Sao Địa Không trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Địa Không

Một trong Lục Sát tinh, đi cặp với Địa Kiếp. Địa Không là cái trống không bất ngờ: ý tưởng bay bổng khác người, nhưng cũng dễ làm tan biến những gì tưởng đã nắm trong tay.

Ngũ hành: HỏaSát tinh, hư khôngĐắc Tứ SinhĐi cặp Địa Kiếp
地空Dì Kōng
Tên sao: Địa Không
Ngũ hành: Hỏa
Chòm sao: Trung thiên
Loại sao: Sát tinh, hư hao
Cách an: Theo giờ sinh
Cai quản: Hư không, mất mát, tư tưởng kỳ lạ
Hợp gặp: Tử Vi, Thiên Phủ chế hung; nghề tinh thần
Kỵ: Tài Bạch, Điền Trạch, đứng giữa sát tinh
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Địa Không là gì

Địa Không là khoảng trống bất ngờ trong lá sốẢnh minh họa cập nhật sau Sao Địa Không trong Tử Vi Đẩu Số
Địa Không là khoảng trống bất ngờ trong lá số

Địa Không là một trong sáu sát tinh, ngũ hành Hỏa, đi cặp với Địa Kiếp, thường gọi chung là bộ Không Kiếp. Địa Không thiên về phương diện tinh thần: nó làm cho mọi thứ hóa hư, trống không, đồng thời mở ra những ý tưởng bay bổng, khác người, vượt ngoài lối nghĩ thông thường.

Người xưa coi Địa Không như khoảng trống bất ngờ: cái gì tưởng chắc trong tay cũng có thể tan biến, nhưng chính khoảng trống ấy lại là nơi nảy ra sáng tạo và chiều sâu tâm linh.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Địa Không an theo giờ sinh, không theo can năm, không theo chi năm, không theo tháng. Bảng an sao đếm từ cung Hợi: giờ Tý thì Địa Không tại Hợi, rồi mỗi giờ lùi một cung theo chiều nghịch, giờ Sửu tới Tuất, giờ Dần tới Dậu, cứ thế cho tới giờ Hợi thì về Tý. Địa Kiếp cũng khởi từ Hợi ở giờ Tý nhưng đi thuận: giờ Sửu tới Tý, giờ Dần tới Sửu, giờ Hợi tới Tuất. Nói gọn trong một câu để nhớ: hai sao cùng xuất phát từ Hợi, một quay trái một quay phải, và số giờ sinh chính là số bước chân của chúng.

Suy luận Vì cách an cứng như vậy, quan hệ giữa Địa Không và Địa Kiếp trong một lá số không phải chuyện ngẫu nhiên. Người mới học hay nói "Không Kiếp lúc thì đi cùng nhau, lúc thì xa nhau, tùy số", thật ra hoàn toàn có thể tính trước: chỉ cần biết giờ sinh là biết ngay hai sao ấy đang ở thế nào với nhau, không cần nhìn lá số. Đây là điểm khiến bộ Không Kiếp dễ đọc hơn nhiều so với cảm giác đáng sợ mà tên nó gợi ra.

Vị trí an sao Địa Không và Địa Kiếp theo mười hai giờ sinh
Giờ sinhĐịa KhôngĐịa Kiếp
Giờ TýHợiHợi
Giờ SửuTuất
Giờ DầnDậuSửu
Giờ MãoThânDần
Giờ ThìnMùiMão
Giờ TỵNgọThìn
Giờ NgọTỵTỵ
Giờ MùiThìnNgọ
Giờ ThânMãoMùi
Giờ DậuDầnThân
Giờ TuấtSửuDậu
Giờ HợiTuất

Suy luận Nhìn cột Địa Không của bảng trên rồi cộng với cột Địa Kiếp theo thứ tự mười hai cung, quý vị sẽ thấy một điều gọn gàng: hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Tỵ Hợi. Cung Hợi và cung Tỵ là hai điểm bất động của phép soi gương ấy, nghĩa là chỉ ở hai cung này hai sao mới có thể trùng nhau. Toàn bộ những điều mà sách nói về Không Kiếp tại Tỵ Hợi, xưa nay được kể như một câu chuyện huyền bí, thật ra là hệ quả hình học của cách an sao.

Sáu điều bất biến của Địa Không, đã kiểm bằng thuật toán an sao

  1. Địa Không an được ở cả mười hai cung. Chạy đủ mười hai giờ sinh thì Địa Không lần lượt rơi vào Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, không sót cung nào và không lặp cung nào. Vậy không có cung nào an toàn tuyệt đối với sao này, và cũng không có cung nào là "nhà" của nó. Ai nói "Địa Không không bao giờ vào cung Mệnh" hay "Địa Không chỉ ở bốn cung Tứ Sinh" là nói sai cách an sao.
  2. Địa Không có thể đồng cung với bất kỳ chính tinh nào, ở bất kỳ cung nào. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Địa Không, kết quả là tại cả mười hai cung, cả mười bốn chính tinh đều có khả năng đứng chung. Khác hẳn chính tinh vốn bị buộc vào chuỗi Tử Vi và chuỗi Thiên Phủ, Địa Không là sao không chọn bạn. Đây là lý do sách không thể viết "Địa Không kỵ sao này, hợp sao kia" một cách tuyệt đối, mà phải viết theo tình huống.
  3. Khoảng cách giữa Địa Không và Địa Kiếp luôn là số chẵn. Hai sao đi ngược chiều nhau nên khoảng cách bằng hai lần số giờ, vì thế nó chỉ có thể là không, hai, bốn, sáu, tám hoặc mười cung. Hệ quả trực tiếp: Không và Kiếp không bao giờ đứng ở hai cung liền kề. Câu "Không Kiếp kề vai nhau" không tồn tại trên lá số.
  4. Chỉ có bốn thế Không Kiếp, không có thế thứ năm. Đồng cung khi sinh giờ Tý và giờ Ngọ; giáp một cung khi sinh giờ Sửu, giờ Tỵ, giờ Mùi, giờ Hợi; tam hợp chiếu nhau khi sinh giờ Dần, giờ Thìn, giờ Thân, giờ Tuất; xung chiếu nhau khi sinh giờ Mão và giờ Dậu. Mười hai giờ chia trọn vào bốn nhóm, không thừa không thiếu.
  5. Không Kiếp chỉ có thể giáp đúng hai cung trong mười hai cung địa chi: cung Tỵ và cung Hợi. Sinh giờ Sửu thì Không tại Tuất, Kiếp tại Tý, hai bên kẹp cung Hợi; sinh giờ Hợi thì Không tại Tý, Kiếp tại Tuất, vẫn kẹp cung Hợi. Sinh giờ Tỵ thì Không tại Ngọ, Kiếp tại Thìn, kẹp cung Tỵ; sinh giờ Mùi thì Không tại Thìn, Kiếp tại Ngọ, vẫn kẹp cung Tỵ. Vậy cái thế mà sách gọi là Không Kiếp giáp Mệnh chỉ xảy ra khi cung Mệnh an tại Tỵ hoặc tại Hợi, không bao giờ ở cung khác. Đây là điều rất ít trang viết nói tới mà lại quyết định cả cách đọc.
  6. Địa Không tại Tỵ hoặc tại Hợi thì chắc chắn có Địa Kiếp đồng cung. Địa Không chỉ rơi vào Hợi khi sinh giờ Tý, mà giờ Tý cũng đưa Địa Kiếp vào Hợi; Địa Không chỉ rơi vào Tỵ khi sinh giờ Ngọ, mà giờ Ngọ cũng đưa Địa Kiếp vào Tỵ. Cho nên trên lá số thật, không tồn tại trường hợp Địa Không đứng một mình ở Tỵ hay ở Hợi. Hễ thấy Địa Không ở hai cung ấy là biết ngay đây là lá Không Kiếp đồng cung.

Kinh nghiệm Bảng dưới đây là bảng Thầy dùng khi mở một lá số mới: nhìn giờ sinh, biết ngay thế Không Kiếp, rồi mới nhìn tới chính tinh. Cách đọc này tiết kiệm rất nhiều thời gian, vì thế Không Kiếp quyết định cái nền khí chất của người ấy, còn chính tinh chỉ quyết định người ấy dùng khí chất đó vào việc gì.

Bốn thế của bộ Không Kiếp phân theo mười hai giờ sinh
Giờ sinhĐịa Không tạiĐịa Kiếp tạiThế của hai saoĐọc thế nào
HợiHợiĐồng cung tại HợiHai cái trống dồn vào một chỗ. Lực rất tập trung: cung ấy hoặc bật lên bất ngờ, hoặc trống hẳn. Đây là thế mà sách bàn nhiều nhất.
SửuTuấtGiáp cung HợiCung Hợi bị kẹp giữa hai sát tinh. Cung nào rơi vào Hợi thì lĩnh vực ấy luôn ở thế bị vây, tiến lui đều vướng.
DầnDậuSửuTam hợp Tỵ Dậu SửuHai sao chiếu nhau từ xa qua tam hợp. Lực loãng, biểu hiện là nghĩ nhiều, hay đổi ý, chứ chưa thành mất mát rõ rệt.
MãoThânDầnXung chiếu Dần ThânHai đầu kéo nhau. Người thường sống trong thế giằng co giữa một bên muốn buông và một bên muốn giữ.
ThìnMùiMãoTam hợp Hợi Mão MùiNhư giờ Dần, lực nhẹ và tản. Cần xem chính tinh mới biết cái trống ấy đổ vào đâu.
TỵNgọThìnGiáp cung TỵCung Tỵ bị kẹp. Nếu Mệnh hay Tài an tại Tỵ thì đây là thế bao vây, không phải thế đánh thẳng.
NgọTỵTỵĐồng cung tại TỵThế đối ứng của giờ Tý, cùng một cơ chế, chỉ đổi cung. Sách xếp Tỵ và Hợi vào Tứ Sinh nên bàn riêng.
MùiThìnNgọGiáp cung TỵGiống giờ Tỵ nhưng hai sao đổi chỗ cho nhau. Cung Tỵ vẫn là cung chịu trận.
ThânMãoMùiTam hợp Hợi Mão MùiLực tản. Người kiểu này hay có ý tưởng lạ mà đời sống bên ngoài vẫn bình thường.
DậuDầnThânXung chiếu Dần ThânĐối ứng của giờ Mão. Trục Dần Thân là trục đi lại, nên cái giằng co thường lộ ra ở chuyện đi hay ở, đổi nghề hay giữ nghề.
TuấtSửuDậuTam hợp Tỵ Dậu SửuLực tản, thiên về đời sống bên trong nhiều hơn bên ngoài.
HợiTuấtGiáp cung HợiĐối ứng của giờ Sửu. Cung Hợi lại là cung bị vây.

Suy luận Có một điều đáng suy nghĩ rút ra từ bảng này. Sách xếp bộ Không Kiếp đắc địa ở bốn cung Tứ Sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi, nhưng xét theo cấu trúc thì bốn cung ấy không cùng một kiểu. Tại Tỵ và Hợi, hai sao đồng cung, dồn hết lực vào một điểm. Tại Dần và Thân, hai sao xung chiếu nhau qua trục, mỗi bên một đầu. Cùng gọi là đắc địa, nhưng một đằng là hai cái trống chồng lên nhau, một đằng là hai cái trống kéo nhau hai phía. Người luận cần tách hai trường hợp ấy ra, đừng gộp làm một chỉ vì cùng nằm trong bốn chữ Dần Thân Tỵ Hợi.

Kinh nghiệm Còn một hệ quả nữa mà Thầy hay dùng khi khách hỏi về anh chị em sinh cùng ngày khác giờ. Vì Địa Không an theo giờ, hai người sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm mà lệch giờ thì bộ Không Kiếp của họ khác hẳn nhau, trong khi phần lớn các sao khác vẫn giống. Đó là lý do hai người có lá số gần như trùng nhau mà một người thì sống rất thực tế, một người thì cả đời đi tìm cái không đâu. Chỗ khác nhau nằm đúng ở hai sao này.

3 Cách An Địa Không Và Đặc Tính Khi Thủ Mệnh

Người có Địa Không thủ Mệnh nhiều ý tưởng lạ, không thực tếẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính người có Địa Không thủ Mệnh
Người có Địa Không thủ Mệnh nhiều ý tưởng lạ, không thực tế

Người có Địa Không đóng Mệnh thường có đầu óc khác thường, nhiều ý tưởng độc đáo, suy nghĩ bay bổng, thích những điều siêu hình, tâm linh, triết học. Họ không chạy theo vật chất theo lối thông thường, đôi khi xem nhẹ tiền bạc và danh lợi.

Mặt trái là thiếu thực tế, kế hoạch dễ dang dở, tiền của khó giữ, hay vướng những mất mát bất ngờ. Địa Không an theo giờ sinh nên trải khắp các cung; đắc địa thì thành sáng tạo và chiều sâu, hãm địa thì thành hư hao và phá tán.

4 Đắc địa và hãm địa của Địa Không

Theo Tân Biên, bộ Không Kiếp đắc địa ở bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, khi đó cái hư không lại có thể thành hoạnh phát; các cung còn lại thì hung hãm, chủ phá tán.

Cung địa chiTrạng thái
DầnĐắc
ThânĐắc
TỵĐắc
HợiĐắc
Hãm
SửuHãm
MãoHãm
ThìnHãm
NgọHãm
MùiHãm
DậuHãm
TuấtHãm

Lưu ý: Không Kiếp đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì thâm trầm, có thể hoạnh phát hoạnh phá; rơi vào các cung khác thì bạo ngược, gian, phá tán, dễ gây bệnh tật tai họa. Riêng phương diện tinh thần, Địa Không lại hợp người làm nghề trí tuệ và tâm linh.

5 Địa Không hội cùng các chính tinh

Địa Không đi cùng chính tinh nào thì làm hư hao lĩnh vực ấyẢnh minh họa cập nhật sau Địa Không hội cùng các chính tinh
Địa Không đi cùng chính tinh nào thì làm hư hao lĩnh vực ấy

Là sát tinh, Địa Không phải xét chính tinh đi cùng. Gặp các sao tài như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn thì dễ làm hao tài, tiền của đến rồi đi, nên người xưa rất ngại Không Kiếp ở cung Tài. Gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng thì cái hư hao được tiết chế, hướng năng lượng vào tư duy và sáng tạo.

Khi đi cùng Văn Xương, Văn Khúc hay các sao mang tính tinh thần, Địa Không lại nâng chiều sâu tư tưởng, hợp nghiên cứu, nghệ thuật, tôn giáo, triết học. Cùng một Địa Không, người thì hao tán, người thì thành nhà tư tưởng, tất cả tùy cung và bộ sao.

6 Địa Không Với Tứ Hóa: Sao Không Hóa Mà Làm Hóa Đổi Nghĩa

Kinh văn Nói ngay cho rõ: Địa Không không nằm trong Tứ Hóa. Bảng Tứ Hóa mười thiên can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở dị bản Bắc phái tuổi Nhâm. Không có tuổi nào làm Địa Không hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Ai nói "tuổi ấy Địa Không hóa Kỵ" là nhầm với sao khác.

Suy luận Nhưng không hóa không có nghĩa là đứng ngoài cuộc. Địa Không là sao làm rỗng, mà Tứ Hóa là bốn cách một ngôi sao được làm đầy. Đặt hai thứ ấy vào cùng một cung thì sinh ra bốn tình huống rất đáng đọc, và đây mới là chỗ Địa Không lộ ra bản lĩnh thật của nó. Xin lần lượt từng cái.

Địa Không gặp Hóa Lộc: lộc thành hư

Kinh văn Sách xếp Địa Không là sao hư hao, và đặc biệt ngại nó ở cung của cải. Khi Địa Không đồng cung với một chính tinh đang hóa Lộc, cái Lộc ấy không mất đi, nhưng nó đến rồi đi, không ở lại thành vốn. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy dạng người này thường không nghèo, thậm chí nhiều lúc rất nhiều tiền, nhưng tiền của họ luôn ở trạng thái đang chảy: vừa nhận một khoản lớn thì có ngay một khoản lớn phải chi, mua được món quý thì ít lâu sau lại nhượng đi. Cái khổ của họ không phải thiếu tiền mà là không tích được. Đọc đúng chỗ này thì lời khuyên rất cụ thể: người có Không gặp Lộc nên tách quỹ, để một phần tiền ở nơi mình không đụng tới được, còn phần kia cứ để nó chảy.

Suy luận Nếu chính tinh đồng cung lại là sao tài như Vũ Khúc hay Thiên Phủ, cái hư ấy rõ hơn cả, vì kho lẫm bị thủng đáy. Nếu chính tinh là sao thiên về tinh thần như Thiên Cơ, Thiên Lương, Văn tinh chầu về, thì Lộc bị làm rỗng phần vật chất nhưng lại nở ra phần khác: người ấy được cái tiếng, được cái tự do, được cái thời gian, những thứ cũng là lộc mà không đếm bằng tiền.

Địa Không gặp Hóa Quyền: quyền không thích cầm

Suy luận Quyền là cái nắm được. Địa Không là cái buông. Hai thứ ấy đặt chung một cung tạo ra một mẫu người rất dễ nhận: được giao chức mà không tha thiết, có quyền mà lười dùng, hoặc dùng quyền vào những việc người khác thấy không đâu vào đâu. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít người Không gặp Quyền làm quản lý rất giỏi về chuyên môn nhưng chán họp hành, chán tranh giành, đến lúc thấy mệt thì bỏ đi làm việc riêng. Đây không phải người kém, đây là người không lấy quyền làm mục tiêu. Nếu lá số ấy có Tử Vi hay Thiên Phủ giữ được thế, họ vẫn ngồi ghế cao mà sống nhẹ; nếu không, họ sớm muộn cũng rời tổ chức.

Địa Không gặp Hóa Khoa: danh hư mà chiều sâu thật

Suy luận Khoa là tiếng thơm, là bằng cấp, là được ghi nhận. Địa Không làm cái tiếng ấy hóa nhẹ đi: học nhiều mà không lấy bằng, viết hay mà không in, giỏi mà ít người biết. Nhưng đây lại là tổ hợp Thầy đánh giá cao nhất trong bốn tổ hợp. Kinh nghiệm Cái Khoa bị làm rỗng phần hình thức thì phần ruột lại dày lên: người ấy học vì thích học, nghiên cứu vì thích nghiên cứu, không cần ai vỗ tay. Trong nghề nghiên cứu, dịch thuật, tôn giáo, nghệ thuật, đây là mẫu người đi được đường dài nhất, vì họ không cần phần thưởng bên ngoài để tiếp tục.

Địa Không gặp Hóa Kỵ: hai cách hiểu, phải tách bạch

Kinh văn Kỵ là cái vướng, cái dính. Địa Không là cái trống, cái tuột. Đặt chung thì có hai lối luận đang lưu hành, người đọc nên biết cả hai. Lối thứ nhất, cũng là lối các bộ sách Việt nghiêng về: sát tinh gặp Hóa Kỵ là hung thêm hung, cái hư hao có thêm cái vướng mắc, thành mất mát kéo dài chứ không phải mất một lần rồi thôi. Lối thứ hai, thường nghe trong giới luận Bắc phái: Kỵ là dính mà Không là rỗng, hai cái triệt nhau nên cái Kỵ nhẹ bớt. Suy luận Thầy xếp lối thứ hai vào hàng suy luận, chưa đủ ca thật để khẳng định, và khi luận cho khách thì Thầy theo lối thứ nhất cho an toàn, đồng thời xem kỹ cung Phúc Đức để biết người ấy có chỗ dựa tinh thần nào không. Điều chắc chắn có thể nói: Không gặp Kỵ tại cung Tài hay cung Điền là tổ hợp cần dặn khách cẩn thận về bảo lãnh, đứng tên hộ và đầu tư theo lời rủ rê.

Tuổi nào hay tạo tổ hợp đáng chú ý với Địa Không

Suy luận Địa Không an theo giờ, Lộc Tồn an theo can năm, hai tham số độc lập nhau, nên việc chúng gặp nhau là có thể tính chính xác. Chạy đủ mười can nhân mười hai giờ, kết quả gọn như bảng dưới. Đây chính là cái Thầy gọi vui là lộc thành hư: Lộc Tồn là kho tiền có khóa, Địa Không ngồi ngay trên kho ấy.

Tuổi can và giờ sinh làm Địa Không đồng cung với Lộc Tồn
Tuổi canSinh giờĐịa Không và Lộc Tồn cùng tạiĐịa Kiếp khi ấy tại
GiápDậuDầnThân, xung chiếu
ẤtThânMãoMùi, tam hợp
BínhNgọTỵTỵ, đồng cung
ĐinhTỵNgọThìn, giáp cung Tỵ
MậuNgọTỵTỵ, đồng cung
KỷTỵNgọThìn, giáp cung Tỵ
CanhMãoThânDần, xung chiếu
TânDầnDậuSửu, tam hợp
NhâmHợiHợi, đồng cung
QuýHợiTuất, giáp cung Hợi

Suy luận Trong mười tổ hợp ấy, ba tổ hợp nặng nhất là tuổi Bính hoặc tuổi Mậu sinh giờ Ngọtuổi Nhâm sinh giờ Tý, vì khi ấy Lộc Tồn không chỉ gặp một sao mà gặp cả Địa Không lẫn Địa Kiếp cùng một cung: tuổi Bính và tuổi Mậu là ba sao cùng tụ tại Tỵ, tuổi Nhâm là ba sao cùng tụ tại Hợi. Thêm nữa, Lộc Tồn ở đâu thì Kình Dương và Đà La kẹp hai bên ở đó, nên cung ấy thành một cung rất đặc: một kho tiền, hai sát tinh làm rỗng nó, hai sát tinh nữa canh hai cửa. Kinh nghiệm Người sinh vào các tổ hợp này Thầy khuyên đừng làm nghề buôn vốn lớn và tuyệt đối tránh vay để đầu tư; đổi lại họ thường rất hợp nghề sống bằng chất xám, vì cái đầu họ có chiều sâu mà người bình thường không có.

Suy luận Ngược lại, hai tổ hợp nhẹ nhất là tuổi Ất sinh giờ Thântuổi Tân sinh giờ Dần: Địa Không ngồi cùng Lộc Tồn nhưng Địa Kiếp chỉ chiếu về từ tam hợp, lực tản, nên cái hư hao thể hiện thành tiêu pha rộng tay chứ chưa thành phá tán.

Hóa bay tới từ cung khác chạm vào Địa Không

Suy luận Địa Không không hóa, nhưng cung có Địa Không vẫn hứng trọn các hóa bay tới từ cung khác. Ba tình huống Thầy gặp nhiều nhất trên lá số thật:

  • Hóa Kỵ từ cung Tài Bạch bay vào cung có Địa Không. Tiền đi tìm chỗ trống mà đổ vào. Biểu hiện quen thuộc là mất tiền vì đúng lĩnh vực của cung ấy: Kỵ bay vào Phu Thê thì hao vì người bạn đời, bay vào Nô Bộc thì hao vì bạn bè và cấp dưới, bay vào Tử Tức thì hao vì con hoặc vì học trò, đệ tử.
  • Hóa Lộc từ cung Điền Trạch bay vào cung có Địa Không. Của nhà đất chảy ra ngoài. Đây là tổ hợp hay thấy ở người bán đất của cha mẹ để lấy vốn làm việc mình thích, và thường là việc không sinh lời ngay.
  • Hóa Khoa từ cung Phúc Đức bay vào cung có Địa Không. Đây là mặt sáng: cái phúc phần đẩy người ta vào con đường học vấn, tôn giáo, nghiên cứu, đúng chỗ mà Địa Không phát huy được. Người có tổ hợp này thường nói với Thầy rằng họ "tự nhiên thấy phải đi con đường này", không giải thích được vì sao.

Phần phi hóa theo can từng cung là tầng sâu hơn và thuộc phần luận chuyên sâu của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được đường bay của bốn hóa trong lá số của chính quý vị.

7 Địa Không Tại 12 Cung Chức

Địa Không ở 12 cungẢnh minh họa cập nhật sau Sao Địa Không an tại 12 cung chức
Địa Không đóng cung nào thì gieo ảnh hưởng vào lĩnh vực ấy của đời người

Địa Không đóng ở cung nào thì gieo sự trống không và bất ngờ vào lĩnh vực đó. Sao này ngại nhất là các cung liên quan tới của cải.

Ý nghĩa của Địa Không tại từng cung chức, khi đắc và khi hãm, cùng tổ hợp đặc trưng
CungKhi đắc địa hoặc gặp cát tinhKhi hãm địa hoặc gặp hung tinhTổ hợp đáng chú ý tại cung này
MệnhĐầu óc khác thường, nghĩ trước người khác một bước, không bị dư luận cuốn đi; hợp nghề cần tưởng tượng và chiều sâu.Ý tưởng nhiều mà không thành việc, hay bỏ dở, xem nhẹ tiền tới mức thiệt thân, dễ chán đời sống thường ngày.Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi có Không Kiếp đồng cung là thế nặng nhất, phải xem Phúc Đức và Thân cư ở đâu mới kết luận. Mệnh có Địa Không mà Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng chầu về thì cái trống được giữ khuôn.
Phụ MẫuCha mẹ có đời sống tinh thần riêng, không áp đặt, để con tự do; nhiều nhà có truyền thống học hành hoặc tín ngưỡng.Duyên với cha mẹ mỏng, xa cách sớm, hoặc cha mẹ gặp cảnh dở dang khiến gia sản không còn nguyên.Địa Không tại Phụ Mẫu cùng Hóa Kỵ là tổ hợp cần hỏi kỹ về chuyện thừa kế và giấy tờ nhà đất, không kết luận vội về sức khỏe.
Phúc ĐứcĐây là cung Địa Không hợp nhất trong mười hai cung. Tâm hồn hướng nội, có duyên với thiền, tôn giáo, triết học; buông được nên ít khổ vì được mất.Hay nghĩ vẩn vơ, cô đơn giữa đám đông, dễ rơi vào trạng thái thấy mọi việc vô nghĩa; phúc phần tổ tiên mỏng.Phúc Đức có Địa Không gặp Thiên Lương hoặc Thiên Cơ là mẫu người tu tại gia, sống nhẹ mà sâu. Gặp Hỏa Linh Kình Đà thì trạng thái trống trải nặng hơn, nên có bạn đồng hành và nếp sinh hoạt đều đặn.
Điền TrạchNhà cửa không nhiều nhưng ở đâu cũng được, dễ thích nghi; hợp thuê hơn mua, hợp nhà gắn với nơi làm việc tinh thần.Nhà đất hao, dễ đổi chỗ ở, của cha mẹ để lại khó giữ nguyên; kho hàng, tài sản cố định hay hụt.Điền Trạch có Địa Không cùng Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc là thế bán đất lấy vốn. Có thêm Đại Hao Tiểu Hao thì việc ấy lặp lại nhiều lần trong đời.
Quan LộcHợp nghề sáng tạo, nghiên cứu, công nghệ, nghệ thuật, tôn giáo, những nghề mà cái mới đáng giá hơn cái quen.Đổi nghề nhiều lần, công việc dở dang, có chức mà không có thực quyền, khó ngồi lâu một chỗ.Quan Lộc có Địa Không gặp Văn Xương, Văn Khúc là người làm nghề chữ nghĩa, ý tưởng. Gặp Thất Sát hay Phá Quân là người đi mở đường, được việc lớn mà hay dở dang việc nhỏ.
Nô BộcBạn bè ít mà sâu, thường là người cùng chí hướng tinh thần; không kết giao vì lợi.Bạn đến rồi đi, giúp người mà không được đáp lại, dễ bị rủ vào việc chung rồi mất tiền.Nô Bộc có Địa Không cùng Hóa Kỵ là tổ hợp Thầy luôn dặn: chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh, chớ góp vốn bằng lòng tin.
Thiên DiRa ngoài gặp cơ duyên lạ, hợp đi xa, hợp môi trường mới, đổi chỗ thì đổi vận.Ra ngoài hay hụt, kế hoạch đi xa dễ vỡ, gặp người hứa rồi không giữ lời.Thiên Di có Địa Không cùng Thiên Mã là cách đi xa mà trắng tay hoặc đi xa mà đổi đời, hai đầu rất xa nhau, phải xem chính tinh mới quyết.
Tật ÁchThể chất bình thường nhưng nhạy cảm; hợp các phương pháp dưỡng sinh thiên về tinh thần như thiền, khí công, điều tức.Hay mắc chứng khó định bệnh, đi khám không ra, mệt mỏi kéo dài; thần kinh và giấc ngủ là chỗ yếu.Tật Ách có Địa Không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì để ý mất ngủ và hồi hộp. Gặp Thiên Riêu, Đà La thì để ý những chứng liên quan tinh thần và nghiện ngập. Đây là khuynh hướng để đi khám sớm, không phải lời phán bệnh.
Tài BạchTiền đến từ ý tưởng và chất xám chứ không từ tích lũy; kiếm được những khoản mà người khác không nghĩ ra.Tiền vào rồi ra, đầu tư hay hụt, dễ mất bất ngờ; càng ôm lớn càng dễ mất.Tài Bạch có Địa Không cùng Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc là cách lộc thành hư đã bàn ở mục Tứ Hóa. Cùng Vũ Khúc hay Thiên Phủ thì kho lẫm thủng đáy, phải chia quỹ mà giữ.
Tử TứcCon cái có tư chất riêng, khác cha mẹ, hợp cho con đi con đường của nó; cũng chủ học trò, đệ tử, tác phẩm mình tạo ra.Muộn con, ít con, hoặc con cái xa nhà sớm; công sức bỏ vào con hay không thấy kết quả ngay.Tử Tức có Địa Không cùng Thiên Riêu hay Đào Hoa thì cần dạy con sớm về giữ mình. Cùng Văn tinh thì con có năng khiếu nghệ thuật rõ rệt.
Phu ThêBạn đời là người hiểu mình về mặt tinh thần, hai người tôn trọng khoảng riêng của nhau.Tình cảm dễ hụt hẫng bất ngờ, duyên đến muộn, hoặc yêu người ở xa, người khó nắm bắt.Phu Thê có Không Kiếp giáp hai bên, chỉ xảy ra khi cung Phu Thê an tại Tỵ hoặc Hợi, là thế bị vây, nên kết hôn muộn và tìm hiểu kỹ. Cùng Hóa Kỵ thì luận rất thận trọng, không kết luận tan vỡ.
Huynh ĐệAnh em ít mà quý nhau theo lối để nhau yên, mỗi người một đường mà vẫn thương.Anh em thưa thớt, mỗi người một phương, việc chung dễ tan; góp vốn với anh em hay hỏng.Huynh Đệ có Địa Không cùng Kình Dương hay Đà La là tổ hợp hay tranh chấp vì thừa kế, nên rạch ròi giấy tờ ngay từ đầu.

Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này gói trong một câu: Địa Không đóng cung nào thì lấy bớt phần vật chất của cung ấy và trả lại bằng phần tinh thần. Ở Tài Bạch thì bớt tiền, thêm cách kiếm tiền lạ. Ở Phu Thê thì bớt sự chắc chắn, thêm sự đồng điệu. Ở Điền Trạch thì bớt nhà, thêm sự tự do đi ở. Ở Phúc Đức thì bớt cái ràng buộc, thêm cái nhẹ lòng, và đó là lý do Phúc Đức là cung duy nhất mà Thầy thấy Địa Không gần như luôn có lợi. Khi luận cho khách, đừng vội nói mất; hãy hỏi xem đổi lại họ được cái gì, gần như lúc nào cũng có một cái được mà chính họ chưa để ý.

8 Các Cách Cục Của Bộ Không Kiếp Và Điều Kiện Thành Cách

Bộ Không Kiếp và các thế cần lưu ýẢnh minh họa cập nhật sau Các cách cục liên quan đến Địa Không
Bộ Không Kiếp và các thế cần lưu ý

Địa Không và Địa Kiếp khi cùng giáp hoặc cùng hội về Mệnh tạo thành thế Không Kiếp, được xem là một trong các bộ sát tinh đáng ngại nhất, nhất là ở cung Tài và Điền, vì chủ hao tán. Tuy nhiên ở Tứ Sinh và đi cùng chính tinh sáng, Không Kiếp lại có thể chủ hoạnh phát, nghĩa là phát bất ngờ.

Với người làm nghề tinh thần, Không Kiếp hội Văn tinh lại thành chiều sâu tư tưởng và sáng tạo khác người. Vì vậy đây là bộ sao mà ý nghĩa đảo chiều rất mạnh tùy hoàn cảnh, cần luận thận trọng.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện và "phá" khi vướng điều kiện phá. Với bộ Không Kiếp, điều kiện thành cách phần lớn nằm ở giờ sinh, vì giờ sinh quyết định vị trí và quyết định luôn thế của hai sao với nhau, như đã lập bảng ở mục cơ chế an sao. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả điều kiện thành, điều kiện đủ đẹp hoặc đáng ngại, và điều kiện phá hoặc giải.

Không Kiếp đồng cung tại Tỵ Hợi

Suy luận Thành cách: sinh giờ Tý thì Địa Không và Địa Kiếp cùng an tại Hợi; sinh giờ Ngọ thì cùng an tại Tỵ. Chỉ hai giờ này, không có giờ nào khác, và cũng chỉ hai cung này, không có cung nào khác. Kinh văn Đáng ngại hay đủ đẹp: Tân Biên xếp bộ Không Kiếp đắc địa tại bốn cung Tứ Sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi, khi ấy tính sao thâm trầm, có thể hoạnh phát hoạnh phá; rơi vào các cung khác thì bạo ngược, phá tán, dễ gây bệnh tật tai họa. Vậy Tỵ và Hợi nằm trong nhóm đắc, nghĩa là cái trống ở đây có thể bật thành cái phát bất ngờ. Kinh nghiệm Điều Thầy dặn thêm: hoạnh phát đi liền hoạnh phá là một cặp, không tách được. Người hợp cách này thường có một quãng đời lên rất nhanh nhờ một cơ hội không ai ngờ, rồi lại xuống cũng nhanh nếu không kịp chuyển phần lãi ấy sang chỗ chắc. Phá cách: cung Mệnh ấy lại thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc chính tinh hãm địa, khi ấy phần phá lấn hẳn phần phát. Giải cách: có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng đồng cung hoặc chầu về giữ khuôn, và cung Phúc Đức yên ổn.

Không Kiếp giáp Mệnh

Suy luận Thành cách: đây là cách hay bị nói sai nhất, nên phải nói cho thật rõ bằng con số. Chạy đủ mười hai giờ sinh thì Không Kiếp chỉ kẹp được đúng hai cung: cung Hợi khi sinh giờ Sửu hoặc giờ Hợi, và cung Tỵ khi sinh giờ Tỵ hoặc giờ Mùi. Vậy muốn có Không Kiếp giáp Mệnh thì cung Mệnh bắt buộc phải an tại Tỵ hoặc tại Hợi. Mệnh an ở mười cung còn lại thì dù giờ nào cũng không thể bị Không Kiếp giáp. Đáng ngại: giáp là thế bao vây, hai bên đều trống, nên người ấy làm gì cũng thấy thiếu chỗ dựa, quyết định xong lại thấy hụt, việc đang chạy tự nhiên đứt. Kinh nghiệm Trên lá số thật, thế giáp thường nhẹ hơn thế đồng cung về mức độ nhưng dai hơn về thời gian: đồng cung là một cú lớn, giáp là nhiều cú nhỏ suốt đời. Giải cách: cung Mệnh có chính tinh miếu vượng, hoặc có Lộc Tồn, Tả Hữu, Khôi Việt đóng ngay tại Mệnh làm cái lõi cứng; khi ấy hai bên trống mà giữa vẫn đặc thì không sao.

Địa Không gặp Tham Lang

Suy luận Thành cách: Địa Không đồng cung Tham Lang. Theo thuật toán an sao, tổ hợp này có thể xảy ra ở bất kỳ cung nào trong mười hai cung, vì Địa Không không kén chính tinh. Đủ đẹp: Tham Lang là sao của dục vọng, của ham muốn nhiều mặt, của tài lẻ. Địa Không rút bớt cái tham ấy đi, và cái còn lại là sự say mê không vụ lợi. Đây là lý do nhiều người tu hành, nhiều nghệ sĩ thật sự có tổ hợp này: họ vẫn mê đắm như Tham Lang, nhưng mê một thứ không mua bán được. Kinh nghiệm Thầy để ý thấy dạng lá số này hay có tài lẻ rất sâu ở một môn không sinh ra tiền: cổ nhạc, cổ ngữ, sưu tầm, kinh sách, thiên văn. Đáng ngại: nếu Tham Lang hãm địa và gặp thêm Hỏa Linh, Thiên Riêu, cái mê ấy đổi hướng sang đam mê tiêu khiển, cờ bạc, chất kích thích, và Địa Không khi ấy không hãm bớt mà làm mất luôn ranh giới. Phá cách: có Hóa Kỵ đồng cung hoặc chiếu về.

Địa Không gặp Thất Sát, Phá Quân

Suy luận Thành cách: Địa Không đồng cung hoặc hội chiếu Thất Sát, Phá Quân trong tam phương tứ chính. Thất Sát chủ quyết đoán và cắt bỏ, Phá Quân chủ phá cũ lập mới, cả hai vốn đã là sao của sự đứt đoạn; thêm Địa Không vào là đứt rồi để trống luôn. Đáng ngại: đây là tổ hợp của người dám bỏ hết làm lại từ đầu, nhưng bỏ nhiều lần quá thì đời không kịp dựng lại cái gì. Sách xếp sát tinh gặp sát tinh là hung thêm hung, nhất là tại cung Tài và cung Điền. Kinh nghiệm Thầy dặn dạng lá số này một điều rất cụ thể: mỗi lần phá đi làm lại, hãy giữ lại đúng một thứ, một nghề, một mối quan hệ, một khoản dự phòng. Người giữ được một sợi dây thì lần nào cũng dựng lại được; người cắt sạch thì lần thứ ba là kiệt. Giải cách: Tử Vi hoặc Thiên Phủ chầu về, hoặc Thân cư Phúc Đức yên. Phá cách: thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng cung, thành thế nhiều sát tinh chồng lên nhau.

Địa Không gặp Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, cách lộc thành hư

Suy luận Thành cách: Địa Không đồng cung với Lộc Tồn, hoặc đồng cung với chính tinh đang hóa Lộc. Riêng vế Lộc Tồn thì tính được chính xác theo tuổi can và giờ sinh, đã lập thành bảng ở mục Tứ Hóa. Đáng ngại: Lộc Tồn là kho tiền có khóa, Hóa Lộc là dòng tiền đang chảy tới; Địa Không ngồi lên cả hai thì tiền vẫn có mà không đọng lại. Nặng nhất là ba tổ hợp tuổi Bính giờ Ngọ, tuổi Mậu giờ Ngọ và tuổi Nhâm giờ Tý, vì khi ấy Lộc Tồn gặp cả Không lẫn Kiếp cùng một cung, lại bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên theo đúng quy tắc an sao. Kinh nghiệm Người có cách này thường kể với Thầy một câu giống nhau đến lạ: "con làm ra tiền mà không hiểu tiền đi đâu". Cách dùng là chia quỹ ngay từ đầu, để phần dự phòng ở nơi mình không rút được dễ dàng, và tuyệt đối không vay để đầu tư. Giải cách: có Vũ Khúc miếu vượng hoặc Thiên Phủ giữ cung Tài, và người ấy làm nghề có dòng thu đều thay vì nghề ăn thương vụ lớn.

Không Kiếp xung chiếu qua trục Dần Thân

Suy luận Thành cách: sinh giờ Mão thì Địa Không tại Thân, Địa Kiếp tại Dần; sinh giờ Dậu thì Địa Không tại Dần, Địa Kiếp tại Thân. Chỉ hai giờ này. Đáng ngại hay đủ đẹp: Dần và Thân cũng nằm trong bốn cung Tứ Sinh mà Tân Biên xếp là đắc địa cho bộ Không Kiếp, nhưng thế ở đây khác hẳn thế đồng cung tại Tỵ Hợi: hai sao đứng hai đầu một trục, kéo nhau. Trục Dần Thân lại là trục của đi và về, của xuất hành, của thay đổi chỗ. Kinh nghiệm Người sinh hai giờ này Thầy thấy hay sống trong thế giằng co rất rõ: muốn đi lại tiếc chỗ đang có, muốn ở lại thấy tù túng, đổi nghề rồi tiếc nghề cũ. Khi họ chọn dứt khoát một bên thì đời yên hẳn; khi họ đứng giữa thì cả hai bên đều dở dang. Giải cách: cung Mệnh hoặc cung Thiên Di có chính tinh miếu vượng làm chủ, giúp họ chọn được một hướng.

Địa Không với người tu hành và người sáng tạo

Kinh văn Sách không gọi đây là một cách cục có tên, nhưng cả hai bộ sách mà trang này dẫn đều ghi nhận mặt tinh thần của Không Kiếp bên cạnh mặt phá tài: bộ sao này chủ tư tưởng khác thường, thiên về phương diện tinh thần. Suy luận Thành thế: Địa Không đóng tại cung Phúc Đức hoặc cung Quan Lộc, hội với Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Cơ, Thiên Lương, hoặc với Tham Lang như đã bàn. Đủ đẹp: thêm Hóa Khoa, thêm Thiên Khôi Thiên Việt, và người ấy làm nghề mà giá trị nằm ở cái nghĩ chứ không ở cái vốn: nghiên cứu, giảng dạy, viết lách, hội họa, âm nhạc, thiết kế, phần mềm, tôn giáo, chữa lành. Kinh nghiệm Đây là chỗ Thầy muốn nói kỹ nhất trong cả bài. Người có Không Kiếp nổi bật mà đi làm nghề tích lũy thì cả đời vật lộn với chuyện giữ tiền và luôn thấy mình thất bại; cũng con người ấy chuyển sang nghề sáng tạo hay nghề phụng sự thì cái đầu khác người của họ lập tức thành vốn liếng. Không phải sao đổi, mà là chỗ đứng đổi. Phá thế: bị ép vào khuôn quá chặt, làm công việc lặp đi lặp lại không có chỗ cho cái mới, khi ấy phần trống của Địa Không quay vào bên trong thành chán nản.

Đọc lại bộ Không Kiếp cho công bằng

Kinh nghiệm Cái tên Không Kiếp làm người ta sợ trước khi kịp hiểu. Nhưng đọc cho hết các cách cục trên thì thấy một điều: Không Kiếp không chỉ là sao phá tài, nó là sao của cái trống, cái buông và cái nghĩ khác người. Cái trống ấy đặt vào kho tiền thì thành thủng đáy, đặt vào cái đầu thì thành chỗ cho ý mới mọc lên, đặt vào cung Phúc thì thành sự nhẹ lòng. Chính vì vậy mà sách, bên cạnh những lời nặng về phá tán, vẫn khen người có Không Kiếp hợp nghề sáng tạo, tôn giáo và nghiên cứu. Khi luận cho khách, Thầy không bao giờ dừng ở câu "lá số này có Không Kiếp nên hao tài"; câu ấy đúng một nửa và làm hỏng nửa còn lại.

9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực. Cùng một sao mà đồng cung với Địa Không là mạnh nhất, hai sao thấm vào nhau đến mức đổi nghĩa của nhau. Xung chiếu là mạnh nhì, nghĩa là bị nhìn thẳng vào mặt, thấy rõ mà khó tránh. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, giống tiếng vọng từ xa, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp hai bên là thế bao vây: với sát tinh thì đây là thế nặng vì bịt cả hai đường, với cát tinh thì lại nhẹ vì cái tốt chỉ đứng ngoài chứ không vào trong. Riêng với Địa Không còn thêm một điều: nó là sao làm rỗng, nên gặp sao càng đầy thì hiệu ứng càng rõ, gặp sao vốn đã nhẹ thì gần như không thấy gì.

Địa Không mừng khi gặp

  • Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung mạnh nhất, tam hợp chiếu vẫn tốt): ba sao giữ khuôn, cái trống có thành có bờ nên không tràn ra thành phá tán.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): cái nghĩ khác người có chữ nghĩa để thành hình, hợp nghiên cứu, viết lách, nghệ thuật.
  • Thiên Lương, Thiên Cơ (đồng cung hoặc chiếu): mở đường tinh thần và tín ngưỡng, đây là tổ hợp hay gặp ở người sống hướng nội mà an.
  • Hóa Khoa (đồng cung): danh nhẹ mà ruột dày, người học vì thích học chứ không vì bằng cấp.
  • Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): có người thực tế bên cạnh triển khai giúp, đây là điều Thầy dặn nhiều nhất với dạng lá số này.
  • Cung Phúc Đức (không phải sao mà là chỗ đứng): Địa Không ở Phúc Đức gần như luôn có lợi, vì cái buông đặt đúng chỗ của nó.

Địa Không e ngại khi gặp

  • Địa Kiếp đồng cung (giờ Tý tại Hợi, giờ Ngọ tại Tỵ): hai cái trống dồn một chỗ, hoạnh phát đi liền hoạnh phá; đây là thế mạnh nhất của cả bộ.
  • Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung: cách lộc thành hư, tiền có mà không đọng; nặng nhất khi Lộc Tồn gặp cả Không lẫn Kiếp trong một cung.
  • Vũ Khúc, Thiên Phủ tại cung Tài hay cung Điền (đồng cung): kho lẫm thủng đáy, càng ôm lớn càng dễ mất.
  • Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung nặng nhất, giáp cũng nặng): sát chồng sát, cái trống thành cái đau.
  • Hóa Kỵ (đồng cung, xung chiếu kế): mất mát kéo dài thay vì mất một lần; ở Tài, Điền, Nô thì dặn khách chớ bảo lãnh, chớ đứng tên hộ.
  • Thế giáp Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi (chỉ hai cung này giáp được): hai bên đều trống, nhiều cú nhỏ suốt đời, cần một lõi cứng ngay tại Mệnh.

Địa Không là bộ sao đảo chiều: đặt vào chuyện tiền bạc thì hao, đặt vào chuyện trí tuệ và tâm linh thì lại quý. Biết hướng năng lượng của nó đúng chỗ chính là cách dùng sao này.

10 Địa Không Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Địa Không đứng yên: nó ở cung nào, đi với ai. Nhưng đời người là dòng chảy. Mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và mỗi năm lại có một bộ Tứ Hóa lưu cùng một loạt sao lưu theo can chi của năm ấy. Đây là chỗ Địa Không động, cũng là chỗ khách hỏi nhiều nhất: năm nay tôi có nên mở việc lớn không, năm nay tiền của tôi có yên không.

Địa Không không có bản lưu, và vì sao điều đó quan trọng

Suy luận Nói ngay để khỏi tìm nhầm: Địa Không không có sao lưu niên của riêng nó. Lộc Tồn có lưu Lộc Tồn, Kình Đà có lưu Kình lưu Đà, Thiên Mã có lưu Mã, Thái Tuế có lưu Thái Tuế, vì những sao ấy an theo can hoặc chi năm sinh nên mỗi năm mới có thể tính lại theo can chi của năm xem. Địa Không an theo giờ sinh, mà giờ sinh thì cả đời không đổi, nên không có khái niệm lưu Địa Không. Hệ quả rất thiết thực: cung có Địa Không trong lá số là một điểm cố định suốt đời, không năm nào nó rời đi. Việc của người luận không phải hỏi năm nay Địa Không ở đâu, mà hỏi năm nay có cái gì chạy tới cung có Địa Không.

Đại vận đi vào cung có Địa Không

Kinh văn Mười năm đại vận đóng tại cung có Địa Không là mười năm của sự thay đổi và của cái trống. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy quãng vận này thường mở ra bằng một sự việc làm gãy cái nếp cũ: nghỉ việc, chuyển nhà, chia tay, một khoản tiền lớn mất đi, hoặc một biến cố trong nhà. Sau cú gãy ấy đời rẽ hẳn sang một hướng khác. Điều đáng nói là hướng mới ấy hay hợp với người ta hơn hướng cũ, chỉ có điều lúc mới gãy thì chưa ai thấy được. Vì vậy khi khách đang ở đầu một đại vận Không Kiếp, Thầy không khuyên cố giữ bằng mọi giá, mà khuyên giữ lấy phần cốt lõi rồi thả phần còn lại cho nó đi.

Suy luận Phân biệt hai trường hợp. Đại vận vào cung Địa Không đắc địa, tức tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi theo Tân Biên, lại có chính tinh miếu vượng hoặc cát tinh chầu: đây là quãng hoạnh phát, một cơ hội bất ngờ đưa người ta lên, hợp khởi nghiệp, hợp đi xa, hợp làm cái chưa ai làm. Nhưng phải nhớ vế sau của câu sách là hoạnh phá, nên phần lãi trong vận này cần chuyển sớm sang chỗ chắc. Đại vận vào cung Địa Không hãm địa, lại thêm sát tinh: đây là quãng nên thủ, không mở rộng, không vay, không bảo lãnh, và dành sức cho việc học hoặc việc tinh thần. Kinh nghiệm Người biết dùng thì mười năm ấy là mười năm đọc sách, học nghề mới, chữa lành; người không biết dùng thì mười năm ấy là mười năm loay hoay tiếc của.

Lưu niên: những gì chạy tới cung Địa Không trong năm

Kinh văn Vì Địa Không đứng yên, cả phần động nằm ở các sao lưu và bộ Tứ Hóa lưu của năm. Bốn nhóm cần xem, xếp theo mức đáng chú ý:

  • Kinh văn Tứ Hóa lưu của năm rơi vào cung có Địa Không. Đây là điều đáng xem nhất. Năm nào chính tinh đồng cung với Địa Không lưu hóa Lộc thì năm ấy có tiền vào mà khó giữ, nên là năm thu xếp chứ không phải năm mở rộng. Năm nào chính tinh ấy lưu hóa Kỵ thì cái trống thành cái vướng, cần cẩn thận giấy tờ và cam kết. Ví dụ cụ thể: người có Tham Lang đồng cung Địa Không thì năm can Mậu Tham Lang lưu hóa Lộc, năm can Quý Tham Lang lưu hóa Kỵ; năm Quý gần nhất là 2023 Quý Mão, kế tiếp là 2033 Quý Sửu.
  • Kinh văn Lưu Lộc Tồn tới cung có Địa Không. Lộc Tồn lưu an theo can của năm xem, cùng bảng với Lộc Tồn bản mệnh. Năm mà lưu Lộc Tồn dừng đúng cung có Địa Không là năm tiền vào nhiều mà cũng ra nhiều, đúng nghĩa lộc thành hư trong phạm vi một năm. Ví dụ cung có Địa Không ở Hợi thì các năm can Nhâm chạm tới, gần đây là 2022 Nhâm Dần, sắp tới là 2032 Nhâm Tý; cung có Địa Không ở Tỵ thì các năm can Bính chạm tới, như 2026 Bính Ngọ.
  • Kinh văn Lưu Kình Dương và lưu Đà La tới cung có Địa Không. Sát gặp sát trong một năm. Nếu cung ấy là Tật Ách thì đây là năm nên đi khám sức khỏe định kỳ, nhất là về thần kinh và giấc ngủ; nếu là Tài Bạch thì là năm dễ mất tiền vì tin người. Lưu Kình và lưu Đà luôn kẹp hai bên lưu Lộc Tồn, nên ba sao này thường tới cùng một vùng trong cùng một năm.
  • Kinh nghiệm Lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới cung có Địa Không. Tổ hợp này thiên về chuyện tinh thần và chuyện gia đình hơn là chuyện tiền. Thầy hay dặn khách năm ấy giữ nếp sinh hoạt đều, ngủ đủ, và không quyết những việc lớn trong lúc đang buồn.
  • Kinh văn Lưu Thiên Mã tới cung có Địa Không tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mã gặp Không là năm của sự đi: chuyển chỗ, đổi việc, xuất ngoại. Đi thì được, nhưng chớ mang theo toàn bộ vốn liếng.

Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc Thầy vẫn dùng: trước hết xác định cung có Địa Không trong lá số và ghi nhớ nó như một địa chỉ cố định; sau đó mỗi năm chỉ cần hỏi ba câu. Năm nay Tứ Hóa lưu có rơi vào địa chỉ ấy không. Năm nay bộ lưu Lộc Tồn Kình Đà có đi qua đó không. Năm nay đại vận có đang đóng ở đó không. Nếu cả ba cùng chạm vào một lúc thì đó là năm bản lề, cần chuẩn bị kỹ; nếu chỉ một cái chạm thì chỉ là một quãng ồn ào rồi qua. Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy, quý vị đối chiếu ngay được với cung có Địa Không của mình.

Suy luận Một lưu ý cuối về cách gọi. Nhiều người hỏi "năm nay tôi có bị Địa Không chiếu không". Câu hỏi ấy đặt sai, vì Địa Không không phải sao hạn từng năm, nó nằm im một chỗ trong lá số suốt đời. Cái đổi theo năm là những gì chạy ngang qua chỗ nó đứng. Hiểu đúng chỗ này thì bớt được rất nhiều lo hão.

11 Nam mệnh và nữ mệnh

Nam và nữ mệnh Địa Không giàu ý tưởng, cần neo vào thực tếẢnh minh họa cập nhật sau Địa Không với nam mệnh và nữ mệnh
Nam và nữ mệnh Địa Không giàu ý tưởng, cần neo vào thực tế

Nam mệnh Địa Không nhiều ý tưởng, tư duy khác người, hợp nghề sáng tạo, nghiên cứu, công nghệ, tâm linh. Nếu đắc địa và có chính tinh sáng, đây là người có tầm nhìn vượt trước. Điều cần giữ là neo ý tưởng vào kế hoạch thực tế và thận trọng tiền bạc.

Nữ mệnh Địa Không tâm hồn nhạy cảm, hướng nội, giàu trực giác và đời sống tinh thần, song dễ hụt hẫng và xem nhẹ vật chất. Nên cân bằng giữa mơ và thực, giữ một nền tảng tài chính an toàn và tìm người bạn đời thấu hiểu.

12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Địa Không

Địa Không là một trong những sao bị gán thêm nhiều thứ nhất trong cả bộ sao, phần vì cái tên nghe đã thấy trống rỗng, phần vì trong khoa Tử Vi có tới mấy sao mang chữ Không. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì, để quý vị khỏi lo oan.

Địa Không không phải Thiên Không, cũng không phải Tuần Không hay Triệt Không

Kinh văn Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất. Trong lá số Tử Vi có mấy thứ cùng mang chữ Không mà cơ chế hoàn toàn khác nhau. Địa Không an theo giờ sinh, đi cặp Địa Kiếp, thuộc Lục Sát. Thiên Không là một sao khác hẳn, an theo chi năm sinh trong nhóm sao đi cùng vòng Thái Tuế. TuầnTriệt không phải sao mà là hai vệt án ngữ, an theo can chi năm sinh, chặn ngang cả cung chứ không đứng trong cung như một ngôi sao. Bốn thứ ấy tên gần giống nhau nhưng tham số an khác nhau, ý nghĩa khác nhau, và tuyệt đối không thay thế cho nhau khi luận. Hễ thấy tài liệu nào gộp chung "sao Không" là biết ngay tài liệu ấy chép lại chứ chưa đối chiếu cách an sao.

Không Kiếp không đồng nghĩa với phá sản hay nghèo

Kinh văn Sách viết Không Kiếp chủ hư hao, phá tán, và ngại nhất ở cung Tài, cung Điền. Sách không viết người có Không Kiếp thì nghèo. Hai điều ấy khác nhau xa. Hư hao là nói về dòng chảy của tiền, nghèo là nói về mức của tiền. Kinh nghiệm Thầy gặp rất nhiều lá số Không Kiếp thủ Mệnh mà thu nhập rất cao, họ chỉ không tích lũy được theo lối thông thường: tiền của họ nằm ở dự án đang chạy, ở kiến thức, ở quan hệ, chứ không nằm ở sổ tiết kiệm. Ngược lại cũng có những lá số không hề có Không Kiếp mà cả đời chật vật. Kết luận "có Không Kiếp là mất hết" là lỗi đọc sai một chữ, mà lại là chữ quan trọng nhất.

Đắc địa Tứ Sinh không phải bốn trường hợp giống nhau

Kinh văn Tân Biên xếp bộ Không Kiếp đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Câu ấy đúng như sách chép và bài này giữ nguyên. Suy luận Nhưng xét theo cấu trúc an sao thì bốn cung ấy chia làm hai kiểu rất khác nhau, điều mà phần lớn tài liệu không nói. Tại Tỵ và Hợi, hai sao bắt buộc phải đồng cung, vì đó là hai điểm bất động của phép đối xứng giữa chúng. Tại Dần và Thân, hai sao bắt buộc phải xung chiếu nhau, không bao giờ đồng cung. Vậy cùng gọi là đắc địa mà một đằng là lực dồn vào một điểm, một đằng là lực kéo hai đầu. Khi luận, đừng dán chung một lời cho cả bốn cung.

Có Không Kiếp không có nghĩa là phải đi tu

Kinh văn Sách ghi Không Kiếp thiên về phương diện tinh thần, chủ tư tưởng khác thường, hợp với việc trí tuệ và tâm linh. Sách không ghi người có Không Kiếp thì phải xuất gia, cũng không ghi không đi tu thì gặp họa. Kinh nghiệm Đây là chỗ Thầy phải đính chính nhiều nhất khi khách tới, thường là sau khi họ đọc được ở đâu đó một câu dọa. Trên thực tế, phần lớn người có Không Kiếp nổi bật sống đời bình thường, chỉ khác ở chỗ họ cần một đời sống tinh thần thật sự: một môn học, một việc thiện, một thói quen tĩnh tâm, một nghề có chỗ cho sáng tạo. Có chỗ để cái trống ấy trú thì họ yên; không có chỗ nào thì họ bồn chồn, và cái bồn chồn ấy mới sinh chuyện, chứ không phải sao sinh chuyện.

Tuần Triệt gặp Không Kiếp không phải là giải hết

Suy luận Có lối nói lưu hành rằng Tuần Triệt án ngữ cung có Không Kiếp thì hung tinh bị chặn nên hết xấu. Lối nói ấy nghe hợp lý và có phần nguyên lý, vì Tuần Triệt vốn chặn cả cái tốt lẫn cái xấu. Nhưng hai bộ sách mà trang này dẫn không có câu nào khẳng định như vậy cho riêng bộ Không Kiếp. Thầy xếp điều này vào hàng suy luận, chưa đủ ca thật để nói chắc, và khi luận thì vẫn xem Không Kiếp là Không Kiếp, chỉ ghi thêm rằng cung ấy có Tuần hoặc Triệt nên mọi sự đến chậm và mờ hơn. Kinh nghiệm Cũng cần nói thêm một câu hay bị truyền miệng: có người dẫn câu "Không Kiếp giáp Mệnh là bại cục" như một câu phú. Bài này không dẫn câu ấy làm kinh văn, vì chưa đối chiếu được nguyên văn trong hai bộ sách mà trang dùng; thay vào đó, mục cách cục ở trên đã nói rõ điều kiện cấu trúc của thế giáp Mệnh, là thứ kiểm được bằng thuật toán chứ không phải bằng trí nhớ.

13 Lá Số Minh Họa: Đọc Địa Không Qua Ba Bước

Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng để minh họa, không phải người thật: tuổi Nhâm, sinh giờ Tý, Tử Vi an tại Mùi, Mệnh an tại Hợi. Chính tinh, Tứ Hóa và bộ Lộc Tồn Kình Đà trên hình lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Lưới mười hai cung chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa và bộ Lộc Tồn Kình Đà, nên xin nói rõ ngay bằng lời: vì sinh giờ Tý, Địa Không và Địa Kiếp cùng an tại cung Hợi, tức là cùng nằm ngay tại cung Mệnh của lá số này.

Bước một: Địa Không ở đâu, thế nào với Địa Kiếp

Giờ Tý đưa Địa Không về Hợi và cũng đưa Địa Kiếp về Hợi, đúng như bảng ở mục cơ chế an sao: đây là một trong hai giờ duy nhất làm hai sao đồng cung, giờ kia là giờ Ngọ và khi ấy cả hai cùng tại Tỵ. Hợi thuộc bốn cung Tứ Sinh mà Tân Biên xếp là đắc địa cho bộ Không Kiếp, nên đây không phải thế hoàn toàn xấu mà là thế hoạnh phát hoạnh phá: có thể lên rất nhanh nhờ một cơ hội bất ngờ, và cũng xuống nhanh nếu không kịp giữ. Ngay bước này đã biết người ấy có một cái nền khí chất khác thường, không đi theo lối mòn.

Bước hai: đi với chính tinh nào, hóa gì

Cung Hợi của lá số này có Liêm Trinh và Tham Lang. Vậy Địa Không gặp đúng Tham Lang, tổ hợp đã bàn ở mục cách cục: cái say mê của Tham Lang bị rút phần vụ lợi, còn lại là sự say mê không tính toán. Đây là mẫu người mê một môn gì đó rất sâu mà môn ấy chưa chắc sinh ra tiền. Tuổi Nhâm cho bộ Tứ Hóa như sau: Thiên Lương hóa Lộc tại Dần là cung Điền Trạch, Tử Vi hóa Quyền tại Mùi là cung Tài Bạch, Tả Phụ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ tại Mão là cung Quan Lộc. Đáng chú ý nhất là Lộc Tồn tuổi Nhâm an tại Hợi, tức là ngồi chung cung Mệnh với cả Địa Không lẫn Địa Kiếp. Đây đúng là tổ hợp nặng nhất trong bảng lộc thành hư ở mục Tứ Hóa: kho tiền có khóa mà hai sao làm rỗng ngồi ngay trên nắp kho. Thêm nữa, Lộc Tồn ở đâu thì Kình Dương và Đà La kẹp hai bên ở đó, nên cung Mệnh này bị Kình Dương tại Tý và Đà La tại Tuất giáp hai bên.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì

Cung Mệnh tại Hợi có tam hợp là Mão và Mùi, xung chiếu là Tỵ. Cung Mão là Quan Lộc có Vũ Khúc hóa Kỵ và Thất Sát; cung Mùi là Tài Bạch có Tử Vi hóa Quyền và Phá Quân; cung Tỵ là Thiên Di để trống nên khi luận phải mượn sao của cung Mệnh đối diện. Vậy Địa Không ở đây không chỉ gặp Tham Lang đồng cung mà còn hội cả Thất Sát lẫn Phá Quân từ tam phương, đúng tổ hợp Địa Không gặp Sát Phá Tham đã bàn: người dám bỏ hết làm lại, đi trước thời cuộc, nhưng phải học cách giữ lại một sợi dây mỗi lần làm lại. Mặt nâng đỡ nằm ở Tử Vi hóa Quyền tại Tài Bạch, giúp giữ khuôn cho cái trống, và ở Thiên Lương hóa Lộc tại Điền Trạch, cho một chỗ dựa về nhà cửa. Mặt cần giữ nằm ở Vũ Khúc hóa Kỵ tại Quan Lộc: nghề nghiệp là nơi dễ vướng nhất, nên chọn nghề sống bằng chất xám thay vì nghề ăn vốn lớn.

Cùng lá số này, đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Đổi sang sinh giờ Sửu, giữ nguyên tuổi Nhâm: Địa Không lùi về Tuất, Địa Kiếp tiến tới Tý, hai sao kẹp đúng cung Hợi. Mệnh vẫn ở Hợi nhưng lúc này không còn sao nào trong cung, mà bị giáp từ hai bên. Liêm Tham và Lộc Tồn tại Mệnh được yên, nên tiền giữ được hơn hẳn; đổi lại người ấy suốt đời sống trong thế bị vây, làm gì cũng thấy hai bên trống, cần một người thực tế đi cùng.
  • Đổi sang sinh giờ Mão, giữ nguyên tuổi Nhâm: Địa Không sang Thân, Địa Kiếp sang Dần, hai sao xung chiếu nhau qua trục đi lại. Cung Mệnh tại Hợi lúc này sạch bóng Không Kiếp, chỉ còn Liêm Tham và Lộc Tồn, nên chuyện tiền bạc yên hơn nhiều; nhưng cung Điền Trạch tại Dần có Địa Kiếp và cung Tử Tức tại Thân có Địa Không, nên cái trống chuyển sang chuyện nhà cửa và chuyện con cái.
  • Giữ nguyên giờ Tý, đổi sang tuổi Bính: Địa Không và Địa Kiếp vẫn tại Hợi vì giờ không đổi, nhưng Lộc Tồn tuổi Bính an tại Tỵ nên không còn ngồi chung với chúng nữa, cách lộc thành hư tan. Bù lại Tứ Hóa đổi hẳn: Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ, mà Liêm Trinh lại đang đứng ngay cung Mệnh cùng Tham Lang và Không Kiếp. Thế này nhẹ về tiền mà nặng về tình cảm và cách xử thế, phải xem kỹ cung Phu Thê.

Ba trường hợp trên cùng một khung lá số, chỉ đổi giờ sinh hoặc đổi tuổi can, mà cách đọc khác hẳn nhau. Đó là lý do bài này nhấn mạnh chuyện kiểm cấu trúc trước khi luận. Muốn biết Địa Không của chính quý vị đứng ở cung nào, đi với chính tinh nào và thế nào với Địa Kiếp, hãy an lá số, rồi bấm vào sao Địa Không trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung và theo bộ sao của riêng mình.

14 Lời khuyên và cách hóa giải

Hóa giải và phát huyẢnh minh họa cập nhật sau Lời khuyên và cách hóa giải sao Địa Không
Địa Không là sát tinh hư hao, hóa giải bằng cách neo vào thực tế

Hóa giải Địa Không là biến cái hư không thành sáng tạo, đồng thời giữ một nền tảng thực tế để không bị nó cuốn trôi của cải.

  • Hướng vào nghề tinh thần. Sáng tạo, nghiên cứu, nghệ thuật, công nghệ, tâm linh là nơi Địa Không phát huy thay vì gây hao.
  • Thận trọng tiền bạc. Tránh đầu tư mạo hiểm, không dồn hết của vào một mối, giữ quỹ dự phòng, nhất là khi Địa Không ở Tài hay Điền.
  • Neo ý tưởng vào kế hoạch. Biến cái bay bổng thành bước đi cụ thể, có người thực tế cùng làm.
  • Nuôi đời sống tinh thần lành mạnh. Thiền, đọc, học hỏi giúp chiều sâu của Địa Không thành lợi thế.
  • Xem cả lá số. Địa Không đắc hay hãm, ở cung nào, đi cùng ai, mới quyết định lành dữ thật sự.

Gợi ý: người có Địa Không nổi bật nên có một cộng sự thực tế bên cạnh; cái tầm nhìn khác người gặp đúng người triển khai thì thành giá trị, đứng một mình thì dễ thành mơ mộng.

15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ các sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Địa Kiếp Địa Không: hai sao thuộc hàng sát tinh, đi cặp thành bộ Không Kiếp, an theo giờ sinh; đắc địa tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì tính thâm trầm, hoạnh phát hoạnh phá; hãm địa thì bạo ngược, gian, phá tán, dễ gây bệnh tật tai họa. Phần mô tả mặt tinh thần của bộ sao, chủ tư tưởng khác thường, cũng lấy từ mục này.
  • Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn): phần luận Không Kiếp ngại cung Tài Bạch và cung Điền Trạch, chủ hư hao của cải, tham chiếu theo bản dịch này.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng vị trí Địa Không và Địa Kiếp theo mười hai giờ sinh, bảng bốn thế của bộ Không Kiếp, danh sách các cung Địa Không có thể an, danh sách chính tinh có thể đồng cung tại từng vị trí, và bảng tuổi can cùng giờ sinh làm Địa Không đồng cung Lộc Tồn đều được sinh bằng chương trình chạy đủ mười can nhân mười hai giờ nhân mười hai thế Tử Vi, đối chiếu với thuật toán đang dùng trên trang an lá số. Lá số minh họa ở mục Lá Số cũng dựng bằng chính thuật toán ấy. Các phát hiện cấu trúc nêu trong bài, gồm phép đối xứng qua trục Tỵ Hợi, việc hai sao không bao giờ đứng kề nhau, và việc Không Kiếp chỉ giáp được cung Tỵ hoặc cung Hợi, là kết quả của lần kiểm này chứ không chép từ sách.
  • Về câu phú: bài này cố ý không dẫn câu phú nào cho bộ Không Kiếp, vì chưa đối chiếu được nguyên văn trong hai bộ sách nêu trên. Những câu được truyền miệng rộng rãi, kể cả câu về thế Không Kiếp giáp Mệnh, chỉ được nhắc lại ở mục Ranh Giới kèm ghi chú rằng chưa kiểm, chứ không dùng làm căn cứ luận.

Lưu ý về dị bản: giữa các trường phái có chỗ chép khác nhau về bộ Không Kiếp. Một số tài liệu đảo tên hai sao khi an theo giờ, tức là gọi sao đi thuận là Địa Không và sao đi nghịch là Địa Kiếp, ngược với bảng trang này dùng; một số tài liệu khác lại nhập Địa Không với Thiên Không làm một. Bài này theo đúng thuật toán an sao mà thayungkhiem.vn đang chạy: Địa Không khởi tại Hợi ở giờ Tý rồi đi nghịch, Địa Kiếp khởi tại Hợi ở giờ Tý rồi đi thuận, và Thiên Không là một sao riêng an theo chi năm sinh. Ngoài ra, lối luận cho rằng Hóa Kỵ gặp Địa Không thì triệt tiêu nhau là lối của một số nhà Bắc phái, bài này ghi nhận nhưng xếp vào hàng suy luận. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi; khi luận thực tế nên chọn một hệ cho nhất quán.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên phần Địa Kiếp Địa Không và Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao được kiểm bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Địa Không

Địa Không là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, đi cặp với Địa Kiếp thành bộ Không Kiếp. Sao này chủ về hư không, mất mát và tư tưởng kỳ lạ, thiên về phương diện tinh thần, làm cho mọi thứ dễ hóa trống nhưng cũng mở ra sáng tạo và chiều sâu.

Theo Tân Biên, bộ Không Kiếp đắc địa ở bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, khi đó có thể hoạnh phát. Các cung còn lại thì hung hãm, chủ phá tán, dễ gây bệnh tật tai họa.

Vì Địa Không chủ hư hao, đặt vào cung của cải thì tiền của dễ đến rồi đi, đầu tư hay hụt, dễ mất mát bất ngờ. Người xưa rất ngại Không Kiếp ở Tài Bạch và Điền Trạch.

Tùy hoàn cảnh. Đặt vào chuyện tiền bạc thì hao, nhưng hướng vào trí tuệ, nghiên cứu, nghệ thuật, tâm linh thì lại quý, cho người tư duy khác thường và chiều sâu. Đắc địa Tứ Sinh và gặp chính tinh sáng thì có thể hoạnh phát.

Hướng năng lượng vào nghề tinh thần và sáng tạo; thận trọng tiền bạc, giữ quỹ dự phòng; neo ý tưởng vào kế hoạch thực tế, có cộng sự thực tế; nuôi đời sống tinh thần lành mạnh; và xem cả lá số để biết Địa Không ở cung nào, đi cùng ai.

Chỉ hai giờ. Sinh giờ Tý thì cả Địa Không lẫn Địa Kiếp cùng an tại cung Hợi; sinh giờ Ngọ thì cả hai cùng an tại cung Tỵ. Đây là hệ quả của cách an sao: hai sao cùng khởi từ cung Hợi, Địa Không đi nghịch còn Địa Kiếp đi thuận, nên chúng đối xứng nhau qua trục Tỵ Hợi và chỉ trùng nhau tại chính hai cung ấy. Ngược lại, sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu thì hai sao xung chiếu nhau qua trục Dần Thân.

Chỉ khi cung Mệnh an tại Tỵ hoặc tại Hợi. Chạy đủ mười hai giờ sinh thì Không Kiếp chỉ kẹp được đúng hai cung: cung Hợi khi sinh giờ Sửu hoặc giờ Hợi, và cung Tỵ khi sinh giờ Tỵ hoặc giờ Mùi. Mệnh an ở mười cung còn lại thì dù sinh giờ nào cũng không thể bị Không Kiếp giáp. Ngoài ra hai sao không bao giờ đứng ở hai cung liền kề nhau, vì khoảng cách giữa chúng luôn là số chẵn.

Không. Địa Không không nằm trong Tứ Hóa của bất kỳ thiên can nào. Bảng Tứ Hóa chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở dị bản Bắc phái tuổi Nhâm. Tuy vậy Địa Không vẫn làm đổi nghĩa Tứ Hóa của chính tinh đồng cung: gặp Hóa Lộc thì lộc thành hư, gặp Hóa Quyền thì có quyền mà không thiết cầm, gặp Hóa Khoa thì danh nhẹ mà chiều sâu dày.

Không. Sách ghi bộ Không Kiếp thiên về phương diện tinh thần, chủ tư tưởng khác thường, hợp việc trí tuệ và tâm linh, nhưng không ghi người có sao này phải xuất gia, cũng không ghi không đi tu thì gặp họa. Điều thiết thực là người có Không Kiếp nổi bật cần một chỗ cho phần tinh thần của mình: một nghề có chỗ cho sáng tạo, một môn học, một việc thiện, một nếp tĩnh tâm. Có chỗ để cái trống ấy trú thì họ yên.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.