1 Sao Địa Kiếp là gì

Địa Kiếp là một trong sáu sát tinh, ngũ hành Hỏa, đi cặp với Địa Không thành bộ Không Kiếp. Nếu Địa Không thiên về hư hao tinh thần và ý tưởng, thì Địa Kiếp thiên về tổn thất vật chất: mất của, hao tiền, bị cướp đoạt theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thường tới một cách bất ngờ.
Người xưa coi Địa Kiếp là tay cướp trong lá số: nó lấy đi những gì người ta vất vả gom góp, nên rất ngại khi đóng vào các cung của cải.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Địa Kiếp an theo giờ sinh, khởi từ cung Hợi cho giờ Tý rồi đi thuận chiều kim đồng hồ, mỗi giờ tiến một cung. Địa Không cũng khởi từ Hợi cho giờ Tý nhưng đi ngược. Hai sao vì thế sinh ra từ cùng một gốc rồi tách nhau ra hai phía, như hai cánh cửa mở về hai hướng. Cả bộ Không Kiếp không dính gì tới can năm, chi năm hay tháng sinh: chỉ một mình giờ sinh quyết định. Đây là lý do vì sao hai người sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm mà lệch giờ thì một người có Không Kiếp thủ Mệnh, người kia lại sạch bóng hai sao ấy trong tam phương.
Suy luận Vì cách an cứng như vậy, có những điều về Địa Kiếp không bao giờ đổi, bất kể tuổi nào, tháng nào, nam hay nữ. Nắm được chúng thì khi cầm lá số, chỉ cần biết giờ sinh là đã đọc được ngay thế đứng của cả bộ Không Kiếp, không cần tra bảng.
| Giờ sinh | Địa Không | Địa Kiếp |
|---|---|---|
| Giờ Tý | Hợi | Hợi |
| Giờ Sửu | Tuất | Tý |
| Giờ Dần | Dậu | Sửu |
| Giờ Mão | Thân | Dần |
| Giờ Thìn | Mùi | Mão |
| Giờ Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Giờ Ngọ | Tỵ | Tỵ |
| Giờ Mùi | Thìn | Ngọ |
| Giờ Thân | Mão | Mùi |
| Giờ Dậu | Dần | Thân |
| Giờ Tuất | Sửu | Dậu |
| Giờ Hợi | Tý | Tuất |
Suy luận Đọc bảng trên theo cột dọc thì thấy Địa Kiếp trượt thuận từ Hợi sang Tý, Sửu, Dần cho tới Tuất; Địa Không trượt ngược từ Hợi về Tuất, Dậu, Thân cho tới Tý. Hai đường ấy gặp nhau đúng hai lần: tại Hợi khi sinh giờ Tý, và tại Tỵ khi sinh giờ Ngọ. Cộng chỉ số hai cung lại thì lúc nào cũng ra một hằng số, nghĩa là bộ Không Kiếp luôn đối xứng qua trục Tỵ Hợi. Trục ấy là xương sống của toàn bộ cách cục Không Kiếp, và cũng là lý do vì sao mọi cách cục đáng kể của hai sao này đều rơi vào Tỵ hoặc Hợi chứ không phải cung nào khác.
Sáu điều bất biến của Địa Kiếp
- Địa Kiếp an được đủ cả mười hai cung. Khác nhiều phụ tinh chỉ tới được vài cung, Địa Kiếp có mặt ở cả mười hai địa chi, mỗi giờ sinh một cung, không cung nào là vùng cấm. Cho nên không có lá số nào "không có Địa Kiếp"; chỉ có Địa Kiếp đứng chỗ nào và có chạm vào Mệnh Thân hay không.
- Địa Kiếp và Địa Không chỉ đồng cung tại hai chỗ: Hợi khi sinh giờ Tý, Tỵ khi sinh giờ Ngọ. Ngoài hai giờ ấy, hai sao dứt khoát nằm hai cung khác nhau. Ai nói "Không Kiếp đồng cung tại Dần" hay "tại Sửu" là đã an sai lá số.
- Địa Kiếp và Địa Không chỉ giáp được đúng hai cung trong cả lá số: Tỵ và Hợi. Không Kiếp giáp Hợi khi sinh giờ Sửu (Kiếp tại Tý, Không tại Tuất) hoặc giờ Hợi (Kiếp tại Tuất, Không tại Tý); giáp Tỵ khi sinh giờ Tỵ (Kiếp tại Thìn, Không tại Ngọ) hoặc giờ Mùi (Kiếp tại Ngọ, Không tại Thìn). Cung nào khác cũng không thể bị bộ này kẹp hai bên.
- Khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn cung. Vì thế Không Kiếp chỉ có thể ở một trong bốn thế: đồng cung, giáp một cung ở giữa, tam hợp chiếu nhau, hoặc xung chiếu nhau. Hai sao không bao giờ nằm ở hai cung liền kề nhau. Xung chiếu xảy ra khi sinh giờ Mão (Kiếp Dần, Không Thân) và giờ Dậu (Kiếp Thân, Không Dần); tam hợp chiếu khi sinh giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất.
- Địa Kiếp không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với Văn Xương và Văn Khúc. Văn Khúc cũng an theo giờ sinh và luôn cách Địa Kiếp đúng bảy cung, không đổi. Văn Xương thì luôn cách Địa Kiếp một số lẻ cung. Mà đồng cung là lệch không cung, tam hợp là lệch bốn hoặc tám, xung chiếu là lệch sáu, đều là số chẵn. Vậy nên câu "Địa Kiếp gặp Xương Khúc thành người tài mà bạc mệnh" là nói về thế giáp hoặc thế chiếu gián tiếp qua cung khác, không thể là đồng cung.
- Địa Kiếp và Địa Không luôn cùng đắc hoặc cùng hãm. Sách xếp hai sao đắc địa tại bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tra bảng thì Địa Kiếp rơi vào Tứ Sinh đúng khi sinh giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu, và trong bốn giờ ấy Địa Không cũng rơi vào Tứ Sinh. Nghĩa là chỉ người sinh bốn giờ chính Tý Mão Ngọ Dậu mới có bộ Không Kiếp đắc địa; tám giờ còn lại thì cả hai sao đều hãm. Không có trường hợp một sao đắc một sao hãm.
Suy luận Điều thứ sáu đáng để dừng lại. Người xưa nói Không Kiếp đắc địa Tứ Sinh thì hoạnh phát hoạnh phá, làm lại được từ tay trắng; hãm địa thì phá tán, sinh bệnh tật tai họa. Nay quy chiếu về giờ sinh thì lời ấy hóa ra rất gọn: sinh bốn giờ chính thì bộ Không Kiếp của quý vị thuộc loại "phá để dựng", sinh tám giờ còn lại thì thuộc loại "phá là mất". Đây không phải một quy tắc mới mà chỉ là dịch lời sách sang ngôn ngữ giờ sinh, nhưng Thầy chưa thấy sách nào diễn đạt theo hướng này nên vẫn gắn thẻ Suy luận, quý vị nên coi là một cách nhớ tiện chứ chưa phải kinh văn.
| Giờ sinh | Địa Kiếp | Địa Không | Thế giữa hai sao | Đắc hay hãm |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Hợi | Hợi | Đồng cung tại Hợi, lực dồn vào một cung | Cả hai đắc |
| Sửu | Tý | Tuất | Giáp cung Hợi ở giữa | Cả hai hãm |
| Dần | Sửu | Dậu | Tam hợp chiếu nhau | Cả hai hãm |
| Mão | Dần | Thân | Xung chiếu nhau | Cả hai đắc |
| Thìn | Mão | Mùi | Tam hợp chiếu nhau | Cả hai hãm |
| Tỵ | Thìn | Ngọ | Giáp cung Tỵ ở giữa | Cả hai hãm |
| Ngọ | Tỵ | Tỵ | Đồng cung tại Tỵ, lực dồn vào một cung | Cả hai đắc |
| Mùi | Ngọ | Thìn | Giáp cung Tỵ ở giữa | Cả hai hãm |
| Thân | Mùi | Mão | Tam hợp chiếu nhau | Cả hai hãm |
| Dậu | Thân | Dần | Xung chiếu nhau | Cả hai đắc |
| Tuất | Dậu | Sửu | Tam hợp chiếu nhau | Cả hai hãm |
| Hợi | Tuất | Tý | Giáp cung Hợi ở giữa | Cả hai hãm |
Kinh nghiệm Bảng này Thầy dùng như một cái thước nhanh khi mới cầm lá số. Nghe khách nói giờ sinh là đã biết bộ Không Kiếp của người ấy đang ở thế nào: dồn một chỗ, kẹp một cung, chiếu chéo hay đối mặt. Bốn thế cho bốn kiểu đời khác nhau. Thế đồng cung là mất nhiều nhưng mất một lần rồi thôi, dồn hết vào một lĩnh vực. Thế giáp là bị vây, cung ở giữa dù có sao gì cũng khó thở, đây là thế mà Thầy thấy khó gỡ nhất. Thế xung chiếu là hai đầu kéo nhau, đời có hai mảng đối lập rõ rệt, được bên này thì mất bên kia. Thế tam hợp là loãng nhất, hao mà rải đều, thường biểu hiện thành tiêu vặt không kiểm soát chứ không thành biến cố lớn.
Suy luận Còn một hệ quả nữa ít người để ý. Cung Mệnh an bằng cách khởi từ Dần đếm thuận tới tháng sinh rồi từ đó đếm ngược theo giờ sinh. Đem quy tắc ấy ghép với công thức an Địa Kiếp thì thấy: Địa Kiếp chỉ có thể thủ Mệnh khi người ta sinh vào tháng chẵn theo âm lịch, tức tháng 2, 4, 6, 8, 10 hoặc tháng 12; sinh tháng lẻ thì Địa Kiếp dù ở đâu cũng không rơi trúng cung Mệnh. Còn Địa Không thì gắt hơn nữa: nó chỉ thủ Mệnh được khi sinh tháng 10 âm lịch, bất kể giờ nào. Vì vậy trường hợp cả Không lẫn Kiếp cùng thủ Mệnh chỉ có đúng hai khả năng trong cả năm: sinh tháng 10 giờ Tý thì Mệnh tại Hợi có cả hai sao, sinh tháng 10 giờ Ngọ thì Mệnh tại Tỵ có cả hai sao. Đây là suy ra từ phép an, Thầy chưa tra được câu sách nào nói thẳng như vậy nên để thẻ Suy luận, nhưng quý vị có thể tự kiểm bằng chính công cụ an lá số của trang.
Kinh nghiệm Kết luận thực dụng của cả mục này: khi khách hỏi "tôi có bị Không Kiếp không", câu trả lời đúng không nằm ở tuổi, không nằm ở mệnh cục, mà nằm ở giờ sinh. Và vì giờ sinh là dữ kiện hay bị nhớ sai nhất trong bốn dữ kiện, nên trước khi luận nặng lời về Không Kiếp, Thầy luôn hỏi lại giờ sinh một lần nữa. Lệch một canh giờ là cả bộ Không Kiếp dời chỗ, cách cục đổi hẳn.
3 Đặc tính người có Địa Kiếp thủ Mệnh

Người có Địa Kiếp đóng Mệnh thường quyết liệt, dám nghĩ dám làm, không ngại phá bỏ cái cũ, có khi liều lĩnh. Họ không quá bám víu vật chất, đôi khi tiêu tán rồi lại làm lại. Mặt trái là tiền của khó giữ, hay gặp tổn thất bất ngờ, kế hoạch dễ đổ vỡ giữa chừng.
Địa Kiếp an theo giờ sinh, đối xứng với Địa Không. Khi đắc địa ở Tứ Sinh, cái phá ấy có thể thành hoạnh phát, làm lại từ tay trắng; khi hãm địa thì thành phá tán, hao tổn nặng.
4 Bảng đắc địa và hãm địa 12 cung
Cũng như Địa Không, Địa Kiếp đắc địa ở bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; các cung còn lại thì hung hãm, chủ phá tán.
| Cung địa chi | Trạng thái |
|---|---|
| Dần | Đắc |
| Thân | Đắc |
| Tỵ | Đắc |
| Hợi | Đắc |
| Tý | Hãm |
| Sửu | Hãm |
| Mão | Hãm |
| Thìn | Hãm |
| Ngọ | Hãm |
| Mùi | Hãm |
| Dậu | Hãm |
| Tuất | Hãm |
Lưu ý: Không Kiếp đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì có thể hoạnh phát hoạnh phá, làm lại từ tay trắng; rơi vào các cung khác thì bạo ngược, phá tán, dễ gây bệnh tật tai họa. Địa Kiếp đặc biệt ngại cung của cải.
5 Địa Kiếp hội cùng các chính tinh

Địa Kiếp là sát tinh nên phải xét chính tinh đi cùng. Gặp các sao tài như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn thì rất dễ hao tài, tan của, nên người xưa kiêng Không Kiếp ở cung Tài và Điền. Gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng thì cái phá được kìm lại, hướng vào sự cải cách có ích.
Khi đi cùng các sao biến động như Phá Quân, Thất Sát, Địa Kiếp làm tăng tính phá, đời nhiều thăng trầm, dựng rồi đổ. Nhưng ở Tứ Sinh và có chính tinh sáng, chính cái phá ấy lại giúp người ta dám làm lại và bứt phá bất ngờ.
6 Địa Kiếp Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can
Kinh văn Nói ngay cho rõ: Địa Kiếp không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi can nào làm Địa Kiếp hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Bảng Tứ Hóa của cả mười can chỉ phân cho các chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; Địa Kiếp và Địa Không đứng ngoài. Cho nên câu hỏi "tuổi nào Địa Kiếp hóa Kỵ" là câu hỏi đặt sai, và nếu quý vị nghe ai đó nói "Địa Kiếp hóa Kỵ" thì người ấy đang nói tắt về việc Địa Kiếp gặp một sao đang hóa Kỵ, chứ không phải bản thân Địa Kiếp hóa.
Suy luận Nhưng đứng ngoài Tứ Hóa không có nghĩa là không dính dáng. Ngược lại, Địa Kiếp là một trong những sao đổi nghĩa mạnh nhất theo Tứ Hóa của sao đi cùng. Bản thân nó chỉ là một lực lấy đi. Lấy đi cái gì, lấy nặng hay nhẹ, lấy rồi có trả lại không, hoàn toàn do sao đồng cung và trạng thái hóa của sao ấy quyết định. Bốn tình huống dưới đây là bốn tình huống Thầy gặp nhiều nhất khi luận.
Địa Kiếp gặp chính tinh hóa Lộc
Kinh nghiệm Đây là tổ hợp gây hiểu nhầm nhiều nhất, vì nhìn qua thì thấy một sao rất tốt và một sao rất xấu, người mới học hay tưởng là "hòa nhau". Thực tế trên lá số thì không hòa. Hóa Lộc là dòng tiền chảy tới, Địa Kiếp là chỗ rò trên đường ống. Tiền vẫn tới, có khi tới rất nhiều, nhưng tới bao nhiêu đi bấy nhiêu, cuối kỳ nhìn lại không thấy đọng. Người có tổ hợp này thường có doanh thu đẹp mà lợi nhuận mỏng, hoặc kiếm được món lớn rồi lập tức có việc lớn phải chi. Lộc càng mạnh thì cái hao càng lớn, vì có nhiều mới mất được nhiều. Thầy hay khuyên nhóm này đừng đo mình bằng con số kiếm được, hãy đo bằng con số giữ được sau mười hai tháng.
Suy luận Nếu Địa Kiếp không đồng cung mà chỉ tam hợp chiếu tới sao hóa Lộc thì cái rò nhẹ hơn nhiều, thường chỉ là tiêu pha rộng tay. Nếu Địa Kiếp xung chiếu sao hóa Lộc thì hay thấy dạng "được người này thì mất người kia", tiền vào từ một nguồn và ra theo một nguồn khác, hai bên gần cân nhau.
Địa Kiếp gặp chính tinh hóa Quyền
Kinh nghiệm Hóa Quyền là nắm giữ, là quyết. Địa Kiếp là bỏ, là phá. Hai lực ngược chiều đặt chung một cung sinh ra một mẫu người rất đặc trưng: quyết rất nhanh và quyết rất mạnh, kể cả quyết bỏ. Họ dám cắt lỗ, dám giải thể, dám sa thải, dám rời một vị trí đang yên ổn. Nếu chính tinh sáng sủa và có Tử Vi hay Thiên Phủ trong tam phương giữ nhịp thì đây là mẫu người cải tổ giỏi, được việc trong những chỗ rối. Nếu chính tinh hãm hoặc thêm Kình Đà Hỏa Linh thì thành ra phá ngang, đang tốt cũng đập đi làm lại, và người chịu thiệt thường là cấp dưới hoặc người nhà.
Địa Kiếp gặp chính tinh hóa Khoa
Suy luận Hóa Khoa là tiếng, là danh, là cái được ghi nhận. Địa Kiếp gặp Khoa thì cái mất thường không phải tiền mà là công trạng: làm mà người khác đứng tên, ý tưởng bị lấy mất, sản phẩm mình dựng lên rồi mang tên người khác. Thầy gặp không ít lá số nhóm này trong giới sáng tạo và nghiên cứu. Mặt an ủi là Hóa Khoa có tính che chở, thường giữ cho người ta không rơi vào cảnh mất trắng, mà chỉ mất phần vinh dự. Với nhóm này, việc giữ chứng cứ tác quyền và ghi ngày tháng công việc quan trọng hơn mọi phép hóa giải khác.
Địa Kiếp gặp chính tinh hóa Kỵ
Kinh nghiệm Đây là tổ hợp nặng nhất và cũng là chỗ Thầy dặn kỹ nhất. Hóa Kỵ đã là dính mắc, vướng víu, việc không dứt; Địa Kiếp thêm vào phần lấy đi. Hợp lại thành ra mất mà vẫn còn vướng: mất tiền rồi còn kiện tụng, mất người rồi còn nợ tình, mất việc rồi còn tiếng. Nếu tổ hợp này rơi vào Tài Bạch hoặc Điền Trạch thì phải rất kỹ chuyện đứng tên, bảo lãnh, hùn hạp. Nếu rơi vào Tật Ách thì nên khám định kỳ, đừng để việc nhỏ thành việc lớn. Cần nói rõ: nặng không có nghĩa là chắc chắn xảy ra. Nó nói rằng nếu quý vị bất cẩn ở đúng lĩnh vực ấy thì hậu quả sẽ dai hơn người khác, thế thôi.
Ba tuổi can tạo tổ hợp đáng chú ý nhất với Địa Kiếp
- Tuổi Bính và tuổi Mậu có Lộc Tồn an tại Tỵ. Mà Tỵ lại đúng là một trong hai cung mà Không Kiếp có thể đồng cung, khi sinh giờ Ngọ. Vậy người tuổi Bính hoặc Mậu mà sinh giờ Ngọ thì có Lộc Tồn, Địa Không, Địa Kiếp cùng một cung Tỵ. Kho vừa mở đã có hai tay lấy đứng sẵn trong kho.
- Tuổi Nhâm có Lộc Tồn an tại Hợi, là cung còn lại của trục. Người tuổi Nhâm sinh giờ Tý có Lộc Tồn cùng cả bộ Không Kiếp tại Hợi. Ngoài ra Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên người tuổi Nhâm sinh giờ Sửu hoặc giờ Hợi lại rơi vào thế khác mà cũng nặng: Lộc Tồn tại Hợi bị Không Kiếp giáp, đồng thời Địa Kiếp đứng chung cung với Kình Dương hoặc Đà La.
- Tuổi Quý có Lộc Tồn an tại Tý. Người tuổi Quý sinh giờ Sửu có Địa Kiếp tại Tý đồng cung Lộc Tồn, còn Địa Không tại Tuất. Đây là thế Lộc bị lấy trực diện mà không có sao thứ hai chia lửa, Thầy thấy hay ứng vào chuyện tiền để trong tay người khác.
Suy luận Ba trường hợp trên đều suy ra từ bảng an Lộc Tồn theo can năm ghép với bảng an Không Kiếp theo giờ sinh, quý vị có thể tự kiểm bằng công cụ an lá số. Ngoài ba tuổi ấy, Lộc Tồn vẫn có thể gặp riêng Địa Kiếp ở nhiều cung khác, nhưng chỉ ba tuổi này mới có khả năng gặp trọn cả bộ Không Kiếp trong cùng một cung hoặc bị nó kẹp.
Hóa bay tới từ cung khác
Suy luận Phép phi hóa nhìn Tứ Hóa như những mũi tên bắn từ cung này sang cung kia, chứ không chỉ đứng yên một chỗ. Với Địa Kiếp, điều đáng nói là cung có Địa Kiếp vừa là nơi nhận vừa là nơi phát. Khi một cung khác bắn Kỵ vào cung có Địa Kiếp, cái vướng của cung kia được Địa Kiếp chuyển thành mất mát cụ thể: Phu Thê bắn Kỵ vào Tài Bạch có Địa Kiếp thì chuyện vợ chồng ra thành chuyện tiền; Nô Bộc bắn Kỵ vào Điền Trạch có Địa Kiếp thì bạn bè làm hao nhà cửa. Ngược lại khi cung có Địa Kiếp tự phát Kỵ đi nơi khác thì nó thường mang theo tính "dứt": phát sang Phu Thê là dứt tình, phát sang Quan Lộc là bỏ nghề, phát sang Điền Trạch là bán nhà.
Kinh nghiệm Thầy nhấn mạnh một điều để quý vị khỏi lo quá: Địa Kiếp không tự sinh ra biến cố. Nó là cái cửa. Có dòng chảy đi qua thì nó mở, không có gì chảy qua thì nó chỉ là một cái cửa để không. Rất nhiều lá số có Địa Kiếp ở Tài Bạch mà cả đời không mất mát gì đáng kể, đơn giản vì cung ấy không có sao nào hóa, không có vận nào chạm, và người ấy sống cần kiệm. Đọc Địa Kiếp mà không đọc Tứ Hóa và không đọc vận thì mới chỉ đọc được cái cửa, chưa đọc được có ai đi qua cửa hay không.
7 Địa Kiếp tại 12 cung chức

Địa Kiếp đóng ở cung nào thì gieo sự tổn thất và cướp đoạt vào lĩnh vực đó. Sao này ngại nhất các cung liên quan tới của cải.
| Cung | Khi Địa Kiếp đắc địa hoặc gặp cát tinh | Khi Địa Kiếp hãm địa hoặc gặp hung tinh | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Dám bỏ cái cũ, không tiếc của, khởi sự lại được nhiều lần; tính quyết đoán, coi thất bại là học phí. | Liều, hay tự phá thành quả của mình, giữ gì cũng không bền; dễ tin người rồi mất của. | Chỉ sinh tháng chẵn mới có Địa Kiếp thủ Mệnh. Có Tử Vi hoặc Thiên Phủ đồng cung thì cái phá được kìm; thêm Kình Đà Hỏa Linh thì thành phá ngang. |
| Huynh Đệ | Anh em mỗi người một ngả nhưng không oán nhau; cộng sự đến rồi đi mà chia tay êm. | Anh em hoặc cộng sự làm hao của mình; hùn hạp dễ tan, người rút vốn giữa chừng. | Địa Kiếp cùng Hóa Kỵ tại đây thì rất ngại chuyện đứng tên hộ và vay mượn giữa người thân. |
| Phu Thê | Duyên đến muộn mà chắc; hợp người từng qua đổ vỡ, biết trân trọng cái đang có. | Tình duyên tan hợp bất ngờ, đang yên thì đứt; hôn nhân hao tổn cả tình lẫn của. | Không Kiếp giáp Phu Thê là thế bị vây, hay ứng vào chuyện người ngoài xen vào. Có Hồng Đào Riêu thì thêm phần rối. |
| Tử Tức | Con cái tự lập sớm, đi xa lập nghiệp, không dựa cha mẹ. | Con hiếm hoặc muộn, nuôi con tốn kém, cha con ít gần nhau. | Địa Kiếp tại đây gặp sao hóa Kỵ thì nên kiên nhẫn chuyện con cái, tránh nóng vội can thiệp. |
| Tài Bạch | Tiền vào bằng đường bất ngờ, hợp nghề ăn theo biến động; mất rồi kiếm lại được. | Tiền khó đọng, đầu tư hay tan, dễ bị lừa hoặc mất do người khác gây ra. | Đây là cung Địa Kiếp ngại nhất. Gặp Vũ Khúc, Thiên Phủ hay Lộc Tồn tại đây là thế kho bị trộm, phải rất kỹ chuyện giữ và ủy quyền. |
| Tật Ách | Bệnh đến nhanh đi nhanh, chữa dứt điểm được; thể trạng phục hồi tốt. | Tai nạn bất ngờ, thương tổn do ngoại lực; bệnh phát đột ngột không báo trước. | Địa Kiếp cùng Kình Dương hoặc Thiên Hình tại Tật Ách thì lưu ý va chạm, dao kéo, đi lại. Cần khám định kỳ thay vì đợi có triệu chứng. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp cơ hội đổi đời, hợp đi xa lập nghiệp, càng xa quê càng nên việc. | Ra ngoài dễ mất của, bị lợi dụng; đi xa hay gặp trắc trở, hành lý giấy tờ dễ thất lạc. | Địa Kiếp tại Thiên Di xung chiếu Mệnh cũng nặng gần bằng đồng cung, vì Thiên Di là cung đối diện Mệnh. |
| Nô Bộc | Bạn bè thay đổi nhiều nhưng lọc ra được người thật; cấp dưới trẻ, năng động. | Bị bạn bè hoặc người dưới làm hao của, mang tiếng; giúp người rồi bị quay lại. | Địa Kiếp tại Nô Bộc mà cung Tài Bạch có Lộc thì hay ứng vào chuyện cho vay không đòi được. |
| Quan Lộc | Hợp nghề cải cách, phá cũ dựng mới, xử lý khủng hoảng, thanh lý tái cấu trúc. | Sự nghiệp đứt đoạn, đang lên thì gãy; hay đổi nghề, mỗi lần đổi lại mất vốn liếng cũ. | Địa Kiếp tại Quan Lộc trong đại vận thường ứng vào một lần đổi nghề lớn. Có Hóa Quyền thì đổi chủ động, có Hóa Kỵ thì đổi bị động. |
| Điền Trạch | Nhà cửa thay đổi theo hướng tốt hơn, biết bán đúng lúc, không ôm tài sản chết. | Nhà đất hao hụt, phải bán trong thế bị động; chỗ ở không yên, sửa chữa tốn kém. | Cùng với Tài Bạch, đây là cung sách kiêng nhất. Không Kiếp giáp Điền Trạch còn ngại hơn một sao đóng trong cung. |
| Phúc Đức | Tâm thoáng, không chấp được mất, hợp đường tu học và thiện nguyện. | Trong lòng hay trống trải, làm nhiều mà không thấy đủ; phúc phần hao vì tiêu tán. | Địa Kiếp tại Phúc Đức là chỗ hiếm hoi mà sao này có mặt tốt rõ, vì buông bỏ vốn là việc của cung Phúc. |
| Phụ Mẫu | Sớm tự lập, không dựa cha mẹ mà vẫn hiếu thuận; học được từ cái khó của gia đình. | Duyên với cha mẹ mỏng, xa cách sớm; gia sản không giữ được hoặc không có phần. | Địa Kiếp tại Phụ Mẫu gặp sao hóa Kỵ thì lưu ý giấy tờ thừa kế và sức khỏe người trên. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng. Ba điều cần nhớ khi tra bảng trên. Thứ nhất, đừng đọc một dòng rồi kết luận. Địa Kiếp ở Tài Bạch mà cung Tài ấy có Thiên Phủ và Lộc Tồn thì nặng, nhưng cũng Địa Kiếp ở Tài Bạch mà cung ấy trống trơn phải mượn sao cung đối thì nhẹ hơn hẳn, vì không có gì trong kho để mà lấy. Thứ hai, cột giữa không phải là lời tiên đoán mà là danh sách chỗ hở cần vá. Người biết trước mình hở ở đâu thì cái hở ấy phần lớn không thành chuyện. Thứ ba, cung Phúc Đức là ngoại lệ đáng nhớ nhất trong cả mười hai dòng: ở mọi cung khác, tính buông bỏ của Địa Kiếp là điểm trừ, riêng ở cung Phúc nó lại là điểm cộng, vì cung Phúc vốn đo mức thảnh thơi trong lòng chứ không đo tài sản. Suy luận Thầy chưa thấy sách nào nói rõ ý này nên gắn thẻ Suy luận, nhưng trên lá số thật thì nhóm Địa Kiếp cư Phúc Đức là nhóm ít than vãn nhất mà Thầy từng luận.
8 Các cách cục và điều kiện thành cách

Địa Kiếp và Địa Không cùng giáp hoặc cùng hội Mệnh tạo bộ Không Kiếp, một trong những bộ sát tinh đáng ngại nhất, nhất là ở Tài và Điền vì chủ hao tán. Tuy nhiên ở Tứ Sinh và đi cùng chính tinh sáng, bộ này lại có thể chủ hoạnh phát, tức phát bất ngờ từ tay trắng.
Vì vậy Không Kiếp là bộ sao mà ý nghĩa rất phụ thuộc hoàn cảnh: với người giữ của thì là tai họa, với người khởi nghiệp dám làm lại thì đôi khi lại là động lực bứt phá. Cần luận thận trọng theo vị trí và bộ sao.
Kinh nghiệm Trước khi vào từng cách, xin nói rõ một điều về nguồn. Địa Kiếp là phụ tinh, và trong hai bộ sách mà trang này dẫn là Tử Vi Đẩu Số Tân Biên và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, phần Không Kiếp được viết gọn, chủ yếu ở mục đặc tính các sao chứ không có một chương cách cục riêng nhiều câu phú như các chính tinh. Vì thế Thầy không dẫn câu phú nào cho các cách dưới đây: những câu phú về Không Kiếp lưu truyền trên mạng thì nhiều, nhưng Thầy chưa đối chiếu được nguyên văn trong hai bộ sách ấy nên không đưa vào. Điều kiện thành cách dưới đây lấy từ phần đặc tính sao trong Tân Biên, từ cấu trúc an sao đã kiểm bằng thuật toán, và từ kinh nghiệm luận của Thầy; mỗi phần đều gắn thẻ tương ứng để quý vị biết mình đang đọc tầng nào.
Không Kiếp đồng cung tại Tỵ hoặc Hợi
Suy luận Thành cách: sinh giờ Tý thì cả Địa Không lẫn Địa Kiếp cùng an tại Hợi; sinh giờ Ngọ thì cả hai cùng an tại Tỵ. Không còn khả năng nào khác, đây là kết quả tính đủ mười hai giờ bằng thuật toán an sao của trang. Cách này mạnh vì hai sát tinh dồn hết lực vào một cung, mà lại đúng vào Tứ Sinh nên cả hai cùng ở thế đắc.
Kinh văn Đủ đẹp: Tân Biên chép Không Kiếp đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì người thâm trầm, có thể hoạnh phát hoạnh phá, làm lại từ tay trắng. Nghĩa là ở thế đồng cung tại Tỵ hoặc Hợi, nếu cung ấy lại có chính tinh sáng sủa như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng đứng cùng, hoặc có Tử Phủ trong tam phương giữ nhịp, thì cái phá của bộ Không Kiếp chuyển thành sức bứt phá. Kinh nghiệm Nhóm này Thầy hay gặp trong những người làm nghề gắn với biến động: cứu doanh nghiệp, tái cấu trúc, mua bán tài sản khó, làm việc ở nơi mà người khác bỏ chạy.
Kinh văn Đáng ngại: cũng Tân Biên chép, khi hãm địa thì Không Kiếp chủ bạo ngược, phá tán, gây bệnh tật tai họa. Với riêng thế đồng cung thì phần đáng ngại nằm ở chỗ khác: lực dồn một cung nghĩa là lĩnh vực của cung ấy chịu trọn. Không Kiếp đồng cung tại Tài Bạch thì tiền bạc là chỗ chịu hết; đồng cung tại Phu Thê thì hôn nhân chịu hết. Không có chuyện chia đều cho các mảng khác của đời.
Kinh nghiệm Phá cách: thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh vào cùng cung là sát chồng sát, khi ấy phần hoạnh phát gần như mất, chỉ còn phần hoạnh phá. Thêm một sao đang hóa Kỵ vào cung ấy cũng vậy. Giải cách: có Tử Vi hoặc Thiên Phủ đồng cung là cách giải mạnh nhất, vì hai sao ấy tính chất là ngôi vị và kho tàng, đủ sức đứng vững trước lực phá. Có Hóa Khoa trong cung hoặc chiếu tới cũng đỡ được một phần, vì Khoa có tính che chở và làm chậm.
Không Kiếp giáp Mệnh
Suy luận Thành cách: hai sao đứng hai cung liền kề kẹp cung Mệnh ở giữa. Tính đủ mười hai giờ thì cách này chỉ xảy ra khi cung Mệnh nằm tại Hợi hoặc Tỵ, không cung nào khác: giáp Hợi khi sinh giờ Sửu hoặc giờ Hợi, giáp Tỵ khi sinh giờ Tỵ hoặc giờ Mùi. Đây là một trong những phát hiện đáng giá nhất khi đem thuật toán ra kiểm: rất nhiều nơi nói về cách Không Kiếp giáp Mệnh mà không nói rằng nó chỉ có thể xảy ra ở hai cung trên trục Tỵ Hợi.
Kinh nghiệm Đáng ngại: thế giáp là thế bao vây, và với sát tinh thì bao vây nặng hơn chiếu. Cung Mệnh bị kẹp giữa hai sao lấy đi thì người ấy thường có cảm giác làm gì cũng bị bào mòn hai đầu: một bên là cái mất thấy được, một bên là cái trống trong lòng. Thầy thấy nhóm này hay có chung một nét là khó tích lũy trong giai đoạn đầu đời, thường phải qua tuổi trung niên mới có nền. Cần nói rõ, đây là nét chung Thầy quan sát được chứ chưa phải lời sách.
Suy luận Phá cách: nếu cung Mệnh bị giáp mà bản thân nó lại trống, không có chính tinh, phải mượn sao ở cung Thiên Di, thì thế bao vây càng rõ, vì trong nhà không có chủ mà ngoài cửa có hai người đứng. Giải cách: cung Mệnh có chính tinh miếu vượng và có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đóng ngay trong cung là giải được phần lớn, vì bên trong có nội lực thì thế vây bên ngoài giảm ý nghĩa. Có Tả Phụ Hữu Bật đồng cung cũng đỡ, vì đó là người phò tá đứng cùng phía trong nhà.
Địa Kiếp gặp Vũ Khúc hoặc Thiên Phủ, thế kho bị trộm
Suy luận Thành cách: Địa Kiếp đồng cung với Vũ Khúc hoặc Thiên Phủ, hai sao tài của lá số. Thuật toán cho biết Địa Kiếp an được đủ mười hai cung và tại cung nào cũng có thể gặp bất kỳ chính tinh nào, nên tổ hợp này về cấu trúc là có thể xảy ra ở mọi vị trí, không giới hạn cung nào. Cách này nặng nhất khi rơi vào Tài Bạch hoặc Điền Trạch.
Kinh nghiệm Đáng ngại: Thiên Phủ là kho lẫm, Vũ Khúc là tiền tài và cũng là sự tính toán chặt chẽ. Địa Kiếp là tay lấy. Đặt tay lấy vào trong kho thì cái mất không đến từ việc người ta không biết làm ra tiền, mà đến từ chỗ giữ bị hở. Đây là điểm khác biệt quan trọng: nhóm này thường rất giỏi kiếm, khách của Thầy trong nhóm này phần nhiều thu nhập cao, nhưng tiền hay ra khỏi tay theo những đường mà chính họ đã đồng ý: cho vay, bảo lãnh, hùn vốn, đứng tên hộ, đầu tư theo lời rủ. Rất ít khi là mất trộm theo nghĩa đen.
Kinh nghiệm Giải cách: không nằm ở sao mà nằm ở cách sống. Tách bạch tài khoản, không đứng tên hộ, không bảo lãnh, hùn hạp thì lập giấy tờ rõ ràng, giữ một phần tài sản ở dạng khó thanh khoản. Về sao thì Tử Vi đồng cung hoặc chiếu tới đỡ được nhiều, Hóa Khoa cũng đỡ. Phá cách: thêm Hóa Kỵ vào chính cái sao tài ấy là nặng nhất, vì khi ấy vừa hở vừa vướng.
Địa Kiếp gặp Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn
Suy luận Thành cách: Địa Kiếp đồng cung với Lộc Tồn, hoặc đồng cung với một chính tinh đang hóa Lộc theo tuổi can. Về Lộc Tồn thì đã tính được ba tuổi đáng chú ý ở mục Tứ Hóa: tuổi Bính và tuổi Mậu có Lộc Tồn tại Tỵ nên gặp trọn bộ Không Kiếp nếu sinh giờ Ngọ; tuổi Nhâm có Lộc Tồn tại Hợi nên gặp trọn bộ nếu sinh giờ Tý; tuổi Quý có Lộc Tồn tại Tý nên gặp riêng Địa Kiếp nếu sinh giờ Sửu.
Kinh nghiệm Đáng ngại: người xưa gọi ý này là lộc gặp chỗ trống thì không đọng. Trên lá số thật, biểu hiện điển hình là dòng tiền đẹp mà số dư không đẹp. Người có tổ hợp này rất hay rơi vào cảnh năm nào cũng làm ra tiền, năm nào cũng có việc phải chi lớn, và đến khi nhìn lại mười năm thì thấy tài sản không tương xứng với công sức. Điểm cần phân biệt: đây không phải cách nghèo. Nó là cách không tích. Nghèo và không tích là hai chuyện khác nhau, lẫn hai chuyện ấy là lỗi hay gặp nhất khi luận nhóm này.
Kinh nghiệm Đủ đẹp: có một nhóm nhỏ mà tổ hợp này lại hợp, là những người làm nghề vốn quay vòng nhanh: buôn bán, môi giới, thương mại, dự án ngắn hạn. Với họ, tiền vốn dĩ phải chảy chứ không nên nằm im, nên tính không đọng của Địa Kiếp không cản trở gì, miễn là có kỷ luật trích ra một phần cố định cất riêng. Giải cách: trích tự động một tỷ lệ cố định ngay khi tiền vào, cất vào chỗ khó rút. Đây là lời khuyên đời thường, không phải phép thuật, nhưng là cách hiệu quả nhất Thầy từng thấy với nhóm này.
Địa Kiếp trong đại vận, vận hao tài và đổi nghề
Suy luận Thành cách: đại vận mười năm đi vào đúng cung có Địa Kiếp của lá số gốc. Vì Địa Kiếp an được cả mười hai cung nên ai cũng sẽ có một đại vận như vậy, chỉ khác nhau ở chỗ nó rơi vào chặng nào của đời và cung ấy là cung chức nào.
Kinh nghiệm Đáng ngại: đây là mười năm mà cái cũ bị lấy đi. Thầy quan sát thấy hai biểu hiện lặp lại nhiều nhất. Một là hao tài: một khoản lớn ra đi, thường không phải do tiêu xài mà do một việc bắt buộc, hoặc do một quyết định đầu tư sai, hoặc do người khác. Hai là đổi nghề: nghề đang làm không còn nuôi được mình nữa, phải chuyển, và lần chuyển này thường mất luôn phần vốn liếng nghề nghiệp cũ, phải học lại gần như từ đầu.
Kinh nghiệm Đủ đẹp: đúng vì nó lấy đi cái cũ nên nó cũng dọn chỗ cho cái mới. Rất nhiều người bước sang nghề đúng với mình nhất trong chính đại vận này. Điều quyết định không phải sao, mà là quý vị bước vào vận với tư thế nào: có dự phòng thì đây là vận chuyển mình, không có dự phòng thì đây là vận vỡ. Phá cách: vào vận này mà lại vay mượn để mở rộng, hoặc đem hết vốn vào một mối, là làm cho phần xấu nặng thêm. Giải cách: giữ tiền mặt, giảm đòn bẩy, và nếu thấy phải đổi nghề thì đổi sớm chủ động thay vì đợi bị buộc phải đổi.
Địa Kiếp đắc địa tại Tứ Sinh
Kinh văn Thành cách: Địa Kiếp an tại Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi. Tân Biên xếp đây là bốn cung đắc địa của Không Kiếp, chủ thâm trầm, hoạnh phát hoạnh phá, làm lại từ tay trắng. Suy luận Quy về giờ sinh thì cách này chỉ có ở người sinh giờ Tý, giờ Mão, giờ Ngọ hoặc giờ Dậu: giờ Tý Địa Kiếp tại Hợi, giờ Mão tại Dần, giờ Ngọ tại Tỵ, giờ Dậu tại Thân. Bốn giờ chính, không giờ nào khác.
Kinh nghiệm Đủ đẹp: chữ hoạnh phát trong sách không có nghĩa là trúng số. Trên lá số thật, nó là khả năng đứng dậy sau khi mất: mất rồi làm lại, làm lại rồi khá hơn lần trước. Người có Không Kiếp đắc địa thường có sức chịu đựng cao hơn mức bình thường và ít sợ mất, chính vì đã quen mất. Nếu thêm chính tinh sáng và có Lộc trong tam phương thì đây là mẫu người bền.
Kinh văn Đáng ngại: sách viết liền hai chữ hoạnh phát hoạnh phá, không tách rời. Phát nhanh thì cũng phá nhanh. Kinh nghiệm Cho nên với nhóm này Thầy thường dặn: khi đang phát, hãy chuyển một phần thành thứ khó bán. Cái giữ được của người Không Kiếp đắc địa thường không phải là tiền mặt mà là thứ mà chính họ không nỡ bán.
Chốt lại về cách cục của Địa Kiếp
Sáu cách trên chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất là cách theo cấu trúc, tức là chỉ cần biết giờ sinh và tuổi can là biết có hay không: Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi, Không Kiếp giáp Mệnh, Địa Kiếp đắc địa Tứ Sinh, Địa Kiếp gặp Lộc Tồn. Bốn cách này kiểm được bằng thuật toán, không cãi nhau được. Nhóm thứ hai là cách theo ngữ cảnh, phụ thuộc chính tinh và vận: thế kho bị trộm và vận Địa Kiếp. Hai cách này phải xem cả lá số mới nói được.
Và một lời chung cho cả sáu: không cách nào trong đây là bản án. Cách cục nói về nơi dễ hở và kiểu hở, không nói về việc chắc chắn sẽ mất. Người biết mình hở ở đâu mà vá lại thì cách xấu chỉ còn là một nét tính cách, thường là nét dám buông và dám làm lại, vốn không phải điều tệ.
9 Sao hợp và sao kỵ, phân theo vị thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì với Địa Kiếp thì vị thế quan trọng hơn cả bản thân sao đi cùng. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao chung một chỗ thì trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh thứ nhì, là hai đầu kéo nhau qua trục. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, ảnh hưởng có nhưng loãng. Giáp là thế bao vây, riêng với sát tinh thì thế giáp lại nặng hơn cả tam hợp chiếu, có khi nặng gần bằng đồng cung, vì bị kẹp thì không có đường lui. Cùng một Lộc Tồn mà đồng cung Địa Kiếp là lộc bị lấy ngay trong tay, còn Lộc Tồn tam hợp chiếu tới cung có Địa Kiếp thì chỉ là lộc hao dần theo năm tháng.
Địa Kiếp mừng khi gặp
- Tử Vi (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu cũng đỡ): sao đế tọa trấn được lực phá, biến cái dám bỏ thành cái dám cải tổ. Đây là sao giải mạnh nhất cho Địa Kiếp.
- Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung): kho lẫm và ấn tín giữ nhịp, làm cho cái phá có chừng mực. Lưu ý Thiên Phủ vừa là sao giải vừa là sao bị nhắm, tùy cung mà đọc.
- Hóa Khoa (đồng cung hoặc chiếu): Khoa có tính che chở và làm chậm, hợp để hãm bớt tính đột ngột của Địa Kiếp.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp): có người đứng cùng phía thì mất của mà không mất chỗ dựa; thế giáp của Tả Hữu là thế giáp hiếm hoi mà tốt.
- Cung Tứ Sinh Dần Thân Tỵ Hợi (vị trí, không phải sao): đắc địa, chuyển từ phá tán sang hoạnh phát hoạnh phá theo Tân Biên.
- Cung Phúc Đức (vị trí): là chỗ duy nhất trong mười hai cung mà tính buông bỏ của Địa Kiếp thành điểm cộng rõ.
Địa Kiếp e ngại khi gặp
- Địa Không (đồng cung tại Tỵ Hợi nặng nhất, giáp nặng nhì, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ nhất): trong ngoài cùng hao, mất của mà lòng cũng trống.
- Lộc Tồn và Hóa Lộc (đồng cung nặng nhất): lộc không đọng, dòng tiền đẹp mà số dư mỏng. Tam hợp chiếu thì chỉ là tiêu pha rộng tay.
- Vũ Khúc, Thiên Phủ tại Tài Bạch hoặc Điền Trạch (đồng cung): thế kho bị trộm, chỗ hở nằm ở khâu giữ chứ không ở khâu kiếm.
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): mất mà còn vướng, việc không dứt được cho gọn.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): sát chồng sát, phần hoạnh phát mất gần hết, chỉ còn phần hoạnh phá.
- Thế giáp Mệnh, giáp Tài, giáp Điền (vị thế, không phải sao): bị vây thì không có đường lui, đây là thế Thầy thấy khó gỡ hơn cả đồng cung.
Địa Kiếp dạy người ta rằng của cải có thể mất, nhưng bản lĩnh làm lại thì còn. Gặp sao lành và đặt đúng chỗ, cái phá của nó thành sức bứt phá; đặt vào kho tiền thì thành hao tán.
10 Địa Kiếp Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Địa Kiếp đứng yên: nó an ở cung nào, đi với ai. Nhưng đời người là dòng chảy. Mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu riêng theo can của năm ấy. Đây là chỗ Địa Kiếp chuyển từ một nét tính cách thành một sự việc có ngày tháng, cũng là chỗ khách hỏi nhiều nhất.
Địa Kiếp không có bản lưu niên
Suy luận Cần nói ngay để tránh nhầm. Một số sao có bản lưu, nghĩa là mỗi năm lại an thêm một bản mới theo can hoặc chi của năm xem: lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Thiên Mã, lưu Thái Tuế, lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt. Địa Kiếp và Địa Không không nằm trong số đó. Hai sao này an theo giờ sinh, mà giờ sinh thì cả đời chỉ có một, nên vị trí của chúng cố định suốt đời, không có bản lưu theo năm. Ai nói "năm nay Địa Kiếp bay vào cung Tài của tôi" là đã nhầm Địa Kiếp với một sao khác, hoặc đang nói về việc lưu niên năm ấy đi vào cung vốn có Địa Kiếp.
Đại vận đi vào cung có Địa Kiếp
Kinh nghiệm Vì Địa Kiếp an được đủ mười hai cung nên trong đời ai cũng có ít nhất một đại vận đi trúng cung có sao này. Mười năm ấy có một đặc điểm chung mà Thầy thấy lặp lại rất đều: cái cũ bị lấy đi để chỗ cho cái mới. Cái cũ ấy có thể là một khoản tiền, một công việc, một mối quan hệ, một chỗ ở, hoặc một cách sống. Chuyện mất thì rõ, chuyện được thì thường phải qua vài năm sau mới thấy.
Kinh nghiệm Đọc vận này phải xem cung ấy là cung chức nào của lá số gốc, vì đó mới là lĩnh vực chịu tác động. Đại vận rơi vào Tài Bạch có Địa Kiếp là mười năm dòng tiền lên xuống, dễ có một khoản lớn ra đi, và cũng là mười năm nên tuyệt đối tránh bảo lãnh với hùn hạp mơ hồ. Rơi vào Quan Lộc có Địa Kiếp là mười năm đổi nghề hoặc đổi hẳn cách làm nghề; nếu chủ động đổi sớm thì êm, nếu cố giữ thì thường bị hoàn cảnh buộc phải đổi trong thế bị động. Rơi vào Điền Trạch có Địa Kiếp hay ứng vào chuyện nhà cửa: chuyển chỗ, bán đi, hoặc sửa chữa tốn kém ngoài dự tính. Rơi vào Phu Thê có Địa Kiếp thì quan hệ dễ có bước ngoặt, nhưng xin nhớ bước ngoặt không đồng nghĩa với tan vỡ, rất nhiều trường hợp là chuyển từ một kiểu sống chung sang kiểu khác. Rơi vào Phúc Đức có Địa Kiếp thường là mười năm người ta bỏ bớt, sống gọn lại, và đây thường là vận nhẹ nhõm chứ không nặng.
Suy luận Có một sắc thái đáng nhớ về thứ tự thời gian. Vận Địa Kiếp đến sớm trong đời, tức vào những đại vận đầu khi chưa có gì để mất, thì cái mất nhỏ mà bài học lớn, nhóm này thường trưởng thành sớm và biết giữ về sau. Vận Địa Kiếp đến muộn, khi đã tích được nhiều, thì cái mất đau hơn hẳn. Vì vậy khi luận Thầy luôn xem sao này rơi vào chặng nào của đời chứ không chỉ xem nó ở cung nào.
Lưu niên: năm nào chạm vào cung có Địa Kiếp
Suy luận Địa Kiếp không tự lưu, nhưng có bốn thứ chạy qua nó mỗi năm. Đây là bốn thứ cần tra khi muốn biết một năm cụ thể có nặng hay không.
| Thứ chạm vào | Chạy theo gì | Đọc thế nào khi trùng cung Địa Kiếp |
|---|---|---|
| Cung lưu niên của năm | Chi của năm xem | Năm mà vòng lưu niên dừng đúng cung có Địa Kiếp là năm cần cẩn trọng nhất trong chu kỳ mười hai năm, nhất là về tiền và giấy tờ. |
| Tứ Hóa lưu niên | Can của năm xem | Nếu năm ấy có sao đang đứng cùng cung Địa Kiếp bị lưu hóa Kỵ thì là năm nặng nhất; nếu sao ấy lưu hóa Lộc thì tiền vào nhiều mà cũng ra nhiều. |
| Lưu Lộc Tồn và lưu Kình Đà | Can của năm xem | Lưu Lộc Tồn rơi vào cung Địa Kiếp là lộc năm ấy không đọng. Lưu Kình hoặc lưu Đà rơi vào đó là thêm sát, dễ có va chạm và tranh chấp. |
| Lưu Thiên Mã | Chi của năm xem | Lưu Mã gặp Địa Kiếp thì cái động của năm ấy mang tính rời đi: chuyển chỗ, đổi việc, đi xa. Không nhất thiết xấu, nhưng chắc chắn không yên một chỗ. |
Suy luận Trong bốn thứ trên, hai thứ tra được ngay bằng can năm. Lưu Lộc Tồn theo can năm an giống hệt Lộc Tồn bản mệnh: năm can Bính và năm can Mậu thì lưu Lộc Tồn tại Tỵ, năm can Nhâm thì tại Hợi, năm can Quý thì tại Tý, năm can Giáp tại Dần, năm can Canh tại Thân. Vì Tỵ và Hợi đúng là hai cung mà bộ Không Kiếp có thể đồng cung, nên với người sinh giờ Ngọ có Không Kiếp tại Tỵ thì các năm can Bính và can Mậu là năm lưu Lộc rơi thẳng vào ổ Không Kiếp: gần đây và sắp tới có 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn và 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ. Với người sinh giờ Tý có Không Kiếp tại Hợi thì các năm can Nhâm giữ vai trò ấy: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất. Người sinh giờ Sửu có Địa Kiếp tại Tý thì để ý các năm can Quý: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi.
Kinh nghiệm Nói lưu Lộc rơi vào cung Không Kiếp là "năm xấu" thì hơi nặng lời. Đúng hơn, đó là năm tiền đi qua tay: thu nhập trong năm ấy thường không thấp, có khi còn cao hơn bình thường, nhưng cuối năm nhìn lại thì không đọng. Thầy hay khuyên nhóm này một việc rất giản dị cho những năm ấy: đầu năm định sẵn một tỷ lệ trích ra cất riêng và cất vào chỗ khó rút, coi như khoản đó không tồn tại. Làm được như vậy thì năm lưu Lộc gặp Không Kiếp lại thành năm tích lũy tốt, vì tiền vốn có vào.
Suy luận Về Tứ Hóa lưu niên, cần nhớ nó lấy theo can của năm xem, cùng một bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Nghĩa là mỗi mười năm, chính tinh đang đứng cùng cung với Địa Kiếp của quý vị lại lần lượt được lưu Lộc, lưu Quyền, lưu Khoa rồi bị lưu Kỵ. Ví dụ Địa Kiếp của quý vị đứng cùng Vũ Khúc, thì các năm can Nhâm Vũ Khúc lưu hóa Kỵ, đó là những năm cần kỹ nhất về tiền: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất. Nếu Địa Kiếp đứng cùng Thái Dương thì các năm can Giáp là năm Thái Dương lưu hóa Kỵ: 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần; còn các năm can Canh Thái Dương lưu hóa Lộc, tiền và danh cùng tới mà cũng cùng đi: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân.
Kinh nghiệm Một lưu ý cuối cho cả mục này. Người có Địa Kiếp nặng hay có thói quen soi từng năm rồi lo trước cả năm. Thầy không khuyến khích. Lá số nói về khuynh hướng chứ không định ngày. Việc nên làm là ngược lại: xem trước để chuẩn bị, rồi sống bình thường. Với Địa Kiếp, chuẩn bị chỉ gồm ba việc rất đời thường, là giữ một khoản dự phòng, không đứng tên hộ ai, và mọi hợp tác đều có giấy tờ. Ba việc ấy làm được thì phần lớn cái mà sách gọi là hạn của Địa Kiếp sẽ không thành chuyện.
11 Nam mệnh và nữ mệnh

Nam mệnh Địa Kiếp quyết liệt, dám phá dám dựng, hợp khởi nghiệp và cải cách, không sợ làm lại từ đầu. Nếu đắc địa và có chính tinh sáng, đây là người dám bứt phá. Điều cần giữ là quản trị rủi ro tài chính và tránh liều lĩnh quá đà.
Nữ mệnh Địa Kiếp mạnh mẽ, độc lập, không bám víu vật chất, song tình duyên và của cải dễ tan hợp bất ngờ. Nên vun đắp các mối quan hệ bền bỉ, giữ một nền tảng tài chính an toàn và tránh quyết định nóng vội.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Địa Kiếp
Địa Kiếp là một trong những sao bị nói quá nhiều nhất trong Tử Vi. Cái tên có chữ Kiếp, lại được gọi là tay cướp trong lá số, nên người ta gán cho nó đủ thứ. Mục này nói rõ Địa Kiếp không chủ về gì, để quý vị khỏi lo oan.
Địa Kiếp và Địa Không: cách phân biệt phổ biến, và nó đến từ đâu
Kinh nghiệm Cách phân biệt được dùng rộng rãi nhất, cũng là cách trang này dùng, là: Địa Kiếp chủ cái mất do bên ngoài lấy đi, hao hụt thấy được, đếm được; còn Địa Không chủ cái trống rỗng từ bên trong, ý nghĩ bỏ cuộc, việc tự nhiên hóa thành công cốc. Nói gọn: Kiếp là bị lấy, Không là tự tan. Kiếp mất tiền, Không mất hứng. Kiếp để lại dấu vết là một khoản thiếu hụt trong sổ, Không để lại dấu vết là một dự án bỏ dở mà không ai lấy gì của mình cả.
Suy luận Nhưng phải nói cho sòng phẳng về xuất xứ của cách phân biệt này. Trong Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Không Kiếp được chép chung một mục với cùng một bộ tính chất là sát tinh, đắc địa Tứ Sinh thì thâm trầm hoạnh phát hoạnh phá, hãm địa thì bạo ngược phá tán gây bệnh tật tai họa; sách không tách nghĩa tinh thần cho sao này và nghĩa vật chất cho sao kia. Cách tách nghĩa ở trên là cách hiểu lưu hành trong giới luận Tử Vi Việt Nam và được nhiều thầy dùng, Thầy chưa tra được nó nằm ở trang nào trong hai bộ sách mà trang này dẫn, cũng chưa dám khẳng định chắc chắn nó thuộc phái nào. Vì vậy Thầy gắn thẻ Suy luận cho cách phân biệt ấy, không gắn Kinh văn. Quý vị nên dùng nó như một công cụ đọc rất tiện và đã được kiểm bằng nhiều ca thật, chứ không nên trích dẫn nó như lời sách gốc.
Suy luận Có một chỗ dựa về cấu trúc khiến cách phân biệt trên nghe hợp lý: Địa Kiếp đi thuận chiều còn Địa Không đi ngược chiều, cùng khởi từ Hợi. Thuận chiều là đi theo chiều của thời gian và của sự việc bên ngoài; ngược chiều là đi lùi lại phía trong. Đó là một cách hiểu bằng hình tượng, không phải bằng chứng, nên vẫn chỉ là suy luận. Thầy nêu ra để quý vị thấy vì sao cách phân biệt ấy bám rễ được, chứ không phải để chứng minh nó đúng.
Địa Kiếp không đồng nghĩa với nghèo
Kinh nghiệm Đây là hiểu lầm nặng nhất và cũng gây lo lắng vô ích nhất. Sách nói Không Kiếp hãm địa thì phá tán, nói cái mất, không nói cái nghèo. Hai chuyện khác nhau. Thầy đã luận rất nhiều lá số có Địa Kiếp ở Tài Bạch mà thu nhập rất cao; vấn đề của họ không phải kiếm được bao nhiêu mà giữ được bao nhiêu. Đúng hơn phải gọi nhóm này là nhóm khó tích. Có người khó tích mà vẫn sống rất sung túc cả đời vì dòng tiền dồi dào và không bao giờ ngừng chảy. Lẫn khó tích với nghèo là lỗi thường gặp nhất khi người mới học tự xem lá số của mình rồi hoảng.
Địa Kiếp không phải là sao gây tai nạn
Suy luận Nhiều nơi gán cho Địa Kiếp mọi tai nạn giao thông, mọi mất mát thân thể. Đọc kỹ thì Tân Biên nói Không Kiếp hãm địa "gây bệnh tật tai họa", đó là một vế trong một câu về trạng thái hãm, không phải một định nghĩa về sao. Muốn đọc tai nạn thì phải đọc ở cung Tật Ách, và phải có tổ hợp cụ thể chứ không phải chỉ một sao: Địa Kiếp cùng Kình Dương hay Thiên Hình tại Tật Ách mới là tổ hợp đáng lưu ý về va chạm và dao kéo. Một mình Địa Kiếp đứng ở Quan Lộc hay Phúc Đức thì không liên quan gì tới chuyện đi đường. Đọc bệnh và tai nạn phải đọc ở cung Tật Ách, đọc từ cung khác sang chỉ được phép suy ra khuynh hướng, không được phán.
Địa Kiếp trong Tử Vi không phải Kiếp trong nghĩa nhà Phật
Suy luận Chữ Kiếp trong tên sao là chữ chỉ sự cướp đoạt, không phải chữ kiếp trong kiếp người, kiếp trước kiếp sau của nhà Phật. Hai chữ khác nhau, chỉ trùng âm khi đọc sang tiếng Việt. Vì nhầm chữ nên có người nghe tên sao đã tưởng lá số mình dính nghiệp, dính duyên nợ tiền kiếp. Sao Địa Kiếp trong Tử Vi Đẩu Số không nói gì về tiền kiếp; nó nói về một thế mất trong đời này, ở một cung cụ thể, do một cấu trúc an sao theo giờ sinh mà thành.
Có Địa Kiếp trong lá số không có nghĩa là bị Địa Kiếp
Suy luận Vì Địa Kiếp an được đủ mười hai cung nên lá số nào cũng có Địa Kiếp, không trừ ai. Điều quyết định không phải có hay không mà là nó đóng ở đâu và có chạm vào Mệnh, Thân, Tài, Điền hay không. Địa Kiếp nằm ở cung Tử Tức của một người không có ý định sinh con, hay nằm ở một cung mà cả đời người ấy không phải bận tâm, thì gần như không có biểu hiện nào. Kinh nghiệm Thầy nói điều này vì mỗi tháng đều có người nhắn hỏi với giọng rất lo rằng "lá số con có Địa Kiếp thì phải làm sao". Câu trả lời trung thực là: ai cũng có, câu hỏi đúng phải là Địa Kiếp của quý vị đứng ở đâu.
Không Kiếp không cần trấn yểm
Kinh nghiệm Đây là chỗ Thầy muốn nói thẳng. Vì hai sao này bị mô tả đáng sợ nên chúng cũng là cái cớ được dùng nhiều nhất để bán vật phẩm trấn yểm và lễ giải hạn. Không có bộ sách Tử Vi gốc nào chép rằng Không Kiếp phải trấn yểm mới yên. Cách hóa giải mà chính sách gợi ý nằm ở sao và ở thế: có chính tinh sáng, có Tử Phủ giữ nhịp, đóng vào Tứ Sinh. Cách hóa giải mà kinh nghiệm gợi ý nằm ở hành vi: giữ dự phòng, không bảo lãnh, có giấy tờ rõ ràng. Ai đó dọa quý vị rằng không cúng thì sẽ mất của, đó là chuyện của người ấy, không phải chuyện của sao Địa Kiếp.
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Địa Kiếp Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh của lá số này: tháng 10 âm lịch, giờ Tý, tuổi Nhâm. Từ giờ Tý suy ra ngay Địa Kiếp an tại Hợi và Địa Không cũng an tại Hợi, đúng theo bảng ở mục cơ chế an sao; từ tháng 10 và giờ Tý suy ra cung Mệnh cũng tại Hợi. Vậy đây là một trong hai trường hợp duy nhất mà cả bộ Không Kiếp cùng thủ Mệnh. Lá số vẽ Tử Vi an tại Tỵ. Lưới dưới đây chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa và bộ Lộc Tồn Kình Đà; hai sao Địa Không, Địa Kiếp xin quý vị nhớ là đang cùng nằm trong cung Hợi, tức chính cung Mệnh có viền vàng.
Tử Vi tại Tỵ, Mệnh tại Hợi
không phải người thật
sinh tháng 10 giờ Tý, Địa Không và Địa Kiếp cùng an tại Hợi
Bước một: sao ở đâu, đắc hay hãm
Địa Kiếp tại Hợi. Hợi thuộc Tứ Sinh nên theo Tân Biên đây là vị trí đắc địa, và như đã tính ở mục cơ chế an sao, khi Địa Kiếp đắc thì Địa Không cũng đắc, không có ngoại lệ. Cung Mệnh tại Hợi có Thiên Phủ độc tọa. Vậy bước một cho ba dữ kiện: bộ Không Kiếp đầy đủ, cùng đắc địa, và cùng nằm chung với kho lẫm Thiên Phủ ngay tại Mệnh. Đây chính là thế kho bị trộm đã nói ở mục cách cục, nhưng ở phiên bản đắc địa, tức phiên bản hoạnh phát hoạnh phá chứ không phải phiên bản phá tán thuần túy.
Bước hai: hóa gì, và Lộc Tồn ở đâu
Tuổi Nhâm nên Lộc Tồn an tại Hợi, tức rơi thẳng vào cung Mệnh, đứng cùng Thiên Phủ và cả bộ Không Kiếp. Đây là một cung rất đông và rất mâu thuẫn: có kho, có lộc, và có hai sao chuyên lấy đi. Đọc thành lời thì là người có khả năng gom tụ tài sản thật, không phải người tay trắng, nhưng cái gom được luôn ở trong tình trạng dễ ra đi. Lộc Tồn lại luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, ở đây là Kình Dương tại Tý thuộc cung Phụ Mẫu và Đà La tại Tuất thuộc cung Huynh Đệ, nên cung Mệnh vừa đông vừa bị giáp bởi hai sát tinh nữa. Tứ Hóa tuổi Nhâm rải như sau: Vũ Khúc hóa Kỵ tại Sửu thuộc cung Phúc Đức, Tử Vi hóa Quyền tại Tỵ thuộc cung Thiên Di, Thiên Lương hóa Lộc tại Thìn thuộc cung Nô Bộc, Tả Phụ hóa Khoa là phụ tinh không vẽ trên lưới này. Điểm cần lưu ý nhất là Vũ Khúc, sao tài, lại đang hóa Kỵ ở cung Phúc Đức: tiền bạc là chỗ hay khiến người này bận lòng.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Cung Mệnh tại Hợi có tam hợp là Mão và Mùi, xung chiếu là Tỵ. Tại Mão là Thiên Tướng thuộc cung Quan Lộc, tại Mùi là cung Tài Bạch bỏ trống nên phải mượn sao của cung đối diện là Sửu có Vũ Khúc Tham Lang, xung chiếu tại Tỵ là Tử Vi Thất Sát thuộc cung Thiên Di, trong đó Tử Vi đang hóa Quyền. Đọc gộp lại: một người mang kho lẫm và lộc trong Mệnh, có ấn tín Thiên Tướng ở sự nghiệp, được Tử Vi hóa Quyền từ Thiên Di chiếu về nên ra ngoài có vị thế và có người trọng. Chính Tử Vi ấy là sao giải mạnh nhất cho bộ Không Kiếp, ở đây nó không đồng cung mà xung chiếu, tức là giải được nhưng không giải hết. Còn cung Tài Bạch trống phải mượn Vũ Tham có Vũ Khúc hóa Kỵ, nghĩa là chuyện tiền của người này không nằm ở chỗ kiếm mà nằm ở chỗ giữ, đúng như tên gọi thế kho bị trộm.
Kinh nghiệm Nếu phải nói một câu cho lá số này, Thầy sẽ nói: người này làm ra được của, có vị thế bên ngoài, nhưng cả đời phải học một bài duy nhất là học cách giữ. Và vì Không Kiếp ở đây đắc địa chứ không hãm, bài học ấy nhiều khả năng học được, thường sau một lần mất lớn ở nửa đầu đời.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang giờ Ngọ: bộ Không Kiếp dời hết sang Tỵ, còn cung Mệnh cũng dời sang Tỵ theo phép an Mệnh. Không Kiếp vẫn thủ Mệnh, vẫn đắc địa, nhưng lần này chúng ngồi cùng Tử Vi Thất Sát chứ không phải Thiên Phủ. Đọc khác hẳn: không còn là kho bị trộm mà là đế tinh trấn sát tinh, người bản lĩnh, dám phá dám dựng, cái mất chuyển thành sự nghiệp gây dựng lại nhiều lần. Đây là ví dụ rõ nhất cho việc chính tinh đồng cung quyết định nghĩa của Địa Kiếp.
- Giữ nguyên tuổi Nhâm và tháng 10, đổi sang giờ Sửu: Địa Kiếp dời sang Tý, Địa Không sang Tuất, cung Mệnh dời sang Tuất. Bộ Không Kiếp không còn đồng cung mà chuyển sang thế giáp cung Hợi, đúng cung có Thiên Phủ và Lộc Tồn. Kho và lộc nay bị kẹp hai bên thay vì bị lấy trực tiếp, và Địa Kiếp tại Tý lại đứng chung với Kình Dương. Đây là thế Thầy thấy khó gỡ hơn cả trường hợp đầu, vì bị vây thì không có đường lui.
- Giữ nguyên tháng 10 giờ Tý, đổi sang tuổi Kỷ: vị trí Không Kiếp không đổi vì chúng chỉ theo giờ sinh, vẫn ở Hợi cùng Thiên Phủ và cùng cung Mệnh. Nhưng Lộc Tồn tuổi Kỷ an tại Ngọ thuộc cung Tật Ách chứ không còn ở Mệnh, nên cung Mệnh nhẹ hẳn: chỉ còn kho lẫm bị hai sao nhắm, không còn lộc nằm sẵn trong đó để mất. Bù lại tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc và Tham Lang hóa Quyền cùng tại Sửu thuộc cung Phúc Đức, mà Sửu chính là cung mà Tài Bạch phải mượn sao, nên đường tiền bạc lại sáng hơn trường hợp tuổi Nhâm.
Ba trường hợp trên cho thấy đúng một điều: Địa Kiếp không có nghĩa cố định. Đổi giờ thì đổi cả vị trí lẫn thế đứng, đổi tuổi can thì đổi lực của cung mà nó đóng. Muốn biết Địa Kiếp của riêng quý vị nằm ở đâu, đắc hay hãm, đi cùng chính tinh nào và có bị Lộc Tồn hay Hóa Kỵ tham gia không, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Địa Kiếp trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo đúng cung và đúng tổ hợp của quý vị.
14 Lời khuyên và cách hóa giải

Hóa giải Địa Kiếp là biết phòng tổn thất và hướng cái dám phá vào sự cải cách có ích thay vì để nó cuốn trôi của cải.
- Quản trị rủi ro tài chính. Giữ quỹ dự phòng, tránh đầu tư mạo hiểm và bảo lãnh, không dồn hết của vào một mối, nhất là khi Địa Kiếp ở Tài hay Điền.
- Hướng cái phá vào cải cách. Khởi nghiệp, đổi mới, phá cũ lập mới là nơi Địa Kiếp phát huy thay vì gây hao.
- Phòng tai nạn và mất mát. Cẩn trọng đi lại, giấy tờ, tài sản; mua bảo hiểm hợp lý.
- Vun đắp bền bỉ. Quan hệ và sự nghiệp cần sự kiên trì để bù lại tính tan hợp bất ngờ của sao này.
- Xem cả lá số. Địa Kiếp đắc hay hãm, ở cung nào, đi cùng ai, mới quyết định lành dữ thật sự.
Gợi ý: người có Địa Kiếp nổi bật nên xem mỗi lần mất mát là một lần làm lại tốt hơn; chính tinh thần ấy biến cái phá của sao này thành bản lĩnh thay vì bi kịch.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ hai bộ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần đặc tính các sao, mục Địa Kiếp Địa Không: hai sao thuộc nhóm sát tinh, an theo giờ sinh, đi cặp thành bộ Không Kiếp; đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì thâm trầm, hoạnh phát hoạnh phá, làm lại được từ tay trắng; hãm địa thì bạo ngược, phá tán, gây bệnh tật tai họa. Đây là nguồn cho mọi đoạn gắn thẻ Kinh văn trong bài. Cần ghi rõ: sách chép hai sao chung một mục và không tách nghĩa vật chất cho Địa Kiếp, nghĩa tinh thần cho Địa Không.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn): phần luận Không Kiếp ngại cung Tài Bạch và Điền Trạch vì chủ hao tán, là nguồn cho mục cách cục thế kho bị trộm và cho hai dòng Tài Bạch, Điền Trạch trong bảng mười hai cung chức.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng vị trí Địa Không và Địa Kiếp theo mười hai giờ sinh, bảng thế đứng giữa hai sao, cùng mọi khẳng định về cấu trúc trong bài đều được sinh bằng chương trình chạy đủ mười hai giờ và mười hai vị trí Tử Vi, đối chiếu với thuật toán đang dùng trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: Địa Kiếp an tại cung thứ mười một cộng số giờ, đi thuận, ngược chiều Địa Không; hai sao chỉ đồng cung tại Hợi khi sinh giờ Tý và tại Tỵ khi sinh giờ Ngọ; hai sao chỉ giáp được cung Tỵ và cung Hợi; khoảng cách giữa chúng luôn là số chẵn cung nên không bao giờ ở hai cung liền kề; Địa Kiếp an được đủ mười hai cung và tại mỗi cung đều có thể gặp bất kỳ chính tinh nào trong mười bốn chính tinh; Địa Kiếp luôn cách Văn Khúc bảy cung và luôn cách Văn Xương một số lẻ cung nên không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với hai sao ấy. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán này. Bảng Lộc Tồn theo can năm dùng trong mục Tứ Hóa và mục đại vận lấy đúng bảng máy chủ.
- Suy ra từ phép an Mệnh chuẩn (khởi tại Dần đếm thuận theo tháng sinh rồi đếm ngược theo giờ sinh) ghép với phép an Không Kiếp: Địa Kiếp chỉ thủ Mệnh được khi sinh tháng chẵn âm lịch, Địa Không chỉ thủ Mệnh được khi sinh tháng 10 âm lịch, và cả hai cùng thủ Mệnh chỉ trong hai trường hợp là tháng 10 giờ Tý tại Hợi, tháng 10 giờ Ngọ tại Tỵ. Đây là kết quả tính toán, không phải trích dẫn sách, nên trong bài được gắn thẻ Suy luận.
Lưu ý về dị bản và về chỗ chưa chắc: cách phân biệt Địa Kiếp chủ mất mát vật chất do bên ngoài lấy đi, còn Địa Không chủ hư hao tinh thần và ý nghĩ bỏ cuộc, là cách hiểu lưu hành rộng trong giới luận Tử Vi Việt Nam và được trang này dùng vì tiện đọc, nhưng Thầy chưa đối chiếu được nguyên văn của cách phân biệt ấy trong hai bộ sách nêu trên và cũng chưa khẳng định được nó thuộc phái nào, nên trong bài nó được gắn thẻ Suy luận chứ không phải Kinh văn. Tương tự, những câu phú về Không Kiếp lưu truyền trên mạng không được đưa vào bài vì chưa đối chiếu được nguyên văn trong thư tịch; bài này thà thiếu một câu phú còn hơn dẫn một câu không kiểm được. Về miếu hãm, cả hai bộ sách đều thống nhất Không Kiếp đắc tại Tứ Sinh Dần Thân Tỵ Hợi và hãm ở tám cung còn lại, đây là chỗ hiếm hoi không có dị bản.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Địa Kiếp
Địa Kiếp là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, đi cặp với Địa Không thành bộ Không Kiếp. Sao này chủ về cướp đoạt, tổn thất và hao của về mặt vật chất, thường tới bất ngờ, ví như tay cướp trong lá số.
Hai sao đi cặp. Địa Không thiên về hư hao tinh thần, ý tưởng và những gì trừu tượng; Địa Kiếp thiên về tổn thất vật chất, mất của thật. Cả hai đều đắc địa ở Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Vì Địa Kiếp chủ cướp đoạt và hao của, đặt vào cung của cải thì tiền dễ tan, đầu tư hay đổ, dễ mất mát bất ngờ. Người xưa kiêng Không Kiếp ở Tài Bạch và Điền Trạch.
Tùy hoàn cảnh. Với người giữ của thì là tổn thất, nhưng với người khởi nghiệp dám làm lại thì cái dám phá của nó có thể thành động lực bứt phá. Đắc địa Tứ Sinh và gặp chính tinh sáng thì có thể hoạnh phát từ tay trắng.
Quản trị rủi ro tài chính, giữ quỹ dự phòng, tránh mạo hiểm và bảo lãnh; hướng cái dám phá vào khởi nghiệp và cải cách; phòng tai nạn mất mát; vun đắp quan hệ và sự nghiệp bền bỉ; và xem cả lá số để biết Địa Kiếp ở cung nào, đi cùng ai.
Địa Kiếp an theo giờ sinh: giờ Tý an tại Hợi rồi đi thuận, mỗi giờ tiến một cung, tới giờ Hợi thì an tại Tuất. Địa Không cũng khởi từ Hợi nhưng đi ngược. Cả bộ Không Kiếp không phụ thuộc can năm, chi năm hay tháng sinh, chỉ phụ thuộc giờ sinh. Vì vậy hai người sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm mà lệch một canh giờ thì bộ Không Kiếp dời chỗ và cách cục đổi hẳn. Đây cũng là lý do nên xác minh lại giờ sinh trước khi luận nặng lời về hai sao này.
Chỉ hai cung, và đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: tại Hợi khi sinh giờ Tý, tại Tỵ khi sinh giờ Ngọ. Ngoài hai giờ đó, hai sao luôn nằm hai cung khác nhau. Hai sao cũng chỉ giáp được đúng hai cung là Tỵ và Hợi, và vì khoảng cách giữa chúng luôn là số chẵn cung nên chúng không bao giờ nằm ở hai cung liền kề nhau, mà chỉ có thể đồng cung, giáp, tam hợp hoặc xung chiếu.
Cách phân biệt phổ biến là Địa Kiếp chủ cái mất do bên ngoài lấy đi, hao hụt thấy được và đếm được; còn Địa Không chủ sự trống rỗng từ bên trong, ý nghĩ bỏ cuộc, việc tự nhiên hóa công cốc. Nói gọn là Kiếp bị lấy, Không tự tan. Tuy nhiên Tử Vi Đẩu Số Tân Biên chép hai sao chung một mục với cùng một bộ tính chất và không tách nghĩa như vậy. Cách phân biệt trên là cách hiểu lưu hành trong giới luận Tử Vi Việt Nam, chưa đối chiếu được nguyên văn trong thư tịch mà bài này dẫn, nên bài gắn thẻ Suy luận cho nó chứ không gắn Kinh văn.
Vì Địa Kiếp an được đủ mười hai cung nên ai cũng có ít nhất một đại vận như vậy. Nét chung là cái cũ bị lấy đi để dọn chỗ cho cái mới, biểu hiện hay gặp nhất là hao một khoản lớn hoặc phải đổi nghề. Đọc vận phải xem cung ấy là cung chức nào: rơi vào Tài Bạch thì dòng tiền lên xuống, rơi vào Quan Lộc thì đổi nghề, rơi vào Điền Trạch thì chuyện nhà cửa, rơi vào Phúc Đức thì thường lại là mười năm nhẹ nhõm vì buông bớt. Vào vận với khoản dự phòng và ít nợ thì đây là vận chuyển mình chứ không phải vận vỡ.