mục nói về hai lớp động: can của cung đại vận và can của năm xem. Cũng là mục trả lời câu khách hỏi nhiều nhất: năm nay tôi có lộc không, và lộc ấy rơi vào chỗ nào.
Đại vận đi vào cung có Hóa Lộc bản mệnh
Kinh văn Khi đại vận mười năm đóng đúng vào cung có Hóa Lộc bản mệnh, đó thường là mười năm mở cửa của lĩnh vực cung ấy. Đại vận vào cung Tài Bạch có Hóa Lộc là mười năm dòng tiền thông; vào cung Quan Lộc có Hóa Lộc là mười năm nghề nghiệp sinh lợi; vào cung Điền Trạch có Hóa Lộc là mười năm mua được nhà, tích được sản. Kinh nghiệm Điều Thầy hay phải nhắc: đại vận đi vào cung có Hóa Lộc mà cung ấy đồng thời có Không Kiếp thì mười năm ấy vẫn động mạnh về tiền, chỉ có điều động theo cả hai chiều, vào lớn ra cũng lớn. Người ta hay nhớ mỗi chữ Lộc mà quên xem cung ấy còn có gì.
Hóa Lộc của đại vận: lớp thứ hai
Suy luận Cung đại vận có can riêng của nó, và can ấy sinh ra một bộ Tứ Hóa riêng cho suốt mười năm. Đây là lý do có người bản mệnh xem qua thấy bình thường mà một đại vận bỗng khá lên hẳn: Hóa Lộc đại vận rơi đúng vào cung Tài Bạch hoặc cung Mệnh của bản mệnh. Ngược lại cũng có đại vận mà Hóa Lộc bản mệnh bị Hóa Kỵ của đại vận xung vào, khi ấy cái lộc trời cho từ lúc sinh bị chặn mất mười năm. Kinh nghiệm Nguyên tắc đọc chồng lớp mà Thầy dùng: bản mệnh là gốc, đại vận là mùa, lưu niên là ngày. Gốc tốt mà mùa xấu thì cây vẫn sống, chỉ là năm ấy không ra quả; gốc xấu mà mùa tốt thì có quả nhưng không giữ được lâu.
Hóa Lộc lưu niên: năm nào sao nào mang lộc
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, dùng đúng bảng của Tứ Hóa bản mệnh. Vì vậy cứ mười năm thì mỗi ngôi trong mười ngôi chính tinh lại được khoác Lộc một lần, cho tất cả mọi người, chỉ khác nhau ở chỗ trên lá số của mỗi người ngôi sao ấy đứng ở cung nào.
| Can năm | Sao lưu hóa Lộc năm ấy | Các năm gần đây và sắp tới |
|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần |
| Ất | Thiên Cơ | 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão |
| Bính | Thiên Đồng | 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn |
| Đinh | Thái Âm | 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ |
| Mậu | Tham Lang | 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ |
| Kỷ | Vũ Khúc | 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi |
| Canh | Thái Dương | 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân |
| Tân | Cự Môn | 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu |
| Nhâm | Thiên Lương | 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất |
| Quý | Phá Quân | 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi |
Kinh nghiệm Cách dùng bảng này rất nhanh. Bước một, xem năm cần hỏi có can gì, tra ra sao lưu hóa Lộc. Bước hai, tìm ngôi sao ấy trên lá số của mình, nó đóng ở cung nào thì năm ấy cửa mở ở lĩnh vực cung ấy. Ví dụ năm Kỷ Dậu 2029 thì Vũ Khúc lưu hóa Lộc; ai có Vũ Khúc nằm ở cung Điền Trạch thì năm ấy là năm thuận cho chuyện nhà đất, ai có Vũ Khúc ở cung Nô Bộc thì năm ấy bạn bè cấp dưới đem việc tới. Năm Bính Ngọ 2026 thì Thiên Đồng lưu hóa Lộc, là năm của cái lộc nhẹ nhàng, thiên về hưởng và về dịch vụ hơn là về tranh đoạt.
Lộc chồng Lộc và Lộc gặp Kỵ
Kinh nghiệm Chỗ đáng giá nhất khi đọc lưu niên là xem hai lớp Lộc có chồng lên nhau không. Người tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc bản mệnh, tới năm Kỷ thì Vũ Khúc lại lưu hóa Lộc lần nữa: Lộc chồng Lộc ngay tại cung Vũ Khúc đóng, đó thường là năm bước ngoặt về tiền. Ngược lại, nếu năm ấy Hóa Kỵ lưu niên rơi đúng vào cung có Hóa Lộc bản mệnh thì thành thế Lộc bị Kỵ đè, năm ấy tiền vào nhiều mà vướng nhiều, hay gặp nhất là ký được hợp đồng lớn rồi phát sinh tranh chấp. Suy luận Với tuổi Quý thì phải cẩn thận hơn một bậc, vì như đã chỉ ra ở mục Tứ Hóa, Lộc và Kỵ bản mệnh của tuổi Quý luôn tam hợp nhau; gặp thêm một lớp Kỵ lưu niên nữa là ba lớp cùng dồn.
Lưu Lộc Tồn và lưu Kình Đà chạm vào cung có Hóa Lộc
Kinh văn Lộc Tồn có bản lưu niên: mỗi năm, theo can của năm ấy, một Lộc Tồn lưu được an vào cung tương ứng, kèm theo lưu Kình Dương ở cung liền sau và lưu Đà La ở cung liền trước, đúng như cấu trúc của bản mệnh. Vị trí lưu lấy theo cùng bảng ở mục cơ chế: năm can Giáp thì lưu Lộc Tồn tại Dần, năm can Ất tại Mão, Bính và Mậu tại Tỵ, Đinh và Kỷ tại Ngọ, Canh tại Thân, Tân tại Dậu, Nhâm tại Hợi, Quý tại Tý.
- Kinh nghiệm Lưu Lộc Tồn đến đúng cung có Hóa Lộc bản mệnh: năm ấy thành Song Lộc tạm thời. Đây là một trong những dấu hiệu năm được của cải đáng tin nhất, nhất là khi rơi vào Tài Bạch hoặc Điền Trạch. Ví dụ năm Nhâm Dần 2022 lưu Lộc Tồn tại Hợi, ai có Hóa Lộc bản mệnh ở Hợi thì năm ấy đã có một mùa Song Lộc.
- Kinh nghiệm Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La đến cung có Hóa Lộc: lộc vẫn tới nhưng có tranh chấp kèm theo. Thường là được tiền mà mất lòng, hoặc phải kiện tụng, thương lượng gay gắt mới lấy được phần của mình. Không phải năm xấu, là năm phải làm cho rành mạch.
- Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung có Hóa Lộc: năm mà cái lộc ấy dính tới giấy tờ, công quyền, hợp đồng chính thức. Thuận thì là năm ký kết được việc lớn.
- Kinh nghiệm Lưu Thiên Mã đến cung có Hóa Lộc: thành Lộc Mã lưu niên, năm hợp đi xa, chuyển chỗ làm, mở địa bàn mới. Đây là thế mà Thầy hay dùng để trả lời câu hỏi năm nào nên xuất ngoại.
- Kinh nghiệm Lưu Đại Hao Tiểu Hao đến cung có Hóa Lộc: năm vào ra đều nhiều, tổng kết lại thường hòa. Đừng nhìn dòng tiền mà mừng, phải nhìn số dư cuối năm.
Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm cần xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy, quý vị chỉ việc đối chiếu với cung có Hóa Lộc bản mệnh của mình.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Có Hóa Lộc

Nam mệnh Hóa Lộc thường rộng rãi, có duyên tài lộc, làm ăn thuận, hợp kinh doanh và các nghề sinh lợi. Nếu Hóa Lộc bám vào sao tài và không bị hao kiếp, đây là dấu hiệu phú túc.
Nữ mệnh Hóa Lộc nhân hậu, tháo vát, biết vun vén, thường mang may mắn tài lộc cho gia đình. Điều nên giữ là dùng cái lộc ấy một cách chừng mực và tích phúc, để lộc được bền lâu.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hóa Lộc
Chữ Lộc nghe êm tai nên đây là ngôi sao bị gán thêm nhiều thứ nhất trong bộ Tứ Hóa. Mục này nói rõ Hóa Lộc không chủ về gì, để quý vị khỏi mừng hụt.
Hóa Lộc không phải Lộc Tồn, và cũng không thay được Lộc Tồn
Kinh văn Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất, nhiều nơi viết chung một mục cho cả hai. Hai sao khác nhau ở gốc: Lộc Tồn là sao có cung cố định theo can, Hóa Lộc là hóa khí bám vào chính tinh. Lộc Tồn không bao giờ vào bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Hóa Lộc thì vào đủ mười hai cung. Lộc Tồn luôn bị Kình Đà kẹp, Hóa Lộc không mang theo sát tinh nào. Về nghĩa, Lộc Tồn thiên về giữ và tích, Hóa Lộc thiên về sinh và mở. Người chỉ có Lộc Tồn mà không có Hóa Lộc thì thường là người có của mà không có dòng chảy, tằn tiện mà không phát; người chỉ có Hóa Lộc mà không có Lộc Tồn thì kiếm được mà không giữ được. Đủ cả hai mới gọi là Song Lộc.
Có Hóa Lộc không đồng nghĩa với giàu
Kinh văn Sách chỉ nói Hóa Lộc chủ tài lộc, hanh thông, nhân hậu và có khả năng giải tai; sách không nói có Hóa Lộc là giàu. Kinh nghiệm Ai cũng có Hóa Lộc, vì ai cũng sinh vào một can nào đó trong mười can, nên nếu có Hóa Lộc mà giàu thì cả thiên hạ đều giàu. Cái quyết định là Lộc ấy bám sao nào, đóng cung nào, có bị phá không. Thầy gặp không ít lá số có Hóa Lộc thủ Mệnh mà cả đời chật vật, vì Lộc ấy đi cùng Địa Không Địa Kiếp; và cũng gặp không ít lá số Hóa Lộc nằm ở cung Nô Bộc mà người ấy giàu, vì họ làm đúng nghề sống bằng đội ngũ.
Hóa Lộc ở cung Mệnh không phải là chỗ tốt nhất
Suy luận Nhiều người tra thấy Hóa Lộc không ở Mệnh thì tiếc. Thực ra với đa số nghề, Hóa Lộc tại Tài Bạch hoặc Điền Trạch còn thiết thực hơn tại Mệnh. Lộc tại Mệnh là bản thân người ấy có duyên với lộc, tính rộng rãi, gặp may; nhưng Lộc tại Tài Bạch mới là dòng tiền thật, và Lộc tại Điền Trạch mới là của đọng lại. Người có Lộc tại Mệnh mà Tài Bạch trống và Điền Trạch có Không Kiếp thì cái duyên ấy chỉ đủ để sống dễ chịu, không đủ để thành sản nghiệp.
Không có chuyện tra được Hóa Lộc mà không cần lá số
Kinh văn Biết can năm sinh thì biết sao nào hóa Lộc, nhưng chưa biết Hóa Lộc ấy đóng ở cung nào, mà cung mới là phần quyết định nghĩa. Muốn biết cung thì phải an trọn lá số, tức phải có đủ ngày, tháng, giờ sinh âm lịch và giới tính. Cho nên những lời kiểu "tuổi Kỷ thì giàu vì Vũ Khúc hóa Lộc" là nói một nửa: Vũ Khúc hóa Lộc của người này ở cung Tài Bạch, của người kia ở cung Tật Ách, hai đời khác hẳn nhau.
Tam Hóa liên châu và Tam Kỳ Gia Hội không phải cứ đủ ba hóa là thành
Suy luận Trên lá số nào cũng có đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, vì mỗi can đều sinh đủ bốn hóa. Nhưng cách chỉ thành khi ba hóa cùng hội về tam phương tứ chính của một cung, thường là cung Mệnh. Rải rác mỗi hóa một góc lá số thì không phải cách. Đối chiếu thuật toán còn cho thấy có bốn tuổi can là Ất, Kỷ, Canh và Quý mà ba hóa bản mệnh không bao giờ hội được về cùng một tam hợp, dù lá số dựng thế nào; người tuổi ấy muốn có Tam Kỳ thì phải mượn hóa của đại vận hoặc lưu niên. Đây là chỗ nên kiểm bằng lá số thật thay vì nghe truyền miệng.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Hóa Lộc Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: Tử Vi an tại Tuất, Mệnh an tại Ngọ, tuổi Kỷ. Chính tinh, Tứ Hóa và bộ Lộc Tồn Kình Đà lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Sở dĩ chọn thế này vì đối chiếu bảng ở mục hai thì tuổi Kỷ chỉ có đúng một thế Tử Vi cho Song Lộc đồng cung, và đó chính là thế Tử Vi tại Tuất.
Tử Vi tại Tuất, Mệnh tại Ngọ
không phải người thật
Vũ Khúc hóa Lộc gặp Lộc Tồn tại Mệnh
Bước một: Hóa Lộc bám vào sao nào và đóng ở đâu
Tuổi Kỷ thì Vũ Khúc hóa Lộc. Tìm Vũ Khúc trên lá số: nó nằm tại Ngọ, cùng cung với Thiên Phủ, và cung Ngọ chính là cung Mệnh. Vậy Hóa Lộc của người này đóng ngay tại Mệnh, bám vào chính tài tinh, lại có Thiên Phủ là kho lẫm đứng cùng. Đọc tới đây đã biết ba điều: lộc này là lộc của nghề và của tay nghề chứ không phải lộc may rủi, lộc này rót thẳng vào bản thân chứ không rót cho ai khác, và lộc này có chỗ chứa nên không chảy tuột đi.
Bước hai: cái lộc ấy có được giữ không, có bị phá không
Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ, tức cũng ngay tại cung Mệnh. Vũ Khúc hóa Lộc gặp Lộc Tồn đồng cung là Song Lộc đồng cung thủ Mệnh, thế mạnh nhất mà mục cách cục đã nói, và theo bảng ở mục hai thì đây đúng là một phần mười hai cơ hội của tuổi Kỷ. Nhưng có Lộc Tồn là có Kình Đà: Kình Dương an tại Mùi, Đà La an tại Tỵ, hai cung liền kề, tức cung Mệnh bị Kình Đà giáp. Người này giữ được của, nhưng giữ trong thế đề phòng, tính kỹ tính chặt, và hai cung bên cạnh là Phụ Mẫu với Huynh Đệ đều phải chịu một sát tinh, nên chuyện tiền bạc với cha mẹ và với anh em là chỗ cần rành mạch nhất. Còn một điều chưa kết luận được: tuổi Kỷ có Văn Khúc hóa Kỵ, mà Văn Khúc là phụ tinh an theo giờ sinh, nên phải biết giờ mới biết cái Kỵ ấy đậu vào cung nào; nếu nó rơi đúng Ngọ hay xung vào Ngọ thì phải đọc lại toàn bộ cung Mệnh.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì, ba hóa còn lại rơi đâu
Cung Mệnh tại Ngọ có tam hợp là Dần và Tuất, xung chiếu là Tý. Dần là cung Tài Bạch có Liêm Trinh, Tuất là cung Quan Lộc có Tử Vi và Thiên Tướng, Tý là cung Thiên Di có Thất Sát. Vậy Song Lộc thủ Mệnh được cả Tài Bạch lẫn Quan Lộc chầu về, lại có Tử Vi Thiên Tướng ở Quan Lộc, là người làm việc có thế và có ấn. Ba hóa còn lại của tuổi Kỷ: Tham Lang hóa Quyền tại Thân là cung Phúc Đức, Thiên Lương hóa Khoa tại Hợi là cung Nô Bộc, Văn Khúc hóa Kỵ tùy giờ sinh. Đáng chú ý là Quyền ở Thân và Khoa ở Hợi đều không nằm trong tam phương tứ chính của Mệnh, nên lá số này không có Tam Kỳ Gia Hội, đúng như kết quả chạy thuật toán đã nêu ở mục cách cục: tuổi Kỷ không có thế nào cho Lộc Quyền Khoa cùng một tam hợp. Đây là ví dụ cho thấy vì sao phải kiểm cấu trúc trước khi đặt tên cách.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Giáp: Liêm Trinh hóa Lộc tại Dần, mà Lộc Tồn tuổi Giáp cũng an tại Dần, nên Song Lộc chuyển từ cung Mệnh sang cung Tài Bạch, lại tam hợp chiếu về Mệnh. Người này không tự mình mang lộc mà lộc nằm ở dòng tiền: kiếm bằng quan hệ và giao tế đúng chất Liêm Trinh. Vũ Khúc tại Mệnh khi ấy hóa Khoa, thành người có tiếng về chuyên môn tài chính; Thái Dương hóa Kỵ rơi vào Mùi là cung Phụ Mẫu, cần lưu tâm chuyện người cha.
- Đổi sang tuổi Canh: Thái Dương hóa Lộc tại Mùi là cung Phụ Mẫu, còn Lộc Tồn tuổi Canh an tại Thân là cung Phúc Đức, hai Lộc đứng liền kề mà không gặp nhau, không thành Song Lộc. Vũ Khúc tại Mệnh hóa Quyền, thành người nắm việc và quyết đoán về tiền chứ không phải người có lộc sẵn. Thiên Tướng hóa Kỵ rơi vào Tuất là cung Quan Lộc theo bảng Nam phái, nên công việc là chỗ dễ vướng; nếu dùng bảng Bắc phái thì Kỵ đổi sang Thiên Đồng tại Tỵ, tức cung Huynh Đệ, đọc ra một hướng khác hẳn.
- Đổi sang tuổi Nhâm: đây là trường hợp đáng suy nghĩ nhất. Thiên Lương hóa Lộc tại Hợi, mà Lộc Tồn tuổi Nhâm cũng an tại Hợi, lại thành Song Lộc đồng cung, nhưng lần này đóng ở cung Nô Bộc. Trong khi đó Vũ Khúc tại cung Mệnh lại hóa Kỵ. Đọc gộp lại: lộc dồn hết về phía bạn bè và cấp dưới, còn bản thân thì mang cái vướng về tiền. Người này rất tốt với bạn, bạn bè nhờ mình mà khá, nhưng nếu không lấy công làm lời cho rành mạch thì cả đời làm chỗ dựa cho người khác. Đúng thế Lộc nhập Nô Bộc đã bàn ở mục cách cục.
Ba trường hợp trên dùng chung một thế sao, chỉ đổi tuổi can, mà ra ba cuộc đời khác nhau. Đó là lý do bài này nói Hóa Lộc là câu hỏi chứ không phải câu trả lời. Muốn biết Hóa Lộc của riêng mình bám vào sao nào và đóng ở cung nào, hãy an lá số, rồi bấm vào ngôi sao mang chữ Lộc trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, theo miếu hãm và theo cả phi hóa của riêng quý vị.
14 Lời khuyên và cách phát huy

Với Hóa Lộc, việc cần làm không phải hóa giải mà là biết phát huy và giữ gìn phần lộc, tránh để nó hao tán vô ích.
- Tận dụng cung có Hóa Lộc. Nơi Hóa Lộc đóng là nơi thầy nên dồn sức, vì đó là lĩnh vực được trời ban thêm thuận lợi.
- Giữ của khi có Lộc. Có Hóa Lộc nên đi cùng sao giữ của như Lộc Tồn; tránh đầu tư mạo hiểm để khỏi rơi vào thế Lộc gặp Không Kiếp.
- Tích phúc làm việc thiện. Hóa Lộc là thần Phúc Đức; làm việc thiện chính là cách nuôi cho lộc bền.
- Xem cả lá số. Hóa Lộc quý hay không còn tùy nó bám sao nào, ở cung nào, có bị hao kiếp phá không.
Gợi ý: người có Hóa Lộc đẹp nên chọn nghề sinh lợi đúng lĩnh vực cung Hóa Lộc đóng, đồng thời lập quỹ tích lũy để biến lộc thành tài sản bền.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Hóa Lộc: hành Mộc, được tôn là thần của cung Phúc Đức, ví như vị quan trông coi việc thu hoạch của cải ở cung Điền Trạch và cung Tài Bạch; chủ nhân hậu, từ thiện, cứu khốn phò nguy, tài lộc tăng tiến, giữ được chức vị và uy quyền; có khả năng giải trừ bệnh tật tai họa; gặp Tham Lang, Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn đồng cung thì giàu thêm; gặp Không Kiếp và Đại Tiểu Hao thì hao tán. Bảng Tứ Hóa theo mười can trong bài lấy theo hệ thống thông dụng của Tử Vi Đẩu Số Việt Nam mà sách này trình bày.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), phần cách cục và phần phú: các thế Song Lộc, Lộc Mã giao trì, Tam Hóa liên châu. Ba câu phú dẫn trong bài đều lấy từ bản dịch này: "Song Lộc trùng phùng, chung thân phú quý" cho cách Song Lộc; "Lộc Mã tối hỷ giao trì" cho cách Lộc Mã; "Khoa Quyền Lộc củng, danh dự chiêu chương" cho cách Tam Kỳ Gia Hội; và "Lộc phùng xung phá, cát dã thành hung" cho thế Lộc bị Không Kiếp Tuần Triệt phá. Câu "Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân" dẫn ở mục tuổi Mậu cũng theo bản này.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng Hóa Lộc mười can chép đúng bảng máy chủ đang an sao, có đối chiếu Nam phái và Bắc phái và xác nhận riêng cột Hóa Lộc hai phái trùng nhau hoàn toàn; bảng vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La sinh bằng chương trình chạy đủ mười can; nhận định Lộc Tồn không bao giờ vào Thìn Tuất Sửu Mùi, nhận định bốn chính tinh Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát không bao giờ hóa Lộc, bảng thế Tử Vi cho Song Lộc đồng cung của từng can, thống kê Lộc Tồn đồng cung Thiên Mã chỉ có ở sáu trong sáu mươi tuổi, thống kê số thế Tử Vi cho Lộc Quyền Khoa cùng tam hợp theo từng can, và các nhận định về khoảng cách cố định giữa Hóa Lộc với Hóa Kỵ của cùng một tuổi, tất cả đều sinh bằng chương trình chạy đủ mười can, mười hai chi và mười hai thế Tử Vi rồi đối chiếu với thuật toán đang dùng trên trang an lá số. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: bảng Tứ Hóa có dị bản giữa các trường phái ở hai can Canh và Nhâm, nhưng khác biệt chỉ nằm ở Hóa Khoa và Hóa Kỵ, không nằm ở Hóa Lộc: tuổi Canh Nam phái là Thiên Đồng hóa Khoa và Thiên Tướng hóa Kỵ, Bắc phái là Thái Âm hóa Khoa và Thiên Đồng hóa Kỵ; tuổi Nhâm Nam phái là Tả Phụ hóa Khoa, Bắc phái là Thiên Phủ hóa Khoa. Cả mười can đều thống nhất về sao hóa Lộc. Ngoài ra tên gọi cách cục cũng có dị bản: cùng một thế Lộc Quyền Khoa hội mà sách gọi Tam Hóa liên châu, sách gọi Tam Kỳ Gia Hội. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Hóa Lộc
Hóa Lộc là một trong bộ Tứ Hóa của Tử Vi Đẩu Số, hành Mộc, chủ tài lộc và sự hanh thông. Nó không có vị trí cố định mà là hóa khí bám vào một chính tinh theo can năm sinh, làm cho lĩnh vực sao ấy cai quản được mở ra về của cải và may mắn.
Mỗi can khiến một sao hóa Lộc: Giáp Liêm Trinh, Ất Thiên Cơ, Bính Thiên Đồng, Đinh Thái Âm, Mậu Tham Lang, Kỷ Vũ Khúc, Canh Thái Dương, Tân Cự Môn, Nhâm Thiên Lương, Quý Phá Quân.
Song Lộc là Hóa Lộc cùng Lộc Tồn hội Mệnh, chủ phú quý của cải vững. Lộc Mã giao trì là Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn gặp Thiên Mã, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại hanh thông.
Hóa Lộc kỵ Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không và Đại Tiểu Hao, vì khi đó tài lộc tới rồi đi, dễ hao tán như túi tiền thủng đáy. Gặp Tuần Triệt án ngữ thì lộc bị ngăn, chậm phát.
Không hẳn. Hóa Lộc là phần lộc trời cho, nhưng giữ được hay không còn tùy nó bám sao nào, đóng cung nào và có bị Không Kiếp, Hao phá hay không. Có Lộc mà thêm sao giữ của thì mới thành phú bền.
Lộc Tồn là một ngôi sao có cung cố định: biết can năm sinh là biết ngay nó đóng ở địa chi nào, và nó không bao giờ vào bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên. Hóa Lộc là hóa khí bám vào một chính tinh, phải an trọn lá số mới biết nó rơi vào cung nào, và nó có thể tới đủ mười hai cung. Về nghĩa, Lộc Tồn thiên về giữ và tích, Hóa Lộc thiên về sinh và mở. Khi hai thứ gặp nhau thì gọi là Song Lộc.
Mười can sinh ra mười ngôi hóa Lộc khác nhau, và đối chiếu với mười bốn chính tinh thì còn lại đúng bốn sao không có tên trong bảng: Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng và Thất Sát. Riêng Thất Sát là chính tinh duy nhất không hóa gì cả, không Lộc, không Quyền, không Khoa, không Kỵ, ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Người có bốn sao ấy thủ Mệnh muốn có Lộc thì phải trông vào Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc của một sao khác chiếu về.
Hóa Lộc rót của cải vào lĩnh vực của cung nó đóng, không phải rót thẳng vào túi chủ lá số. Lộc tại Nô Bộc là cái được của mình chảy về phía bạn bè và cấp dưới, tốt cho người làm nghề sống bằng đội ngũ, nhưng nếu không lấy công làm lời rành mạch thì thành người bao cả nhóm. Lộc tại Tật Ách có hai mặt: một mặt là sức giải bệnh giải tai như Tân Biên nói, mặt kia là bệnh do dư thừa cũng nhiều lên, nhất là khi sao hóa Lộc là Tham Lang hay Liêm Trinh.
Có ba lớp nữa. Can của cung đại vận sinh ra Hóa Lộc đại vận, có hiệu lực suốt mười năm. Can của năm xem sinh ra Hóa Lộc lưu niên, ví dụ năm Bính Ngọ 2026 thì Thiên Đồng lưu hóa Lộc, năm Kỷ Dậu 2029 thì Vũ Khúc lưu hóa Lộc. Can của từng cung sinh ra phi hóa, tức một cung đem hóa Lộc bay sang cung khác, đọc là cung này rót cái được của mình cho cung kia. Bốn lớp cùng đậu vào một cung trong một năm thường là năm bước ngoặt về tài lộc của lĩnh vực cung ấy.