Sao Thiên Mã trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Thiên Mã

Dịch tinh chủ sự di chuyển và biến động, an theo chi năm sinh. Thiên Mã là con ngựa trong lá số: mang tới chuyển động, đi xa, đổi mới và những cơ hội từ phương khác.

Hành HỏaDịch tinhChủ di chuyểnTheo chi năm sinh
天馬Tiān Mǎ
Tên sao: Thiên Mã
Ngũ hành: Hỏa
Loại sao: Dịch tinh (di chuyển)
Cách an: Theo chi năm sinh
Vị trí: Luôn ở Tứ Sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Cai quản: Di chuyển, xuất ngoại, thay đổi
Hợp gặp: Lộc Tồn, Hóa Lộc (Lộc Mã), Tử Phủ
Kỵ: Tuần Triệt, Đà La, Tuyệt; đóng Hợi
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Thiên Mã là gì

Thiên Mã là con ngựa di chuyển trong lá sốẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Mã trong Tử Vi Đẩu Số
Thiên Mã là con ngựa di chuyển trong lá số

Thiên Mã là dịch tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, an theo chi năm sinh. Đây là ngôi sao của chuyển động: nó chủ sự di chuyển, đi xa, xuất ngoại, thay cũ đổi mới, và mọi việc liên quan tới chân tay, xe cộ, đường sá.

Thiên Mã luôn đóng ở một trong bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, không bao giờ nằm yên ở cung khác. Có Thiên Mã trong Mệnh hay Thân thường là người ưa hoạt động, không thích ngồi một chỗ.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Thiên Mã an theo địa chi năm sinh, không theo can, không theo tháng, không theo giờ. Quy tắc gói gọn trong một dòng: lấy tam hợp của chi năm sinh, tìm chi đứng đầu tam hợp ấy, rồi an Thiên Mã vào cung xung chiếu với chi đứng đầu. Tuổi Thân Tý Thìn có chi đầu là Thân, Mã an tại Dần. Tuổi Dần Ngọ Tuất chi đầu là Dần, Mã an tại Thân. Tuổi Tỵ Dậu Sửu chi đầu là Tỵ, Mã an tại Hợi. Tuổi Hợi Mão Mùi chi đầu là Hợi, Mã an tại Tỵ. Vì bốn chi đứng đầu của bốn tam hợp chính là bốn cung tứ sinh, nên cung xung chiếu của chúng cũng là tứ sinh, và đó là lý do sâu xa khiến Thiên Mã chỉ có bốn chỗ đứng trong cả mười hai cung.

Thiên Mã an theo tam hợp chi năm sinh, luôn ở cung xung chiếu với chi đầu của tam hợp
Tam hợp chi năm sinhChi đầu của tam hợpThiên Mã an tạiQuan hệ
Thân, Tý, ThìnThânDầnThân xung Dần
Dần, Ngọ, TuấtDầnThânDần xung Thân
Tỵ, Dậu, SửuTỵHợiTỵ xung Hợi
Hợi, Mão, MùiHợiTỵHợi xung Tỵ

Suy luận Nói cho dễ nhớ: con ngựa bao giờ cũng quay lưng lại với chính cái nhóm tuổi của mình. Người tuổi Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần, tức ngựa đứng đúng cung đối diện với Thân. Cái tượng ấy rất hợp với nghĩa của sao: Thiên Mã là dịch tinh, là cái đẩy người ta rời khỏi chỗ mình vốn thuộc về. Ngựa không bao giờ đứng trong sân nhà, nó luôn đứng ở cổng, mặt hướng ra đường.

Bảng dưới đây trải đủ mười hai tuổi chi, sinh trực tiếp từ thuật toán an sao đang chạy trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, để quý vị tra không nhầm.

Vị trí an Thiên Mã theo địa chi năm sinh, đủ mười hai tuổi
Tuổi chiThiên Mã an tại
Dần
SửuHợi
DầnThân
MãoTỵ
ThìnDần
TỵHợi
NgọThân
MùiTỵ
ThânDần
DậuHợi
TuấtThân
HợiTỵ

Sáu điều bất biến của Thiên Mã

  1. Thiên Mã chỉ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tám cung còn lại là Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, Thiên Mã không bao giờ đặt chân tới. Ai luận "Thiên Mã tại Ngọ" hay "Mã cư Tý" là đã an sai lá số, không phải dị bản.
  2. Mã chỉ gặp được những sao cũng vào được tứ sinh. Đây là hệ quả lớn nhất, và nó cắt bỏ ngay một loạt tổ hợp mà người mới hay tưởng tượng ra. Bảng bên dưới liệt kê rõ sao nào vào được, sao nào không.
  3. Kình Dương không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Thiên Mã. Kình Dương an theo can năm và chỉ có thể rơi vào Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Bốn cung tứ sinh nằm ngoài tầm với của nó. Mà tam hợp và xung chiếu của một cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh, nên Kình Dương chỉ còn một cách chạm vào Mã: đứng kề bên, tức thế giáp.
  4. Đào Hoa không bao giờ gặp Thiên Mã. Đào Hoa an theo tam hợp chi năm và chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức bốn cung tứ chính. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Đào Hoa luôn cách Thiên Mã bảy cung, không đồng cung, không xung, không tam hợp, không giáp. Cái gọi là "Mã ngộ Đào Hoa" trên bản mệnh là điều không tồn tại.
  5. Hồng Loan cũng không gặp được Mã. Hồng Loan có vào tứ sinh (tuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất), nhưng chạy đủ mười hai tuổi thì Hồng Loan luôn cách Mã ba cung, tức chỉ có thể là hàng xóm cách một nhà, không bao giờ đồng cung hay chiếu.
  6. Mã đồng cung Lộc Tồn thì tất yếu bị Kình Đà giáp. Lộc Tồn luôn bị Kình Dương ở cung sau và Đà La ở cung trước kẹp lại. Vậy hễ có Lộc Mã đồng cung thì con ngựa ấy đứng giữa hai lưỡi dao. Đây là điều Thầy nhắc học trò kỹ nhất, vì nhiều người thấy Lộc Mã là mừng mà quên mất cái thế giáp.

Bảng sau trả lời câu hỏi thực tế nhất khi luận Thiên Mã: sao nào có cửa vào tứ sinh để gặp được Mã. Cột điều kiện ghi rõ tuổi nào, tháng nào, giờ nào thì sao ấy mới lọt vào bốn cung của con ngựa.

Sao nào có thể vào bốn cung tứ sinh để gặp Thiên Mã, kiểm bằng thuật toán an sao
SaoAn theoVào được tứ sinh?Điều kiện
Lộc TồnThiên can năm sinhTuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì Lộc Tồn vào tứ sinh
Kình DươngThiên can năm sinhKHÔNG BAO GIỜKình Dương chỉ có thể ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, tức tám cung tứ chính và tứ mộ
Đà LaThiên can năm sinhTuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Đà La vào tứ sinh
Đào HoaĐịa chi năm sinhKHÔNG BAO GIỜĐào Hoa chỉ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, luôn cách Thiên Mã bảy cung
Hồng LoanĐịa chi năm sinhCó, nhưng không bao giờ gặp MãTuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì Hồng Loan vào tứ sinh, song luôn cách Mã ba cung
Văn XươngGiờ sinhGiờ Dần, Tỵ, Thân, Hợi thì Văn Xương vào tứ sinh
Văn KhúcGiờ sinhGiờ Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì Văn Khúc vào tứ sinh
Địa Không, Địa KiếpGiờ sinhBốn giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu là các giờ Không hoặc Kiếp rơi vào tứ sinh
Thiên KhôiThiên can năm sinhChỉ tuổi Bính và Đinh, Khôi an tại Hợi
Thiên ViệtThiên can năm sinhTuổi Ất, Kỷ tại Thân; tuổi Canh, Tân tại Dần; tuổi Nhâm, Quý tại Tỵ
Tả PhụTháng sinh âm lịchTháng 2 tại Tỵ, tháng 5 tại Thân, tháng 8 tại Hợi, tháng 11 tại Dần
Hữu BậtTháng sinh âm lịchTháng 3 tại Thân, tháng 6 tại Tỵ, tháng 9 tại Dần, tháng 12 tại Hợi
Thiên HìnhTháng sinh âm lịchTháng 3 tại Hợi, tháng 6 tại Dần, tháng 9 tại Tỵ, tháng 12 tại Thân
Thiên RiêuTháng sinh âm lịchTháng 2 tại Dần, tháng 5 tại Tỵ, tháng 8 tại Thân, tháng 11 tại Hợi

Suy luận Đọc bảng trên sẽ thấy một điều lý thú: các sao an theo tháng và theo giờ đều có bốn cửa vào tứ sinh, nghĩa là cứ một phần ba số người sinh ra là có cơ hội để Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình hay Thiên Riêu đứng chung cung với Mã. Còn các sao an theo can năm thì kén hơn nhiều, và Kình Dương thì tuyệt đối không có cửa. Vì thế, khi khách nói "thầy xem giúp con Mã của con gặp sao gì", câu hỏi đầu tiên phải hỏi lại là tháng sinh và giờ sinh, chứ không phải tuổi.

Lộc Tồn gặp Mã: chỉ hai tuổi can trong cả sáu mươi hoa giáp

Suy luận Đây là phát hiện đáng giá nhất khi chạy đối chiếu bằng thuật toán, và nó đính chính một hiểu lầm rất phổ biến. Lộc Tồn vào được tứ sinh với năm tuổi can là Giáp (tại Dần), Bính và Mậu (tại Tỵ), Canh (tại Thân), Nhâm (tại Hợi). Nghe qua tưởng năm tuổi ấy đều có cơ hội Lộc Mã. Nhưng can và chi không ghép tự do: can dương chỉ ghép với chi dương, can âm chỉ ghép với chi âm. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì ra kết quả như sau.

Các tuổi trong sáu mươi hoa giáp có Lộc Tồn và Thiên Mã đồng cung hoặc xung chiếu
ThếTuổiVị tríGhi chú
Lộc Mã đồng cungGiáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thâncùng tại DầnTân Biên gọi riêng thế đồng cung này là Chiết tiễn mã
Lộc Mã đồng cungCanh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuấtcùng tại Thânnhư trên
Lộc Mã xung chiếuGiáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp TuấtLộc Dần, Mã Thânđây mới đúng nghĩa chữ giao trì
Lộc Mã xung chiếuCanh Tý, Canh Thìn, Canh ThânLộc Thân, Mã Dầnnhư trên
Lộc và Mã không gặp nhauBính, Mậu, Nhâm và mọi tuổi can âmluôn cách nhau ba cung hoặc hơnLộc ở tứ sinh mà vẫn không tới được chỗ Mã

Suy luận Nghĩa là chỉ người tuổi Giáp và tuổi Canh mới có Lộc Mã giao trì trên bản mệnh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp, và điều đặc biệt là cả mười hai tuổi ấy đều thành cách: hoặc đồng cung, hoặc xung chiếu, không có trường hợp lỡ dở. Người tuổi Bính, Mậu, Nhâm tuy có Lộc Tồn đứng ngay trong tứ sinh nhưng lại luôn lệch với Mã ba cung, con ngựa nhìn thấy kho lộc mà không tới được. Còn năm tuổi can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Lộc Tồn ở tứ chính hoặc tứ mộ, hoàn toàn ngoài cuộc. Với những tuổi ấy, muốn có Lộc đi cùng Mã thì phải trông vào Hóa Lộc của chính tinh đồng cung, đó là chuyện của mục Tứ Hóa bên dưới.

Chính tinh nào có thể ngồi cùng cung với con ngựa

Suy luận Vì Mã chỉ ở tứ sinh nên nó cũng chỉ gặp được những thế chính tinh có thể đóng ở tứ sinh. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho ra bảng sau, và bảng này giải thích luôn vì sao cổ thư đặt tên các cách của Thiên Mã theo đúng những chính tinh ấy chứ không phải sao khác.

Các thế chính tinh có thể đứng cùng cung với Thiên Mã tại bốn cung tứ sinh
Mã đóng tạiSố thế có thểChính tinh có thể đồng cung với Thiên Mã
Dần10Phá Quân · cung trống · Tử Vi, Thiên Phủ · Thiên Cơ, Thái Âm · Tham Lang · Thái Dương, Cự Môn · Vũ Khúc, Thiên Tướng · Thiên Đồng, Thiên Lương · Thất Sát · Liêm Trinh
Tỵ12Thái Âm · Liêm Trinh, Tham Lang · Cự Môn · Thiên Tướng · Thiên Lương · Tử Vi, Thất Sát · Thiên Cơ · cung trống · Thái Dương · Vũ Khúc, Phá Quân · Thiên Đồng · Thiên Phủ
Thân10Vũ Khúc, Thiên Tướng · Thiên Đồng, Thiên Lương · Thất Sát · cung trống · Liêm Trinh · Phá Quân · Tử Vi, Thiên Phủ · Thiên Cơ, Thái Âm · Tham Lang · Thái Dương, Cự Môn
Hợi12Thiên Cơ · cung trống · Thái Dương · Vũ Khúc, Phá Quân · Thiên Đồng · Thiên Phủ · Thái Âm · Liêm Trinh, Tham Lang · Cự Môn · Thiên Tướng · Thiên Lương · Tử Vi, Thất Sát

Suy luận Từ bảng rút ra ba điều nên nhớ. Thứ nhất, tại Dần và Thân, Tử Vi luôn đi cùng Thiên Phủ, nên thế Mã gặp Tử Vi ở hai cung này bao giờ cũng là Mã gặp cả Tử lẫn Phủ, đúng như tên cách Phù dư mã mà Tân Biên chép. Thứ hai, tại Tỵ và Hợi, Tử Vi luôn đi cùng Thất Sát, nên Mã gặp Tử Vi ở đây là gặp một cỗ xe hoàn toàn khác: xe chiến chứ không phải xe vua. Thứ ba, Dần và Thân mỗi cung chỉ có mười thế chính tinh có thể xảy ra, còn Tỵ và Hợi có đủ mười hai, vì Dần Thân là nơi các cặp sao hay chụm lại. Cung trống cũng là một khả năng thật: khi ấy Mã đứng một mình, phải mượn sao cung xung chiếu mà luận, và cung xung chiếu ấy chắc chắn cũng là một cung tứ sinh.

3 Đặc Tính Người Có Thiên Mã Thủ Mệnh

Thiên Mã chủ tháo vát, nhanh nhẹn, hay đi xaẢnh minh họa cập nhật sau Ý nghĩa và đặc tính của Thiên Mã
Thiên Mã chủ tháo vát, nhanh nhẹn, hay đi xa

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, người có Thiên Mã thường tháo vát, may mắn, nhanh nhẹn, hay đi xa. Sao này có ảnh hưởng nhiều tới công danh, tài lộc và phúc thọ. Mệnh hoặc Thân có Mã tọa thủ, gọi là Dịch Mã, là người đa tài, hoạt bát.

Thiên Mã đắc địa ở Tỵ và Dần thì sức chạy tốt nhất. Tuy nhiên Mã cần có chỗ tới và có sao đi cùng phù hợp, kẻo thành con ngựa chạy hoang. Vì vậy ý nghĩa của Thiên Mã thay đổi rất nhiều tùy nó gặp sao nào.

4 Bảng Vị Trí Thiên Mã Theo Chi Năm Sinh

Thiên Mã an theo tam hợp của chi năm sinh và luôn rơi vào một trong bốn cung Tứ Sinh. Tra nhóm chi năm của thầy để biết Thiên Mã đóng ở đâu.

Nhóm chi năm sinh (tam hợp)Cung an Thiên Mã
Thân, Tý, ThìnDần
Dần, Ngọ, TuấtThân
Tỵ, Dậu, SửuHợi
Hợi, Mão, MùiTỵ

Ghi nhớ: Thiên Mã chỉ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mã đắc địa nhất ở Tỵ và Dần. Mã đóng tại Hợi là thế cùng đồ mã (ngựa hết đường chạy), cần lưu ý.

5 Thiên Mã khi gặp các sao khác

Thiên Mã gặp Lộc thì quý, gặp Tuần Triệt Đà La thì khốnẢnh minh họa cập nhật sau Thiên Mã hội cùng các sao khác
Thiên Mã gặp Lộc thì quý, gặp Tuần Triệt Đà La thì khốn

Thiên Mã hay hay dở phụ thuộc gần như hoàn toàn vào sao đi cùng, và cổ thư đặt cho mỗi thế một cái tên hình tượng. Gặp Lộc Tồn đồng cung là Chiết tiễn (bẻ roi đánh ngựa), gặp Lộc Tồn xung chiếu là Lộc Mã giao trì, đều chủ mọi việc chóng thành, tài quan song mỹ. Gặp Tử Vi Thiên Phủ ở Dần Thân là Phù dư mã (ngựa kéo xe cho vua), chủ tài giỏi, uy quyền, giàu sang tột bậc.

Ngược lại, gặp Đà La là Chiết túc mã (ngựa què), suy bại trở ngại; gặp Tuần Triệt án ngữ là Tử mã (ngựa chết), gây bại hoại; gặp Tuyệt hoặc đóng ở Hợi là cùng đồ mã (ngựa cùng đường). Gặp Hỏa Linh là Chiến mã, chủ quân sự binh quyền; gặp Hình là Phù thi mã, rất xấu.

6 Thiên Mã Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can

Kinh văn Nói ngay câu đầu cho rõ: Thiên Mã không nằm trong Tứ Hóa. Trong bảng Tứ Hóa mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang dùng, mười thiên can chỉ phân Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ cho mười bốn chính tinh cộng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và với Bắc phái là Thiên Phủ. Không tuổi nào làm Thiên Mã hóa Lộc, cũng không tuổi nào làm Thiên Mã hóa Kỵ. Ai nói "tuổi này Thiên Mã hóa Lộc" là nhầm sang một hệ khác.

Suy luận Nhưng không hóa không có nghĩa là không dính dáng. Thiên Mã là cái chân, không phải cái đầu. Nó không tự quyết định đi đâu, nó chỉ làm cho việc của sao đồng cung chạy nhanh hơn và đi xa hơn. Vì thế Tứ Hóa rơi vào chính tinh đứng cùng cung với Mã thì cũng là Tứ Hóa rơi lên lưng con ngựa, và cái hóa ấy sẽ được nhân lên theo khoảng cách. Đây mới là cách đọc Tứ Hóa của Thiên Mã cho đúng.

Mã gặp chính tinh hóa Lộc

Kinh văn Hóa Lộc là cái được, là của cải và sự thuận. Chính tinh đồng cung với Mã mà hóa Lộc thì thành thế Lộc Mã theo nghĩa rộng, tức là tiền và cơ hội tới từ chỗ xa, từ việc đi lại, từ người ngoài vùng mình sống. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy thế này biểu hiện rất cụ thể: người làm nghề mua bán qua biên giới, người có khách hàng ở tỉnh khác hoặc nước khác, người kiếm được nhờ chuyển công tác hoặc nhờ một lần dời chỗ ở. Điều đáng nói là Hóa Lộc cùng Mã không giữ được của bằng Lộc Tồn cùng Mã, vì Lộc Tồn là kho còn Hóa Lộc là dòng chảy. Ngựa chở dòng chảy thì nước càng dễ đổ dọc đường. Muốn giữ, lá số phải có thêm Lộc Tồn hoặc Vũ Khúc, Thiên Phủ đứng chỗ khác làm kho.

Suy luận Bốn cung tứ sinh cho phép những chính tinh nào hóa Lộc mà gặp Mã? Chạy đối chiếu thì thấy cả mười bốn chính tinh đều có cơ hội, vì mỗi cung tứ sinh đều có thể là chỗ đứng của bất cứ chính tinh nào tùy thế Tử Vi. Nhưng thực tế hay gặp nhất là bốn thế: Liêm Trinh hóa Lộc tuổi Giáp gặp Mã, Thiên Cơ hóa Lộc tuổi Ất gặp Mã, Thiên Đồng hóa Lộc tuổi Bính gặp Mã, và Vũ Khúc hóa Lộc tuổi Kỷ gặp Mã. Thế Cơ Lộc gặp Mã là Cơ Mã, sách xưa gọi là ngựa và bánh xe cùng lăn, chủ người đổi việc luôn tay mà lần nào đổi cũng có lợi hơn lần trước. Thế Vũ Lộc gặp Mã là tiền lớn tới từ xa, nhưng Vũ Khúc là sao cứng nên phải đi nhiều mới có.

Mã gặp chính tinh hóa Quyền

Suy luận Hóa Quyền là cái nắm được, là quyền chỉ huy. Ngựa chở quyền thì thành ngựa của người cầm quân: người ấy quản việc ở xa, quản chi nhánh, quản đội ngoài hiện trường, hoặc làm nghề vừa đi vừa ra lệnh. Kinh nghiệm Thầy hay thấy thế này ở lá số của quản đốc công trường, người phụ trách vùng, người điều hành đội xe, đội giao nhận, và cả người làm nghề dẫn đoàn. Mặt cần giữ là quyền đi cùng chân thì dễ sinh nóng: quyết nhanh, đi nhanh, và cũng dễ sai nhanh. Nếu cung ấy lại có Kình Dương giáp bên thì càng phải cẩn thận lời ăn tiếng nói khi ở xa nhà.

Mã gặp chính tinh hóa Khoa

Suy luận Hóa Khoa là danh tiếng và cái tiếng lành, là bằng cấp, là chữ nghĩa. Mã chở Khoa là tiếng lành đồn xa: người ấy được biết đến ở nơi mình không ở, hợp việc đi giảng, đi trình bày, đi thi, đi công bố, đi giao lưu. Đây là thế êm nhất trong bốn hóa khi đi cùng Thiên Mã, vì Khoa làm chậm lại và làm sạch cái xô bồ của sự dịch chuyển. Kinh nghiệm Với người trẻ, Mã gặp Khoa ở cung Quan Lộc hoặc Thiên Di thường ứng vào việc du học hoặc đi làm xa mà có bằng, có chứng chỉ, có tên tuổi trong nghề.

Mã gặp chính tinh hóa Kỵ

Suy luận Hóa Kỵ là cái vướng, cái mắc kẹt. Đặt lên lưng con ngựa thì thành ngựa mang gánh nặng: đi mà không tới, dời chỗ mà không đổi được cảnh, càng chạy càng rối. Đây là thế Thầy dặn phải nói thật với khách. Người có Mã đồng cung với chính tinh hóa Kỵ thường có tật hay đổi: đổi việc, đổi nhà, đổi bạn làm ăn, mà lần sau không khá hơn lần trước, vì cái vướng nằm trong người chứ không nằm ở nơi chốn. Kinh nghiệm Cách hóa giải của Thầy rất giản dị và không hề huyền bí: giới hạn số lần đổi trong một khoảng thời gian, đặt ra một mốc phải ở lại đủ lâu trước khi được phép đi tiếp. Ngựa mang Kỵ cần dây cương chứ không cần roi.

Suy luận Nặng nhất là khi Kỵ ấy rơi đúng vào cung Thiên Di hoặc cung Điền Trạch có Mã. Thiên Di có Mã và Kỵ là ra đường hay gặp chuyện, phải cẩn thận xe cộ và giấy tờ đi lại. Điền Trạch có Mã và Kỵ là nhà cửa không yên, dọn đi dọn lại mà chỗ nào cũng có việc.

Hóa bay tới từ cung khác, và tuổi nào tạo tổ hợp đáng chú ý với Mã

Suy luận Thiên Mã đứng ở tứ sinh nên tam phương tứ chính của nó cũng toàn là cung tứ sinh. Hóa của các chính tinh ở ba cung tứ sinh còn lại đều có đường bay tới chỗ con ngựa. Ba tình huống hay gặp nhất:

  • Tuổi Giáp và tuổi Canh: hai tuổi duy nhất có Lộc Tồn gặp được Mã trên bản mệnh. Tuổi Giáp còn có Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, hai sao này đều đóng được ở tứ sinh, nên tuổi Giáp là tuổi dễ có cả Lộc Tồn lẫn Hóa Lộc cùng chầu về chỗ Mã. Tuổi Canh có Thái Dương hóa Lộc và Vũ Khúc hóa Quyền, cả hai cũng vào được tứ sinh, thành thế ngựa vừa có lộc vừa có quyền.
  • Tuổi Đinh, Kỷ, Quý: ba tuổi có Đà La rơi vào tứ sinh đúng chỗ Mã, thành Chiết túc mã trên bản mệnh. Tuổi Đinh còn có Cự Môn hóa Kỵ, mà Cự Môn đóng được ở cả bốn cung tứ sinh, nên tuổi Đinh cần xem kỹ: nếu Cự Kỵ đúng cung có Mã và Đà thì đó là thế ngựa què lại còn phải cãi nhau dọc đường.
  • Tuổi Bính, Mậu, Nhâm: Lộc Tồn có vào tứ sinh nhưng luôn lệch Mã ba cung. Với ba tuổi này, Lộc đến với con ngựa chỉ có thể qua đường Hóa Lộc của chính tinh đồng cung, hoặc qua Hóa Lộc chiếu về từ cung tứ sinh khác. Đây là chỗ nhiều người luận sai vì thấy tuổi Nhâm Lộc Tồn ở Hợi, Mã cũng có thể ở Hợi, rồi kết luận vội. Thực ra tuổi Nhâm chỉ ghép với chi dương, mà chi dương thì Mã luôn ở Dần hoặc Thân, không bao giờ ở Hợi.

Tứ Hóa lưu niên bay tới chỗ Mã còn quan trọng hơn nữa, vì nó đổi mỗi năm. Phần ấy để riêng ở mục đại vận và lưu niên bên dưới. Trên trang an lá số, chọn năm xem rồi bấm vào cung có Thiên Mã là đọc được cả hóa bản mệnh lẫn hóa lưu niên đang phủ lên cung ấy.

7 Thiên Mã tại 12 cung chức

Thiên Mã ở 12 cungẢnh minh họa cập nhật sau Sao Thiên Mã tại 12 cung chức
Thiên Mã ở cung nào thì gieo ảnh hưởng vào lĩnh vực ấy của đời người

Thiên Mã đóng vào cung nào thì mang sự di chuyển và biến động vào lĩnh vực đó của đời người.

Thiên Mã tại từng cung chức, khi được cát tinh và khi bị hung tinh, kèm tổ hợp đáng chú ý
CungMã đắc thế, gặp Lộc và cát tinhMã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần TriệtTổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhNgười tháo vát, nhanh nhẹn, ngồi không yên, đa tài, tuổi trẻ đã đi xa; hợp việc phải xoay chuyển liên tục.Bôn ba mà không tới đích, đổi việc đổi chỗ liên miên, sức lực tiêu vào đường đi hơn là vào việc.Mã đồng cung Lộc Tồn tại Dần hoặc Thân là Chiết tiễn mã, chỉ có ở tuổi Giáp và Canh, nhưng luôn bị Kình Đà giáp hai bên. Mã đồng cung Thất Sát tại tứ sinh là người xông pha, hợp nghề nặng và nghề nguy hiểm.
Huynh ĐệAnh em ở xa mà vẫn giúp nhau, có người thành đạt nơi khác; bạn cùng làm ăn là người hay đi.Anh em mỗi người một phương, ít gặp; hoặc có người trong nhà đi rồi biệt tin.Mã gặp Tả Phụ hoặc Hữu Bật ở cung này thì anh em và cộng sự đưa mình đi xa được. Mã gặp Đà La thì có người trong nhà đi mà lận đận.
Phu ThêBạn đời quen nhau ở xa hoặc khác quê, một trong hai người hay đi công tác; xa mà vẫn bền.Vợ chồng ly cách vì công việc, tình cảm nguội dần theo quãng đường; dễ có giai đoạn sống hai nơi.Mã gặp chính tinh hóa Kỵ tại Phu Thê là thế đáng lưu tâm nhất: đi xa rồi lòng cũng đi theo. Mã gặp Thiên Riêu tại cung này thì tình cảm dễ phát sinh trên đường, cần giữ.
Tử TứcCon cái năng động, sớm tự lập, có duyên đi học xa hoặc lập nghiệp nơi khác.Con ở xa cha mẹ, ít gần gũi; hoặc muộn con vì hai vợ chồng bận đi lại.Mã gặp chính tinh hóa Khoa tại Tử Tức thường ứng vào chuyện con du học hoặc con có tiếng trong nghề ở nơi xa.
Tài BạchTiền tới từ chỗ xa: buôn chuyến, xuất khẩu, khách tỉnh khác, việc phải di chuyển mới có thu.Tiền vào nhanh ra nhanh, kiếm ở xa mà tiêu hết dọc đường; đầu tư theo phong trào rồi mất vốn.Lộc Mã đồng cung tại Tài là thế tài lộc quý nhất của sao này, chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh có. Mã gặp Địa Không tại Tài thì tiền như ngựa chạy vào chỗ trống, phải có kho mới giữ được.
Tật ÁchThể chất bền, dẻo dai, hồi phục nhanh; hợp vận động, đi bộ, thể thao ngoài trời.Bệnh ở chân tay và gân cốt, hay đau lưng đau khớp do đi lại nhiều; cẩn thận tai nạn giao thông.Mã gặp Đà La tại Tật Ách là tổ hợp Thầy dặn kỹ nhất về chân và khớp gối. Mã gặp Thiên Hình tại Tật thì phải để ý thương tích do va chạm khi di chuyển.
Thiên DiĐây là chỗ Thiên Mã thích nhất: ra ngoài gặp may, xuất ngoại thuận, đổi vùng đất là đổi vận.Ra ngoài vất vả, đi xa mà không gặp thời, hay hỏng việc dọc đường, nên bớt đi lại đường dài.Mã tại Thiên Di mà Lộc Tồn ở Mệnh xung chiếu sang là Lộc Mã giao trì đúng nghĩa, tuổi Giáp và tuổi Canh mới có. Mã tại Di gặp Tuần hoặc Triệt là ngựa bị chặn ngay cửa, đi xa nên cân nhắc kỹ.
Nô BộcBạn bè rộng khắp nơi, quen biết nhiều vùng, có người ở xa giúp được việc lớn.Bạn đến rồi đi, không ai ở lại lâu; cấp dưới hay nghỉ việc, đội ngũ khó ổn định.Mã gặp Tả Hữu tại Nô Bộc là người có mạng lưới quan hệ trải rộng, rất hợp nghề môi giới và kết nối.
Quan LộcNghề gắn với di chuyển: vận tải, giao thương, ngoại giao, du lịch, hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế.Công việc xáo trộn liên tục, nhảy việc nhiều, khó tích lũy chuyên môn ở một chỗ.Mã gặp chính tinh hóa Quyền tại Quan là người quản việc ở xa, phụ trách vùng hoặc chi nhánh. Mã gặp Thất Sát tại Quan hợp nghề cần quyết đoán và chịu áp lực hiện trường.
Điền TrạchCó nhà đất ở nhiều nơi, hoặc mua bán nhà đất mà có lời; ở đâu cũng nhanh quen.Nhà cửa không cố định, dọn đi dọn lại, khó giữ được một chỗ lâu dài.Mã gặp Địa Không hoặc Địa Kiếp tại Điền Trạch thì tài sản khó tụ, mua rồi lại bán. Mã gặp Lộc tại Điền thì đổi chỗ ở lần nào cũng khá hơn lần trước.
Phúc ĐứcTâm tính phóng khoáng, ưa cái mới, đời sống tinh thần rộng mở nhờ đi và thấy nhiều.Trong lòng không yên, hay sốt ruột, khó ngồi tĩnh; phúc phần tổ tiên ở xa quê.Mã tại Phúc Đức gặp Tuần hoặc Triệt lại có mặt hay: cái nôn nóng bị hãm bớt, người trầm tính hơn thấy rõ.
Phụ MẫuCha mẹ từng đi xa lập nghiệp, gia đình có gốc chuyển cư; mình được thừa hưởng cái chí đi.Sớm xa cha mẹ, ít được kề cận chăm sóc; hoặc cha mẹ vất vả vì đường đi nước bước.Mã gặp Kình Dương ở thế giáp cung Phụ Mẫu là tổ hợp cần để ý sức khỏe cha mẹ vào những năm lưu Mã và lưu Kình cùng chạm tới.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này của Thầy chỉ có một câu: Thiên Mã ở cung nào thì cung ấy có chân. Mã ở Tài Bạch thì tiền có chân, nó chạy vào cũng nhanh mà chạy ra cũng nhanh, nên phải hỏi khách xem trong lá số có cái kho nào giữ nó không. Mã ở Phu Thê thì người bạn đời có chân, phải hỏi hai người có hay sống xa nhau không. Mã ở Điền Trạch thì cái nhà có chân, phải hỏi đã dọn nhà mấy lần. Hỏi ngược như thế thì khách tự kể ra, và người luận biết ngay con ngựa ấy đang chạy đúng đường hay đang chạy hoang. Còn một quy tắc nữa: Mã ở cung nào cũng nên đối chiếu với cung xung chiếu, vì cung xung chiếu của một cung tứ sinh cũng là cung tứ sinh, và Mệnh với Thiên Di, Tài Bạch với Phúc Đức thường phải đọc thành một cặp.

8 Các Cách Cục Của Thiên Mã Và Điều Kiện Thành Cách

Thiên Mã trong các cách Lộc Mã, Phù dư mã, Chiến mãẢnh minh họa cập nhật sau Các cách cục liên quan đến Thiên Mã
Thiên Mã trong các cách Lộc Mã, Phù dư mã, Chiến mã

Cách quý nhất của Thiên Mã là Lộc Mã giao trì, tức Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại, mọi việc hanh thông. Phù dư mã là Mã cùng Tử Vi Thiên Phủ ở Dần Thân, một cách đại quý chủ giàu sang uy quyền. Thư hùng mã là Mã gặp Nhật Nguyệt sáng, chủ đa tài vinh hiển.

Các thế cần tránh đều xoay quanh việc con ngựa bị cản hoặc chết: Chiết túc mã (gặp Đà La), Tử mã (gặp Tuần Triệt), cùng đồ mã (gặp Tuyệt hay ở Hợi). Vì vậy khi luận Thiên Mã, điều quan trọng nhất là xem con ngựa ấy đang được cưỡi, được tiếp sức, hay đang bị què, bị chặn.

Suy luận Thiên Mã là sao mà tên cách nhiều hơn hầu hết phụ tinh khác, vì cổ nhân đặt tên theo tình cảnh của con ngựa: ngựa kéo xe vua, ngựa chở lộc, ngựa gãy chân, ngựa chết, ngựa cùng đường. Mỗi cách dưới đây ghi rõ điều kiện thành, điều kiện làm cách đẹp thêm hoặc đáng ngại thêm, và điều kiện phá. Riêng với Thiên Mã, có một điều kiện ngầm áp cho mọi cách mà ít sách nói ra: mọi cách của Thiên Mã đều chỉ xảy ra tại Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, vì con ngựa không có chỗ đứng nào khác.

Lộc Mã giao trì

Kinh văn Thành cách: Thiên Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đồng cung hoặc xung chiếu. Tân Biên chép riêng thế Mã đồng cung Lộc Tồn là Chiết tiễn mã, tức bẻ roi mà đánh ngựa, còn thế xung chiếu mới đúng chữ giao trì. Cả hai đều chủ mọi việc chóng thành, tài quan song mỹ, tiền tới từ phương xa. Suy luận Đủ đẹp: theo thuật toán an sao, Lộc Tồn chỉ gặp được Mã ở tuổi Giáp và tuổi Canh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp. Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân thì Lộc và Mã cùng ở Dần. Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất thì cùng ở Thân. Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất và Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân thì Lộc một bên Mã một bên, xung chiếu nhau. Cách đẹp thêm khi cung ấy có chính tinh đắc địa và có Tả Hữu hoặc Khôi Việt chầu. Suy luận Phá cách: ba đường. Một là Tuần hoặc Triệt án ngay cung có Lộc Mã. Hai là Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, lộc chảy vào chỗ trống. Ba là thế giáp: vì Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên Lộc Mã đồng cung bao giờ cũng đứng giữa hai sát tinh, cái quý có nhưng đường đi không êm. Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với học trò rằng Lộc Mã đồng cung là con ngựa chở vàng đi giữa hai tên cướp, còn Lộc Mã xung chiếu là kho vàng ở nhà mà ngựa đi lấy hàng, thế sau thong dong hơn thế trước.

Phù dư mã

Kinh văn Thành cách: Thiên Mã đồng cung với Tử Vi và Thiên Phủ tại Dần hoặc Thân, tức ngựa kéo xe cho vua, chủ tài giỏi, uy quyền, giàu sang bậc nhất trong các cách của Thiên Mã. Suy luận Đây là cách được thuật toán xác nhận trọn vẹn: chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì Tử Vi và Thiên Phủ chỉ đồng cung với nhau tại đúng hai cung Dần và Thân, mà Dần Thân lại nằm trong bốn cung của Thiên Mã. Vậy tên cách của cổ nhân không phải đặt cho vui, nó là mô tả một cấu trúc có thật và duy nhất. Người tuổi Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần nên cần Tử Phủ tại Dần; người tuổi Dần Ngọ Tuất thì Mã ở Thân nên cần Tử Phủ tại Thân. Đủ đẹp: thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc vào cùng cung thì thành thế xe vua chở đầy của. Suy luận Phá cách: Tuần Triệt án ngữ, hoặc Không Kiếp đồng cung; khi ấy vẫn là người có tài và có tướng nhưng cái quý đến muộn và không trọn.

Nhật Mã và Nguyệt Mã, gộp lại là Thư hùng mã

Kinh văn Thành cách: Thiên Mã gặp Thái Dương hoặc Thái Âm sáng sủa. Tân Biên gọi chung thế Mã gặp Nhật Nguyệt sáng là Thư hùng mã, chủ đa tài, vinh hiển. Suy luận Chia nhỏ ra thì Nhật Mã là Mã đồng cung Thái Dương, Nguyệt Mã là Mã đồng cung Thái Âm, và thuật toán cho biết hai thế này rơi vào đâu. Nhật Mã có bốn khả năng: tại Dần và Thân thì Thái Dương đi cùng Cự Môn, tại Tỵ thì Thái Dương độc tọa và đang ở chỗ sáng nhất của nó, tại Hợi thì Thái Dương đã lặn. Vậy Nhật Mã đẹp nhất là Mã tại Tỵ gặp Thái Dương, tức người tuổi Hợi, Mão, Mùi, mặt trời giữa ban ngày mà lại có ngựa, chủ danh tiếng lan ra xa, hợp nghề đi và nói. Suy luận Nguyệt Mã cũng có bốn khả năng, và có một nghịch lý đáng nói: Thái Âm sáng nhất ở Hợi, mà Hợi lại đúng là cung mà cổ thư gọi là cùng đồ mã. Người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có Mã tại Hợi gặp Thái Âm miếu là thế trăng sáng mà ngựa hết đường: tài hoa, tình cảm, tiền của có, nhưng cái chí đi thì bị chặn, thường ứng vào người muốn đi xa mà cứ vướng việc nhà. Phá cách: Thái Dương hoặc Thái Âm hóa Kỵ, hoặc sao ấy hãm địa, khi ấy Thư hùng mã không thành, chỉ còn là người vất vả vì đi lại.

Chiến mã

Kinh văn Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, chủ quân sự, binh quyền. Đây là bản mà trang này vẫn dẫn từ trước. Suy luận Một cách hiểu khác đang lưu hành là Chiến mã tức Mã gặp Kình Dương hoặc Thất Sát, lấy ý ngựa ra trận. Với cách hiểu này phải nói rõ một điều mà thuật toán chỉ ra dứt khoát: Kình Dương không bao giờ đồng cung với Thiên Mã trên bản mệnh, cũng không bao giờ xung chiếu hay tam hợp, vì Kình Dương chỉ an được ở tám cung tứ chính và tứ mộ. Kình Dương chỉ có thể giáp Mã, và điều đó xảy ra với mười hai tuổi là Giáp, Ất, Canh, Tân. Vậy nếu ai luận Chiến mã theo nghĩa Mã ngộ Kình Dương đồng cung thì hoặc là đang nói về lưu Kình Dương của một năm cụ thể, hoặc là đã an sai. Còn Thất Sát thì khác: Thất Sát đóng được ở cả bốn cung tứ sinh, nên Mã đồng cung Thất Sát là thế có thật và khá hay gặp, ứng vào người xông pha, hợp nghề nặng, nghề hiện trường, nghề có rủi ro. Đủ đẹp: có Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn cùng cung thì cái xông pha ấy sinh ra công trạng. Suy luận Đáng ngại: Mã, Thất Sát mà thêm Địa Không Địa Kiếp hoặc Đà La thì thành liều mà không có đường lui.

Chiết túc mã, ngựa gãy chân

Kinh văn Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Đà La, chủ suy bại, trở ngại; và Mã bị Tuần Triệt án ngữ thì sách gọi là Tử mã, ngựa chết, chủ bại hoại. Suy luận Một cách gọi khác gộp chung mọi thế làm con ngựa mất sức vào tên Chiết túc mã, gồm cả Mã gặp Tuần, gặp Triệt và gặp Địa Không. Bài này ghi cả hai lối gọi để quý vị đọc sách nào cũng hiểu, còn khi luận thì cái quan trọng không phải tên mà là cơ chế: Đà La là cái níu chân làm ngựa đi chậm và đi lệch, Tuần Triệt là cái chặn ngang làm ngựa không xuất phát được, Địa Không là cái hố làm ngựa sa chân. Suy luận Điều kiện thật, kiểm bằng thuật toán: Đà La chỉ vào được tứ sinh với năm tuổi can âm là Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi. Nhưng can âm chỉ ghép với chi âm, mà chi âm thì Mã luôn ở Tỵ hoặc Hợi. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì Đà La đồng cung Thiên Mã chỉ xảy ra với chín tuổi: Đinh Mão, Đinh Mùi, Đinh Hợi, Kỷ Mão, Kỷ Mùi, Kỷ Hợi cùng tại Tỵ, và Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Dậu cùng tại Hợi. Tuổi Ất và tuổi Tân tuy có Đà La ở tứ sinh nhưng không bao giờ trùng chỗ với Mã. Kinh nghiệm Giải cách: Thầy không dùng chữ hóa giải theo lối bùa chú. Cái giải thật của Chiết túc mã là giảm số lần đi và tăng chất lượng mỗi lần đi: chọn ít việc mà làm cho xong, chọn một nơi mà ở cho đủ lâu. Ngựa gãy chân thì đừng bắt nó chạy đua, hãy để nó kéo xe gần. Ngoài ra nếu cung ấy có Hóa Khoa hoặc Thiên Lương thì cái trở ngại được đỡ đi đáng kể.

Phù thi mã

Kinh văn Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Thiên Hình, sách xếp vào loại rất xấu. Thiên Hình an theo tháng sinh và vào được tứ sinh ở bốn tháng là tháng ba tại Hợi, tháng sáu tại Dần, tháng chín tại Tỵ, tháng mười hai tại Thân, nên đây là thế có thật và không hiếm. Suy luận Một cách gọi khác cho Phù thi mã là Thiên Mã gặp Tử Phù hoặc Đại Hao. Thầy ghi lại lối gọi này để quý vị biết, nhưng phải nói thẳng: tên gọi ấy Thầy chưa kiểm được trong Tân Biên hay Toàn Thư, và vị trí của Tử Phù, Đại Hao cũng không nằm trong bộ cấu trúc đã kiểm bằng thuật toán của bài này, nên đoạn này chỉ đặt ở mức suy luận. Xét theo nghĩa chữ thì hợp lý: phù thi là xác trôi, Tử Phù thuộc vòng Thái Tuế mang nghĩa tang chế, Đại Hao mang nghĩa hao tán, ngựa mà đi cùng hai sao ấy thì đi mà không mang được gì về. Suy luận Ở tầng lưu niên thì thế này rõ hơn nhiều: năm mà lưu Tử Phù hoặc lưu Đại Hao chạm vào cung có Thiên Mã bản mệnh, nhất là khi cung ấy đang là cung Thiên Di hoặc Tài Bạch, thường là năm nên hoãn những chuyến đi lớn và những khoản đầu tư xa nhà. Suy luận Giải cách: có Hóa Khoa, Thiên Lương hoặc Thiên Đức chầu về thì nhẹ đi; quan trọng hơn cả là năm ấy đừng khởi sự ở nơi mình không quen.

Cùng đồ mã, ngựa cùng đường

Kinh văn Thành cách: Thiên Mã đóng tại Hợi, hoặc Thiên Mã gặp sao Tuyệt của vòng Trường Sinh. Hợi là cuối của mười hai chi, ngựa chạy tới đó là hết đường; Tuyệt là chặng tận cùng của vòng sinh vượng. Cả hai đều là tượng hết lối. Suy luận Ai rơi vào: Mã tại Hợi là người tuổi Tỵ, Dậu hoặc Sửu, không trừ ai. Nhưng đừng vội lo, vì cùng đồ mã là một thế chứ chưa phải một kết luận. Cùng cung Hợi ấy, nếu có Thiên Phủ, có Thái Âm miếu, có Lộc Tồn của người tuổi Nhâm chiếu tới, thì con ngựa tuy hết đường chạy nhưng đứng trong sân đẹp. Kinh nghiệm Thầy gặp nhiều lá Mã cư Hợi mà đời rất yên: họ là người đi đủ rồi về, hoặc là người chọn một nghề tại chỗ mà làm cho sâu. Cái hại của cùng đồ mã chỉ lộ ra khi người ấy cố đi khi không còn đường, tức cố xoay chuyển vào lúc thế đã cạn. Suy luận Giải cách: cung Hợi có cát tinh đắc địa, hoặc đại vận chuyển sang cung có Lộc; và về hành xử thì đổi mục tiêu từ đi xa hơn sang đi sâu hơn.

Mã ngộ Không vong

Kinh văn Thành cách: Thiên Mã gặp Tuần Không, Triệt Không, Địa Không hoặc Thiên Không. Đây là nhóm thế mà cổ thư xếp chung là ngựa chạy vào chỗ không có gì. Suy luận Thuật toán cho biết Địa Không và Địa Kiếp an theo giờ sinh và mỗi sao có bốn giờ rơi vào tứ sinh, cụ thể là các giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Nghĩa là người sinh vào bốn giờ chính ấy có nhiều khả năng gặp thế Mã và Không Kiếp cùng cung nhất, còn đúng hay không thì phải đối chiếu với chi năm sinh. Kinh nghiệm Về cách đọc, Thầy phân biệt rạch ròi hai chiều. Với người làm ăn và giữ của thì Mã ngộ Không vong là điều phải cảnh báo: tiền và công sức đổ vào những chuyến đi không có đích, dự án ở xa nghe hay mà rỗng. Với người tu học, làm nghề tinh thần, nghiên cứu, sáng tác thì thế này lại không xấu, vì Không vong làm cho cái động của Thiên Mã hướng vào bên trong: người ấy đi nhiều nơi mà không bám vào nơi nào, và đó chính là chất của người làm việc với ý tưởng. Suy luận Phá cách hay giải cách tùy chỗ đứng: nếu Mã và Không vong ở Tài Bạch hay Điền Trạch thì cần kho, cần người giữ sổ, cần quy tắc chi tiêu. Nếu ở Phúc Đức hay Thiên Di thì để yên, đừng cố sửa, vì đó là chỗ nó phát huy.

Nhìn chung về các cách của Thiên Mã

Cả tám cách trên chỉ nói một chuyện: con ngựa tự nó không tốt cũng không xấu, cái quyết định là ai cưỡi, chở gì, và đường có thông không. Lộc Tồn và Hóa Lộc là hàng quý trên lưng ngựa. Tử Phủ, Nhật Nguyệt sáng là người cưỡi giỏi. Đà La, Tuần Triệt, Không Kiếp là chân đau và đường tắc. Vì vậy khi luận Thiên Mã, thứ tự đúng là xem chỗ đứng trước, xem sao đồng cung sau, rồi mới xem sao chiếu, cuối cùng mới gọi tên cách. Gọi tên trước rồi mới tìm điều kiện là lối làm ngược, và đó là nguồn gốc của phần lớn những lời luận sai về sao này.

9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung là mạnh nhất vì hai sao ngồi chung một chỗ, xung chiếu mạnh nhì vì nhìn thẳng mặt nhau, tam hợp chiếu nhẹ hơn vì góc xa, còn giáp là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với riêng Thiên Mã có một điều đặc biệt phải nhớ thêm: tam hợp và xung chiếu của cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh. Cho nên sao nào không vào được tứ sinh thì cũng không thể chiếu tới Mã bằng tam hợp hay xung, nó chỉ còn cửa giáp. Đây là lý do Kình Dương và Đào Hoa gần như vắng mặt trong danh sách dưới đây.

Thiên Mã mừng khi gặp

  • Lộc Tồn (đồng cung là Chiết tiễn mã, xung chiếu là Lộc Mã giao trì): thế quý nhất của sao này, nhưng chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh mới có. Đồng cung thì đậm mà bị Kình Đà giáp; xung chiếu thì thong dong hơn.
  • Hóa Lộc của chính tinh đồng cung (đồng cung mạnh nhất): mở đường cho mọi tuổi khác có được thế Lộc Mã, nhất là năm tuổi can âm vốn không có cửa Lộc Tồn.
  • Tử Vi và Thiên Phủ (đồng cung, chỉ tại Dần và Thân): Phù dư mã, ngựa kéo xe vua, cách quý bậc nhất.
  • Thái Dương sáng (đồng cung, đẹp nhất tại Tỵ): Nhật Mã, danh tiếng lan xa, hợp nghề vừa đi vừa nói.
  • Thái Âm sáng (đồng cung, sáng nhất tại Hợi): Nguyệt Mã, tài hoa và tiền của, nhưng ở Hợi thì phải đọc kèm thế cùng đồ.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung, tùy tháng sinh; giáp cũng tốt): có người đi cùng, có kẻ đỡ đần dọc đường, con ngựa không đi một mình.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung, tùy tuổi can): quý nhân gặp ở nơi xa, đi đến đâu cũng có người mở lối.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung, tùy giờ sinh): đi mà học được, đi mà viết được; hợp nghề khảo cứu, báo chí, giảng dạy lưu động.

Thiên Mã e ngại khi gặp

  • Đà La (đồng cung, chỉ ở chín tuổi thuộc can Đinh, Kỷ, Quý): Chiết túc mã, ngựa gãy chân, đi chậm và đi lệch; nặng nhất khi ở Tật Ách hoặc Thiên Di.
  • Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Mã): Tử mã theo Tân Biên, ngựa không xuất phát được. Ở cung Phúc Đức thì lại có mặt hay vì hãm bớt cái nôn nóng.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng đáng ngại): Mã ngộ Không vong, chạy vào chỗ trống. Xấu cho người giữ của, không xấu cho người làm việc tinh thần.
  • Chính tinh đồng cung hóa Kỵ (đồng cung): ngựa mang gánh nặng, đổi hoài mà không khá hơn; cần dây cương chứ không cần roi.
  • Thiên Hình (đồng cung, tùy tháng sinh): Phù thi mã theo Tân Biên, cẩn thận thương tích và giấy tờ khi đi xa.
  • Thiên Riêu (đồng cung, tùy tháng sinh): chuyện tình cảm phát sinh trên đường, đáng lưu ý nhất khi Mã ở cung Phu Thê.
  • Kình Dương (chỉ có thể giáp, không bao giờ đồng cung hay chiếu): thế bao vây, ứng vào va chạm và tranh chấp ở dọc đường chứ không ở đích đến. Muốn có Kình đồng cung với Mã thì chỉ có lưu Kình của một năm cụ thể.
  • Sao Tuyệt của vòng Trường Sinh, và chỗ đứng tại Hợi: không phải sao xấu mà là thế hết đường, cùng đồ mã; xử lý bằng cách đi sâu thay vì đi xa.

Thiên Mã là con ngựa, mà ngựa thì cần người cưỡi giỏi và con đường tốt. Gặp Lộc, gặp Tử Phủ thì thành tuấn mã lập công; gặp Đà La, Tuần Triệt thì thành ngựa què ngựa chết. Tất cả nằm ở chỗ con ngựa ấy đang ở thế nào.

10 Thiên Mã Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về con ngựa đứng yên trong lá số. Nhưng đời người là dòng chảy: mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và bản thân Thiên Mã còn có một bản lưu riêng chạy theo chi của năm đang xem. Với một dịch tinh thì phần động này quan trọng hơn phần tĩnh, vì cái mà khách hỏi bao giờ cũng là "năm nay con có nên đi không".

Đại vận đi vào cung có Thiên Mã

Kinh văn Đại vận bước vào cung có Thiên Mã là mười năm của sự dời chuyển. Trong mười năm ấy, đổi việc, đổi nhà, đi xa, xuất ngoại, mở thị trường mới là những chuyện dễ xảy ra và thường là nên xảy ra. Nếu cung ấy có Lộc Tồn hoặc chính tinh hóa Lộc thì đây thường là đại vận phát của cả đời: người ta bứt ra khỏi chỗ cũ và nên nghiệp ở chỗ mới. Kinh nghiệm Thầy để ý một điều trên lá số thật: đại vận Thiên Mã đến sớm hay đến muộn cho hai kiểu người khác nhau. Đến vào đại vận thứ hai hoặc thứ ba, tức tuổi mười lăm tới ba mươi lăm, thì thành người đi học xa, đi làm xa, lập nghiệp nơi khác, và cái gốc quê thường mỏng đi. Đến vào đại vận thứ năm thứ sáu, tức sau bốn mươi lăm, thì thường là dời chỗ ở vì con cái, vì sức khỏe, hoặc là giai đoạn đi đây đi đó sau khi đã yên bề.

Suy luận Ngược lại, đại vận vào cung có Mã mà cung ấy lại có Đà La, Tuần Triệt hay Không Kiếp thì đó là mười năm động mà không lợi: xáo trộn có, đi lại có, nhưng đổi mà không lên. Lời khuyên cho vận này không phải là ngồi yên, vì Mã đã động thì không giữ được, mà là chọn một hướng rồi đi cho hết, đừng đổi hướng giữa chừng. Còn đại vận vào cung xung chiếu với cung có Mã cũng đáng kể: con ngựa nhìn thẳng vào mười năm ấy, nên vẫn có chuyện đi lại, song là đi rồi về chứ không phải đi hẳn.

Bản lưu niên của chính Thiên Mã: lưu Thiên Mã

Kinh văn Thiên Mã là một trong số ít sao có bản lưu, và cách an lưu Thiên Mã giống hệt cách an Mã bản mệnh, chỉ khác là lấy chi của năm đang xem thay cho chi năm sinh. Vì vậy lưu Thiên Mã cũng chỉ chạy vòng quanh bốn cung tứ sinh, và cứ ba năm lại quay về một chỗ theo đúng chu kỳ tam hợp.

Lưu Thiên Mã đóng tại cung nào theo chi của năm xem, kèm các năm gần đây và sắp tới
Chi của năm xemLưu Thiên Mã tạiCác năm sắp tớiĐọc thế nào
Thân, Tý, ThìnDần2028 Mậu Thân · 2032 Nhâm Tý · 2036 Bính ThìnCung Dần của mọi lá số được kích động: ai có Mệnh, Quan hay Di ở Dần thì đó là năm dễ dời chuyển.
Dần, Ngọ, TuấtThân2026 Bính Ngọ · 2030 Canh Tuất · 2034 Giáp DầnCung Thân được kích động; người có Thiên Mã bản mệnh tại Thân thì năm ấy là Mã chồng Mã, động rất mạnh.
Tỵ, Dậu, SửuHợi2029 Kỷ Dậu · 2033 Quý Sửu · 2037 Đinh TỵCung Hợi được kích động, nhưng Hợi là thế cùng đồ nên cái động này hay ứng vào đi rồi lại về.
Hợi, Mão, MùiTỵ2027 Đinh Mùi · 2031 Tân Hợi · 2035 Ất MãoCung Tỵ được kích động; Tỵ là chỗ Mã có sức chạy tốt, năm thuận cho việc mở rộng ra xa.

Kinh nghiệm Cách dùng bảng này rất gọn: xem Thiên Mã bản mệnh của mình ở cung nào, rồi tra xem năm nào lưu Mã về đúng cung ấy. Đó là Mã chồng Mã, năm mà cái chí đi được nhân đôi, và thường ứng vào một quyết định dời chuyển thật chứ không chỉ là ý nghĩ. Người tuổi Thân Tý Thìn có Mã tại Dần thì các năm Thân, Tý, Thìn là năm Mã chồng Mã của họ. Người tuổi Dần Ngọ Tuất có Mã tại Thân thì các năm Dần, Ngọ, Tuất mới là năm ấy. Thầy vẫn dặn: Mã chồng Mã không tự nó là tốt hay xấu, nó chỉ làm cho việc đi trở nên khó cưỡng. Việc của người luận là xem trong cung ấy có Lộc để đi mà có, hay có Không Kiếp để đi mà mất.

Lưu Lộc Tồn gặp lưu Thiên Mã: những năm Lộc Mã của cả thiên hạ

Suy luận Lưu Lộc Tồn an theo can năm xem, lưu Thiên Mã an theo chi năm xem. Chạy đối chiếu hai bảng ấy cho từng năm dương lịch thì ra một kết quả rất đáng để ý: chỉ những năm can Giáp và can Canh mới có lưu Lộc và lưu Mã gặp nhau, đúng như trên bản mệnh.

Các năm lưu Lộc Tồn và lưu Thiên Mã đồng cung hoặc xung chiếu, và các năm lưu Đà La đồng cung lưu Mã
Thế lưu niênNămCungĐọc thế nào
Lưu Lộc và lưu Mã đồng cung2030 Canh Tuất · 2044 Giáp Tý · 2050 Canh Ngọ2030 và 2050 tại Thân, 2044 tại DầnNăm mà cung ấy có cả kho lẫn ngựa: thuận cho việc mở đường làm ăn ở xa, ai có Mệnh hay Tài ở cung ấy càng rõ.
Lưu Lộc và lưu Mã xung chiếu2034 Giáp Dần · 2040 Canh Thânhai cung Dần và Thân nhìn nhauLộc Mã giao trì ở tầng lưu niên: tiền ở một đầu, việc ở đầu kia, năm của những chuyến đi có mục đích rõ.
Lưu Đà La đồng cung lưu Mã2027 Đinh Mùi · 2033 Quý Sửu · 2039 Kỷ Mùi · 2047 Đinh Mão2027 và 2039 tại Tỵ, 2033 và 2047 tại HợiChiết túc mã ở tầng lưu niên: năm mà việc đi lại hay trục trặc, xe cộ giấy tờ dễ hỏng, nên đi ít mà chắc.
Lưu Kình Dương giáp lưu Mã2031 Tân Hợi · 2035 Ất Mão · 2041 Tân DậuKình kề bên cung có lưu MãThế bao vây: đi vẫn được nhưng dễ va chạm, tranh cãi dọc đường; giữ giấy tờ và giữ lời.

Suy luận Nhìn bảng sẽ thấy các năm đẹp cho Thiên Mã thưa hơn người ta tưởng, và chúng rơi đúng vào những năm can Giáp, can Canh. Đây cũng là chỗ để đính chính một câu hay nghe: "năm nào có Mã là năm đi xa". Không phải. Năm nào cũng có lưu Mã, vì lưu Mã luôn đóng ở một trong bốn cung tứ sinh. Cái đáng xem là lưu Mã năm ấy rơi vào cung chức nào của riêng quý vị, và trong cung ấy đang có Lộc hay có Sát.

Các lưu sao khác chạm vào cung có Thiên Mã

  • Suy luận Lưu Thái Tuế đến cung có Mã: năm mà việc đi lại dính tới giấy tờ, thủ tục, cơ quan công quyền, chẳng hạn hồ sơ xuất cảnh, chuyển hộ khẩu, đổi bằng lái. Có Lộc thì trót lọt, có Kỵ thì lôi thôi.
  • Suy luận Lưu Đà La đến cung có Mã: năm ngựa bị níu chân, kế hoạch đi bị hoãn, hợp đồng ở xa bị kéo dài. Không phải năm hỏng, chỉ là năm chậm.
  • Suy luận Lưu Kình Dương đến kề cung có Mã: nhắc lại cho rõ, Kình Dương của bản mệnh không bao giờ vào được tứ sinh, nhưng lưu Kình theo can của năm xem thì cũng thế, nó cũng chỉ giáp chứ không đồng cung. Vì vậy mọi lời luận kiểu "năm nay lưu Kình đóng cùng Thiên Mã" đều cần xem lại cách an sao.
  • Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Mã, nhất là khi cung ấy là Thiên Di hoặc Tật Ách: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách cẩn thận xe cộ và đường sá trong năm, không phải để dọa mà để nhắc đi chậm lại và khám sức khỏe chân khớp.
  • Suy luận Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung có Mã: năm thuận cho việc đi học xa, thi cử ở nơi khác, phỏng vấn xin việc ngoài tỉnh, nộp hồ sơ du học.
  • Suy luận Lưu Đào Hoa thì không bao giờ chạm được Mã bản mệnh bằng đường đồng cung hay chiếu, vì cả lưu Đào Hoa lẫn Đào Hoa bản mệnh đều chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Ai luận năm Mã gặp Đào là nên tra lại bảng an sao.

Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm cần xem thì lá số tự hiện lưu Thiên Mã, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà và Tứ Hóa lưu của năm ấy, quý vị đối chiếu ngay được với bảng trên mà không phải tính tay.

11 Nam mệnh và nữ mệnh

Nam và nữ mệnh Thiên Mã đều ưa hoạt động, hợp đi xaẢnh minh họa cập nhật sau Thiên Mã với nam mệnh và nữ mệnh
Nam và nữ mệnh Thiên Mã đều ưa hoạt động, hợp đi xa

Nam mệnh Thiên Mã năng động, tháo vát, thích đi đây đi đó, hợp các nghề di chuyển, giao thương, ngoại giao, xuất ngoại. Nếu gặp Lộc thì đường tài lộc từ phương xa rất tốt; chỉ cần tránh các thế ngựa què ngựa chết.

Nữ mệnh Thiên Mã nhanh nhẹn, hoạt bát, độc lập, có thể thành đạt nhờ công việc cần đi lại và giao tiếp. Mặt cần lưu ý là sự bôn ba dễ ảnh hưởng tới đời sống gia đình, nên biết sắp xếp để cân bằng giữa sự nghiệp dịch chuyển và tổ ấm.

12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Mã

Thiên Mã là một trong những sao bị nói quá nhiều nhất, phần vì cái tên dễ hình dung, phần vì ai cũng thích nghe chuyện đi xa. Mục này tách bạch sách nói gì và sách không nói gì, để quý vị khỏi mừng hụt và cũng khỏi lo oan.

Thiên Mã không phải sao chủ về giàu

Kinh văn Tân Biên xếp Thiên Mã là dịch tinh, chủ di chuyển, thay cũ đổi mới, ảnh hưởng tới công danh, tài lộc và phúc thọ. Chữ "ảnh hưởng tới tài lộc" rất khác chữ "chủ tài lộc". Tài tinh trong Tử Vi là Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Thái Âm. Suy luận Thiên Mã chỉ là cái chân đưa tiền tới hoặc đưa tiền đi, nó không sinh ra tiền và cũng không giữ được tiền. Vì thế câu "có Thiên Mã là có tiền" là sai; câu đúng phải là "có Thiên Mã thì tiền của người ấy đến từ chỗ xa, và cần một cái kho ở chỗ khác trong lá số".

Thiên Mã tại Hợi không đồng nghĩa với hỏng

Kinh văn Sách gọi Mã tại Hợi là cùng đồ mã, ngựa hết đường chạy, và trang này từ trước vẫn ghi Mã đắc địa nhất ở Tỵ và Dần. Nhưng sách không nói cùng đồ mã là mệnh xấu, cũng không nói người ấy không đi được. Kinh nghiệm Thầy đã xem rất nhiều lá Mã cư Hợi mà đời sung túc: có người đi nước ngoài từ trẻ rồi về hẳn, có người cả đời làm một nghề tại chỗ mà rất vững. Cùng đồ mã nói về giới hạn của việc đi xa hơn nữa, không nói về nghèo hay hèn. Đọc nó như một lời khuyên về chiến lược thì đúng: tới lúc nào đó, đi sâu có lợi hơn đi xa.

Thiên Mã không gặp được Đào Hoa, nên đừng luận Mã Đào

Suy luận Đây là điều bài này muốn nói rõ nhất, vì nó xuất hiện khá nhiều trong các bài chép lẫn nhau trên mạng. Đào Hoa an theo tam hợp chi năm sinh và chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thiên Mã chỉ đóng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao của trang thì thấy Đào Hoa luôn cách Thiên Mã đúng bảy cung, tức không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp và cũng không giáp. Hồng Loan cũng vậy, luôn cách Mã ba cung. Vậy mọi lời luận kiểu "Mã ngộ Đào Hoa thì đa tình phiêu bạt" là nói về một tổ hợp không tồn tại trên bản mệnh. Nếu muốn nói tới cái đa tình trên đường thì sao đúng phải là Thiên Riêu, và Thiên Riêu thì có bốn tháng sinh vào được tứ sinh để gặp Mã thật.

Sách không nói Thiên Mã đồng cung với Kình Dương

Suy luận Kình Dương an theo can năm sinh và chỉ có thể đóng ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Bốn cung tứ sinh nằm ngoài tầm nó, mà tam hợp và xung chiếu của cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh, nên Kình Dương chỉ có thể đứng kề Thiên Mã. Ai luận "Mã ngộ Kình Dương đồng cung" trên bản mệnh là đã an sai, trừ khi đang nói tới lưu Kình của một năm cụ thể, mà lưu Kình cũng an theo can nên cũng chỉ giáp được thôi. Kinh nghiệm Thầy nêu điều này không phải để bắt bẻ chữ nghĩa, mà vì nó đổi hẳn cách luận: cái nguy của Mã không nằm ở đích đến, nó nằm ở hai bên đường.

Thiên Mã trong Tử Vi không phải sao Thiên Mã trong xem ngày và trong Bát Tự

Kinh văn Chữ Thiên Mã và chữ Dịch Mã xuất hiện trong nhiều môn khác nhau. Trong Bát Tự có Dịch Mã tinh cũng an theo tam hợp chi năm hoặc chi ngày, tính chất gần giống nhưng cách dùng khác hẳn vì Bát Tự luận theo ngũ hành sinh khắc chứ không luận theo cung. Trong lịch xem ngày lại có Thiên Mã của bộ thần sát ngày giờ, dùng để chọn giờ xuất hành, hoàn toàn không dính gì tới lá số suốt đời. Suy luận Ba thứ trùng tên, không trùng nghĩa. Người đọc bài này chỉ nên áp những điều ở đây vào lá số Tử Vi của mình; muốn xem Dịch Mã trong Bát Tự thì dùng công cụ lập lá số Bát Tự riêng.

13 Lá Số Minh Họa: Đọc Thiên Mã Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số cụ thể. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh: tuổi Giáp Tý, Tử Vi an tại Dần, Mệnh an tại Dần. Vì chi năm là Tý thuộc tam hợp Thân Tý Thìn nên Thiên Mã an tại Dần, đúng ngay cung Mệnh. Lưới dưới đây vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La theo đúng thuật toán an sao của trang; riêng Thiên Mã không hiện trên lưới nên xin ghi rõ lại: Thiên Mã nằm ở cung Dần, tức cung Mệnh, cùng chỗ với Tử Vi, Thiên Phủ và Lộc Tồn.

Bước một: con ngựa đứng ở đâu

Suy luận Mã tại Dần, một trong hai cung mà sách khen là Mã có sức chạy tốt nhất. Cùng cung có Tử Vi và Thiên Phủ, và theo bảng cấu trúc ở mục hai thì Tử Vi chỉ đồng cung với Thiên Phủ tại đúng Dần và Thân, nên đây chính là Phù dư mã thành cách, ngựa kéo xe cho vua. Lại thêm Lộc Tồn tuổi Giáp an tại Dần, vậy cùng một cung có cả Lộc Tồn lẫn Thiên Mã, tức Chiết tiễn mã theo cách gọi của Tân Biên, thế Lộc Mã đồng cung mà cả sáu mươi hoa giáp chỉ sáu tuổi có được. Cung Mệnh này hội đủ hai cách quý cùng lúc.

Bước hai: xung quanh nó có gì

Suy luận Đây là chỗ phải tỉnh táo. Lộc Tồn bao giờ cũng bị Kình Dương ở cung sau và Đà La ở cung trước kẹp lại, nên hễ Lộc Mã đồng cung thì con ngựa ấy tất yếu đứng giữa hai lưỡi dao. Trên lá số này, Đà La tại Sửu là cung Huynh Đệ, Kình Dương tại Mão là cung Phụ Mẫu, hai bên kẹp lấy cung Mệnh. Đọc ra đời sống thì rất cụ thể: người này có tài, có quý nhân, có lộc từ xa, nhưng phiền toái thường đến từ người nhà và người trên chứ không đến từ công việc. Đúng như quy tắc ở mục chín, cái nguy của Thiên Mã nằm ở hai bên đường. Cung xung chiếu là Thân, cung Thiên Di, có Thất Sát: ra ngoài phải xông pha, không có chỗ nhàn.

Bước ba: Tứ Hóa rơi vào đâu

Suy luận Tuổi Giáp thì Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa, Thái Dương hóa Kỵ. Trên lá số này, Liêm Trinh và Thiên Tướng ở Ngọ là cung Quan Lộc nên Hóa Lộc nằm ở Quan Lộc: nghề nghiệp sinh ra lộc, và cung Quan lại tam hợp với cung Mệnh có Mã, nghĩa là công việc và sự dịch chuyển nuôi nhau. Phá Quân hóa Quyền ở Tý là cung Phu Thê, người bạn đời có thực quyền và tính mạnh. Vũ Khúc hóa Khoa ở Tuất là cung Tài Bạch, tiền bạc có tiếng lành và có sổ sách. Thái Dương hóa Kỵ ở Hợi là cung Tử Tức, đây là điểm cần giữ của lá số, phải lưu tâm tới con cái và tới người nam trong nhà. Tổng lại: ngựa quý, chở lộc, đi đúng đường nghề, nhưng hai bên đường có dao và trong nhà có một chỗ vướng.

Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Đổi sang tuổi Canh Tý, giữ nguyên chi năm và thế Tử Vi: chi vẫn là Tý nên Thiên Mã vẫn ở Dần tại cung Mệnh, nhưng Lộc Tồn tuổi Canh an tại Thân, tức cung Thiên Di. Lộc và Mã không còn đồng cung mà thành xung chiếu, đây mới đúng chữ Lộc Mã giao trì. Đọc khác đi rõ rệt: kho của cải nằm ở bên ngoài, người này phải đi ra mới lấy được, nhưng bù lại con ngựa không còn bị Kình Đà kẹp nữa vì Kình Dương tuổi Canh ở Dậu và Đà La ở Mùi, cả hai đều xa cung Mệnh. Thong dong hơn hẳn thế đồng cung.
  • Đổi sang tuổi Bính Tý: Thiên Mã vẫn ở Dần, nhưng Lộc Tồn tuổi Bính an tại Tỵ. Tỵ tuy cũng là cung tứ sinh nhưng cách Dần đúng ba cung, không đồng cung, không xung, không tam hợp. Đây là minh họa sống cho điều đã nói ở mục hai: Lộc Tồn ở tứ sinh vẫn có thể không gặp được Mã. Người tuổi Bính, Mậu, Nhâm đều rơi vào cảnh ấy, muốn có Lộc đi cùng ngựa thì phải trông vào Hóa Lộc của chính tinh đồng cung.
  • Đổi chi năm sang Giáp Dần, giữ nguyên can và thế Tử Vi: chi Dần thuộc tam hợp Dần Ngọ Tuất nên Thiên Mã chuyển sang Thân, tức cung Thiên Di, nơi có Thất Sát. Lộc Tồn tuổi Giáp vẫn ở Dần tại cung Mệnh. Lại thành Lộc Mã xung chiếu, nhưng lần này con ngựa đi cùng Thất Sát nên chất khác hẳn: không phải ngựa kéo xe vua nữa mà là ngựa ra trận, hợp nghề nặng, nghề hiện trường, nghề phải quyết nhanh ở xa nhà.

Ba lần đổi tham số ấy cho ba lá số khác nhau hẳn mà chỉ động tới can năm hoặc chi năm. Đó là lý do Thầy luôn nói rằng luận Thiên Mã mà không tra bảng an sao thì chỉ là đoán. Muốn biết con ngựa của riêng quý vị đang đứng ở cung nào, đi cùng sao nào và có gặp Lộc hay không, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Thiên Mã trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo đúng cung và đúng tuổi của mình.

14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Phát huy và vận dụngẢnh minh họa cập nhật sau Lời khuyên về sao Thiên Mã
Thiên Mã là con ngựa, cần đặt vào đúng đường và đúng người cưỡi

Với Thiên Mã, việc cần làm là hướng sự di chuyển vào nghề và lĩnh vực phù hợp, đồng thời tránh các thế khiến con ngựa bị cản hoặc kiệt sức.

  • Chọn nghề có di chuyển. Giao thương, vận tải, du lịch, ngoại giao, xuất ngoại, nghề cần đi lại là nơi Thiên Mã phát huy.
  • Tận dụng đi xa và đổi mới. Người có Thiên Mã thường tốt lên khi dám đi, dám đổi chỗ, dám làm cái mới.
  • Tìm Lộc đi cùng Mã. Lộc Mã giao trì là cách quý; trong lá số nên xem Mã có gặp Lộc Tồn hay Hóa Lộc không.
  • Tránh thế ngựa bị cản. Lưu ý khi Mã gặp Đà La, Tuần Triệt hay đóng ở Hợi; những lúc đó nên thận trọng việc đi lại đầu tư.
  • Cân bằng bôn ba và gia đình. Sự dịch chuyển là thế mạnh, nhưng cần thu xếp để giữ ấm tổ ấm.
  • Xem cả lá số. Thiên Mã tốt hay xấu gần như hoàn toàn tùy sao đi cùng và vị trí, nên phải luận trong cục diện chung.

Gợi ý: người có Thiên Mã nổi bật nên xem những lần thay đổi và đi xa là cơ hội thay vì xáo trộn; con ngựa được chạy đúng đường thường mang về cơ hội và tài lộc từ nơi xa.

15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao đã chạy đối chiếu bằng chương trình, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Thiên Mã: hành Hỏa, dịch tinh, đắc địa tại Tỵ và Dần, chủ di chuyển và thay cũ đổi mới, ảnh hưởng tới công danh, tài lộc, phúc thọ; Mệnh hoặc Thân có Mã tọa thủ gọi là Dịch Mã. Các tên cách Phù du mã, Thư hùng mã, Chiết tiễn, Lộc Mã giao trì, Chiến mã, Chiết túc mã, cùng đồ mã, Tử mã đều lấy từ mục này. Cách an Thiên Mã theo tam hợp chi năm sinh, luôn ở bốn cung tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi, cũng theo sách này.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), phần cách cục: các cách Lộc Mã giao trì và Phù dư mã tham chiếu theo bản dịch này.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc của bài được sinh và đối chiếu bằng chương trình chạy trên chính thuật toán an sao đang dùng ở trang an lá số. Cụ thể đã chạy đủ mười hai chi năm sinh cho vị trí Thiên Mã; đủ mười thiên can cho vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt; đủ mười hai tháng cho Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu; đủ mười hai giờ cho Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp; đủ mười hai thế Tử Vi cho các thế chính tinh tại bốn cung tứ sinh; và đủ sáu mươi hoa giáp cho các thế Lộc Mã, Đà Mã, Khôi Việt gặp Mã. Ba kết luận cấu trúc quan trọng nhất của bài, gồm việc Kình Dương không bao giờ vào tứ sinh, việc Đào Hoa luôn cách Thiên Mã bảy cung, và việc chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh mới có Lộc Mã giao trì trên bản mệnh, đều là kết quả của các lượt chạy này.

Lưu ý về dị bản: tên gọi các cách của Thiên Mã có khác nhau giữa các sách và các trường phái. Tân Biên gọi Mã gặp Đà La là Chiết túc mã và Mã bị Tuần Triệt là Tử mã, trong khi một số tài liệu lưu hành gộp cả Tuần, Triệt và Địa Không vào tên Chiết túc mã. Tân Biên gọi Mã gặp Hỏa Linh là Chiến mã và Mã gặp Thiên Hình là Phù thi mã, trong khi có tài liệu hiểu Chiến mã là Mã gặp Kình Dương hoặc Thất Sát và Phù thi mã là Mã gặp Tử Phù hoặc Đại Hao. Bài này ghi song song cả hai lối gọi, gắn thẻ Suy luận cho những tên gọi Thầy chưa kiểm được trong Tân Biên hay Toàn Thư, và trong mọi trường hợp đều mô tả cơ chế trước tên gọi. Riêng vị trí của Tử Phù và Đại Hao chưa nằm trong bộ cấu trúc kiểm bằng thuật toán của bài này, nên các nhận định liên quan tới hai sao ấy chỉ đặt ở mức suy luận. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi; khi luận thực tế nên chọn một hệ tên gọi cho nhất quán.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài Thiên Mã dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư qua bản dịch của Vũ Tài Lục, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao được kiểm bằng chương trình chạy trên thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Thiên Mã

Thiên Mã là dịch tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, an theo chi năm sinh. Sao này chủ sự di chuyển, đi xa, xuất ngoại, thay cũ đổi mới và mọi việc liên quan tới chân tay, xe cộ, đường sá; ví như con ngựa trong lá số.

Thiên Mã luôn đóng ở một trong bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, theo tam hợp chi năm: Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần, Dần Ngọ Tuất thì Mã ở Thân, Tỵ Dậu Sửu thì Mã ở Hợi, Hợi Mão Mùi thì Mã ở Tỵ. Mã đắc địa nhất ở Tỵ và Dần.

Là khi Thiên Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đồng cung hay xung chiếu, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại, mọi việc hanh thông. Đây là một trong những cách tài lộc quý gắn với Thiên Mã.

Thiên Mã ngại Đà La (Chiết túc mã, ngựa què), Tuần Triệt án ngữ (Tử mã, ngựa chết), gặp Tuyệt hoặc đóng ở Hợi (cùng đồ mã, hết đường chạy), gặp Thiên Hình (Phù thi mã). Những thế này chủ trở ngại, bại hoại, cần thận trọng.

Người có Thiên Mã thủ Mệnh hay Thân thường tháo vát, nhanh nhẹn, ưa hoạt động, hay đi xa, đa tài, không thích ngồi một chỗ. Họ thường tốt lên khi dám di chuyển, đổi chỗ và làm cái mới, hợp các nghề cần đi lại và giao tiếp.

Vì Thiên Mã an theo tam hợp chi năm sinh: lấy chi đứng đầu tam hợp rồi an Mã vào cung xung chiếu với chi ấy. Bốn chi đứng đầu của bốn tam hợp là Thân, Dần, Tỵ, Hợi, đều là cung tứ sinh, mà cung xung chiếu của một cung tứ sinh cũng là cung tứ sinh. Vì thế Thiên Mã không bao giờ vào được Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.

Chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp. Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân có Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ở Dần; Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất cùng ở Thân; Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất và Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân thì Lộc và Mã xung chiếu nhau. Tuổi Bính, Mậu, Nhâm tuy có Lộc Tồn ở cung tứ sinh nhưng luôn lệch Mã ba cung nên không gặp; các tuổi can âm thì Lộc Tồn nằm ngoài tứ sinh. Những tuổi ấy muốn có Lộc đi cùng Mã thì phải trông vào Hóa Lộc của chính tinh đồng cung.

Không. Kình Dương an theo can năm và chỉ đóng được ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, nên nó chỉ có thể đứng kề Thiên Mã theo thế giáp, không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu và chạy đủ mười hai tuổi chi thì luôn cách Thiên Mã bảy cung, tức không hội theo bất cứ đường nào. Hồng Loan cũng luôn cách Mã ba cung.

Lưu Thiên Mã an giống hệt Mã bản mệnh nhưng lấy chi của năm đang xem: năm Thân, Tý, Thìn thì lưu Mã ở Dần; năm Dần, Ngọ, Tuất ở Thân; năm Tỵ, Dậu, Sửu ở Hợi; năm Hợi, Mão, Mùi ở Tỵ. Năm nào lưu Mã về đúng cung có Thiên Mã bản mệnh thì gọi là Mã chồng Mã, cái chí dời chuyển được nhân đôi. Đáng xem hơn nữa là lưu Mã năm ấy rơi vào cung chức nào của riêng mình và trong cung ấy đang có Lộc hay có sát tinh.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.