1 Sao Đà La là gì

Đà La là một trong sáu sát tinh, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim, được xếp là kỵ tinh. Nếu Kình Dương gây họa nhanh và lộ liễu thì Đà La gây họa chậm, âm thầm và dai dẳng. Người xưa ví Đà La như sợi dây vô hình trì níu bước chân, khiến việc gì cũng vướng víu, kéo dài, khó dứt điểm.
Sao này chủ về trì trệ, trở ngại ngầm, sự dây dưa, những phiền toái lặp đi lặp lại và những tổn hại âm ỉ khó thấy ngay.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Đà La không an theo tháng, không an theo giờ, không đi theo Tử Vi hay Thiên Phủ. Đà La an theo thiên can năm sinh, và an gián tiếp: trước hết định Lộc Tồn theo can, rồi lấy cung liền trước Lộc Tồn làm Đà La, cung liền sau Lộc Tồn làm Kình Dương. Ba sao ấy vì thế là một cụm ba cung dính liền nhau, đời đời không rời nhau, trong đó Lộc Tồn đứng giữa còn hai sát tinh đứng hai bên như hai người gác cửa.
Suy luận Hiểu đúng câu ấy là hiểu được gần hết Đà La. Cái tượng của sao này nằm ngay trong cách an: nó là sợi dây buộc phía sau kho lẫm. Lộc Tồn là kho của cải, là phần lộc trời cho theo tuổi. Đà La đứng ngay sau kho, tức là cái níu lại, cái chậm lại, cái không cho lộc đi thẳng. Kình Dương đứng ngay trước kho, là lưỡi dao chặn đường, nhanh và sắc. Người xưa nói Kình Dương là dao, Đà La là dây; dao thì đứt một nhát, dây thì siết dần. Cùng là sát tinh mà một bên gây họa lộ và nhanh, một bên gây họa ngầm và dai.
| Tuổi can | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi |
Suy luận Nhìn bảng trên sẽ thấy ngay một điều mà nhiều người học Tử Vi đọc cả chục năm vẫn chưa để ý: Đà La chỉ có mặt ở tám cung. Nó an tại Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi, và không bao giờ an tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Bốn cung Tứ Chính ấy là đất của Kình Dương chứ không phải đất của Đà La. Cho nên nếu quý vị thấy một lá số nào ghi Đà La ở Ngọ hay ở Dậu thì lá số ấy đã an sai, không cần bàn thêm.
Sáu điều bất biến của Đà La
- Đà La không bao giờ tới Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Tám cung nó có thể tới là Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi, tức bốn cung Tứ Mộ cộng bốn cung Tứ Sinh. Đây là điều kiểm được bằng thuật toán an sao, không phải ý kiến.
- Đà La luôn có Lộc Tồn ở cung liền sau và Kình Dương cách đúng hai cung. Thứ tự cố định là Đà La, Lộc Tồn, Kình Dương, ba cung liên tiếp. Cung có Lộc Tồn luôn bị Kình Đà giáp hai bên, đó chính là thế mà sách gọi là giáp Kình Đà.
- Đà La không bao giờ hội Kình Dương trong tam phương tứ chính. Hai sao cách nhau đúng hai cung, mà tam hợp là cách bốn cung, xung chiếu là cách sáu cung, đồng cung là cách không cung. Hai bên chỉ có thể cùng giáp một cung, chứ không thể chiếu về nhau. Câu nói quen miệng "Mệnh có Kình Đà hội hợp" là sai về cấu trúc: hoặc là giáp, hoặc là hai sao ấy đang thuộc hai hệ khác nhau (một bản mệnh một lưu niên).
- Lộc Tồn cũng không bao giờ vào tam phương tứ chính của Đà La. Vì Lộc Tồn kề ngay bên, mà kề là giáp chứ không phải chiếu. Đà La được Lộc Tồn kề nhưng không được Lộc Tồn cứu bằng thế chiếu; muốn có Lộc chiếu vào cung Đà La thì phải nhờ Hóa Lộc của chính tinh, không nhờ Lộc Tồn.
- Tuổi can dương thì Đà La đắc, tuổi can âm thì Đà La hãm. Xem lại bảng: Giáp ở Sửu, Bính và Mậu ở Thìn, Canh ở Mùi, Nhâm ở Tuất, cả năm can dương đều rơi vào Tứ Mộ, tức đất đắc địa của Đà La. Ất ở Dần, Đinh và Kỷ ở Tỵ, Tân ở Thân, Quý ở Hợi, cả năm can âm đều rơi vào Tứ Sinh, tức đất hãm. Không có ngoại lệ nào.
- Kình Dương và Đà La không bao giờ cùng đắc. Hệ quả trực tiếp của điều năm. Kình Dương chỉ tới Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, tức Tứ Chính và Tứ Mộ, không bao giờ tới Tứ Sinh. Tuổi can dương thì Kình rơi Tứ Chính (hãm) còn Đà rơi Tứ Mộ (đắc); tuổi can âm thì ngược lại, Kình rơi Tứ Mộ (đắc) còn Đà rơi Tứ Sinh (hãm). Trong bất cứ lá số nào cũng chỉ có một trong hai sát tinh này được đất, không bao giờ được cả hai và cũng không bao giờ mất cả hai.
Kinh nghiệm Điều thứ sáu là thứ Thầy dùng nhiều nhất khi xem nhanh một lá số. Chỉ cần nghe tuổi can là biết ngay bên nào của cặp Kình Đà đang được đất. Người tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì cái sát của họ là cái sát chậm mà bền, có thể chuyển thành sức chịu đựng, thành nghề đòi hỏi kiên nhẫn; cái nguy hiểm nằm ở Kình Dương đang hãm ngoài Tứ Chính. Người tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì ngược lại, Kình Dương của họ được đất nên cái sắc bén thành quyết đoán, còn Đà La lại hãm ở Tứ Sinh nên cái dây dưa lộ ra rõ hơn: hay bỏ dở, hay lần lữa, hay vướng chuyện cũ. Đây không phải là tốt xấu của cả đời, chỉ là biết trước mặt nào của cặp sát tinh này sẽ nói to hơn.
Suy luận Còn một hệ quả nữa ít người nói. Vì Đà La chỉ tới tám cung, nên trong mười hai cung chức của bất kỳ lá số nào cũng có bốn cung chắc chắn không có Đà La bản mệnh, và bốn cung ấy là bốn cung nằm ở vị trí Tý, Ngọ, Mão, Dậu của người ấy. Ai có Mệnh an tại một trong bốn cung đó thì Mệnh không bao giờ có Đà La thủ, cùng lắm là bị Đà La xung chiếu hoặc tam hợp chiếu về. Ngược lại, Đà La chỉ có thể xung chiếu Mệnh khi Mệnh nằm ở cung đối diện với một trong tám cung kể trên, mà tám cung ấy đối diện nhau thành bốn cặp Sửu Mùi, Dần Thân, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. Nói cách khác, Đà La chỉ có thể thủ hoặc xung Mệnh khi Mệnh nằm ngoài Tứ Chính. Người có Mệnh ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu muốn gặp Đà La thì chỉ còn đường tam hợp chiếu.
Kinh nghiệm Thầy nói thêm một điểm về cách đọc. Vì Đà La luôn kề Lộc Tồn, cung nào có Đà La thì cung ấy luôn nằm sát cạnh kho lộc của đời người. Trên lá số thật, đó thường là hình ảnh rất cụ thể: tiền thì có đó, ngay bên cạnh, nhưng lấy ra chậm, thủ tục lằng nhằng, phải chờ, phải theo, phải nhắc. Cùng một số tiền, người không có Đà La ở cung ấy thì nhận trong một tuần, người có Đà La thì nhận trong nửa năm. Đà La không lấy mất của quý vị, Đà La chỉ giữ lại và bắt quý vị chờ. Đây là chỗ khác nhau căn bản giữa Đà La với Địa Kiếp, Địa Không: Không Kiếp làm mất hẳn, Đà La chỉ làm chậm.
3 Cách an và đặc tính thủ Mệnh

Người có Đà La đóng Mệnh thường suy nghĩ sâu, nội tâm, nhưng cũng hay vướng mắc, khó buông, dễ ôm việc và ôm cả những chuyện cũ. Họ có sức bền và chịu đựng, song hành động chậm, nhiều khi tự làm khó mình vì cứ day dứt mãi một điều.
Đà La luôn đứng ở cung liền trước Lộc Tồn, còn Kình Dương đứng ở cung liền sau, hai sát tinh kẹp Lộc Tồn vào giữa. Vì thế Đà La chỉ an ở tám cung và không bao giờ rơi vào bốn cung Tứ Chính là Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
4 Đắc Địa Và Hãm Địa Của Đà La
Cũng như Kình Dương, Đà La đắc địa ở bốn cung Tứ Mộ thì cái khí bền bỉ thành sức chịu đựng có ích; rơi vào Tứ Sinh thì trì trệ và hung hãm lộ ra rõ.
| Cung địa chi | Trạng thái |
|---|---|
| Thìn | Đắc |
| Tuất | Đắc |
| Sửu | Đắc |
| Mùi | Đắc |
| Dần | Hãm |
| Thân | Hãm |
| Tỵ | Hãm |
| Hợi | Hãm |
Lưu ý: Đà La chỉ an ở tám cung trên, không có mặt tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đắc địa tại Tứ Mộ thì bền bỉ, kiên trì; hãm tại Tứ Sinh (Dần Thân Tỵ Hợi) thì trì trệ, dây dưa, dễ chuốc phiền toái kéo dài.
5 Đà La Hội Cùng Các Chính Tinh

Đà La là sát tinh nên luôn phải xét chính tinh đi cùng. Gặp Tử Vi, Thiên Phủ thì cái trì trệ được tiết chế, biến thành sự thận trọng, bền chí. Gặp Vũ Khúc hãm, Liêm Trinh, hay đủ bộ với Linh Tinh và Văn Xương thì thành thế hung trong cổ thư, dễ vướng tai họa dai dẳng.
Đặc điểm chung là Đà La làm mọi việc ở cung nó đóng trở nên chậm, lặp lại, khó dứt. Cùng một Đà La, người thì kiên trì thành công muộn, người thì cả đời vướng víu, tất cả tùy bộ sao và vị trí đắc hãm.
6 Đà La Và Tứ Hóa: Sao Không Hóa Nhưng Đổi Nghĩa Theo Hóa
Kinh văn Nói ngay từ câu đầu để khỏi ai hiểu lầm: Đà La không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi can nào làm Đà La hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Bảng Tứ Hóa của mười thiên can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; Đà La không có tên trong đó. Vậy nên mọi câu kiểu "tuổi này Đà La hóa Kỵ" đều là nói sai.
Suy luận Nhưng Đà La lại là một trong những sao chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa nặng nhất, vì hai lẽ. Lẽ thứ nhất, Đà La không có nội dung riêng, nó chỉ là một cái tính chất: chậm, dai, ngầm, vướng. Cái tính chất ấy phải bám vào một nội dung nào đó mới thành chuyện, và nội dung ấy do chính tinh đồng cung cung cấp. Lẽ thứ hai, chính tinh đồng cung lại đang khoác một trong bốn hóa theo tuổi can, mà tuổi can cũng chính là thứ quyết định Đà La đứng ở đâu. Hai thứ cùng một gốc, nên chúng luôn ăn khớp với nhau theo một số kiểu cố định.
Đà La gặp chính tinh hóa Lộc
Kinh nghiệm Hóa Lộc là dòng chảy, là cái đến, là tiền và cơ hội. Đà La là cái níu. Hai thứ đặt chung một cung thì thành hình ảnh dòng nước chảy qua chỗ nghẽn: lộc vẫn có, vẫn đến, nhưng đến chậm, đến từng đợt, và thường phải qua tay người khác. Thầy gặp rất nhiều lá số như vậy trong nghề buôn bán và thầu khoán: hợp đồng ký được, việc làm xong, tiền thì mãi mới về. Điều đáng nói là những người này thường không nghèo, họ chỉ luôn thiếu tiền mặt. Đây là thế nên chọn nghề thu tiền ngay, tránh nghề công nợ. Nếu Đà La đắc địa ở Tứ Mộ thì cái nghẽn ấy lại thành cái lọc: lộc đến chậm nhưng đến chắc, ít khi mất trắng.
Đà La gặp chính tinh hóa Quyền
Kinh nghiệm Hóa Quyền là sức ép, là quyền hành, là sự cứng. Đà La cộng vào thành quyền hành bị kéo dài: người ấy nắm việc nhưng không dứt được việc, ôm mãi một chức trách, giao lại cho ai cũng không yên tâm. Ở Quan Lộc là người làm quản lý mà không rời được bàn giấy, đi nghỉ vẫn phải cầm điện thoại. Ở Phu Thê là người bạn đời có uy mà cũng cố chấp, chuyện đã qua vẫn nhắc lại. Suy luận Đà La đắc địa thì cái này thành bền chí, giữ được kỷ luật lâu dài; Đà La hãm thì thành cố chấp, càng có quyền càng khó buông.
Đà La gặp chính tinh hóa Khoa
Suy luận Hóa Khoa là danh tiếng, là chữ nghĩa, là cái được người khác công nhận. Đây là hóa hợp với Đà La nhất trong bốn hóa, vì Khoa vốn chậm: học hành, nghiên cứu, bằng cấp, tiếng thơm đều là thứ tích lũy từng chút. Đà La cộng Khoa ở cung tốt thì thành người làm việc chậm mà kỹ, mài một nghề tới nơi, tiếng đến muộn nhưng đến thật. Kinh nghiệm Trên lá số thật, đây là mẫu người làm nghiên cứu, nghề thủ công tinh xảo, nghề tu bổ phục chế, nghề kiểm định. Họ than phiền cả đời rằng mình chậm hơn người, nhưng thứ họ làm ra thì bền hơn người.
Đà La gặp chính tinh hóa Kỵ
Kinh văn Đây là tổ hợp đáng ngại nhất và cũng là chỗ sách nói nhiều nhất. Hóa Kỵ chủ vướng mắc, tổn hao, chuyện không thông; Đà La chủ kéo dài. Hai cái cộng lại thành vướng mắc không có ngày kết thúc. Kỵ một mình thì đau một trận rồi qua, Kỵ có Đà La bên cạnh thì đau âm ỉ nhiều năm. Ở Tật Ách là bệnh mạn tính; ở Tài Bạch là nợ không đòi được và cũng không xóa được; ở Phu Thê là quan hệ đã hỏng mà không dứt ra được; ở Quan Lộc là vụ việc bị treo, hồ sơ bị ngâm.
Kinh nghiệm Thầy dặn quý vị một câu để nhớ: Kỵ là vết thương, Đà La là chuyện không cho vết thương lành. Cho nên khi thấy Kỵ và Đà La cùng một cung, việc phải làm không phải là sợ, mà là đặt hạn chót. Bất cứ việc gì rơi vào cung ấy đều nên có ngày kết thúc ghi rõ ra giấy, kể cả việc chữa bệnh, kể cả việc kiện tụng, kể cả việc chia tay. Người có tổ hợp này mà biết dứt điểm thì hóa giải được quá nửa.
Tuổi nào hay tạo tổ hợp đáng chú ý với Đà La
Suy luận Vì cùng một tuổi can vừa định vị trí Đà La vừa định bộ Tứ Hóa, có mấy tổ hợp gần như đóng khung sẵn, đáng thuộc lòng:
- Tuổi Ất: Đà La cố định tại Dần, hãm; Thái Âm hóa Kỵ. Nếu Thái Âm rơi đúng vào Dần thì đó là Nguyệt Kỵ ngồi chung với Đà La hãm, thế rất nặng về tình cảm và về mẹ, và cũng là thế hay gặp trong lá số người mất ngủ kinh niên. Tuổi Ất cũng là tuổi duy nhất có thể thành cách Phong Lưu Thải Trượng, xin xem mục cách cục.
- Tuổi Đinh và tuổi Kỷ: Đà La cố định tại Tỵ, hãm. Tuổi Đinh có Cự Môn hóa Kỵ, tuổi Kỷ có Văn Khúc hóa Kỵ. Cự Môn Kỵ mà rơi vào Tỵ cùng Đà La là mẫu miệng tiếng dai dẳng, kiện cáo kéo dài; Văn Khúc Kỵ cùng Đà La là giấy tờ, hợp đồng, chữ ký vướng mãi không xong.
- Tuổi Tân: Đà La cố định tại Thân, hãm; Văn Xương hóa Kỵ. Xương Kỵ gặp Đà La là thế đáng chú ý trong bộ Linh Xương Đà Vũ, xin xem mục cách cục.
- Tuổi Quý: Đà La cố định tại Hợi, hãm; Tham Lang hóa Kỵ. Tham Lang Kỵ tại Hợi cùng Đà La là mẫu người vướng vào ham muốn kéo dài, cờ bạc, tửu sắc, hoặc theo đuổi một thứ vô vọng nhiều năm.
- Tuổi Nhâm: Đà La cố định tại Tuất, đắc; Vũ Khúc hóa Kỵ. Đây là tuổi duy nhất có thể có bộ Linh Xương Đà Vũ tại Tuất với chính Vũ Khúc đang mang Kỵ, thế nặng nhất của bộ này.
- Tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh: Đà La đắc tại Sửu, Thìn, Thìn, Mùi. Ở bốn tuổi này Đà La ít khi là thủ phạm chính; cái cần xem là Kình Dương đang hãm ở Tứ Chính và chính tinh nào đang mang Kỵ.
Hóa bay tới từ cung khác, tức phi hóa
Suy luận Ngoài Tứ Hóa của tuổi sinh, còn có hóa do can của từng cung phát ra bay tới cung khác, gọi là phi hóa. Đà La không phát hóa vì nó không phải chủ tinh của cung, nhưng nó là nơi hóa đáp xuống. Ba trường hợp đáng nhớ:
- Cung Tài Bạch phi Kỵ tới cung có Đà La: tiền của đi vào chỗ bị giữ. Trên thực tế hay là vốn chôn trong hàng tồn, trong nhà đất chưa bán được, trong tiền cho vay chưa đòi.
- Cung Phu Thê phi Kỵ tới cung có Đà La: chuyện đôi lứa buộc vào một nút không cởi. Nếu Đà La lại đang ở Tật Ách thì nỗi buồn ấy chuyển thành bệnh của thân.
- Cung Mệnh phi Lộc tới cung có Đà La: điều mình mong muốn nằm đúng chỗ chậm nhất. Đây không phải điềm xấu, chỉ là lời nhắc rằng con đường ấy cần thời gian gấp đôi người khác, và ai kiên nhẫn thì vẫn tới.
Phi hóa là kỹ thuật của Bắc phái, cần cả lá số mới luận được. Quý vị muốn xem của mình thì hãy an lá số rồi đối chiếu từng cung, đừng suy từ một sao.
Kinh nghiệm Cuối cùng, một mẹo nhỏ mà rất hiệu nghiệm. Muốn biết Đà La trong lá số của quý vị nặng hay nhẹ, đừng nhìn Đà La, hãy nhìn chính tinh đang ở cùng cung với nó và hóa gì. Chính tinh sáng và có Lộc, Quyền, Khoa thì Đà La chỉ là cái chậm; chính tinh hãm và mang Kỵ thì Đà La mới thành cái trói. Cùng một Đà La, hai lá số cách nhau một trời một vực chỉ vì hàng xóm của nó khác nhau.
7 Đà La An Tại 12 Cung Chức

Đà La đóng ở cung nào thì gieo sự trì trệ và vướng mắc vào lĩnh vực đó. Sao này thử thách sự kiên nhẫn nhiều hơn là gây họa tức thì.
| Cung | Đà La đắc địa hoặc gặp cát tinh | Đà La hãm địa hoặc gặp hung tinh | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Người trầm tĩnh, chịu được việc dài hơi, làm gì cũng kỹ; thành công đến muộn mà chắc, hợp nghề cần mài giũa nhiều năm. | Chậm chạp thành lần lữa, hay bỏ dở giữa chừng rồi lại tiếc; ôm chuyện cũ, khó buông, tự làm khổ mình bằng chính sự day dứt. | Đà La cùng Tham Lang tại Dần là Phong Lưu Thải Trượng. Đà La cùng chính tinh hãm mang Kỵ tại Mệnh là mẫu người cả đời chờ một việc không tới. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ bền bỉ, sống thọ nhờ nếp sinh hoạt đều đặn; quan hệ tuy ít lời nhưng lâu bền. | Duyên cha mẹ nhạt dần chứ không đứt hẳn; hay có một chuyện cũ trong nhà không ai nói ra mà cũng không ai quên. | Đà La cùng Thái Dương hãm ở Phụ Mẫu là cha vất vả kéo dài; cùng Thái Âm hãm là mẹ hay bệnh lặt vặt lâu khỏi. |
| Phúc Đức | Tâm tính nhẫn nại, hợp tu tập, thiền, khí công, những việc cần lặp lại đều đặn mỗi ngày. | Trong lòng luôn có một nút thắt; nghĩ nhiều về chuyện đã qua, ngủ không sâu, hay thức giấc lúc gần sáng. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Phúc Đức là tổ hợp Thầy hay thấy ở người lo âu kinh niên. Cùng Thiên Lương thì thành trầm tư có ích, hợp nghiên cứu đạo học. |
| Điền Trạch | Nhà đất giữ được lâu, ít sang nhượng; của chìm nhiều hơn của nổi, tích lũy chậm mà bền. | Giấy tờ nhà đất vướng: sổ chậm, tranh chấp ranh, thừa kế chưa chia xong; nhà hay có chỗ ẩm, dột, sửa mãi không dứt. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Điền Trạch là bất động sản bị treo. Cùng Lộc Tồn kề bên mà chính tinh sáng thì lại là của để dành đúng nghĩa. |
| Quan Lộc | Nghề đòi hỏi kiên trì: kỹ thuật, nghiên cứu, y dược, kế toán, thủ công tinh xảo, tu bổ, kiểm định; thăng tiến từng bậc chắc chắn. | Công việc dây dưa, dự án kéo dài, thăng chức chậm hơn người cùng lứa; hay bị giao phần việc dọn dẹp hậu quả của người khác. | Đà La cùng chính tinh hóa Quyền tại Quan Lộc là người ôm việc không buông. Cùng Hóa Kỵ là hồ sơ bị ngâm, cần chủ động đặt hạn chót. |
| Nô Bộc | Bạn ít mà bền, quen lâu năm mới thân; cấp dưới trung thành, làm chậm nhưng không phản. | Quan hệ nguội dần trong im lặng; có người quen cũ vay mượn không trả mà cũng không cắt đứt được. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Nô Bộc là chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh; món nợ ân tình ấy thường kéo nhiều năm. |
| Thiên Di | Ra ngoài chậm mà chắc, đi đâu ở lâu đó, xây được quan hệ bền ở nơi xa. | Đi đâu cũng vướng: thủ tục, phương tiện, người đồng hành; dự định xuất ngoại hay lùi hết lần này tới lần khác. | Đà La đồng cung Thiên Mã tại Tỵ hoặc Hợi là thế ngựa bị buộc chân, chỉ xảy ra ở chín tuổi trong sáu mươi hoa giáp, xin xem mục cách cục. |
| Tật Ách | Thể trạng bền, ít bệnh cấp; hồi phục chậm nhưng ít tái phát nếu chịu theo phác đồ đủ ngày. | Bệnh mạn tính, bệnh âm ỉ khó phát hiện sớm; răng, xương khớp, gân cơ, các chứng viêm kéo dài, sỏi và ứ tắc. | Đây là cung Đà La nói rõ nhất. Cùng Hóa Kỵ là bệnh dai dẳng; cùng Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh là viêm nhiễm lâu ngày; cùng Thái Dương hoặc Thái Âm hãm thì để ý mắt. |
| Tài Bạch | Tiền vào từ từ, giữ được, hợp tích lũy dài hạn hơn là buôn nhanh; ít khi mất trắng. | Vốn bị giam, công nợ dây dưa, thu hồi chậm; luôn ở cảnh có tài sản mà thiếu tiền mặt. | Đà La cùng chính tinh hóa Lộc tại Tài Bạch là lộc đến chậm mà chắc. Cùng Hóa Kỵ là nợ khó đòi, nên dứt điểm sổ sách từng quý. |
| Tử Tức | Con cái chậm nói chậm đi nhưng vững; dạy dỗ cần nhẫn nại thì về sau nên người. | Đường con muộn, hoặc quá trình sinh nở kéo dài vất vả; với con thì hay có khoảng cách lặng lẽ. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Tử Tức nên khám sức khỏe sinh sản sớm cho cả hai vợ chồng, đây là lời nhắc y tế chứ không phải lời phán. |
| Phu Thê | Bạn đời điềm đạm, chịu đựng tốt, hôn nhân đến muộn mà bền; hợp người quen lâu rồi mới cưới. | Tình duyên dằng dai: chia rồi lại nối, chuyện cũ nhắc mãi; hoặc kết hôn muộn vì chờ một người không tới. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Phu Thê là thế nên nói thẳng và nên có mốc thời gian; càng im lặng càng thắt chặt. |
| Huynh Đệ | Anh em ít mà gắn bó lâu dài, giúp nhau bằng việc chứ không bằng lời. | Anh em xa cách dần, hoặc có chuyện tiền nong, thừa kế chưa ngã ngũ để lại nguội lạnh ngầm. | Đà La cùng Hóa Kỵ tại Huynh Đệ là chuyện chia chác trong nhà cần giấy trắng mực đen, tránh thỏa thuận miệng. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này. Bảng trên có bốn cột nhưng khi luận thật quý vị chỉ cần ba câu hỏi, hỏi đúng thứ tự. Câu thứ nhất: Đà La đang ở Tứ Mộ hay Tứ Sinh, tức đắc hay hãm, mà điều này chỉ cần biết tuổi can là trả lời được ngay theo quy luật can dương can âm ở mục cơ chế an sao. Câu thứ hai: chính tinh nào đang ngồi cùng cung, và chính tinh ấy có mang hóa gì không. Câu thứ ba: cung ấy là cung chức nào, tức là cái chậm ấy sẽ rơi vào lĩnh vực nào của đời. Trả lời xong ba câu là đọc được cả dòng trong bảng, không cần thuộc.
Kinh nghiệm Một lưu ý nữa mà Thầy nhắc mọi khách. Trong mười hai cung, cung Đà La nói to nhất là Tật Ách, rồi tới Tài Bạch và Quan Lộc. Ở ba cung này cái tượng chậm và dai của Đà La biểu hiện thành thứ đo đếm được: ngày công, ngày nằm viện, ngày chờ tiền về. Ở các cung tình cảm như Phu Thê, Huynh Đệ, Nô Bộc thì Đà La kín hơn nhiều, nó không gây cãi vã mà gây nguội lạnh, cho nên người trong cuộc thường nhận ra rất muộn. Đó cũng là lý do sách xưa xếp Đà La vào loại ám tinh chứ không phải hình tinh.
8 Các Cách Cục Và Điều Kiện Thành Cách

Đà La cùng Kình Dương kẹp lấy cung an Lộc Tồn, tạo thế giáp; cung bị Kình Đà giáp chịu áp lực hai đầu. Trong cổ thư có bộ Linh Xương Đà Vũ, tức Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc hội nhau, được xem là thế hung cần lưu ý.
Khi Đà La đắc địa Tứ Mộ và đi cùng chính tinh sáng, cái bền bỉ của nó lại giúp người ta nhẫn nại đi tới thành công muộn mà chắc. Vì vậy không nên thấy Đà La là vội lo, phải xem nó đắc hay hãm và đứng cạnh ai.
Một cách cục chỉ thành khi hội đủ điều kiện và phá khi vướng một trong các điều kiện phá. Với Đà La, điều kiện đầu tiên bao giờ cũng là tuổi can, vì tuổi can quyết định Đà La đứng ở cung nào. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai chiều, kèm điều kiện đã đối chiếu bằng thuật toán an sao, để quý vị khỏi mừng hụt hoặc lo oan.
Đà La đắc địa Tứ Mộ
Kinh văn Thành cách: Đà La an tại một trong bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Theo cấu trúc an sao thì điều này tương đương với việc người ấy sinh năm can dương: tuổi Giáp Đà La tại Sửu, tuổi Bính và tuổi Mậu tại Thìn, tuổi Canh tại Mùi, tuổi Nhâm tại Tuất. Không có tuổi can âm nào đạt được cách này. Đủ đẹp: cung ấy có chính tinh miếu vượng, thêm Tử Vi hoặc Thiên Phủ chế phục, hoặc có Hóa Khoa. Khi ấy cái sát của Đà La chuyển thành sức bền: người can đảm, chịu được việc nặng và việc dài, làm nghề gì cũng đi tới cùng. Tân Biên xếp Kình Đà đắc địa Tứ Mộ là can đảm bền bỉ, chính là thế này. Phá cách: chính tinh đồng cung hãm địa và mang Hóa Kỵ, hoặc thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp cùng cung. Khi phá cách thì cái bền ấy thành cái lì, chịu đựng không phải vì mạnh mà vì không biết đường ra.
Phong Lưu Thải Trượng
Kinh văn Thành cách: Tham Lang đồng cung Đà La tại cung Dần. Toàn Thư chép "Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu viết Phong Lưu Thải Trượng". Suy luận Chạy thuật toán an sao thì cách này chặt hơn nhiều người tưởng: Đà La chỉ tới Dần khi người ấy sinh năm can Ất, không có tuổi nào khác; còn Tham Lang chỉ đứng ở Dần khi Tử Vi an tại Thìn, và khi ấy Tham Lang độc tọa tại Dần. Hai điều kiện phải trùng nhau, cho nên Phong Lưu Thải Trượng là cách của riêng tuổi Ất với một thế Tử Vi duy nhất, không thể xảy ra ở bất kỳ tuổi can nào khác. Ai nói mình có Phong Lưu Thải Trượng mà không sinh năm Ất thì đã gọi nhầm tên cách.
Kinh văn Đáng ngại: tên cách nghe hoa mỹ nhưng nghĩa thì không. Thải trượng là cây gậy sơn màu, ý nói bị đánh đòn vì chuyện phong lưu. Đây là cách chủ về vướng lụy tình ái kéo dài, đam mê khó bỏ, dễ mang tiếng và mang họa vì chuyện nam nữ hoặc vì thú vui. Đà La tại Dần vốn hãm địa, mà Tham Lang là đào hoa tinh, hai cái cộng lại thành ham muốn bị trói. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy cách này biểu hiện nhẹ hơn lời sách rất nhiều khi người ấy có nghề nghiệp ổn định và có Hóa Khoa hoặc Thiên Lương chiếu về: khi ấy nó chỉ là người mê một thứ gì đó tới mức tốn thời gian, có thể là nghệ thuật, có thể là sưu tầm. Giải cách: Tuần hoặc Triệt án ngữ cung Dần, hoặc Tử Vi Thiên Phủ chiếu về, hoặc Hóa Khoa đồng cung; đặc biệt là nếu người ấy sớm có một nghề đòi hỏi kỷ luật thì phần lớn cái hại tiêu tan.
Đà La gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh
Kinh văn Thành cách (đây là cách xấu): Đà La đồng cung hoặc bị chiếu bởi Hỏa Tinh, Linh Tinh, tức là sát tinh chồng sát tinh. Sách xếp Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp cùng vào Lục Sát; hai sát tinh gặp nhau thì cái hung không cộng lại mà nhân lên. Suy luận Riêng cặp Đà La với Linh Tinh đáng chú ý hơn cặp Đà La với Hỏa Tinh, vì Hỏa Tinh là lửa bùng, tính chất nhanh, ngược hẳn với Đà La; còn Linh Tinh là lửa âm ỉ, cùng nhịp với Đà La, hai cái đồng chất nên đi với nhau rất thuận và rất dai. Đà La cùng Linh Tinh ở Tật Ách là viêm nhiễm lâu ngày; ở Phúc Đức là nỗi bức bối ngấm ngầm không nói ra được.
Kinh nghiệm Đáng ngại nhất: khi bộ sát tinh này rơi vào cung Tật Ách hoặc cung Phúc Đức của người sinh năm can âm, tức lúc Đà La đang hãm ở Tứ Sinh. Giải cách: Đà La đắc địa Tứ Mộ giảm được đáng kể; Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương chế phục; Tuần Triệt án ngữ. Thầy nói thêm cho công bằng: Hỏa Linh gặp Tham Lang lại là cách tốt trong sách, nên thấy Hỏa Linh chớ vội lo, phải xem chúng đang đứng cạnh ai.
Đà La gặp Thái Dương hoặc Thái Âm, ánh sáng bị ám
Kinh văn Thành cách (đây là cách cần dè chừng): Đà La đồng cung với Thái Dương hoặc Thái Âm, nhất là khi hai sao ấy đang hãm địa. Thái Dương là mặt trời, Thái Âm là mặt trăng; Đà La là ám tinh, là cái sương mù, cái bụi phủ. Ánh sáng gặp vật che thì không tắt mà mờ đi, đó đúng là tượng của tổ hợp này. Sách xếp Nhật Nguyệt hãm địa mà gặp Kình Đà thì chủ tật về mắt, và đây là chỗ Thầy luôn dặn khách đi khám chứ không luận thêm.
Suy luận Về nghĩa rộng: Thái Dương chủ danh, chủ cha và chủ chồng trong nữ mệnh; Thái Dương gặp Đà La là danh đến chậm, tiếng tốt bị người ta quên nhắc, hoặc cha và chồng vất vả kéo dài. Thái Âm chủ tài sản, chủ mẹ và chủ vợ trong nam mệnh; Thái Âm gặp Đà La là của cải tích chậm, mẹ và vợ hay bệnh lặt vặt, hoặc lòng người trong nhà nguội đi mà không ai nói. Giải cách: Nhật Nguyệt đang miếu vượng thì cái ám của Đà La chỉ làm chậm chứ không làm tối; sinh đúng thì (Thái Dương hợp người sinh ban ngày, Thái Âm hợp người sinh ban đêm) cũng đỡ được một phần; thêm Hóa Lộc hoặc Hóa Khoa thì sáng lại. Đáng ngại: Nhật Nguyệt hãm, lại mang Hóa Kỵ, lại có Đà La đồng cung, và cung ấy là Tật Ách. Ba điều kiện cùng lúc mới là nặng, thiếu một thì nhẹ hơn nhiều.
Linh Xương Đà Vũ
Kinh văn Thành cách: bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc cùng hội tại cung Thìn hoặc cung Tuất. Toàn Thư có câu "Linh Xương Đà Vũ, hạn chí đầu hà", ý nói khi hạn đi vào cung ấy thì có tai họa nặng, nghĩa đen là nhảy xuống sông. Đây là bộ sao hung nổi tiếng nhất mà Đà La góp mặt, và cũng là bộ hay bị dọa nhất.
Suy luận Chạy thuật toán an sao thì điều kiện thành cách chặt tới mức đáng kinh ngạc, xin nêu rõ để quý vị tự kiểm: tại cung Thìn, Đà La ở Thìn buộc người ấy sinh năm can Bính hoặc can Mậu; Vũ Khúc ở Thìn buộc Tử Vi an tại Thân; Văn Xương ở Thìn buộc sinh giờ Ngọ; Linh Tinh ở Thìn thì tùy chi năm sinh phối với giờ Ngọ, và có chín trong mười hai chi thỏa được. Tại cung Tuất, Đà La ở Tuất buộc sinh năm can Nhâm; Vũ Khúc ở Tuất buộc Tử Vi an tại Dần; Văn Xương ở Tuất buộc sinh giờ Tý; Linh Tinh ở Tuất cũng tùy chi năm. Nghĩa là bộ này đòi trùng khớp cả can năm, chi năm, giờ sinh lẫn thế Tử Vi. Nó rất hiếm, hiếm hơn nhiều so với số người tự nhận có nó.
Kinh nghiệm Đáng ngại nhất: tuổi Nhâm tại Tuất, vì tuổi Nhâm có Vũ Khúc hóa Kỵ, tức chính sao Vũ Khúc trong bộ đang mang Kỵ. Phá cách, tức là thoát: thiếu bất kỳ một trong bốn sao thì không thành bộ, và bốn sao ấy phải cùng cung chứ không phải rải rác tam phương. Có Tuần Triệt án ngữ, có Tử Vi Thiên Phủ chế, có Hóa Lộc Hóa Khoa vào cung thì cũng giải được nhiều. Thầy nói thẳng: trong hàng nghìn lá số Thầy xem, số ca đủ bộ Linh Xương Đà Vũ đúng nghĩa đếm trên đầu ngón tay, và trong số ấy không ai gặp chuyện như lời sách dọa. Câu phú xưa là lời cảnh báo cực đoan để người ta nhớ, không phải một bản án.
Đà La đồng cung Thiên Mã, ngựa bị buộc chân
Suy luận Thành cách: Thiên Mã và Đà La cùng một cung. Thiên Mã là sự đi, sự chuyển động, sự bôn ba; Đà La là sợi dây. Ngựa mà bị buộc thì càng vùng càng đau, đó là tượng của tổ hợp này: muốn đi mà không đi được, đi được thì trục trặc dọc đường, hoặc đi rồi lại phải quay về. Sách Việt quen gọi thế này là ngựa gãy chân; Thầy nêu tên gọi ấy như một cách nói dân gian và không dẫn nó như câu phú, vì chưa kiểm được nguyên văn trong Toàn Thư hay Tân Biên.
Suy luận Điều kiện thành cách rất gọn và kiểm được bằng thuật toán. Thiên Mã chỉ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Đà La chỉ tới Tứ Sinh khi tuổi can âm; nên tổ hợp này chỉ có thể xảy ra ở chín tuổi trong sáu mươi hoa giáp: Đinh Mão, Đinh Mùi, Đinh Hợi và Kỷ Mão, Kỷ Mùi, Kỷ Hợi thì hai sao gặp nhau tại Tỵ; Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Dậu thì gặp nhau tại Hợi. Ngoài chín tuổi ấy ra thì không lá số nào có Đà La ngồi cùng Thiên Mã, kể cả lá số của người sinh năm can dương, vì Đà La của họ nằm ở Tứ Mộ mà Thiên Mã không bao giờ tới Tứ Mộ. Đáng ngại: tổ hợp này luôn rơi vào Tứ Sinh nên Đà La luôn hãm, và nếu nó nằm ở cung Thiên Di thì chuyện đi lại, xuất ngoại, chuyển chỗ ở của người ấy sẽ nhiều lần lỡ dở. Giải cách: có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc cùng cung thì Mã có cỏ, đi chậm nhưng vẫn tới; chọn nghề gắn với một nơi cố định thay vì nghề nay đây mai đó cũng là cách hóa giải bằng lựa chọn.
Đà La tại Tật Ách, bệnh kéo dài và ngấm ngầm
Kinh văn Thành cách: Đà La an tại cung Tật Ách. Tân Biên xếp Kình Đà hãm địa thì gây tai họa và bệnh tật dây dưa, và trong hai sao thì Đà La mới đúng là sao của bệnh dai. Kình Dương là dao, ứng với mổ xẻ, thương tích, việc cấp; Đà La là dây, ứng với viêm mạn, sỏi, ứ tắc, thoái hóa, những chứng lặng lẽ nhiều năm mới lộ. Suy luận Cụ thể theo tượng ngũ hành: Đà La thuộc Âm Kim, Kim chủ xương, răng, phổi và da lông, nên các chứng hay gặp là răng lợi, cột sống, khớp, gân cơ, và các chứng đường hô hấp kéo dài. Kim lại chủ sự kết tụ nên còn ứng với sỏi và với các khối lành tính phát triển chậm.
Kinh nghiệm Đáng ngại: Đà La hãm tại Tật Ách, đồng cung chính tinh hãm mang Hóa Kỵ, thêm Linh Tinh hoặc Thiên Riêu. Đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám tổng quát định kỳ, không phải để sợ mà để phát hiện sớm, bởi vì bản chất cái hại của Đà La nằm ở chỗ phát hiện muộn chứ không nằm ở chỗ bệnh nặng. Giải cách: Đà La đắc địa Tứ Mộ thì thể trạng bền, chỉ chậm hồi phục; có Thiên Lương ở cung Tật Ách là sao giải bệnh mạnh nhất, có Thiên Đồng thì phúc dày; và trên hết là thói quen khám sớm, một thói quen hóa giải được phần lớn cái hại của sao này. Xin nói rõ: đây là bàn về khuynh hướng trong lá số, không phải chẩn đoán y khoa, mọi vấn đề sức khỏe phải do thầy thuốc quyết định.
Đọc cách cục của Đà La cho đúng cách
Bốn điều xin quý vị ghi nhớ. Một, mọi cách cục có Đà La đều bắt đầu bằng tuổi can, vì tuổi can định vị trí Đà La; không biết can năm sinh thì không bàn được cách nào cả. Hai, cách của Đà La đòi các sao đồng cung nhiều hơn là chiếu, vì Đà La vốn là sao tác động gần, nó trói cái nó chạm chứ ít khi với xa. Ba, đắc địa Tứ Mộ giải được rất nhiều, đó là lý do người sinh năm can dương ít khi khổ vì Đà La. Bốn, cách hung của Đà La hầu hết chỉ nói lên chữ chậm và chữ dai; ai biết đặt hạn chót và biết dứt điểm thì đã tự tay tháo mất một nửa sợi dây.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Đà La thì khoảng cách còn quan trọng hơn nữa, bởi đây là sao tác động gần: một sợi dây chỉ trói được thứ nó chạm tới. Đà La đồng cung thì trói thật; Đà La xung chiếu chỉ là cái níu từ xa; Đà La tam hợp chiếu thường chỉ làm chậm nhịp chứ không gây vướng. Và xin nhắc lại điều đã kiểm bằng thuật toán ở mục cơ chế an sao: Đà La với Kình Dương không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp chiếu nhau, hai sao ấy chỉ có thể cùng giáp một cung.
Đà La mừng khi gặp
- Đất Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi (đây là thế chứ không phải sao): Đà La đắc địa, cái dai thành cái bền. Chỉ tuổi can dương mới có.
- Tử Vi, Thiên Phủ (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế): đế tinh và khố tinh chế phục được sát tinh, trì trệ chuyển thành thận trọng.
- Thiên Lương (đồng cung hoặc chiếu): ấm tinh giải nạn, đặc biệt quý khi Đà La nằm ở Tật Ách; cái chậm khi ấy thành cái điềm tĩnh của người có nghề chữa.
- Hóa Khoa (đồng cung): hóa hợp nhất với Đà La trong bốn hóa, vì cả hai đều đi đường tích lũy; thành người mài một nghề tới nơi.
- Hóa Lộc của chính tinh đồng cung: lộc đến chậm nhưng đến chắc, ít khi mất trắng. Xin phân biệt với Lộc Tồn, vì Lộc Tồn luôn kề bên chứ không bao giờ chiếu tới Đà La.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung): kéo Đà La về phía kiên trì. Chính tinh sáng là thứ quyết định nhiều hơn cả bản thân Đà La.
- Tuần, Triệt án ngữ (án ngay cung có Đà La hãm): che bớt cái xấu vốn đã xấu, sách gọi là hung tinh gặp Tuần Triệt thì giảm hung.
Đà La e ngại khi gặp
- Đất Tứ Sinh Dần Thân Tỵ Hợi (thế, không phải sao): Đà La hãm, dây dưa lộ rõ. Chỉ tuổi can âm mới rơi vào.
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): vết thương không được phép lành, mọi vướng mắc mất ngày kết thúc.
- Linh Tinh (đồng cung): cùng chất âm ỉ nên hợp nhau rất chặt, thành viêm nhiễm dai và bức bối ngầm; nặng hơn cặp với Hỏa Tinh.
- Hỏa Tinh (đồng cung hoặc chiếu): sát chồng sát; lửa bùng cộng dây siết thành cảnh giật cục, lúc dồn lúc tắc.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp): Không Kiếp làm mất, Đà La làm chậm, cộng lại thành mất mà còn phải chờ mới biết là đã mất.
- Thái Dương, Thái Âm hãm địa (đồng cung): ánh sáng bị ám, sách nhắc tật về mắt, nghĩa rộng là danh và của đều mờ đi.
- Vũ Khúc cùng Văn Xương và Linh Tinh tại Thìn hoặc Tuất (phải đủ bốn sao đồng cung): thành bộ Linh Xương Đà Vũ, thế hung nhất mà Đà La góp mặt.
- Thiên Mã (đồng cung, chỉ có thể tại Tỵ hoặc Hợi): ngựa bị buộc chân, việc đi lại và chuyển dời hay lỡ dở.
- Thiên Riêu (đồng cung): riêu là rêu, đà là dây; hai cái cùng chủ sự bám dai, thường ứng vào chuyện tình cảm hoặc bệnh khó nói.
Đà La dạy người ta một bài học: việc gì cũng cần dứt điểm. Có chính tinh sáng và sao lành thì sự bền bỉ thành đức tính; thiếu nó thì bền bỉ hóa ra cố chấp và vướng víu.
10 Đà La Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Đà La tĩnh: nó nằm ở đâu, đắc hay hãm, ngồi cạnh ai. Nhưng đời người là dòng chảy. Mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và bản thân Đà La còn có một bản lưu riêng chạy theo can của từng năm. Đây là chỗ Đà La động, cũng là chỗ khách hay hỏi nhất: vì sao mấy năm nay việc gì của tôi cũng dở dang.
Đại vận đi vào cung có Đà La
Kinh văn Đại vận đến cung có Đà La đắc địa Tứ Mộ là mười năm của sự bền bỉ: việc lớn khởi động chậm nhưng đi được xa, hợp để học một nghề khó, xây một cơ nghiệp cần thời gian, theo đuổi một bằng cấp dài hơi, tu bổ lại thứ đã hỏng. Người ta thường thấy mười năm ấy không rực rỡ, nhưng nhìn lại thì đó là mười năm đặt móng. Đại vận đến cung có Đà La hãm địa Tứ Sinh là mười năm dây dưa: dự định lùi hết lần này tới lần khác, việc cũ chưa xong việc mới đã tới, quan hệ nguội đi trong im lặng, và sức khỏe hay có một chứng lặp đi lặp lại mà không dứt.
Kinh nghiệm Thầy có một nhận xét đúc từ lá số thật mà sách không nói. Đại vận Đà La ít khi là đại vận xấu, nó thường là đại vận dài. Nghĩa là những chuyện xảy ra trong mười năm ấy có xu hướng kéo qua ranh giới của vận, tràn sang vận sau: một khoản nợ, một mối quan hệ, một cái bệnh, một vụ kiện. Cho nên khi thấy đại vận sắp tới có Đà La, việc nên làm là dọn dẹp trước: đóng lại những việc còn treo, ghi rõ hạn cho những việc đang chạy. Người biết dọn trước thì đại vận Đà La thành mười năm tích lũy. Người không dọn thì thành mười năm ôm đồm.
Suy luận Thêm một điểm cấu trúc rất tiện cho việc xem vận. Vì Đà La luôn kề Lộc Tồn, nên đại vận đi vào cung Đà La thì vận kế tiếp theo chiều thuận sẽ là cung Lộc Tồn, rồi tới cung Kình Dương. Với người đi đại vận thuận, đó là ba vận liền: vận bị níu, vận có kho, vận bị cắt. Với người đi đại vận nghịch thì thứ tự đảo lại. Biết trước điều này thì có thể nói khá chắc rằng sau giai đoạn chậm chạp sẽ tới giai đoạn của cải rõ ràng hơn, và cũng biết trước rằng giai đoạn ấy không kéo dài mãi.
Bản lưu niên của chính Đà La
Kinh văn Đà La là một trong những sao có bản lưu. Lưu Đà La an theo can của năm đang xem, đúng cùng một quy tắc với Đà La bản mệnh: định lưu Lộc Tồn theo can năm ấy rồi lấy cung liền trước. Vì thế mỗi năm lưu Đà La lại đứng ở một cung khác, và cứ mười năm thì đi hết một vòng qua đúng tám cung mà nó được phép tới.
| Can năm | Lưu Đà La tại | Đắc hay hãm | Các năm gần đây và sắp tới |
|---|---|---|---|
| Giáp | Sửu | Đắc, Tứ Mộ | 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần |
| Ất | Dần | Hãm, Tứ Sinh | 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão |
| Bính | Thìn | Đắc, Tứ Mộ | 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn |
| Đinh | Tỵ | Hãm, Tứ Sinh | 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ |
| Mậu | Thìn | Đắc, Tứ Mộ | 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ |
| Kỷ | Tỵ | Hãm, Tứ Sinh | 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi |
| Canh | Mùi | Đắc, Tứ Mộ | 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân |
| Tân | Thân | Hãm, Tứ Sinh | 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu |
| Nhâm | Tuất | Đắc, Tứ Mộ | 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất |
| Quý | Hợi | Hãm, Tứ Sinh | 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi |
Suy luận Bảng này cho mấy điều hay. Thứ nhất, lưu Đà La cũng không bao giờ tới Tý, Ngọ, Mão, Dậu, cho nên cung nào của quý vị nằm ở bốn vị trí ấy thì cả đời không có năm nào phải chịu lưu Đà La; đó là bốn cung yên ổn theo nghĩa này. Thứ hai, hai cung Thìn và Tỵ chịu lưu Đà La hai lần trong mỗi mười năm, vì cả can Bính lẫn can Mậu đều đưa lưu Đà La về Thìn, cả can Đinh lẫn can Kỷ đều đưa về Tỵ; sáu cung còn lại chỉ chịu một lần. Ai có cung Tật Ách hoặc cung Tài Bạch rơi vào vị trí Thìn hoặc Tỵ thì nên biết trước điều này. Thứ ba, năm can dương thì lưu Đà La luôn đắc địa, năm can âm thì luôn hãm, đúng cùng quy luật với bản mệnh.
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc: xem lưu Đà La của năm nay rơi vào cung chức nào của quý vị, rồi hỏi cung ấy đang có gì. Ba trường hợp đáng chú ý nhất Thầy hay gặp. Một là lưu Đà La trùng đúng cung có Đà La bản mệnh, gọi nôm na là Đà chồng Đà, năm ấy cái chậm nhân đôi, mọi việc thuộc cung ấy đều nên hoãn khởi sự và nên tập trung dọn dẹp việc cũ. Hai là lưu Đà La rơi vào cung có chính tinh đang mang Hóa Kỵ bản mệnh, năm ấy chuyện vốn đã vướng nay thêm kéo dài. Ba là lưu Đà La rơi vào cung Tật Ách, năm ấy nên đi khám tổng quát, đơn giản vậy thôi, không cần luận thêm.
Các lưu sao khác chạm vào cung có Đà La
- Suy luận Lưu Lộc Tồn: vì lưu Lộc Tồn và lưu Đà La luôn kề nhau, cung có lưu Đà La năm nay thì cung liền sau nó chính là lưu Lộc Tồn năm ấy. Đây là một cặp rất tiện để đọc: chỗ bị níu và chỗ có lộc nằm ngay cạnh nhau, nghĩa là lộc của năm ấy có thật nhưng phải qua chỗ nghẽn mới lấy được.
- Suy luận Lưu Kình Dương: cách lưu Đà La đúng hai cung, không bao giờ trùng và không bao giờ chiếu về. Nếu cung nào của quý vị bị lưu Kình một bên và lưu Đà bên kia thì cung ấy chính là cung có lưu Lộc Tồn, tức là thế giáp Kình Đà của năm; sách xem thế giáp này là áp lực hai đầu, nhưng phải nhớ rằng chính giữa vẫn là kho lộc.
- Kinh văn Lưu Thái Tuế gặp cung có Đà La: năm có việc dính tới giấy tờ, công quyền, danh phận, mà lại là loại việc kéo dài nhiều tháng. Đắc địa thì theo được tới cùng, hãm địa thì mệt vì chờ.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ gặp cung có Đà La hãm tại Tật Ách hoặc Phụ Mẫu: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách để ý sức khỏe người lớn tuổi trong nhà và đi khám sớm. Không kết luận điều gì, chỉ là nhắc đi khám.
- Suy luận Lưu Thiên Mã gặp cung có Đà La: năm có ý định đi xa, chuyển chỗ, đổi việc, mà thường bị hoãn hoặc bị kéo dài thủ tục. Nên chuẩn bị sớm hơn dự tính, đừng đặt lịch sát ngày.
- Suy luận Lưu Hóa Kỵ của năm bay vào cung có Đà La: đây là tổ hợp nặng nhất trong các lưu sao, vì Kỵ tạo vướng còn Đà La không cho gỡ. Năm ấy nên tránh ký kết dài hạn ở lĩnh vực thuộc cung đó, và mọi thỏa thuận đều nên có điều khoản chấm dứt.
Muốn thấy lưu Đà La của năm nay đang đứng ở cung nào trong lá số của chính mình, quý vị hãy an lá số rồi chọn năm xem; lá số sẽ hiện đủ bộ sao lưu và Tứ Hóa lưu của năm ấy.
11 Nam Mệnh Và Nữ Mệnh Đà La

Nam mệnh Đà La thường thâm trầm, chịu khó, có sức bền, nhưng dễ ôm việc và chậm dứt khoát. Nếu đắc địa và có sao chế, đây là người kiên trì đi tới thành công muộn. Điều cần giữ là tránh cố chấp và biết buông những chuyện đã qua.
Nữ mệnh Đà La sâu sắc, nhẫn nại, giàu sức chịu đựng, song dễ giữ trong lòng những uẩn ức kéo dài. Nên học cách nói ra, dứt điểm vấn đề và chăm sóc sức khỏe để tránh bệnh âm ỉ.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đà La
Đà La là một trong những sao bị dọa nhiều nhất và bị hiểu sai nhiều nhất trong bộ 121 sao. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì, để quý vị khỏi lo oan.
Đà La không phải sao gây tai họa lớn
Kinh văn Sách xếp Đà La vào Lục Sát và ghi nó chủ trì trệ, trở ngại, tai họa bệnh tật dây dưa. Chữ then chốt là dây dưa, tức là kéo dài, chứ không phải nặng. Sao chủ tai họa bất ngờ và nặng trong Tử Vi là Kình Dương, Hỏa Tinh, Địa Kiếp, không phải Đà La. Kinh nghiệm Trên lá số thật, cái Đà La gây ra hầu như luôn có thể mô tả bằng một chữ: chậm. Chậm lấy tiền, chậm khỏi bệnh, chậm được ghi nhận, chậm dứt một mối quan hệ. Nó tốn thời gian của người ta chứ không đánh gục người ta. Ai bị dọa rằng có Đà La thì gặp đại họa, xin cứ yên tâm rằng sách không viết như vậy.
Đà La ở Mệnh không đồng nghĩa với người lười hay kém cỏi
Kinh văn Sách nói Đà La đắc địa Tứ Mộ thì can đảm bền bỉ, hãm địa thì liều lĩnh và trì trệ. Không có câu nào nói Đà La chủ lười. Kinh nghiệm Thực tế Thầy gặp thì ngược lại: người có Đà La thủ Mệnh thường làm nhiều hơn người khác, chỉ là làm chậm hơn và làm đi làm lại. Cái mệt của họ không phải mệt vì lười mà mệt vì không dứt. Rất nhiều thợ giỏi, nhiều người làm nghề tinh xảo, nhiều nhà nghiên cứu có Đà La ở Mệnh hoặc ở Quan Lộc, bởi vì những nghề ấy cần đúng cái mà Đà La cho: khả năng ngồi lâu với một việc mà không chán.
Đà La và Kình Dương không phải một cặp luôn đi cùng nhau trong tam phương
Suy luận Đây là hiểu lầm mang tính kỹ thuật, rất phổ biến ngay cả với người học lâu năm. Câu quen miệng "Mệnh có Kình Đà" khiến người ta tưởng hai sao ấy hay hội về một cung. Kiểm bằng thuật toán an sao thì không: hai sao luôn cách nhau đúng hai cung, mà tam hợp cách bốn cung và xung chiếu cách sáu cung, nên Kình Dương và Đà La không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, cũng không bao giờ tam hợp chiếu nhau. Quan hệ duy nhất giữa hai sao là cùng giáp cung Lộc Tồn. Vậy nên khi ai đó nói lá số mình có Kình Đà hội hợp ở Mệnh, thì hoặc là Mệnh của họ đang bị giáp Kình Đà, hoặc là một trong hai sao ấy thuộc bộ lưu niên chứ không phải bản mệnh.
Đà La hãm không có nghĩa là đời không ngóc lên được
Kinh văn Sách chỉ nói Đà La hãm ở Tứ Sinh thì trì trệ và dễ chuốc phiền toái kéo dài. Sách không nói người ấy nghèo, không nói người ấy thất bại. Đà La không phải tài tinh cũng không phải quan tinh; tiền do Tài Bạch, Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ quyết định nhiều hơn, danh do Thái Dương, Quan Lộc, bộ Xương Khúc Khôi Việt quyết định nhiều hơn. Kinh nghiệm Thầy đã gặp không ít lá số Đà La hãm mà giàu, mà có địa vị. Điểm chung của họ là phát muộn: ngoài bốn mươi mới thành, và thành bằng một nghề họ đã làm rất lâu. Đó chính là Đà La đúng nghĩa, chậm chứ không phải không.
Bộ Linh Xương Đà Vũ không phải bản án, và cũng không dễ có như người ta tưởng
Suy luận Câu phú "Linh Xương Đà Vũ, hạn chí đầu hà" trong Toàn Thư là lời cảnh báo cực đoan theo lối viết của cổ thư, không phải một dự đoán. Hơn nữa bộ này đòi bốn sao cùng một cung, mà cung ấy lại chỉ có thể là Thìn hoặc Tuất, và điều kiện thì trùng khớp cả can năm, chi năm, giờ sinh lẫn thế Tử Vi như đã nêu ở mục cách cục. Kinh nghiệm Thầy nói thẳng: phần lớn những người tự nhận có bộ này thực ra chỉ có hai hoặc ba trong bốn sao, hoặc bốn sao rải rác ở tam phương. Thiếu một sao là không thành bộ. Và ngay cả khi thành bộ, Tuần Triệt án ngữ hay Tử Vi Thiên Phủ chế phục cũng giải được rất nhiều. Đem một câu phú ra dọa người là việc không nên làm, dù người dọa có thiện ý.
Đà La ở Tật Ách không phải lời phán bệnh
Suy luận Sách nói Đà La chủ bệnh dây dưa và theo ngũ hành Âm Kim thì ứng vào xương, răng, hô hấp, các chứng kết tụ. Đó là khuynh hướng, tức là điều cần để ý và đi kiểm tra, không phải chẩn đoán. Lá số không thay được xét nghiệm. Cách dùng đúng của mục Tật Ách là biến nó thành lịch khám định kỳ: biết mình có khuynh hướng nào thì khám sớm cái ấy. Người có Đà La ở Tật Ách mà khám đều thì phần lớn cái hại của sao này đã bị vô hiệu, vì cái hại ấy vốn nằm ở chỗ phát hiện muộn.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Đà La Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số chọn như sau: tuổi Ất, Tử Vi an tại Thìn, Mệnh an tại Dần. Chọn tuổi Ất vì đây là tuổi duy nhất đưa Đà La về cung Dần, và chọn Tử Vi tại Thìn vì đó là thế duy nhất đưa Tham Lang về cung Dần. Hai điều kiện gặp nhau tại Mệnh nên lá số này minh họa được luôn cách Phong Lưu Thải Trượng. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La đều lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn.
Tử Vi tại Thìn, Mệnh tại Dần
không phải người thật
Đà La tại Dần cùng Tham Lang, thành Phong Lưu Thải Trượng
Bước một: Đà La đắc hay hãm, và nó chạm vào cung nào
Tuổi Ất là can âm, nên theo quy luật ở mục cơ chế an sao thì Đà La phải rơi vào Tứ Sinh và phải hãm. Cụ thể Lộc Tồn tuổi Ất an tại Mão, nên Đà La ở cung liền trước là Dần và Kình Dương ở cung liền sau là Thìn. Mệnh an tại Dần, vậy Đà La thủ Mệnh và đang hãm địa. Ngay bước này đã biết: người này làm gì cũng kỹ nhưng chậm, hay ôm việc, khó dứt điểm, và cái vướng của đời sẽ hiện ngay ở bản thân chứ không phải ở người khác. Cũng theo quy luật ấy, Kình Dương tuổi Ất lại đắc địa tại Thìn, tức là trong cặp sát tinh này người ấy được cái sắc bén mà mất cái bền bỉ.
Bước hai: ngồi cùng ai, và ai đang hóa gì
Cung Dần có Tham Lang độc tọa, cùng Đà La. Đúng điều kiện của cách Phong Lưu Thải Trượng: đam mê bị trói, ham muốn kéo dài, dễ tốn thời gian và tiếng tăm vì một thứ mình mê. Bộ Tứ Hóa tuổi Ất rải ra như sau: Thiên Cơ hóa Lộc tại Mão thuộc cung Phụ Mẫu, Thiên Lương hóa Quyền tại Tỵ thuộc cung Điền Trạch, Tử Vi hóa Khoa tại Thìn thuộc cung Phúc Đức, Thái Âm hóa Kỵ tại Sửu thuộc cung Huynh Đệ. Lộc Tồn nằm tại Mão cùng Thiên Cơ và Cự Môn, tức cung Phụ Mẫu; Kình Dương nằm tại Thìn cùng Tử Vi và Thiên Tướng, tức cung Phúc Đức.
Đọc tiếp thì thấy Mệnh bị giáp hai bên rất rõ nghĩa: một bên là Sửu có Thái Dương và Thái Âm mà Thái Âm đang hóa Kỵ, một bên là Mão có Thiên Cơ hóa Lộc cùng Lộc Tồn. Đúng như quy luật cấu trúc đã nêu, Lộc Tồn luôn nằm ngay cung liền sau Đà La, nên kho lộc của người này nằm sát cạnh Mệnh mà không chiếu vào Mệnh. Hình ảnh rất cụ thể: của cải và chỗ dựa nằm ngay bên (cung Phụ Mẫu), lấy được nhưng phải qua tay người khác và phải chờ.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Mệnh tại Dần thì tam hợp là Ngọ và Tuất, xung chiếu là Thân. Ngọ có Thất Sát và là cung Quan Lộc; Tuất có Phá Quân và là cung Tài Bạch; Thân có Liêm Trinh và là cung Thiên Di. Vậy Mệnh Tham Lang hội đủ Sát Phá Liêm, một cục diện mạnh mẽ, ưa thay đổi, ưa mở đường mới. Đặt cạnh Đà La hãm ngay tại Mệnh thì mâu thuẫn nội tại hiện rõ: trong lòng muốn đi nhanh, muốn làm lớn, mà thực tế lại luôn bị níu, luôn phải làm lại. Đây chính là mẫu người tự trách mình nhiều nhất, và cũng là mẫu người mà lời khuyên đặt hạn chót phát huy tác dụng nhất.
Xin lưu ý thêm một chi tiết đúng theo cấu trúc: Kình Dương của người này ở Thìn, cách Đà La đúng hai cung, nên nó không chiếu về Mệnh theo bất kỳ đường nào; nó chỉ giáp cung Mão cùng với Đà La. Ai đọc lá số này mà nói Mệnh có Kình Đà hội hợp là đã đọc sai.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên thế sao, đổi sang tuổi Tân: Lộc Tồn dời về Dậu nên Đà La dời về Thân, tức cung Thiên Di, vẫn hãm vì Tân cũng là can âm. Mệnh Tham Lang tại Dần khi ấy không còn Đà La thủ mà bị Đà La xung chiếu từ Thiên Di, cùng Liêm Trinh. Cách Phong Lưu Thải Trượng tan, thay vào đó là thế ra ngoài hay vướng, đi đâu cũng chậm việc. Tuổi Tân lại có Văn Xương hóa Kỵ, nếu Văn Xương rơi vào Thân cùng Đà La thì giấy tờ và hợp đồng nơi xa là chỗ cần cẩn thận nhất.
- Giữ nguyên thế sao, đổi sang tuổi Nhâm: Lộc Tồn dời về Hợi nên Đà La dời về Tuất, tức cung Tài Bạch, và lần này Đà La đắc địa vì Nhâm là can dương. Cùng cung là Phá Quân. Đọc thành: tiền vào ra theo lối phá cũ dựng mới, chậm nhưng có nền, hợp tích lũy dài hạn hơn buôn nhanh. Nhưng tuổi Nhâm có Vũ Khúc hóa Kỵ, mà Vũ Khúc là tài tinh, nên vẫn phải xem Vũ Khúc rơi vào đâu trước khi mừng.
- Giữ tuổi Ất, đổi thế Tử Vi sang Tuất: Đà La vẫn ở Dần vì tuổi can không đổi, nhưng cung Dần khi ấy có Liêm Trinh chứ không phải Tham Lang. Phong Lưu Thải Trượng không thành, vì cách này đòi đúng Tham Lang. Nghĩa của cung đổi hẳn: Liêm Trinh là sao của phép tắc và của kiện tụng, gặp Đà La hãm thì thành chuyện nguyên tắc bị kéo dài, thủ tục hành chính lằng nhằng, chứ không còn là chuyện đam mê nữa. Đây là ví dụ rõ nhất cho câu Thầy nói ở mục Tứ Hóa: muốn biết Đà La nặng hay nhẹ thì đừng nhìn Đà La, hãy nhìn ai đang ngồi cạnh nó.
Muốn thấy Đà La của chính mình đứng ở cung nào, đắc hay hãm, ngồi cùng chính tinh nào và chính tinh ấy hóa gì, quý vị hãy an lá số rồi bấm vào sao Đà La trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo Tứ Hóa của riêng mình.
14 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Hóa giải Đà La không phải là trừ bỏ, mà là biến sự bền bỉ thành lợi thế và tập thói quen dứt điểm để cái trì trệ không tích lại thành bế tắc.
- Tập dứt điểm từng việc. Việc nào xong việc nấy, tránh để dây dưa chồng chất, đó là cách hóa giải gốc rễ của Đà La.
- Chọn nghề cần nhẫn nại. Nghiên cứu, kỹ thuật, nghề thủ công tinh xảo, nghề cần kiên trì lâu dài hợp với người có Đà La.
- Khám sức khỏe sớm. Đà La chủ bệnh âm ỉ; phát hiện sớm là cách tránh để bệnh kéo dài.
- Học buông chuyện cũ. Phần lớn khổ của người Đà La đến từ việc giữ mãi trong lòng; buông được là nhẹ được.
- Xem cả lá số. Đà La đắc hay hãm, cạnh ai, có sao lành chế không, mới quyết định lành dữ thật sự.
Gợi ý: với người có Đà La nổi bật, một thói quen nhỏ là đặt hạn chót cho mọi việc; chính kỷ luật thời gian giúp hóa giải cái trì trệ bẩm sinh của sao này.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Kình Dương Đà La: hai sao thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Kim, xếp vào loại sát tinh và kỵ tinh; đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi thì can đảm bền bỉ, hãm địa thì liều lĩnh hung bạo, gây tai họa và bệnh tật dây dưa. Phần Nhật Nguyệt hãm địa gặp Kình Đà chủ tật về mắt cũng lấy từ mục đặc tính của Thái Dương và Thái Âm trong cùng sách.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), phần cách cục: câu "Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu viết Phong Lưu Thải Trượng" và câu "Linh Xương Đà Vũ, hạn chí đầu hà" dẫn theo bản dịch này. Các thế giáp sát, trong đó có thế giáp Kình Đà, cũng tham chiếu cùng bộ sách.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo mười thiên can ở mục cơ chế an sao được sinh bằng chương trình chạy đủ mười can và đối chiếu với thuật toán đang dùng trên trang an lá số. Các khẳng định sau đây đều đã chạy máy kiểm, không viết theo trí nhớ: Đà La chỉ an tại tám cung Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi và không bao giờ an tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu; khoảng cách Đà La tới Lộc Tồn luôn là một cung và tới Kình Dương luôn là hai cung, nên hai sát tinh này không thể đồng cung, xung chiếu hay tam hợp chiếu nhau; tuổi can dương thì Đà La luôn rơi vào Tứ Mộ còn tuổi can âm thì luôn rơi vào Tứ Sinh; Kình Dương không bao giờ an tại Tứ Sinh. Điều kiện thành cách Phong Lưu Thải Trượng (Đà La tại Dần chỉ có ở tuổi Ất, Tham Lang tại Dần chỉ khi Tử Vi an tại Thìn) và điều kiện bộ Linh Xương Đà Vũ tại Thìn và Tuất cũng sinh từ cùng chương trình ấy. Trường hợp Đà La đồng cung Thiên Mã được duyệt đủ sáu mươi hoa giáp và chỉ có chín tuổi thỏa: Đinh Mão, Đinh Mùi, Đinh Hợi, Kỷ Mão, Kỷ Mùi, Kỷ Hợi tại Tỵ và Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Dậu tại Hợi. Lá số minh họa ở mục lá số cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Bảng Tứ Hóa dùng để luận trong bài chép đúng bảng máy chủ của trang an lá số (Nam phái làm mặc định, có tùy chọn Bắc phái). Đà La không có tên trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào; điều này cũng đã kiểm bằng chương trình.
Lưu ý về dị bản: các sách xếp mức đắc hãm của Đà La không hoàn toàn giống nhau. Tân Biên nói gọn là đắc địa tại Tứ Mộ và hãm ở những cung còn lại mà Đà La có thể tới, tức bốn cung Tứ Sinh; một số bản chép tay lưu hành ở Việt Nam lại tách riêng mức miếu cho Thìn Tuất và mức đắc cho Sửu Mùi. Về Tứ Hóa, tuổi Canh và tuổi Nhâm khác nhau giữa Nam phái và Bắc phái, nên khi luận Đà La cùng chính tinh đang hóa thì kết quả có thể lệch ở hai tuổi này. Về câu phú Linh Xương Đà Vũ, các bản dịch có chỗ ghi cung Thìn, có chỗ ghi cả Thìn và Tuất. Đây là khác biệt giữa các trường phái và giữa các bản dịch, không phải lỗi; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán. Ngoài ra mọi nội dung về sức khỏe trong bài chỉ là khuynh hướng để đi kiểm tra sớm, không phải chẩn đoán y khoa.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Đà La
Đà La là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim, được xếp là kỵ tinh. Sao này chủ về trì trệ, trở ngại ngầm, sự dây dưa và những tổn hại âm ỉ kéo dài, ví như sợi dây vô hình trì níu bước chân.
Đà La đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, khi đó thành bền bỉ kiên trì. Nó hãm tại bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, dễ thành trì trệ dây dưa. Đà La không an ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Hai sao đi cặp, kẹp lấy Lộc Tồn. Kình Dương gây họa nhanh, lộ liễu, sắc bén; Đà La gây họa chậm, âm thầm, dằng dai. Kình Dương chỉ tới Tứ Chính và Tứ Mộ, Đà La chỉ tới Tứ Sinh và Tứ Mộ. Tuổi can dương thì Đà La đắc địa còn Kình Dương hãm, tuổi can âm thì ngược lại, không bao giờ cả hai cùng đắc.
Không hẳn. Đắc địa và gặp Tử Vi, Thiên Phủ chế phục thì thành sự thận trọng bền chí, có thể thành công muộn mà chắc. Hãm địa hoặc gặp bộ sao hung thì dễ vướng phiền toái kéo dài, bệnh âm ỉ.
Tập dứt điểm từng việc, đặt hạn chót rõ ràng, chọn nghề cần nhẫn nại, khám sức khỏe sớm để tránh bệnh kéo dài, học buông chuyện cũ, và xem cả lá số để biết Đà La có được sao lành chế ngự hay không.
Đà La không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi can nào làm Đà La hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ; bảng Tứ Hóa chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Đà La đổi nghĩa theo hóa của chính tinh đồng cung với nó: gặp Hóa Lộc là lộc đến chậm, gặp Hóa Quyền là quyền hành không buông được, gặp Hóa Khoa là mài nghề tới nơi, gặp Hóa Kỵ là vướng mắc không có ngày kết thúc.
Vì Đà La an ở cung liền trước Lộc Tồn, mà Lộc Tồn của năm can dương và năm can âm rơi vào hai nhóm cung khác nhau. Chạy đủ mười can thì thấy: Giáp ở Sửu, Bính và Mậu ở Thìn, Canh ở Mùi, Nhâm ở Tuất, tất cả đều là Tứ Mộ tức đất đắc địa; còn Ất ở Dần, Đinh và Kỷ ở Tỵ, Tân ở Thân, Quý ở Hợi, tất cả đều là Tứ Sinh tức đất hãm. Không có ngoại lệ. Hệ quả là Kình Dương và Đà La không bao giờ cùng đắc trong một lá số.
Không. Hai sao luôn cách nhau đúng hai cung vì cùng kẹp Lộc Tồn ở giữa, trong khi tam hợp là cách bốn cung, xung chiếu là cách sáu cung và đồng cung là cách không cung. Vì vậy Kình Dương và Đà La không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, cũng không bao giờ tam hợp chiếu nhau. Quan hệ duy nhất của chúng là cùng giáp cung có Lộc Tồn, tức thế giáp Kình Đà.
Cần Tham Lang và Đà La cùng đóng tại cung Dần. Kiểm bằng thuật toán an sao thì Đà La chỉ tới Dần khi người ấy sinh năm can Ất, không có tuổi nào khác; còn Tham Lang chỉ đứng ở Dần khi Tử Vi an tại Thìn. Hai điều kiện phải trùng nhau, nên đây là cách riêng của tuổi Ất với một thế Tử Vi duy nhất. Cách này chủ vướng lụy tình ái và đam mê kéo dài, giải được nhờ Tuần Triệt án ngữ, Tử Vi Thiên Phủ chiếu về hoặc Hóa Khoa đồng cung.