Sao Kình Dương trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Kình Dương

Một trong Lục Sát tinh, chủ sát phạt và quyết liệt. Hiểu Kình Dương là hiểu con dao hai lưỡi: dùng đúng thì thành uy mãnh, dùng sai thì chuốc thương tích.

Ngũ hành: KimBắc ĐẩuHình tinh, sát phạtĐắc Tứ Mộ
擎羊Qíng Yáng
Tên sao: Kình Dương (Dương Nhận)
Ngũ hành: Âm Kim đới Hỏa
Chòm sao: Bắc Đẩu
Loại sao: Sát tinh, hình tinh
Cách an: Lộc Tồn tiến một cung
Cai quản: Sát phạt, hình thương, quyết đoán
Hợp gặp: Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng chế hung
Kỵ: Thất Sát, Hỏa Linh, Hóa Kỵ
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Kình Dương là gì

Kình Dương còn gọi Dương Nhận, là lưỡi dao trong lá sốẢnh minh họa cập nhật sau Sao Kình Dương trong Tử Vi Đẩu Số
Kình Dương còn gọi Dương Nhận, là lưỡi dao trong lá số

Kình Dương, tên khác là Dương Nhận, là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim mang theo khí Hỏa. Người xưa hình dung Kình Dương như một lưỡi dao sắc: bản thân nó không phân thiện ác, mà sắc bén tới mức dùng đúng thì chặt được gai góc, dùng ẩu thì đứt tay chính mình.

Kình Dương chủ về sát phạt, hình thương, sự cương quyết và bạo liệt. Đây là sao của hành động dứt khoát, của tranh đấu, của những nghề cầm dao cầm kiếm theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Kình Dương không có vị trí riêng của mình. Nó là cái bóng của Lộc Tồn. Sách an sao dạy một câu rất gọn: tìm Lộc Tồn theo thiên can năm sinh trước, rồi cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, tức Lộc Tồn tiến một cung, là Kình Dương; cung kế Lộc Tồn theo chiều nghịch, tức Lộc Tồn lùi một cung, là Đà La. Nhiều sách Việt gọi tắt Kình Dương là sao ở "cung trước Lộc Tồn", chữ trước ở đây hiểu là phía trước mặt theo chiều đi thuận của mười hai cung, tức đúng cung mà Lộc Tồn tiến một bước sẽ tới; còn Đà La là cung ở phía sau lưng. Cách nói nào cũng được, miễn là hiểu đúng chiều. Vì thế ba sao này sinh ra cùng một lúc, đi thành một cụm ba cung liền nhau, và suốt đời không rời nhau nửa bước. Hiểu Kình Dương mà bỏ Lộc Tồn ra ngoài là hiểu một nửa.

Suy luận Từ chỗ Kình Dương bám vào Lộc Tồn, mà Lộc Tồn lại bám vào can năm sinh, rút ra ngay một hệ quả quan trọng: tuổi can nào thì Kình Dương ở cung ấy, không có ngoại lệ, không phụ thuộc tháng sinh, giờ sinh hay giới tính. Hai người sinh cách nhau nửa năm, khác tháng khác giờ, lá số khác nhau hoàn toàn, nhưng nếu cùng một can năm sinh thì Kình Dương của họ đóng đúng một cung địa chi. Đây là điểm khác hẳn Hỏa Tinh, Linh Tinh hay Không Kiếp, những sao phải có giờ sinh mới an được.

Vị trí an Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La theo thiên can năm sinh
Tuổi canLộc TồnKình DươngĐà La
GiápDầnMãoSửu
ẤtMãoThìnDần
BínhTỵNgọThìn
ĐinhNgọMùiTỵ
MậuTỵNgọThìn
KỷNgọMùiTỵ
CanhThânDậuMùi
TânDậuTuấtThân
NhâmHợiTuất
QuýSửuHợi

Sáu điều bất biến của Kình Dương

  1. Kình Dương chỉ có mặt ở tám cung. Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Nó không bao giờ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, tức bốn cung Tứ Sinh. Ai đọc lá số mà thấy Kình Dương ghi ở Dần hay ở Hợi thì lá số ấy an sai, không cần bàn thêm.
  2. Kình Dương và Đà La luôn cách nhau đúng hai cung, kẹp Lộc Tồn ở giữa. Hệ quả rất mạnh mà ít sách nói thẳng: Kình và Đà không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu nhau, và cũng không bao giờ tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất giữa hai sao này là cùng giáp một cung. Câu "Kình Đà đồng cung" nếu có ai nói thì là nói sai cấu trúc.
  3. Kình Dương không bao giờ đồng cung hay xung chiếu Lộc Tồn. Vì hai sao kề nhau. Lộc Tồn chỉ có thể tới với Kình Dương ở thế giáp một bên. Vậy nên câu quen miệng "Kình Dương gặp Lộc Tồn thì bớt hung" phải hiểu đúng là Lộc Tồn đứng sát bên cạnh, chứ không phải ngồi cùng cung.
  4. Tuổi can dương thì Kình Dương luôn hãm, tuổi can âm thì Kình Dương luôn đắc. Chạy đủ mười can thấy rõ: Giáp Mão, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Dậu, Nhâm Tý, năm can dương thì Kình rơi trọn vào Tứ Chính là đất hãm; Ất Thìn, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Tuất, Quý Sửu, năm can âm thì Kình rơi trọn vào Tứ Mộ là đất đắc. Không có một tuổi nào lệch ra ngoài quy luật này.
  5. Kình đắc thì Đà hãm, Kình hãm thì Đà đắc, luôn luôn. Cùng bộ số ấy: tuổi can dương Đà La rơi vào Tứ Mộ (Giáp Sửu, Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Mùi, Nhâm Tuất) là đất đắc của Đà; tuổi can âm Đà La rơi vào Tứ Sinh (Ất Dần, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Tân Thân, Quý Hợi) là đất hãm. Hai lưỡi dao trong một lá số không bao giờ cùng sắc và cũng không bao giờ cùng cùn.
  6. Lộc Tồn không bao giờ ở Tứ Mộ. Ghép ba điều lại thành một bức tranh rất đẹp của khoa an sao: Lộc Tồn tránh Tứ Mộ, Kình Dương tránh Tứ Sinh, Đà La tránh Tứ Chính. Ba sao chia nhau ba nhóm cung, không sao nào đi hết mười hai cung, và bao giờ cũng đủ chỗ cho cả ba.

Suy luận Bảng dưới đây đọc theo chiều ngược lại, từ cung nhìn ra tuổi. Nó trả lời câu hỏi mà người luận hay phải tự hỏi trong đầu: cung này có Kình Dương thì người ấy tuổi can gì, và Kình ấy đắc hay hãm. Vì mỗi cung chỉ ứng với một hoặc hai can, chỉ cần nhìn cung là đoán được nửa phần thông tin về tuổi.

Đọc ngược từ cung có Kình Dương ra tuổi can và mức đắc hãm
Kình Dương đóng tạiỨng với tuổi canNhóm cungMức đắc hãm theo Tân Biên
NhâmTứ ChínhHãm
SửuQuýTứ MộĐắc
MãoGiápTứ ChínhHãm
ThìnẤtTứ MộĐắc
NgọBính, MậuTứ ChínhHãm, nhưng là đất của cách Mã Đầu Đới Kiếm
MùiĐinh, KỷTứ MộĐắc
DậuCanhTứ ChínhHãm
TuấtTânTứ MộĐắc
Dần, Thân, Tỵ, Hợikhông tuổi nàoTứ SinhKình Dương không bao giờ tới

Kình Dương gặp được chính tinh nào

Suy luận Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí trong tám cung nói trên, kết quả rất thoáng: cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Kình Dương ở bất kỳ cung nào trong tám cung ấy. Nghĩa là Kình Dương không kén chính tinh như Thái Dương kén bộ Nhật Nguyệt Cự Lương. Nó là con dao, ai cầm cũng được, vấn đề chỉ là bàn tay cầm nó thuộc về ai. Đây chính là lý do sách bắt phải xem chính tinh trước rồi mới xem Kình Dương, chứ không luận Kình Dương một mình.

Suy luận Ngược lại, với các phụ tinh cùng an theo can năm sinh thì cấu trúc rất chặt và có hai điều bất ngờ. Thứ nhất, Kình Dương không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu Thiên Khôi hay Thiên Việt, kiểm đủ mười can đều đúng; hai sao quý nhân ấy nhiều lắm chỉ tam hợp chiếu tới Kình Dương, và chỉ với năm tuổi Giáp, Ất, Đinh, Tân, Quý. Với năm tuổi Bính, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm thì Khôi Việt không chạm được vào tam phương tứ chính của Kình Dương một chút nào. Thứ hai, Kình Dương không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu Thiên Mã, vì Thiên Mã chỉ an ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương vắng mặt. Kiểm hết sáu mươi cặp can chi hợp lệ thì Thiên Mã chỉ tới được Kình Dương bằng đường tam hợp, và cũng chỉ ở mười tám trong sáu mươi trường hợp.

Kinh nghiệm Điều thứ hai ấy có một hệ quả rất thực dụng khi luận: cách Mã Đầu Đới Kiếm không liên quan gì tới sao Thiên Mã. Chữ "mã" trong tên cách là con ngựa của cung Ngọ, vì Ngọ thuộc ngựa trong mười hai con giáp, chứ không phải sao Thiên Mã trong lá số. Thầy đã gặp không ít người tự đọc lá số rồi tưởng mình có Mã Đầu Đới Kiếm chỉ vì thấy Thiên Mã nằm gần Kình Dương. Theo cấu trúc an sao thì điều ấy không thể xảy ra, vì hai sao đó vĩnh viễn không ngồi cùng cung.

3 Cách an và đặc tính thủ Mệnh

Người có Kình Dương thủ Mệnh cương cường, quyết liệt, dám làmẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính người có Kình Dương thủ Mệnh
Người có Kình Dương thủ Mệnh cương cường, quyết liệt, dám làm

Người có Kình Dương đóng Mệnh thường nóng tính, thẳng thừng, làm việc quyết đoán, không thích vòng vo. Khi sao này đắc địa, đó là khí chất của người dám nghĩ dám làm, gan dạ, chịu được va đập, hợp với môi trường cạnh tranh và kỷ luật.

Cách an Kình Dương rất rõ: nó luôn đứng ở cung kế sao Lộc Tồn theo chiều thuận, tức Lộc Tồn tiến một cung, mà Lộc Tồn lại an theo can năm sinh. Vì vậy Kình Dương chỉ xuất hiện ở tám cung, không bao giờ rơi vào bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mặt trái của sao này là dễ liều, dễ chuốc thị phi và thương tích nếu thiếu sao lành kìm giữ.

4 Bảng đắc địa và hãm địa của Kình Dương

Sức mạnh và mức độ lành dữ của Kình Dương đổi theo cung nó đóng. Nguyên tắc của Tân Biên rất gọn: Kình Dương đắc địa ở bốn cung Tứ Mộ thì khí sát trở thành uy dũng, còn khi rơi vào Tứ Chính thì dễ thành liều lĩnh và tai họa.

Cung địa chiTrạng thái
ThìnĐắc
TuấtĐắc
SửuĐắc
MùiĐắc
Hãm
NgọHãm
MãoHãm
DậuHãm

Lưu ý: Kình Dương chỉ an ở tám cung trên, không có mặt tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì can đảm quả quyết hợp võ nghiệp; hãm tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì hung hãm rõ rệt.

5 Kình Dương hội cùng các chính tinh

Kình Dương đi cùng chính tinh nào thì khoác màu sắc của chính tinh ấyẢnh minh họa cập nhật sau Kình Dương hội cùng các chính tinh
Kình Dương đi cùng chính tinh nào thì khoác màu sắc của chính tinh ấy

Là sát tinh, Kình Dương hiếm khi luận riêng, mà phải xem nó đi cùng chính tinh nào. Gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng là các sao có khí đế vương và ấn lệnh, Kình Dương bị chế phục, biến cái sắc bén thành quyền uy, hợp người cầm quân, cầm quyền.

Gặp Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh hay Hỏa Linh thì sát khí chồng sát khí, đời nhiều sóng gió, dễ thương tật, kiện tụng. Gặp Thái Dương, Vũ Khúc đắc địa lại thành uy danh võ nghiệp. Vì thế cùng một Kình Dương, người thì làm tướng, người thì lận đận, tất cả tùy bộ sao chầu về.

6 Kình Dương Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can

Kinh văn Nói ngay cho rõ: Kình Dương không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi nào làm Kình Dương hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Bảng Tứ Hóa chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật (và Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm). Kình Dương đứng ngoài bảng ấy.

Suy luận Nhưng đứng ngoài không có nghĩa là không dính. Trái lại, Kình Dương dính vào Tứ Hóa chặt hơn hầu hết phụ tinh khác, vì một lý do cấu trúc: Tứ Hóa an theo can năm sinh, Kình Dương cũng an theo can năm sinh. Hai bên cùng một gốc. Cho nên khi biết tuổi can, ta biết ngay cả bộ Tứ Hóa lẫn cung của Kình Dương, và biết luôn bộ Tứ Hóa nào có quyền gặp Kình Dương. Với một sao an theo giờ như Hỏa Tinh thì tổ hợp là ngẫu nhiên; với Kình Dương thì tổ hợp là bị khóa cứng theo tuổi.

Vị trí Kình Dương và bộ Tứ Hóa tương ứng theo từng thiên can năm sinh
Tuổi canKình Dương tạiTứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ)Điều đáng chú ý
GiápMão (hãm)Liêm Trinh · Phá Quân · Vũ Khúc · Thái DươngKỵ của tuổi này là Thái Dương. Kình Dương hãm mà đồng cung Thái Dương hóa Kỵ là thế nặng cho mắt và cho duyên với cha.
ẤtThìn (đắc)Thiên Cơ · Thiên Lương · Tử Vi · Thái ÂmKình đắc lại có thể gặp Tử Vi hóa Khoa cùng cung: sát khí được ấn lệnh chế phục, là thế đẹp của tuổi Ất.
BínhNgọ (hãm)Thiên Đồng · Thiên Cơ · Văn Xương · Liêm TrinhĐất của Mã Đầu Đới Kiếm. Nếu Thiên Đồng hóa Lộc cùng cung thì kiếm có bao; nếu Liêm Trinh hóa Kỵ cùng cung thì thành Hình Tù Giáp Ấn.
ĐinhMùi (đắc)Thái Âm · Thiên Đồng · Thiên Cơ · Cự MônKình đắc mà gặp Cự Môn hóa Kỵ cùng cung thì lời nói thành dao: miệng tiếng, kiện tụng, tranh chấp giấy tờ.
MậuNgọ (hãm)Tham Lang · Thái Âm · Hữu Bật · Thiên CơCũng là đất Mã Đầu Đới Kiếm. Thiên Cơ hóa Kỵ gặp Kình Dương là mưu tính nhiều mà rối, cần Tử Phủ Tướng chế.
KỷMùi (đắc)Vũ Khúc · Tham Lang · Thiên Lương · Văn KhúcKỵ của tuổi này là phụ tinh Văn Khúc, chính tinh không ai mang Kỵ. Đây là tuổi mà Kình Dương ít bị Kỵ chính tinh làm nặng thêm nhất.
CanhDậu (hãm)Thái Dương · Vũ Khúc · Thiên Đồng · Thiên Tướng (Nam phái)Bắc phái tuổi Canh là Thái Dương · Vũ Khúc · Thái Âm · Thiên Đồng. Ai luận theo Bắc phái thì tổ hợp Kình Dương gặp Kỵ đổi hẳn, phải nói rõ mình theo phái nào.
TânTuất (đắc)Cự Môn · Thái Dương · Văn Khúc · Văn XươngKỵ lại rơi vào phụ tinh Văn Xương. Kình đắc tại Tuất mà gặp Thái Dương hóa Quyền là thế uy danh có kỷ cương.
NhâmTý (hãm)Thiên Lương · Tử Vi · Tả Phụ · Vũ Khúc (Nam phái)Bắc phái đổi Khoa từ Tả Phụ sang Thiên Phủ. Vũ Khúc hóa Kỵ gặp Kình Dương hãm là thế tiền bạc sinh tranh chấp, phải xem kỹ Tài Bạch.
QuýSửu (đắc)Phá Quân · Cự Môn · Thái Âm · Tham LangKình đắc tại Sửu mà đồng cung Tham Lang hóa Kỵ là thế ham muốn bị chặn, hợp người tu nghề hơn người tham lợi.

Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Lộc

Kinh nghiệm Hóa Lộc là cái được, là phần mềm mại và đầy đặn. Đặt cạnh Kình Dương, Lộc có tác dụng như bao kiếm: dao vẫn sắc mà không cứa vào tay. Thầy thấy trên lá số thật, người có Kình Dương đồng cung với một chính tinh đang hóa Lộc thường làm nghề cứng mà vẫn có tiền vào đều, kiểu người thầu công trình, người mở xưởng, người làm ngoại khoa có phòng khám riêng: quyết liệt nhưng có phần thưởng rõ ràng nên không phải quyết liệt oan. Cần nhớ Lộc chỉ làm dịu chứ không làm mất sát khí; người ấy vẫn nóng, vẫn thẳng, chỉ là cái nóng có chỗ tiêu.

Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Quyền

Kinh nghiệm Đây là tổ hợp mạnh nhất và cũng dễ đi chệch nhất. Quyền là quyền uy, Kình Dương là sát phạt; hai cái cộng lại thành người ra lệnh và bắt người khác nghe. Khi Kình Dương đắc địa ở Tứ Mộ thì đó là uy của người chỉ huy, quy củ, nói một là một. Khi Kình Dương hãm ở Tứ Chính thì Quyền dễ thành áp đặt, được việc mà mất người, và cái mất ấy thường lộ ra ở cung Nô Bộc hoặc cung Huynh Đệ chứ không lộ ở cung Mệnh. Suy luận Nguyên lý rất đơn giản: dao sắc cộng với quyền cầm dao thì phải có luật, luật ở đây là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng hoặc Hóa Khoa.

Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Khoa

Kinh nghiệm Khoa là danh tiếng, là chữ nghĩa, là cái nề nếp. Trong bốn hóa thì Khoa hợp với Kình Dương nhất theo nghĩa hóa giải, vì Khoa dạy cho lưỡi dao biết cách dùng. Người có Kình Dương gặp Hóa Khoa thường là người sắc bén mà có bài bản: bác sĩ giỏi tay dao lại chịu viết, kỹ sư cứng nghề lại đi dạy nghề, người làm luật vừa cứng vừa nắm điều khoản. Suy luận Đáng tiếc là Khoa của tuổi Bính và tuổi Tân rơi vào Văn Xương, Văn Khúc, tức phụ tinh an theo giờ, nên có gặp được Kình Dương hay không lại phụ thuộc giờ sinh, không khóa theo tuổi như các hóa khác.

Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Kỵ

Kinh văn Đây là chỗ sách nói nặng lời nhất và cũng là chỗ người đọc hay hoảng nhất. Hóa Kỵ là cái vướng, cái tắc; Kình Dương là cái sắc, cái nhọn. Vướng cộng nhọn thì thành đâm vào chính mình. Toàn Thư xếp thẳng thế Dương Đà giáp Kỵ vào loại bại cục. Kinh nghiệm Nhưng phải tách ba mức, không được gộp làm một. Kình Dương đắc địa đồng cung với Kỵ là có va chạm mà giải quyết được, thường biểu hiện thành một quãng kiện tụng hoặc một lần phẫu thuật rồi qua. Kình Dương hãm địa đồng cung với Kỵ mới là thế phải dè chừng thật, nhất là ở cung Tật Ách và cung Phu Thê. Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì phần lớn chỉ là tiếng ra tiếng vào, không thành chuyện. Thầy chưa bao giờ kết luận nặng cho một lá số chỉ vì thấy Kỵ chiếu xa tới Kình Dương.

Hóa từ cung khác bay tới cung có Kình Dương

Suy luận Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung, gọi là phi hóa. Với Kình Dương, ba tình huống hay được hỏi nhất:

  • Cung Phu Thê phi Kỵ vào cung có Kình Dương. Chuyện trong nhà thành chuyện tranh cãi có lời nặng; nếu cung đích lại là Tật Ách thì thường là sức khỏe sa sút vì căng thẳng gia đạo, không phải vì tai nạn.
  • Cung Tài Bạch phi Kỵ vào cung có Kình Dương. Tiền bạc sinh tranh chấp, hay gặp ở người cho vay, đứng tên hộ, hùn vốn miệng không giấy tờ. Đây là tổ hợp Thầy dặn kỹ nhất, vì hậu quả có thật và phòng được.
  • Cung có Kình Dương phi Lộc ra cung Quan Lộc. Cái sắc bén được đưa ra ngoài làm việc, thường là dấu hiệu của người chọn đúng nghề: nghề có kỷ luật, có cạnh tranh, có ranh giới rõ.

Muốn xem Kình Dương của chính quý vị đóng cung nào và bộ Tứ Hóa của tuổi mình rải ra đâu, hãy an lá số trên thayungkhiem.vn rồi bấm vào từng dòng dưới lá số để đọc.

7 Kình Dương an tại 12 cung chức

Kình Dương ở 12 cungẢnh minh họa cập nhật sau Sao Kình Dương an tại 12 cung chức
Kình Dương đóng cung nào thì gieo ảnh hưởng vào lĩnh vực ấy của đời người

Kình Dương đóng ở cung nào thì mang sắc thái quyết liệt, va chạm vào lĩnh vực đó. Nói chung sao này hợp cung cần sự mạnh mẽ hơn là cung cần sự êm đềm.

Ý nghĩa của Kình Dương tại từng cung chức khi đắc địa và khi hãm địa, kèm tổ hợp đáng chú ý
CungKình đắc địa hoặc gặp cát tinhKình hãm địa hoặc gặp hung tinhTổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhCương nghị, quyết đoán, chịu được va đập, dám nhận việc khó; hợp môi trường kỷ luật và cạnh tranh.Nóng vội, hiếu thắng, hay tự chuốc thị phi; thân thể dễ mang thương tích hoặc sẹo.Kình tại Ngọ cùng Thiên Đồng là Mã Đầu Đới Kiếm. Kình đồng cung Tử Vi hoặc Thiên Phủ là sát bị chế phục, hợp cầm quyền. Kình cùng Thất Sát mà thiếu cát tinh là sát chồng sát.
Huynh ĐệAnh em thẳng tính, nói ra là làm, có người trong nhà làm nghề cứng và giúp được mình.Anh em bất hòa, dễ tranh nhau phần chia; bạn cùng làm ăn hay trở mặt vì tiền.Kình Dương ở đây mà cung Lộc Tồn kề bên có chính tinh hóa Kỵ là thế dễ mất tình vì tài sản chung. Kình cùng Vũ Khúc là chuyện tiền giữa anh em phải rõ ràng bằng giấy.
Phu ThêBạn đời có cá tính mạnh, giỏi việc, dứt khoát; hai người hợp nhau nhờ cùng thẳng thắn.Vợ chồng hay lời qua tiếng lại, dễ nói nặng lúc nóng; duyên đến sớm thì trắc trở, đến muộn lại yên.Kình Dương hãm ở Phu Thê gặp Hóa Kỵ đồng cung là tổ hợp cần luận kỹ, không kết luận vội về ly hợp. Kình gặp Thiên Riêu là chuyện tình cảm có bên thứ ba xen vào.
Tử TứcCon cái cứng cỏi, có chí, sớm tự lập; hợp hướng con vào nghề có kỷ luật.Sinh nở vất vả, hay phải can thiệp; con nghịch, cha con dễ va nhau vì đều cứng.Kình Dương tại Tử Tức cộng lưu Kình của năm chạm vào là năm nên khám thai kỹ và chọn nơi sinh có chuyên môn tốt. Kình cùng Phá Quân là con đi xa sớm.
Tài BạchTiền vào bằng tranh đấu và tay nghề: nghề cứng, nghề cạnh tranh, nghề ăn theo kết quả rõ ràng.Tiền đến rồi đi vì hấp tấp, dễ mất vì tranh chấp, vì bảo lãnh, vì đầu tư theo lời rủ.Kình gặp Lộc Tồn giáp bên là thế "dao có bao": kiếm tiền cứng mà giữ được. Kình cùng Vũ Khúc hóa Kỵ tuổi Nhâm là thế phải tránh vay mượn và đứng tên hộ.
Tật ÁchSức vóc chắc, chịu đau tốt, bệnh đến thì dứt điểm nhanh, hợp chữa bằng can thiệp hơn là dùng thuốc kéo dài.Thương tích, dao kéo, phẫu thuật, tai nạn giao thông; chứng do khí Kim và Hỏa như viêm, mụn nhọt, đau răng, đau đầu.Đây là cung Kình Dương lộ ra rõ nhất. Kình cùng Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh là bỏng, là chấn thương do va đập mạnh. Kình cùng Hóa Kỵ tại Tật là năm phải mổ. Kình cùng Thiên Hình là thương tích có liên quan tới pháp luật hoặc do nghề.
Thiên DiRa ngoài dám xông, cạnh tranh giỏi, hợp đi làm xa nhà, hợp nghề phải va chạm với người lạ.Ra đường dễ va chạm, dễ vướng lời qua tiếng lại; đi lại cần cẩn thận, nhất là xe cộ.Kình Dương ở Thiên Di xung chiếu về Mệnh là thế "dao ở bên ngoài": người hiền mà hoàn cảnh bắt phải cứng. Kình cùng Thiên Mã không thể đồng cung, xin xem lại mục cơ chế an sao.
Nô BộcCấp dưới làm việc quyết liệt, bạn bè là người dám nói thật; hợp quản lý đội ngũ cần kỷ luật.Bị bạn hoặc người dưới phản, hay dính chuyện tranh giành sau lưng; giúp người rồi mang oán.Kình Dương tại Nô Bộc mà cung ấy có chính tinh hóa Kỵ là tổ hợp Thầy luôn dặn: chớ bảo lãnh, chớ cho mượn danh nghĩa, chớ giao con dấu.
Quan LộcVị trí Kình Dương thích nhất: nghề có kỷ luật và có đối thủ, quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật, thể thao, pháp lý, kinh doanh cạnh tranh.Công việc nhiều va chạm, hay bị soi, dễ mất chức vì nóng; đổi việc theo cảm xúc.Kình đắc tại Tứ Mộ ở Quan Lộc cùng Vũ Khúc hoặc Thất Sát là cách võ nghiệp có thực quyền. Kình cùng Hóa Quyền là người ra lệnh, cần Hóa Khoa hoặc Thiên Tướng làm mềm.
Điền TrạchCó nhà đất nhờ tự tay gây dựng; hợp sửa chữa, cải tạo, xây mới hơn là giữ nguyên.Nhà đất hay vướng tranh chấp ranh giới, giấy tờ; nhà gần đường lớn, gần công trình, hay có tiếng ồn.Kình Dương tại Điền Trạch gặp Hóa Kỵ là tổ hợp nên kiểm kỹ sổ đỏ và ranh mốc trước khi mua. Kình cùng Hỏa Tinh là phải để ý điện và bếp.
Phúc ĐứcTinh thần mạnh, không sợ khó, tự lực; có phúc của người dám chịu trách nhiệm.Trong lòng hay bứt rứt, khó buông, nghĩ nhiều về chuyện hơn thua; ngủ không sâu.Kình Dương ở Phúc Đức là cung ít người để ý mà lại quan trọng, vì nó nói cái gốc của tính nóng. Kình cùng Thiên Hình ở đây thì nên chọn một lối tu tâm hoặc một môn rèn thân có kỷ luật.
Phụ MẫuCha mẹ nghiêm, dạy con có phép tắc; mình học được sự cứng cỏi từ nhà.Cha mẹ nghiêm quá hóa xa cách, hoặc trong nhà có người sức khỏe phải can thiệp bằng phẫu thuật.Kình Dương tại Phụ Mẫu cộng lưu Kình hoặc lưu Đà của năm chạm tới là năm nên đưa cha mẹ đi khám, không kết luận gì nặng hơn thế.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này của Thầy gồm ba bước. Bước một, xem cung của Kình Dương thuộc Tứ Mộ hay Tứ Chính, vì đó là ranh giới giữa hai cột giữa của bảng, và ranh giới ấy đã bị khóa theo tuổi can rồi: tuổi can âm thì đọc cột đắc, tuổi can dương thì đọc cột hãm. Bước hai, xem chính tinh đứng cùng cung, vì Kình Dương chỉ là con dao, chính tinh mới là bàn tay. Bước ba, mới xem cung chức để biết cái sắc bén ấy cứa vào lĩnh vực nào của đời. Rất nhiều người làm ngược, nhìn thấy chữ Kình Dương ở cung Phu Thê là hoảng, trong khi người ấy tuổi Đinh, Kình đắc tại Mùi, lại đồng cung Thiên Phủ, thì câu chuyện nhẹ đi rất nhiều.

8 Các cách cục và điều kiện thành cách

Kình Dương cư Ngọ tạo cách Mã Đầu Đới Kiếm nổi tiếngẢnh minh họa cập nhật sau Các cách cục liên quan đến Kình Dương
Kình Dương cư Ngọ tạo cách Mã Đầu Đới Kiếm nổi tiếng

Cách nổi tiếng nhất của sao này là Mã Đầu Đới Kiếm, tức Kình Dương cư Ngọ, ví như thanh kiếm đeo bên đầu ngựa. Người hợp cách thường uy mãnh, có chí lớn, lập công nơi gian khó, nhưng đời cũng nhiều hiểm nguy, cần bản lĩnh và phúc đức đỡ phía sau.

Kình Dương cùng Đà La kẹp lấy một cung gọi là thế giáp sát, cung bị kẹp chịu áp lực lớn. Khi Kình Dương gặp Hóa Kỵ hay đi cùng Thất Sát Phá Quân thì là các thế hung, cần sao giải. Ngược lại, Kình Dương đắc địa hội Tử Phủ Vũ Tướng thì cái sát hóa thành uy quyền.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện và "phá" khi vướng điều kiện phá. Dưới đây bảy cách của Kình Dương, mỗi cách ghi rõ cả hai đầu. Xin nói trước một điều về phú: Kinh văn trong toàn bộ mục này, Thầy chỉ dẫn hai câu phú mà chắc chắn có trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư qua bản dịch của Vũ Tài Lục. Những cách còn lại tuy có tên gọi lưu truyền nhưng Thầy không tìm được câu phú gốc đủ tin cậy, nên chỉ ghi điều kiện, không gán phú. Thà thiếu một câu hay còn hơn thêm một câu bịa.

Mã Đầu Đới Kiếm (thanh kiếm bên đầu ngựa)

Kinh văn Thành cách: Kình Dương thủ Mệnh tại Ngọ. Vì Kình Dương an theo can năm sinh nên điều này chỉ xảy ra với tuổi Bính và tuổi Mậu, không có tuổi thứ ba, kiểm bằng thuật toán an sao là chắc chắn. Sách hay nêu thêm điều kiện gặp Thiên Đồng tại Ngọ, vì Đồng là phúc tinh làm bao cho lưỡi kiếm. Toàn Thư có câu "Mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương", nghĩa là người hợp cách ra trấn giữ nơi biên ải, tức lập công ở chỗ gian nan xa xôi chứ không ở chốn êm ấm. Đủ đẹp: tuổi Bính có Thiên Đồng hóa Lộc ngay tại Ngọ, kiếm sắc mà có bao, là thế đẹp nhất của cách này; thêm Tử Vi, Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng ở tam phương thì càng vững. Phá cách: Ngọ vốn là đất hãm của Kình Dương, nên nếu không có phúc tinh hay cát tinh nào chế mà lại thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ đồng cung thì cách này lật mặt: uy mãnh thành liều lĩnh, lập công thành chuốc họa. Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với khách rằng Mã Đầu Đới Kiếm là cách của người phải đi xa nhà và phải chịu khổ trước, ai muốn an nhàn thì cách này không hợp, dù nó nổi tiếng đến đâu.

Kình Dương đắc địa Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)

Kinh văn Thành cách: Kình Dương đóng tại một trong bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Tân Biên chép rõ Kình Dương đắc địa Tứ Mộ thì can đảm dũng mãnh, uy khí có ích. Suy luận Kiểm bằng thuật toán thì điều kiện này tương đương một câu ngắn hơn nhiều: người tuổi can âm, tức Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Năm tuổi ấy Kình Dương rơi trọn vào Tứ Mộ, không sót tuổi nào; năm tuổi can dương còn lại thì không bao giờ có được. Đây là một trong những chỗ mà cấu trúc an sao cho ta một quy tắc gọn hơn cả sách. Đủ đẹp: thêm Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Vũ Khúc đắc địa hoặc Hóa Quyền cùng cung thì thành uy quyền có kỷ cương, hợp cầm quân, cầm nghề, cầm dao. Phá cách: gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Hóa Kỵ đồng cung thì đất đắc cũng chỉ đỡ được một phần, vẫn phải đề phòng thương tích; và nên nhớ Kình đắc thì Đà La của chính người ấy đang hãm ở Tứ Sinh, cái nhẹ bên này thường đổi lấy cái nặng bên kia.

Kình Dương gặp Thất Sát, Phá Quân (sát chồng sát)

Kinh văn Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương đồng cung hoặc xung chiếu với Thất Sát, Phá Quân, nhất là khi Kình hãm địa tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thất Sát và Phá Quân vốn đã là khí phá cũ, thêm lưỡi dao vào thì đời nhiều sóng gió, hay đổi thay, dễ thương tật, dễ vướng kiện tụng. Suy luận Kiểm cấu trúc thì cả Thất Sát lẫn Phá Quân đều có thể đồng cung với Kình Dương ở bất kỳ cung nào trong tám cung của nó, nên tổ hợp này không hiếm, và cũng vì thế không nên vừa thấy đã hoảng. Giải cách: có Tử Vi hoặc Thiên Phủ trong tam phương tứ chính, hoặc Hóa Khoa, hoặc Lộc Tồn giáp bên. Kinh nghiệm Trên lá số thật, người có tổ hợp này mà chọn đúng nghề có kỷ luật thì sóng gió biến thành thành tích; chọn nghề tự do không ai quản thì sóng gió đúng là sóng gió.

Kình Dương gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh

Kinh văn Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương đồng cung với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Kình Dương là Âm Kim đới Hỏa, Hỏa Linh lại thuần Hỏa; kim gặp lửa thì kim chảy, sách xếp đây là tổ hợp dễ sinh tai họa thương tật và biến cố đột ngột. Suy luận Khác với Đà La hay Lộc Tồn vốn khóa cứng theo tuổi, Hỏa Tinh và Linh Tinh an theo chi năm sinh cộng giờ sinh, nên tổ hợp này không bị khóa theo tuổi can: hai người cùng tuổi can, một người có, một người không, tùy giờ sinh. Muốn biết chắc thì phải an đủ lá số, không suy từ tuổi ra được. Đáng ngại nhất: khi rơi vào cung Tật Ách hoặc cung Thiên Di, vì đó là hai cung của thân thể và của đường đi. Giải cách: Tử Phủ Tướng chế phục, Lộc Tồn giáp bên, và trong đời sống là giữ kỷ luật với xe cộ, lửa, điện, vật sắc.

Kình Dương gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (sát bị chế phục)

Kinh văn Thành cách: Kình Dương đồng cung hoặc hội chiếu với Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng. Tử Vi là đế tinh, Thiên Phủ là kho lẫm, Thiên Tướng là ấn lệnh; ba sao ấy có tư cách cầm lấy con dao. Sát khí không mất đi mà đổi hướng, thành quyền uy, thành kỷ cương, thành sức quyết đoán dùng đúng chỗ. Đây là thế mà sách khen là hợp người cầm quân, cầm quyền, làm nghề phải ra quyết định dứt khoát. Đủ đẹp: Kình đắc địa Tứ Mộ cộng Tử Vi hoặc Thiên Phủ đồng cung, thêm Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa. Suy luận Tuổi Ất là ví dụ đẹp và kiểm được: Kình Dương đắc tại Thìn, mà Tứ Hóa tuổi Ất có Tử Vi hóa Khoa, nên nếu Tử Vi đóng đúng cung Thìn thì lá số ấy có cả đất đắc, cả đế tinh, cả Hóa Khoa cùng một chỗ. Phá cách: Thiên Tướng tuy chế được Kình nhưng bản thân Thiên Tướng lại sợ bị hình và tù kẹp, xin xem cách ngay dưới đây.

Hình Tù Giáp Ấn (hình tinh và tù tinh kẹp lấy ấn tinh)

Kinh văn Thành cách (đây là cách đáng ngại): Thiên Tướng là ấn tinh, Liêm Trinh là tù tinh, Kình Dương là hình tinh; khi ấn bị hình và tù áp sát thì cái quyền trong tay hóa thành cái vạ. Suy luận Kiểm bằng thuật toán an sao cho ra một điều kiện rất sắc nét: Liêm Trinh và Thiên Tướng chỉ đồng cung được ở hai chỗ là Tý và Ngọ; mà Kình Dương chỉ tới Ngọ với tuổi Bính, tuổi Mậu và tới Tý với tuổi Nhâm. Trong ba tuổi ấy, tuổi Bính là trường hợp hội đủ đẹp nhất, vì tuổi Bính có Liêm Trinh hóa Kỵ, nên Liêm Tướng tại Ngọ cùng Kình Dương tại Ngọ thành trọn bộ hình, tù, ấn với Kỵ ngay tại chỗ. Đọc thế nào: người có thế này thường nắm một phần quyền hoặc một phần trách nhiệm giấy tờ, mà chính chỗ ấy sinh phiền: bị soi xét, bị liên đới, ký thay người khác rồi mang tiếng. Giải cách: có Lộc Tồn giáp bên, có Hóa Khoa, hoặc Tử Vi Thiên Phủ trong tam phương. Kinh nghiệm Thầy dặn người có thế này một câu rất đời thường mà hiệu quả: đừng ký thay ai, đừng nhận giữ hộ con dấu, và mọi việc có trách nhiệm thì phải có văn bản.

Dương Đà Giáp Kỵ (Kình Dương và Đà La kẹp cung có Hóa Kỵ)

Kinh văn Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương và Đà La kẹp hai bên một cung, cung ấy lại có chính tinh hóa Kỵ. Toàn Thư xếp thẳng "Dương Đà giáp Kỵ" vào loại bại cục. Suy luận Đây là chỗ mà thuật toán an sao cho một câu trả lời rất bất ngờ và rất hữu dụng: vì Kình Dương luôn ở cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận còn Đà La luôn ở cung kế theo chiều nghịch, nên cung bị Kình Đà kẹp bao giờ cũng là chính cung có Lộc Tồn, không thể là cung nào khác. Nói cách khác, thế Dương Đà giáp Kỵ thật ra là thế Lộc Tồn và Hóa Kỵ ngồi chung một cung, hai bên là hai lưỡi dao. Người đọc lá số nắm được điều này thì tìm cách ấy chỉ mất ba giây: nhìn xem cung Lộc Tồn có chính tinh nào hóa Kỵ không, thế là xong.

Kinh nghiệm Chính vì cung bị kẹp luôn có Lộc Tồn nên Thầy không đọc cách này nặng như tên gọi của nó. Lộc Tồn là sao của tài lộc và của sự bền, nó nằm ngay giữa, tức là cách này luôn có sẵn một sao giải ở chính giữa trận. Điều đáng lo không phải là mất trắng, mà là cái được thì phải chịu áp lực hai đầu: có tiền nhưng tiền ấy bị đòi hỏi, có phần nhưng phần ấy bị tranh, có chỗ đứng nhưng chỗ ấy bị nhòm ngó. Đọc như vậy vừa đúng cấu trúc vừa không dọa người. Nặng thêm khi: cung bị kẹp là Tài Bạch, Điền Trạch hoặc Mệnh, và Hóa Kỵ ấy lại là Kỵ của chính tuổi mình. Nhẹ đi khi: chính tinh trong cung là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, hoặc cung ấy còn có Hóa Khoa, Tả Hữu, Xương Khúc.

Ba câu nhắc trước khi kết luận về một cách cục của Kình Dương

  • Đắc hãm của Kình Dương đã bị tuổi can khóa từ trước. Người tuổi can dương không có cách nào để Kình Dương của mình đắc địa, và ngược lại. Vì vậy đừng tiếc, hãy chuyển sang xem chính tinh nào cầm con dao ấy, đó mới là phần thay đổi được bằng lựa chọn nghề nghiệp và cách sống.
  • Kình đắc thì Đà hãm. Một lá số không bao giờ có cả hai lưỡi dao cùng sắc, cũng không bao giờ có cả hai cùng cùn. Luận Kình Dương mà quên nhìn sang Đà La là bỏ mất một nửa bức tranh.
  • Cách cục chỉ nói xu hướng, không nói kết cục. Mã Đầu Đới Kiếm không bảo đảm làm tướng, Dương Đà giáp Kỵ không bảo đảm phá sản. Cách cục cho biết đề bài của đời người, còn đáp án nằm ở nghề đã chọn, người đã kết giao và tính đã rèn.

9 Sao hợp và sao kỵ, phân theo vị thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Kình Dương là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất mạnh với sát tinh mà lại khá nhẹ với cát tinh. Riêng với Kình Dương, cấu trúc an sao còn loại bỏ sẵn vài vị thế: Lộc Tồn và Đà La không bao giờ đồng cung hay xung chiếu Kình Dương, Thiên Khôi Thiên Việt và Thiên Mã cũng vậy. Cho nên với những sao ấy, chỉ có thế giáp hoặc thế tam hợp là có thật, mọi lời bàn về "đồng cung" đều là bàn suông.

Kình Dương mừng khi gặp

  • Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): đế tinh, kho lẫm và ấn lệnh có tư cách cầm con dao, sát khí đổi thành quyền uy có kỷ cương.
  • Lộc Tồn (chỉ có thể giáp một bên, không bao giờ đồng cung): làm dịu và thêm phần thực lợi, ví như con dao có bao. Đây là sao đi liền với Kình Dương suốt đời nên hầu như lá số nào cũng dùng được.
  • Hóa Lộc, Hóa Khoa của chính tinh đồng cung (đồng cung mạnh nhất): Lộc cho cái sắc bén một chỗ tiêu, Khoa cho nó một bài bản. Trong bốn hóa thì Khoa hợp nhất với Kình Dương.
  • Vũ Khúc, Thất Sát đắc địa cùng Kình đắc Tứ Mộ (đồng cung): thành uy danh võ nghiệp, hợp nghề kỷ luật và nghề dùng tay nghề cứng.
  • Thái Dương miếu vượng (đồng cung hoặc xung chiếu): ánh sáng lớn làm lộ rõ đường dao, người ấy quyết liệt mà quang minh, ít khi ra tay lén.
  • Bốn cung Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi (đây là vị trí chứ không phải sao): đất đắc của Kình Dương, chỉ tuổi can âm mới có.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (chỉ có thể tam hợp, và chỉ với tuổi Giáp, Ất, Đinh, Tân, Quý): quý nhân đứng xa mà đỡ, không đứng cạnh mà đỡ, nên tác dụng đến muộn và đến qua người khác.

Kình Dương e ngại khi gặp

  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): vướng cộng nhọn thành đâm vào chính mình. Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì phần lớn chỉ là tiếng ra tiếng vào.
  • Thất Sát, Phá Quân (đồng cung nặng nhất): sát chồng sát, đời nhiều sóng gió, dễ thương tật và kiện tụng, nhất là khi Kình hãm ở Tứ Chính.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): kim gặp lửa thì kim chảy, dễ có biến cố đột ngột và thương tích. Tổ hợp này tùy giờ sinh chứ không tùy tuổi can.
  • Đà La (chỉ có thể ở thế cùng giáp một cung, không bao giờ đồng cung hay xung chiếu): hai sao cùng kẹp một cung thì cung ấy chịu áp lực hai đầu, đó là toàn bộ nội dung của thế Dương Đà giáp.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): dao vung vào chỗ trống, làm nhiều mà không giữ được thành quả; thế giáp xấu hơn thế chiếu.
  • Thiên Hình (đồng cung): hai hình tinh gặp nhau, nặng về pháp luật, kỷ luật và thương tích do nghề; nếu chọn đúng nghề y hoặc nghề luật thì lại thành sở trường.
  • Bốn cung Tứ Chính Tý Ngọ Mão Dậu (vị trí chứ không phải sao): đất hãm của Kình Dương, chỉ tuổi can dương mới rơi vào.

Nguyên tắc xuyên suốt: Kình Dương cần một bàn tay vững cầm lấy nó. Có chính tinh sáng và sao lành chế ngự thì lưỡi dao thành công cụ hữu dụng; thiếu sự kìm giữ thì chính nó làm chủ bị thương.

10 Kình Dương Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Kình Dương "tĩnh": nó đóng cung nào, đắc hay hãm, đi với chính tinh nào. Nhưng khách hỏi Thầy nhiều nhất lại là chuyện động: năm nay tôi có phải mổ không, năm nay có kiện tụng gì không, mười năm tới có nên đổi nghề không. Đó là phần dưới đây.

Đại vận đi vào cung có Kình Dương

Kinh văn Đại vận đến cung có Kình Dương đắc địa Tứ Mộ là mười năm dụng võ: có việc khó để làm, có đối thủ để đua, có cơ hội cầm quyền hoặc cầm nghề. Người vốn hiền đến vận này cũng cứng lên, dám nói dám quyết, thường là quãng lập nghiệp hoặc quãng được giao trách nhiệm lớn. Đại vận đến cung có Kình Dương hãm địa Tứ Chính là mười năm phải giữ mình: dễ va chạm, dễ nóng, dễ vướng chuyện giấy tờ và thương tích. Kinh nghiệm Thầy quan sát thấy hai điều lặp lại trên lá số thật. Một, đại vận Kình Dương hãm thường không nghèo, mà là hao: hao sức, hao tình, hao thời gian vì tranh chấp. Hai, người dùng đúng mười năm ấy để học một nghề cứng, một môn có kỷ luật, thì sang vận sau lại được hưởng, vì con dao đã có nghề để cắm vào.

Suy luận Có một điểm về đại vận mà cấu trúc an sao nói giúp: đại vận đi qua cung Kình Dương thì trước hoặc sau đó đúng hai bước sẽ đi qua cung Đà La, và ở giữa là cung Lộc Tồn. Nghĩa là ba đại vận liền nhau của bất kỳ ai cũng là bộ ba Kình, Lộc, Đà theo thứ tự thuận hoặc nghịch tùy chiều đi của đại vận. Ba mươi năm ấy là ba mươi năm mà tiền bạc, sự sắc bén và sự trì trệ thay nhau lên tiếng. Biết trước thì chuẩn bị được.

Bản lưu niên của chính Kình Dương: lưu Kình Dương

Kinh văn Kình Dương là một trong những sao có bản lưu. Cách an lưu Kình Dương giống hệt cách an Kình Dương bản mệnh, chỉ đổi tham số: lấy can của năm xem thay cho can năm sinh, tìm lưu Lộc Tồn trước, rồi cung kế theo chiều thuận là lưu Kình Dương, cung kế theo chiều nghịch là lưu Đà La. Vì thế mỗi năm cả ba sao ấy cùng dời chỗ một lượt, và cứ mười năm thì trở lại đúng cung cũ.

Vị trí lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương và lưu Đà La theo can của năm xem
Can của năm xemCác năm gần đây và sắp tớiLưu Lộc TồnLưu Kình DươngLưu Đà La
Giáp2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp DầnDầnMãoSửu
Ất2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất MãoMãoThìnDần
Bính2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính ThìnTỵNgọThìn
Đinh2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh TỵNgọMùiTỵ
Mậu2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu NgọTỵNgọThìn
Kỷ2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ MùiNgọMùiTỵ
Canh2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh ThânThânDậuMùi
Tân2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân DậuDậuTuấtThân
Nhâm2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm TuấtHợiTuất
Quý2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý HợiSửuHợi

Kinh nghiệm Cách dùng bảng này rất gọn và rất hiệu quả. Trước hết xem Kình Dương bản mệnh của mình ở cung nào. Sau đó nhìn can của năm định xem để biết lưu Kình Dương năm ấy rơi vào cung nào. Có ba tình huống đáng chú ý. Một, lưu Kình trùng cung Kình bản mệnh, gọi là Kình chồng Kình, đây là năm đậm nhất của sao này trong cả một chu kỳ mười năm; nếu cung ấy là Tật Ách thì nên khám sức khỏe chủ động, nếu là Quan Lộc thì nên rà lại hợp đồng và trách nhiệm. Với người tuổi Bính và tuổi Mậu, Kình bản mệnh ở Ngọ, thì các năm can Bính và can Mậu chính là những năm ấy, gần đây có năm Bính Ngọ 2026 và năm Mậu Thân 2028. Hai, lưu Kình chạm đúng cung Mệnh hoặc cung đại vận đang đi. Ba, lưu Kình và lưu Đà cùng kẹp một cung quan trọng, mà theo cấu trúc thì cung bị kẹp ấy luôn là cung có lưu Lộc Tồn, nên năm đó cung ấy vừa có lộc vừa chịu ép.

Suy luận Xin nói rõ một điều để tránh hiểu sai: lưu Kình Dương chỉ ở lại một năm rồi đi. Nó làm cho một chuyện vốn đã có sẵn trong lá số nổi lên trong năm ấy, chứ nó không tự sinh ra chuyện mới. Cung nào không có gì đáng nói thì lưu Kình đi qua cũng chỉ là một năm bận rộn và hơi nóng tính.

Các lưu sao khác chạm vào cung có Kình Dương

  • Kinh văn Lưu Thái Tuế đến cung có Kình Dương: năm có việc dính tới công quyền, giấy tờ, kỷ luật, hợp đồng. Kình đắc thì làm được việc khó, Kình hãm thì dễ vướng lôi thôi.
  • Kinh văn Lưu Đà La đến cung có Kình Dương bản mệnh: hai lưỡi dao chồng nhau, một sắc một cùn, năm ấy việc gì cũng vừa gấp vừa chậm, dễ ức chế. Thầy hay khuyên đây là năm không nên khởi sự lớn mà nên dọn dẹp việc cũ.
  • Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Kình Dương tại Tật Ách hoặc Phụ Mẫu: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sớm, nhất là khi có thêm Hóa Kỵ. Không kết luận điều gì nặng, chỉ là đi khám.
  • Kinh văn Lưu Hóa Kỵ của năm rơi vào cung có Kình Dương: năm dễ có tranh chấp hoặc phải can thiệp bằng phẫu thuật. Nếu Hóa Kỵ ấy lại trùng với Kỵ của tuổi mình thì thành Kỵ chồng Kỵ ngay trên đầu con dao, đây là tổ hợp cần thận trọng nhất trong cả bài này.
  • Kinh văn Lưu Lộc Tồn giáp cung có Kình Dương bản mệnh: năm có lộc mà lộc ấy phải tranh mới có, hợp người làm nghề ăn theo kết quả.
  • Kinh nghiệm Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt tam hợp chiếu tới cung Kình Dương: năm thi cử, xét tuyển, thi tay nghề thuận lợi, vì quý nhân đứng xa mà đỡ đúng lúc con dao cần một cái bao.

11 Nam mệnh và nữ mệnh

Nam và nữ mệnh Kình Dương đều mạnh, cần học tiết chếẢnh minh họa cập nhật sau Kình Dương với nam mệnh và nữ mệnh
Nam và nữ mệnh Kình Dương đều mạnh, cần học tiết chế

Nam mệnh Kình Dương thường khí khái, gan góc, hợp nghề cứng và môi trường kỷ luật. Nếu đắc địa và có sao chế, đây là mẫu người dám xông pha, lập nghiệp nơi khó. Điều cần giữ là tiết chế nóng giận, tránh dùng sức mạnh sai chỗ.

Nữ mệnh Kình Dương cá tính, độc lập, không cam chịu, nhiều người giỏi giang quyết đoán. Mặt cần lưu ý là hôn nhân dễ va chạm nếu cả hai đều cứng, nên chọn bạn đời điềm tĩnh và học cách mềm mỏng đúng lúc.

12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Kình Dương

Kình Dương là sao bị sợ oan nhiều nhất trong sáu sát tinh, chỉ vì cái tên và vì chữ "hình thương" trong sách. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì, để quý vị khỏi lo hão.

Kình Dương không phải là "sao tai nạn" báo trước tai nạn

Kinh văn Tân Biên chép Kình Dương hãm địa thì "liều lĩnh hung bạo, tai họa thương tật". Đọc kỹ thì đó là một câu về tính khí dẫn tới hậu quả, không phải một lời tiên đoán về biến cố. Sách nói cái nóng và cái liều là gốc, tai họa là ngọn. Kinh nghiệm Trên lá số thật, người có Kình Dương mà điềm tĩnh, làm nghề có kỷ luật, tuân thủ quy trình thì phần lớn không có gì xảy ra cả; ngược lại người có Kình Dương mà phóng xe ẩu, nóng lên là cãi, thì đúng là hay xây xát. Sách không hề nói Kình Dương thì nhất định bị nạn, và Thầy cũng không bao giờ nói câu ấy với khách.

Mã Đầu Đới Kiếm không dính gì tới sao Thiên Mã

Suy luận Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất về Kình Dương và may thay lại là nhầm lẫn kiểm được bằng máy. Chữ "mã" trong tên cách chỉ cung Ngọ, vì Ngọ ứng với con ngựa trong mười hai con giáp. Còn sao Thiên Mã trong lá số chỉ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương không bao giờ tới. Chạy đủ sáu mươi cặp can chi hợp lệ thì Thiên Mã không có lấy một trường hợp nào đồng cung hay xung chiếu Kình Dương; nó chỉ tam hợp chiếu tới, và cũng chỉ trong mười tám trên sáu mươi trường hợp. Vậy nên thấy Thiên Mã nằm gần Kình Dương không có nghĩa là có cách Mã Đầu Đới Kiếm. Điều kiện thật của cách ấy chỉ có một: Kình Dương ở Ngọ, tức tuổi Bính hoặc tuổi Mậu.

"Kình Đà đồng cung" là một câu không thể đúng

Suy luận Người ta hay nói gộp "Kình Đà" như một cặp, rồi từ đó nói tiếp "Kình Đà đồng cung thì rất xấu". Cấu trúc an sao bác bỏ câu ấy: Kình Dương ở cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung kế theo chiều nghịch, hai sao cách nhau đúng hai cung với mọi tuổi can, nên chúng không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, và cũng không bao giờ tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất có thật giữa hai sao là cùng kẹp một cung, và cung bị kẹp bao giờ cũng là cung có Lộc Tồn. Khi ai đó nói "Kình Đà hội họp", điều họ muốn nói thực ra là thế giáp, xin cứ đọc đúng như vậy.

Kình Dương hãm địa không đồng nghĩa với số khổ

Suy luận Kình Dương hãm là chuyện đã bị khóa từ khi sinh ra: cứ tuổi can dương là Kình hãm, không ai chọn được. Nếu hãm mà đồng nghĩa với khổ thì một nửa nhân loại phải khổ, điều đó vô lý. Kinh nghiệm Cái mà hãm địa thật sự nói là con dao chưa có bao: sức mạnh có sẵn nhưng chưa có khuôn khổ để dùng. Bao ấy đến từ chính tinh cùng cung, từ Lộc Tồn kề bên, từ nghề nghiệp và từ kỷ luật tự rèn. Thầy đã gặp nhiều người tuổi Bính, tuổi Mậu, Kình Dương hãm ở Ngọ, mà làm bác sĩ ngoại khoa hoặc sĩ quan, đời rất vững vàng. Cùng một lá số, nghề khác nhau thì kết quả khác nhau, đó mới là chỗ con người can dự được.

Kình Dương không "hóa Kỵ", và cũng không có tuổi nào làm nó hóa Lộc

Kinh văn Thỉnh thoảng có người hỏi Thầy "tuổi nào thì Kình Dương hóa Kỵ". Câu trả lời là không tuổi nào cả. Bảng Tứ Hóa chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm. Kình Dương không có tên trong đó. Nó chỉ chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa qua chính tinh đứng cùng cung hoặc chiếu tới. Nói "Kình Dương hóa Kỵ" là nói sai tên gọi, dù ý người nói có thể đúng, tức là Kình Dương gặp một chính tinh đang hóa Kỵ.

13 Lá Số Minh Họa: Đọc Kình Dương Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Bính, Tử Vi an tại Hợi, Mệnh an tại Ngọ. Đã chọn tuổi Bính thì Lộc Tồn tất phải ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn, không có lựa chọn nào khác. Chính tinh và Tứ Hóa lấy đúng theo bảng an sao của thayungkhiem.vn.

Bước một: Kình Dương đóng đâu, đắc hay hãm

Kình Dương đóng tại Ngọ, đúng ngay cung Mệnh. Ngọ thuộc Tứ Chính nên theo Tân Biên đây là đất hãm của Kình Dương, và điều đó đã bị khóa từ trước bởi tuổi Bính là can dương. Nhưng Ngọ cũng chính là đất của cách Mã Đầu Đới Kiếm, mà cách này chỉ có thể thuộc về tuổi Bính hoặc tuổi Mậu. Cùng một cung, vừa mang tiếng hãm vừa mang một cách nổi tiếng: đây đúng là chỗ cần đọc kỹ chứ không kết luận nhanh. Cung Mệnh có Thiên Đồng và Thái Âm cùng đóng, Thiên Đồng là phúc tinh, tức con dao này có sẵn một cái bao ngay bên cạnh.

Bước hai: tuổi can rải Tứ Hóa ra đâu

Tuổi Bính có bộ Tứ Hóa là Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ. Đặt lên lá số này thì Thiên Đồng hóa Lộc rơi đúng vào cung Mệnh, ngồi cùng cung với Kình Dương. Đây là thế đẹp nhất mà Mã Đầu Đới Kiếm có thể có: phúc tinh mang Lộc làm bao cho lưỡi kiếm, người ấy quyết liệt mà có phần thưởng rõ ràng, không phải quyết liệt suông. Thiên Cơ hóa Quyền nằm ở Tuất cùng Thiên Lương, tức cung Quan Lộc, nên nghề nghiệp là nơi người này nắm quyền và bày mưu tính kế. Liêm Trinh hóa Kỵ nằm ở Mão cùng Phá Quân, tức cung Tử Tức, đó là chỗ cần giữ. Lộc Tồn tuổi Bính ở Tỵ, rơi vào cung Huynh Đệ cùng Thiên Phủ, và vì Lộc Tồn luôn kề Kình Dương nên nó giáp ngay bên cạnh cung Mệnh, đúng như quy tắc cấu trúc đã nói: Lộc Tồn không bao giờ ngồi chung với Kình Dương, chỉ đứng sát bên.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì, hai bên giáp gì

Cung Mệnh tại Ngọ có tam hợp là Dần và Tuất. Dần là cung Tài Bạch và đang trống nên phải mượn sao của cung đối diện là Thân, tức mượn bộ Thái Dương Cự Môn ở cung Phúc Đức. Tuất là cung Quan Lộc có Thiên Cơ hóa Quyền cùng Thiên Lương chiếu về. Cung xung chiếu là Tý, tức cung Thiên Di, cũng trống, phải mượn chính cung Mệnh. Hai bên giáp Mệnh: bên Tỵ là Thiên Phủ cùng Lộc Tồn, bên Mùi là Vũ Khúc cùng Tham Lang. Đọc gộp lại thành một câu: một lưỡi dao ở giữa, một bên là kho lẫm có lộc, một bên là tiền bạc và ham muốn, phía trước là quyền và mưu ở nghề nghiệp. Người này hợp nghề vừa phải quyết đoán vừa phải tính toán, và cái phúc của họ nằm ở chỗ Lộc Tồn cùng Thiên Đồng hóa Lộc đứng kèm hai bên con dao. Còn Đà La ở Thìn, tức cung Phu Thê đang trống, cho biết chỗ trì trệ của đời này nằm ở đường tình duyên chứ không nằm ở nghề.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên lá số, đổi sang tuổi Mậu. Kình Dương vẫn ở Ngọ, cách Mã Đầu Đới Kiếm vẫn còn, vì Bính và Mậu cùng cho Lộc Tồn ở Tỵ. Nhưng Tứ Hóa đổi hẳn: Tham Lang hóa Lộc ở Mùi thuộc cung Phụ Mẫu, Thái Âm hóa Quyền rơi ngay vào cung Mệnh, Thiên Cơ hóa Kỵ ở Tuất thuộc cung Quan Lộc. Thiên Đồng mất Lộc, nên lưỡi kiếm không còn bao mà lại thêm Quyền: người cứng hơn, quyết liệt hơn, mà nghề nghiệp thì bị Thiên Cơ hóa Kỵ làm cho nhiều tính toán rối. Cùng một cách cục, tuổi Mậu đọc nặng hơn tuổi Bính rõ rệt.
  • Giữ nguyên lá số, đổi sang tuổi Đinh. Đinh là can âm nên cả cụm ba sao dời chỗ: Lộc Tồn về Ngọ, Kình Dương sang Mùi, Đà La sang Tỵ. Cung Mệnh không còn con dao mà lại có Lộc Tồn, cách Mã Đầu Đới Kiếm biến mất hoàn toàn. Kình Dương sang Mùi là đất Tứ Mộ nên từ hãm chuyển thành đắc, và rơi vào cung Phụ Mẫu cùng Vũ Khúc Tham Lang. Tứ Hóa tuổi Đinh lại cho Thái Âm hóa Lộc và Thiên Đồng hóa Quyền cùng đóng tại Mệnh, còn Cự Môn hóa Kỵ ở Thân thuộc cung Phúc Đức. Đây là một đời hoàn toàn khác: hiền hơn, có lộc hơn, cái sắc bén chuyển sang chuyện cha mẹ và nhà cửa.
  • Giữ nguyên lá số, đổi sang tuổi Nhâm. Lộc Tồn về Hợi, Kình Dương sang Tý, Đà La sang Tuất. Kình Dương lúc này ở cung Thiên Di và xung chiếu thẳng vào cung Mệnh, đúng thế "dao ở bên ngoài": bản thân người ấy không hung mà hoàn cảnh bên ngoài bắt phải cứng, ra đường hay va chạm. Đà La vào Tuất tức cung Quan Lộc, nghề nghiệp có phần trì trệ dây dưa. Tứ Hóa tuổi Nhâm cho Thiên Lương hóa Lộc ở Quan Lộc, Tử Vi hóa Quyền ở Hợi thuộc cung Nô Bộc, Vũ Khúc hóa Kỵ ở Mùi thuộc cung Phụ Mẫu. Cùng một bố cục chính tinh, mà đổi một chữ can là đổi cả thế trận của ba sát tinh.

Đó là lý do bài này nhắc đi nhắc lại rằng Kình Dương phải đọc cùng tuổi can, cùng Lộc Tồn và cùng chính tinh. Muốn thấy Kình Dương của riêng quý vị đóng cung nào, đắc hay hãm, đi với sao nào, hãy an lá số trên thayungkhiem.vn rồi bấm vào sao Kình Dương trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, mức đắc hãm và Tứ Hóa của riêng mình.

14 Lời khuyên và cách hóa giải

Hóa giải và phát huyẢnh minh họa cập nhật sau Lời khuyên và cách hóa giải sao Kình Dương
Kình Dương là sát tinh, việc cần làm là hướng cái sắc bén vào đúng chỗ

Với sát tinh, hóa giải không có nghĩa là sợ hãi, mà là biết đặt cái khí quyết liệt vào đúng nơi và giữ cho nó không quay lại làm hại mình.

  • Chọn nghề dùng tới sự sắc bén. Quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật, nghề cạnh tranh là nơi Kình Dương phát huy thay vì gây họa.
  • Tập tiết chế nóng giận. Phần lớn tai họa của sao này đến từ một phút bốc đồng; chậm lại một nhịp là hóa giải được rất nhiều.
  • Đề phòng thương tích. Cẩn trọng dao kéo, xe cộ, vật sắc nhọn, nhất là khi Kình Dương ở Tật Ách hoặc gặp năm hạn xấu.
  • Tìm chính tinh sáng và sao lành. Trong lá số, Kình Dương cạnh Tử Phủ Tướng hay Lộc Tồn sẽ bớt hung rất nhiều; nên xem cả cục diện.
  • Nhờ người có chuyên môn luận kỹ. Mức lành dữ của Kình Dương phụ thuộc vị trí và bộ sao, không nên tự suy đoán một chiều.

Gợi ý: người có Kình Dương nổi bật nên rèn cả sự điềm tĩnh và một nghề có kỷ luật rõ ràng, để cái cương của mình thành lợi thế chứ không thành rủi ro.

15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý ngũ hành và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Kình Dương còn gọi Dương Nhận: sát tinh, hình tinh, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim đới Hỏa, chủ sát phạt và hình thương; đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì can đảm dũng mãnh; hãm địa tại bốn cung Tứ Chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì liều lĩnh hung bạo, tai họa thương tật. Bảng đắc hãm ở mục 4 của bài lấy nguyên theo sách này.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), phần cách cục: cách Mã Đầu Đới Kiếm với câu "Mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương", và thế Dương Đà giáp Kỵ được xếp vào loại bại cục. Hai câu ấy là toàn bộ phần phú mà bài này dẫn; các cách cục còn lại chỉ nêu điều kiện thành và phá, không gán phú, vì Thầy không tìm được câu gốc đủ tin cậy.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng vị trí Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo mười can ở mục 2 sinh trực tiếp từ thuật toán đang chạy trên trang an lá số. Các khẳng định cấu trúc đều đã chạy đủ mười can và mười hai thế Tử Vi trước khi viết, gồm: Kình Dương chỉ an tại tám cung Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất và không bao giờ tới Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tuổi can dương thì Kình Dương luôn hãm ở Tứ Chính còn Đà La luôn đắc ở Tứ Mộ, tuổi can âm thì ngược lại; Kình Dương và Đà La luôn cách nhau đúng hai cung và cung bị kẹp luôn là cung có Lộc Tồn; Kình Dương không bao giờ đồng cung hay xung chiếu Lộc Tồn, Thiên Khôi, Thiên Việt và Thiên Mã, riêng với Thiên Mã thì đã chạy đủ sáu mươi cặp can chi hợp lệ; và cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Kình Dương ở cả tám cung. Lá số minh họa ở mục 13 dựng bằng chính thuật toán ấy.
  • Bảng Tứ Hóa ở mục 6 chép đúng bảng máy chủ đang an sao (Nam phái), có ghi rõ chỗ Bắc phái khác ở tuổi Canh và tuổi Nhâm.

Lưu ý về dị bản: mức đắc hãm của Kình Dương giữa các sách có chỗ chép khác nhau, một số bản xếp Kình Dương tại Ngọ là "hãm nhưng thành cách" thay vì hãm thuần túy, một số bản Trung Hoa dùng thang miếu vượng đắc lợi bình hãm chi tiết hơn thang đắc hãm của Tân Biên. Bảng Tứ Hóa tuổi Canh và tuổi Nhâm cũng khác nhau giữa Nam phái và Bắc phái, kéo theo tổ hợp Kình Dương gặp Hóa Kỵ đổi theo. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cho phần đặc tính và mức đắc hãm của Kình Dương, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư qua bản dịch của Vũ Tài Lục cho phần cách cục, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao và các bảng vị trí thì kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Mục tiêu là giúp quý vị phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm của Thầy, đâu là suy luận từ nguyên lý, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Kình Dương

Kình Dương, còn gọi Dương Nhận, là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim. Đây là hình tinh chủ sát phạt, hình thương, sự cương quyết và bạo liệt, ví như một lưỡi dao sắc trong lá số.

Kình Dương đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, khi đó thành can đảm dũng mãnh. Nó hãm tại bốn cung Tứ Chính là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, dễ thành liều lĩnh và tai họa. Kình Dương không an ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

Đó là cách Kình Dương cư Ngọ, ví như thanh kiếm đeo bên đầu ngựa. Người hợp cách thường uy mãnh, có chí lớn, lập công nơi gian khó, nhưng đời cũng nhiều hiểm nguy nên cần bản lĩnh và phúc đức.

Tùy vị trí và sao đi cùng. Đắc địa và gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng chế phục thì thành uy quyền, hợp võ nghiệp. Hãm địa hoặc gặp Thất Sát, Phá Quân, Hỏa Linh thì dễ chuốc thị phi, thương tích.

Hướng cái sắc bén vào nghề có kỷ luật như quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật; tập tiết chế nóng giận; đề phòng thương tích; và xem cả lá số để biết Kình Dương có được chính tinh sáng cùng sao lành chế ngự hay không.

Kiểm bằng thuật toán an sao thì quy luật rất gọn: năm tuổi can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì Kình Dương luôn rơi vào bốn cung Tứ Chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức luôn hãm địa. Năm tuổi can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Kình Dương luôn rơi vào bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức luôn đắc địa. Không có tuổi nào lệch ra ngoài quy luật này, và cũng vì thế đắc hay hãm của Kình Dương là điều đã bị khóa từ khi sinh, không đổi được.

Không bao giờ. Kình Dương an tại cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La an tại cung kế theo chiều nghịch, nên hai sao luôn cách nhau đúng hai cung với cả mười thiên can. Vì cách nhau hai cung nên chúng không thể đồng cung, không thể xung chiếu và cũng không thể tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất có thật giữa Kình Dương và Đà La là cùng kẹp một cung, và cung bị kẹp bao giờ cũng chính là cung có Lộc Tồn.

Không phải. Chữ mã trong tên cách chỉ cung Ngọ, vì Ngọ ứng với con ngựa trong mười hai con giáp. Sao Thiên Mã chỉ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương không bao giờ tới, nên hai sao ấy vĩnh viễn không đồng cung và cũng không xung chiếu nhau. Điều kiện thật của cách Mã Đầu Đới Kiếm chỉ có một: Kình Dương đóng tại Ngọ, tức người tuổi Bính hoặc tuổi Mậu, và sách thường nêu thêm điều kiện gặp Thiên Đồng tại đó.

Không. Kình Dương không nằm trong bảng Tứ Hóa. Bảng ấy chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và thêm Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm. Kình Dương chỉ chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa qua chính tinh đứng cùng cung hoặc chiếu tới. Điều đáng chú ý là cả Kình Dương lẫn Tứ Hóa đều an theo can năm sinh, nên khi biết tuổi can là biết luôn bộ Tứ Hóa nào có thể gặp Kình Dương của người ấy.

Giống hệt cách an Kình Dương bản mệnh, chỉ đổi tham số: lấy can của năm định xem thay cho can năm sinh, tìm lưu Lộc Tồn trước rồi cung kế theo chiều thuận là lưu Kình Dương, cung kế theo chiều nghịch là lưu Đà La. Năm can Giáp lưu Kình ở Mão, can Ất ở Thìn, can Bính và Mậu ở Ngọ, can Đinh và Kỷ ở Mùi, can Canh ở Dậu, can Tân ở Tuất, can Nhâm ở Tý, can Quý ở Sửu. Năm nào lưu Kình trùng đúng cung Kình bản mệnh thì gọi là Kình chồng Kình, là năm đậm nhất của sao này trong chu kỳ mười năm.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.