1 Sao Hóa Kỵ là gì

Hóa Kỵ là chân thứ tư của bộ Tứ Hóa và là hóa khí duy nhất mang tính hung, hành Thủy, sinh theo can năm sinh. Nếu Lộc Quyền Khoa rót thêm điều tốt thì Hóa Kỵ phủ lên một chính tinh một tầng ám trệ: vướng mắc, trở ngại, ganh ghét, thị phi và hao tổn.
Tuy vậy, Hóa Kỵ không hoàn toàn xấu. Đặt đúng chỗ, chính cái khí giữ chặt của nó lại giúp giữ của bền vững, và ở vài thế đặc biệt còn hóa thành cái lành.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Hóa Kỵ khác mọi sao khác trong lá số ở một điểm gốc: nó không có cung riêng. Tử Vi an theo cục và ngày sinh, Lộc Tồn an theo can năm, Văn Xương an theo giờ, Thiên Hình an theo tháng, sao nào cũng có một chỗ đứng của mình. Hóa Kỵ thì không. Nó là một hóa khí, sinh ra từ thiên can, rồi bám vào một ngôi sao đã có sẵn trên lá số và ngồi nhờ ở cung của ngôi sao ấy. Cho nên câu hỏi đúng không phải là "Hóa Kỵ đóng ở cung nào" mà là "can nào sinh Kỵ, Kỵ bám vào sao nào, và sao ấy đang ở cung nào". Ba câu hỏi ấy là toàn bộ cơ chế của sao này.
Kinh văn Bảng dưới đây liệt kê đủ mười can. Cột thứ ba cho biết sao bị Kỵ thuộc nhóm an sao nào, vì điều đó quyết định Kỵ có thể rơi vào những cung nào: sao thuộc chuỗi Tử Vi hay chuỗi Thiên Phủ thì đi theo thế Tử Vi, mỗi thế một vị trí, đủ mười hai khả năng; còn Văn Xương và Văn Khúc an theo giờ sinh nên Kỵ của tuổi Tân và tuổi Kỷ đổi chỗ theo giờ chứ không theo thế Tử Vi. Cột thứ tư là một kết quả tính bằng thuật toán, ít sách nào ghi: thế Kình Đà giáp Kỵ chỉ thành khi sao hóa Kỵ rơi đúng vào cung có Lộc Tồn, vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước. Với mỗi tuổi can, điều đó chỉ xảy ra ở đúng một thế Tử Vi trong mười hai thế, hoặc đúng một giờ sinh trong mười hai giờ.
| Tuổi can | Sao hóa Kỵ | Sao ấy an theo | Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ |
|---|---|---|---|
| Giáp | Thái Dương | chuỗi Tử Vi | Lộc Tồn tại Dần, thành thế khi Tử Vi an tại Tỵ |
| Ất | Thái Âm | chuỗi Thiên Phủ | Lộc Tồn tại Mão, thành thế khi Tử Vi an tại Dần |
| Bính | Liêm Trinh | chuỗi Tử Vi | Lộc Tồn tại Tỵ, thành thế khi Tử Vi an tại Sửu |
| Đinh | Cự Môn | chuỗi Thiên Phủ | Lộc Tồn tại Ngọ, thành thế khi Tử Vi an tại Sửu |
| Mậu | Thiên Cơ | chuỗi Tử Vi | Lộc Tồn tại Tỵ, thành thế khi Tử Vi an tại Ngọ |
| Kỷ | Văn Khúc | phụ tinh an theo giờ sinh | Lộc Tồn tại Ngọ, thành thế khi sinh giờ Dần |
| Canh | Thiên Tướng (Nam phái) · Thiên Đồng (Bắc phái) | chuỗi Thiên Phủ · chuỗi Tử Vi | Lộc Tồn tại Thân, thành thế khi Tử Vi an tại Tý (Nam phái); Tử Vi an tại Sửu (Bắc phái) |
| Tân | Văn Xương | phụ tinh an theo giờ sinh | Lộc Tồn tại Dậu, thành thế khi sinh giờ Sửu |
| Nhâm | Vũ Khúc | chuỗi Tử Vi | Lộc Tồn tại Hợi, thành thế khi Tử Vi an tại Mão |
| Quý | Tham Lang | chuỗi Thiên Phủ | Lộc Tồn tại Tý, thành thế khi Tử Vi an tại Ngọ |
Năm điều bất biến của Hóa Kỵ
- Kỵ luôn đi kèm ba anh em của nó. Một thiên can sinh ra đủ bốn hóa cùng lúc: một Lộc, một Quyền, một Khoa, một Kỵ. Không có lá số nào chỉ có Kỵ mà không có Lộc. Vì thế khi thấy Kỵ, việc đầu tiên là tìm ba hóa còn lại đang nằm ở cung nào, chứ không phải vội lo cho cái Kỵ.
- Theo bảng Nam phái, chỉ mười sáu ngôi sao được nhận Tứ Hóa, và chỉ mười ngôi sao nhận Kỵ. Theo bảng máy chủ của thayungkhiem.vn, sao nhận Hóa Kỵ gồm Thái Dương, Thái Âm, Liêm Trinh, Cự Môn, Thiên Cơ, Văn Khúc, Thiên Tướng theo Nam phái (Bắc phái là Thiên Đồng), Văn Xương, Vũ Khúc, Tham Lang. Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Đồng theo Nam phái, Tả Phụ, Hữu Bật không bao giờ hóa Kỵ. Ai nói "Tử Vi hóa Kỵ" hay "Thất Sát hóa Kỵ" là đã nhớ nhầm bảng.
- Thiên Tướng là chính tinh duy nhất chỉ nhận đúng một hóa, và hóa ấy là Kỵ. Theo Nam phái, Thiên Tướng hóa Kỵ với tuổi Canh và không hóa Lộc, Quyền hay Khoa với bất kỳ tuổi nào. Đây là điểm bất đối xứng đáng chú ý nhất của bảng, và cũng là chỗ Bắc phái không đồng ý: Bắc phái cho tuổi Canh là Thiên Đồng hóa Kỵ, còn Thiên Tướng không nhận hóa nào.
- Hai phụ tinh hóa Kỵ đều an theo giờ, nên Kỵ của tuổi Kỷ và tuổi Tân đi khắp mười hai cung. Văn Khúc và Văn Xương an theo giờ sinh, chạy đủ mười hai cung, không cung nào là không tới được. Chúng chỉ đồng cung với nhau tại Sửu khi sinh giờ Dậu và tại Mùi khi sinh giờ Mão, và xung chiếu nhau khi sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ. Con số này quan trọng cho tuổi Tân, sẽ nói ở mục Tứ Hóa.
- Cung có Kỵ và cung đối diện nó là một cặp, không tách được. Trong Đẩu Số, hai cung xung chiếu nhau chung một trục. Kỵ đóng ở Mệnh thì Thiên Di cũng bị kéo theo; Kỵ đóng ở Tài Bạch thì Phúc Đức đối diện cũng chịu; Kỵ đóng ở Phu Thê thì Quan Lộc đối diện chịu lây. Suy luận Người xưa gọi là "Kỵ xung", và trên lá số thật cái xung nhiều khi lộ rõ hơn cả cung có Kỵ, vì cung có Kỵ là chỗ mình biết mình vướng, còn cung bị xung là chỗ mình không ngờ tới.
Bốn tầng can, bốn lớp Hóa Kỵ chồng lên nhau
Kinh văn Đây là phần mà hầu hết các trang chép sách bỏ qua, và cũng là phần làm nên chiều sâu thật của Tứ Hóa. Một lá số không chỉ có một bộ Tứ Hóa. Nó có bốn tầng, mỗi tầng lấy theo một thiên can khác nhau:
- Tầng một, can năm sinh (Kỵ bản mệnh). Đây là cái Kỵ theo người suốt đời, không đổi. Nó chỉ ra lĩnh vực mà đời này người ấy phải bận tâm nhiều nhất, phải học nhiều nhất, và cũng là chỗ dễ hoài công nhất nếu không biết cách.
- Tầng hai, can của đại vận (Kỵ đại vận). Mỗi đại vận mười năm mang can riêng của cung đại vận ấy, và can ấy lại sinh ra một bộ Tứ Hóa mới. Cùng một lá số, đại vận này Kỵ rơi vào Tài Bạch, đại vận sau Kỵ rơi vào Phu Thê, nên mười năm này lo tiền, mười năm sau lo tình.
- Tầng ba, can của năm xem (Kỵ lưu niên). Mỗi năm một can, mỗi năm một Kỵ mới bay tới một cung. Đây là tầng khách hỏi nhiều nhất: năm nay tôi vướng ở đâu.
- Tầng bốn, can của từng cung (phi hóa). Mười hai cung trên lá số, mỗi cung có một thiên can riêng. Lấy can của cung Phu Thê mà bấm ra Tứ Hóa, rồi xem cái Kỵ ấy bay vào cung nào, thì biết chuyện hôn nhân sẽ va vào lĩnh vực nào. Đây là phi hóa, sở trường của Bắc phái Trung Châu và là tầng sâu nhất của Tứ Hóa.
Kinh nghiệm Bốn tầng ấy chồng lên nhau như bốn tờ giấy can. Chỗ nào hai ba tầng cùng đánh dấu vào một cung thì chỗ ấy là điểm nóng thật sự của đời người. Thầy gọi hiện tượng này là Kỵ chồng Kỵ. Một tầng Kỵ chỉ là một cái vướng bình thường, ai cũng có, mười người thì mười người đều có ít nhất một cung mang Kỵ bản mệnh. Nhưng khi Kỵ bản mệnh đóng ở Tài Bạch, rồi đại vận đi tới cũng làm Kỵ rơi vào Tài Bạch, rồi năm ấy lưu Kỵ cũng vào Tài Bạch nữa, thì đó mới là năm mà tiền bạc thật sự phải cẩn thận. Ngược lại, chỉ một mình lưu Kỵ chạm vào một cung mà bản mệnh không có gì thì đó là cơn mưa rào, không phải mùa lụt.
Suy luận Từ cấu trúc trên rút ra một quy tắc đọc rất tiện, Thầy vẫn dặn học trò: đếm số tầng trước, rồi mới luận nặng nhẹ. Một tầng là nhắc nhở. Hai tầng là phải để ý. Ba tầng trở lên mới là chuyện đáng ngồi xuống bàn kỹ. Cách đếm này giúp người luận không bị cuốn theo cảm giác, vì hễ thấy chữ Kỵ là dễ nói nặng, mà nói nặng thì khách sợ, khách sợ thì không còn nghe được lời khuyên nào nữa.
Kỵ bám sao nào thì mượn tính của sao ấy
Kinh văn Vì Hóa Kỵ không có thân, nó phải mượn thân của sao chủ. Cho nên nghĩa của Kỵ luôn là tính của sao chủ bị vướng lại, chứ không phải một nghĩa cố định. Thái Dương chủ danh và chủ người cha, nên Thái Dương hóa Kỵ là danh bị che và lo cho cha. Vũ Khúc chủ tiền và chủ quyết đoán, nên Vũ Khúc hóa Kỵ là tiền bị kẹt và quyết đoán thành cố chấp. Cự Môn chủ miệng lưỡi, nên Cự Môn hóa Kỵ là lời nói sinh chuyện. Suy luận Người mới học hay cố nhớ một bảng nghĩa của Hóa Kỵ; người luận lâu thì không cần bảng ấy, chỉ cần nhớ tính của mười ngôi sao nhận Kỵ rồi thêm vào một chữ "vướng" là ra.
3 Ý nghĩa và đặc tính của Hóa Kỵ

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Hóa Kỵ chủ sự độc hiểm, ích kỷ, hay ghen ghét, hay nhầm lẫn, gây bệnh tật, tai họa, thị phi, kiện cáo. Người bị Hóa Kỵ ám ở cung nào thì lĩnh vực ấy lận đận, vướng víu, hay gặp trục trặc.
Nhưng cũng chính Tân Biên ghi một mặt khác: Hóa Kỵ giữ của cải bền vững, vì cái khí của nó là giữ chặt, không cho thoát ra. Đặc biệt, Hóa Kỵ đắc địa ở bốn cung Tứ Mộ thì đỡ lo bệnh tật tai họa, cái hung được giảm nhẹ.
4 Tra Nhanh: Can Năm Sinh Và Sao Bị Hóa Kỵ
Mỗi can năm sinh khiến một sao hóa Kỵ. Tra theo can của năm sinh để biết lá số mình Hóa Kỵ vào sao nào, đó là nơi cần thận trọng nhất.
| Can năm sinh | Sao bị Hóa Kỵ |
|---|---|
| Giáp | Thái Dương |
| Ất | Thái Âm |
| Bính | Liêm Trinh |
| Đinh | Cự Môn |
| Mậu | Thiên Cơ |
| Kỷ | Văn Khúc |
| Canh | Thiên Đồng |
| Tân | Văn Xương |
| Nhâm | Vũ Khúc |
| Quý | Tham Lang |
Ghi nhớ: Hóa Kỵ đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cái hung được giảm nhẹ. Cự Môn hay Thiên Cơ gặp Hóa Kỵ là thế thị phi nặng; cần xem kỹ.
5 Hóa Kỵ Khi Gặp Các Sao Khác

Hóa Kỵ ám vào chính tinh nào thì làm lĩnh vực sao ấy trắc trở. Gặp Cự Môn đồng cung thì gây bệnh tật, tai họa nặng, vì Ám tinh lại thêm ám khí. Gặp Thiên Riêu, Đà La thì kết thành bộ Tam ám, che mờ ánh sáng của Nhật Nguyệt. Gặp Thiên Lương, Văn Khúc hội hợp thì bế tắc, sinh nhiều hung họa.
Tuy nhiên có vài thế Hóa Kỵ lại hóa hay: tọa thủ Sửu Mùi gặp Thái Dương Thái Âm thì như mây năm sắc chầu mặt trời mặt trăng, làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ; tọa Tỵ Hợi gặp Liêm Trinh Tham Lang thì chế được tính hung của Liêm Tham. Đây là minh chứng rằng cái kỵ đặt đúng chỗ vẫn có lợi.
6 Bảng Mười Can Và Luận Từng Sao Hóa Kỵ
Mục trên nói cơ chế. Mục này đi vào từng trường hợp cụ thể: tuổi nào thì sao nào hóa Kỵ, và cái Kỵ ấy đọc ra nghĩa gì. Bảng lấy đúng theo bảng an sao mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang dùng, có ghi rõ hai chỗ Nam phái và Bắc phái không giống nhau.
| Tuổi can | Sao hóa Kỵ |
|---|---|
| Giáp | Thái Dương |
| Ất | Thái Âm |
| Bính | Liêm Trinh |
| Đinh | Cự Môn |
| Mậu | Thiên Cơ |
| Kỷ | Văn Khúc |
| Canh | Thiên Tướng (Nam phái) · Thiên Đồng (Bắc phái) |
| Tân | Văn Xương |
| Nhâm | Vũ Khúc |
| Quý | Tham Lang |
Kinh văn Hai chỗ khác nhau giữa hai phái đều rơi vào tuổi Canh và tuổi Nhâm, nhưng riêng Hóa Kỵ thì chỉ tuổi Canh là lệch: Nam phái cho Thiên Tướng hóa Kỵ, Bắc phái cho Thiên Đồng hóa Kỵ. Tuổi Nhâm hai phái đều thống nhất Vũ Khúc hóa Kỵ, chỗ lệch của tuổi Nhâm nằm ở Hóa Khoa (Tả Phụ hay Thiên Phủ). Bài này trình bày cả hai để quý vị đối chiếu, còn khi luận thì nên chọn một phái cho nhất quán từ đầu tới cuối lá số.
Tuổi Giáp: Thái Dương hóa Kỵ
Kinh văn Thái Dương là mặt trời, chủ công danh, chủ người cha, chủ người chồng trong nữ mệnh, và chủ đôi mắt. Mặt trời hóa Kỵ là mặt trời bị mây che: danh tiếng bị che khuất hoặc bị dèm pha, mắt dễ mỏi và dễ mắc tật, duyên với cha mỏng hoặc phải lo cho cha. Phải tách hai thế. Thái Dương đang miếu vượng ở Tỵ, Ngọ, Mão, Dần, Thìn mà hóa Kỵ thì mặt trời vẫn sáng, Kỵ chỉ là mây thoáng qua: người vẫn quang minh nhưng hay bị nói sau lưng, danh lên rồi bị kéo xuống rồi lại lên. Thái Dương đang hãm ở Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý mà hóa Kỵ mới là thế nặng, khi ấy cần xem kỹ Tật Ách về mắt và Phụ Mẫu về cha. Kinh nghiệm Trong các tuổi Giáp Thầy đã luận, biểu hiện sớm nhất và dễ kiểm nhất luôn là mắt: cận sớm, loạn thị, khô mắt, hoặc một bên mắt yếu hơn hẳn bên kia.
Tuổi Ất: Thái Âm hóa Kỵ
Kinh văn Thái Âm là mặt trăng, chủ tài sản tích lũy, chủ người mẹ, chủ người vợ trong nam mệnh, chủ nhà cửa và chủ sự âm thầm. Mặt trăng hóa Kỵ là trăng bị mây: tiền có mà không yên, tích được rồi lại phải bỏ ra; lo lắng cho mẹ hoặc cho vợ; và một biểu hiện rất đặc trưng là lo ngầm, tức là ngoài mặt bình thản mà trong lòng nghĩ ngợi không thôi, hay mất ngủ. Suy luận Tuổi Ất có một cấu trúc riêng mà thuật toán chỉ ra rất rõ: Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ có thể đồng cung khi Tử Vi an tại Mão hoặc Dậu, tức khi bộ Cơ Âm đứng chung một cung. Đây là thế Lộc Kỵ đồng cung điển hình nhất trong cả mười can, sẽ nói kỹ ở mục cách cục. Ngoài ra Thiên Lương hóa Quyền của tuổi Ất luôn tam hợp chiếu về Thái Âm hóa Kỵ, đủ mười hai thế Tử Vi không trừ thế nào, nghĩa là người tuổi Ất luôn có một cái Quyền đứng nhìn cái Kỵ của mình.
Tuổi Bính: Liêm Trinh hóa Kỵ
Kinh văn Liêm Trinh là tù tinh, là thứ hai của bộ sao chủ về tình cảm và cũng chủ về máu huyết, về pháp luật, về quan hệ. Liêm Trinh hóa Kỵ được sách xếp vào loại nặng, vì bản thân Liêm Trinh đã là một sao có tính bó buộc, nay lại thêm cái khí giữ chặt của Kỵ. Nghĩa hay gặp: vướng vào chuyện giấy tờ, kiện tụng, hợp đồng; tình cảm rối và khó dứt; sức khỏe thì thiên về máu huyết và về phần dưới cơ thể. Kinh nghiệm Với người làm nghề dính tới ký kết, đứng tên, bảo lãnh, thế Liêm Kỵ là thế Thầy dặn kỹ nhất: không phải cấm ký, mà là đọc kỹ trước khi ký, và đừng ký thay ai. Liêm Trinh hóa Kỵ ở Tật Ách thì phải hỏi thêm về kinh nguyệt với nữ mệnh và về gan, máu với cả hai giới.
Tuổi Đinh: Cự Môn hóa Kỵ
Kinh văn Cự Môn là ám tinh, chủ miệng lưỡi, chủ tranh biện, chủ nghi ngờ. Cự Môn vốn đã ám, nay thêm Kỵ là ám chồng ám, nên sách xếp Cự Môn hóa Kỵ vào hàng nặng nhất trong mười trường hợp, cùng với Liêm Trinh. Nghĩa: thị phi, hiểu lầm, nói ra bị bắt bẻ, im lặng lại bị suy diễn; hợp đồng và lời hứa dễ sinh chuyện; trong nhà thì hay lời qua tiếng lại. Suy luận Nhưng tuổi Đinh lại có một lối thoát rất đẹp mà thuật toán chỉ ra: Thiên Cơ hóa Khoa của cùng tuổi Đinh có thể đồng cung với Cự Môn hóa Kỵ, khi Tử Vi an tại Thìn hoặc Tuất, tức khi bộ Cơ Cự đứng chung cung. Đó là thế Khoa và Kỵ cùng một chỗ, cái ám bị cái sáng ngồi cạnh. Ngoài ra Thiên Đồng hóa Quyền của tuổi Đinh đồng cung với Cự Kỵ khi Tử Vi tại Tý hoặc Ngọ, tức bộ Đồng Cự. Cùng một cái Kỵ nặng, người tuổi Đinh này có Khoa đỡ, người tuổi Đinh kia không có, nên không thể nói chung "tuổi Đinh khổ vì miệng".
Tuổi Mậu: Thiên Cơ hóa Kỵ
Kinh văn Thiên Cơ là sao của mưu tính, của thay đổi, của bánh xe quay. Thiên Cơ hóa Kỵ là bánh xe quay mà kẹt: tính toán nhiều mà không ra, thay đổi nhiều mà không tới đâu, kế hoạch dựng lên rồi bỏ. Với người, đó là kiểu nghĩ quá nhiều trước khi làm, và nghĩ lại nhiều lần sau khi đã làm. Sức khỏe thì thiên về thần kinh, gân cốt, tay chân. Suy luận Tuổi Mậu có một cặp đáng chú ý: Thái Âm hóa Quyền và Thiên Cơ hóa Kỵ đồng cung khi Tử Vi tại Mão hoặc Dậu, tức bộ Cơ Âm. Quyền và Kỵ trong một cung là thế rất đặc biệt: người ấy nắm được việc nhưng nắm bằng cách vật lộn, có thực quyền mà không có sự nhẹ nhàng. Cũng tuổi Mậu, Hóa Khoa rơi vào Hữu Bật là phụ tinh an theo tháng sinh, nên Khoa có cứu được Kỵ hay không còn tùy tháng sinh, không nói trước được.
Tuổi Kỷ: Văn Khúc hóa Kỵ
Kinh văn Văn Khúc chủ tài hoa, chủ lời hay ý đẹp, chủ nghệ thuật và giấy tờ. Văn Khúc hóa Kỵ là tài hoa vướng: viết ra bị hiểu sai, giấy tờ sai sót, hợp đồng thiếu chữ, thi cử trục trặc, hoặc tình cảm lụy vì lãng mạn. Suy luận Vì Văn Khúc an theo giờ sinh chứ không theo thế Tử Vi, Kỵ của tuổi Kỷ có thể rơi vào bất kỳ cung nào trong mười hai cung, và có thể đồng cung với bất kỳ chính tinh nào. Đây là điểm khác hẳn tám tuổi kia. Người tuổi Kỷ muốn biết Kỵ của mình nằm đâu thì phải biết giờ sinh cho chắc, sai một giờ là Kỵ nhảy sang cung khác. Kinh nghiệm Thầy đã gặp không ít trường hợp khách nhớ nhầm giờ sinh, luận Văn Khúc Kỵ ở Quan Lộc mà thực ra nằm ở Phu Thê, đọc ra hai câu chuyện khác hẳn nhau. Với tuổi Kỷ và tuổi Tân, việc xác minh giờ sinh quan trọng gấp đôi.
Tuổi Canh: Thiên Tướng hóa Kỵ theo Nam phái, Thiên Đồng hóa Kỵ theo Bắc phái
Kinh văn Đây là ô duy nhất trong bảng mười can mà hai phái không nói giống nhau, nên phải trình bày cả hai. Theo Nam phái, bảng mà trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng làm mặc định, tuổi Canh là Thiên Tướng hóa Kỵ. Thiên Tướng là ấn tinh, chủ chức phận, chủ cái ấn tín, chủ sự giúp người và đứng ra thay mặt. Thiên Tướng hóa Kỵ là cái ấn bị vướng: đứng tên hộ mà mang họa, bảo lãnh mà mắc nợ, làm thay người mà bị trách, có chức mà không có quyền tương xứng. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy biểu hiện rõ nhất của Tướng Kỵ là "gánh việc không phải của mình", và lời khuyên gọn nhất là đừng đứng tên thay ai. Theo Bắc phái, tuổi Canh là Thiên Đồng hóa Kỵ. Thiên Đồng là phúc tinh, chủ hưởng thụ, chủ an nhàn, chủ trẻ con. Phúc tinh hóa Kỵ là cái phúc bị vướng: muốn yên mà không yên được, hay bị kéo vào việc, hoặc an nhàn quá hóa trì trệ. Suy luận Hai cách đọc dẫn tới hai lời khuyên khác nhau, cho nên với tuổi Canh, việc chọn phái phải nói rõ với người xem ngay từ đầu, không được đọc lẫn.
Tuổi Tân: Văn Xương hóa Kỵ
Kinh văn Văn Xương chủ văn chương chính quy, chủ bằng cấp, giấy tờ, chữ nghĩa có khuôn phép. Văn Xương hóa Kỵ là chữ nghĩa vướng: giấy tờ thiếu, bằng cấp trục trặc, hồ sơ trả đi trả lại, thi cử lận đận, hoặc viết ra điều gì rồi bị dùng ngược lại. Suy luận Tuổi Tân có một cấu trúc rất đẹp mà ít sách nêu, và thuật toán xác nhận: cùng tuổi Tân, Văn Khúc hóa Khoa và Văn Xương hóa Kỵ, mà hai sao này chỉ đồng cung tại Sửu khi sinh giờ Dậu, và tại Mùi khi sinh giờ Mão. Nghĩa là người tuổi Tân sinh đúng hai giờ ấy thì Khoa và Kỵ nằm chung một cung, cái ám bị cái sáng ngồi kèm ngay bên cạnh. Ngược lại, người tuổi Tân sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ thì Xương Kỵ và Khúc Khoa xung chiếu nhau qua trục Thìn Tuất, tức Khoa nhìn Kỵ từ xa, đỡ được nhưng không đỡ trọn. Còn tám giờ sinh còn lại thì Khoa và Kỵ mỗi bên một nơi. Cùng tuổi Tân mà ba cảnh khác nhau, chỉ vì giờ sinh.
Tuổi Nhâm: Vũ Khúc hóa Kỵ
Kinh văn Vũ Khúc là tài tinh, chủ tiền bạc, chủ sự quyết đoán, chủ kim khí và hành động dứt khoát. Vũ Khúc hóa Kỵ là tiền bị kẹt và quyết đoán thành cứng: tiền vào rồi kẹt ở chỗ khó rút, đầu tư chôn vốn, cho vay khó đòi; tính người thì thẳng quá hóa mất lòng, dứt khoát quá hóa cực đoan. Sức khỏe thiên về phổi, đường hô hấp, răng và mũi, và về thương tích do kim khí. Suy luận Tuổi Nhâm có Tử Vi hóa Quyền luôn tam hợp chiếu Vũ Khúc hóa Kỵ, đủ mười hai thế không trừ thế nào. Đây là một cấu trúc bất biến khác mà thuật toán chỉ ra: người tuổi Nhâm bao giờ cũng có một cái Quyền của đế tinh nhìn về cái Kỵ tiền bạc của mình, nên cái vướng về tiền thường đi kèm khả năng tự đứng ra thu xếp, chứ ít khi bó tay hoàn toàn.
Tuổi Quý: Tham Lang hóa Kỵ
Kinh văn Tham Lang chủ dục vọng, chủ ham muốn, chủ giao tế và tài lẻ. Tham Lang hóa Kỵ là ham muốn vướng: muốn nhiều thứ cùng lúc nên không thành thứ nào, đầu tư theo hứng, ham vui mà lỡ việc, hoặc tình cảm nhiều mà không sâu. Mặt khác của nó là biết dừng: nhiều lá số Tham Kỵ lại là người cai được thói quen xấu, vì cái khí giữ chặt của Kỵ ghìm bớt cái buông thả của Tham Lang. Suy luận Tuổi Quý có một cấu trúc bất biến nữa: Phá Quân hóa Lộc luôn tam hợp chiếu Tham Lang hóa Kỵ, đủ mười hai thế. Người tuổi Quý vì thế luôn ở trong thế "phá cũ để có lộc mới, nhưng cái ham muốn thì bị ghìm", đó là lý do nhiều người tuổi Quý làm ăn theo lối bỏ hẳn cái cũ rồi mới dựng cái mới, chứ không đi từng bước.
Lộc có gặp được Kỵ không, Khoa có cứu được Kỵ không
Suy luận Bảng dưới đây là kết quả chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng can, để trả lời hai câu hỏi mà người luận hay hỏi mà sách không trả lời: cái Lộc của chính tuổi mình có bao giờ gặp cái Kỵ của chính tuổi mình không, và cái Khoa của chính tuổi mình có bao giờ đứng cạnh cái Kỵ để cứu không. Kết quả hơi bất ngờ: Khoa và Kỵ cùng một tuổi hầu như không bao giờ gặp nhau. Trong mười can, chỉ tuổi Đinh là Thiên Cơ Khoa gặp được Cự Môn Kỵ, còn năm tuổi có Hóa Khoa rơi vào phụ tinh là Bính, Mậu, Kỷ, Tân, Nhâm thì phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh mới biết. Nghĩa là cái Khoa giải Kỵ mà sách hay nói phần lớn không đến từ Tứ Hóa bản mệnh của chính mình, mà đến từ đại vận, từ lưu niên, hoặc từ phi hóa của cung khác bay tới.
| Tuổi can | Sao hóa Kỵ | Lộc có gặp được Kỵ không | Khoa có cứu được Kỵ không |
|---|---|---|---|
| Giáp | Thái Dương Kỵ | Liêm Trinh Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Vũ Khúc Khoa: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau |
| Ất | Thái Âm Kỵ | Thiên Cơ Lộc: đồng cung khi Tử Vi tại Mão, Dậu; xung chiếu khi Tử Vi tại Tý, Ngọ; tam hợp khi Tử Vi tại Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi | Tử Vi Khoa: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau |
| Bính | Liêm Trinh Kỵ | Thiên Đồng Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Văn Xương Khoa: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh |
| Đinh | Cự Môn Kỵ | Thái Âm Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Thiên Cơ Khoa: đồng cung khi Tử Vi tại Thìn, Tuất; xung chiếu khi Tử Vi tại Sửu, Mùi; tam hợp khi Tử Vi tại Tý, Dần, Ngọ, Thân |
| Mậu | Thiên Cơ Kỵ | Tham Lang Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Hữu Bật Khoa: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh |
| Kỷ | Văn Khúc Kỵ | Vũ Khúc Lộc: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh | Thiên Lương Khoa: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh |
| Canh | Thiên Tướng Kỵ | Thái Dương Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Thiên Đồng Khoa: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau |
| Tân | Văn Xương Kỵ | Cự Môn Lộc: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh | Văn Khúc Khoa: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh |
| Nhâm | Vũ Khúc Kỵ | Thiên Lương Lộc: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau | Tả Phụ Khoa: một trong hai là phụ tinh, phải xét thêm giờ sinh hoặc tháng sinh |
| Quý | Tham Lang Kỵ | Phá Quân Lộc: luôn tam hợp chiếu nhau, đủ mười hai thế Tử Vi | Thái Âm Khoa: không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu nhau |
Hóa Kỵ bay tới từ cung khác (phi hóa)
Kinh nghiệm Ba tầng can ngoài can năm sinh đều sinh ra Kỵ mới, và cái Kỵ mới ấy bay tới đậu vào một cung nào đó. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:
- Kỵ của cung Phu Thê bay vào Tài Bạch. Lấy can của cung Phu Thê bấm Tứ Hóa, thấy Kỵ rơi vào Tài Bạch, thì chuyện vợ chồng và chuyện tiền bạc buộc vào nhau: bất hòa thường nổ ra quanh chuyện chi tiêu, hoặc người bạn đời là biến số của túi tiền.
- Kỵ của cung Tài Bạch bay vào Mệnh. Đây là thế người bị tiền chi phối tính khí: hễ tiền không thuận là cả người không yên. Ngược lại Kỵ của Mệnh bay vào Tài Bạch là người tự làm khó túi tiền của mình vì tính cách.
- Kỵ bay về đúng cung sinh ra nó. Bắc phái gọi là tự hóa Kỵ: can của cung ấy sinh ra Kỵ mà Kỵ lại đậu ngay trong cung ấy. Nghĩa là lĩnh vực ấy tự nó tiêu hao chính nó, được bao nhiêu hao bấy nhiêu, không cần ai phá. Đây là thế khó thấy nhất và cũng dai nhất.
Trên trang an lá số của thayungkhiem.vn, phần phi hóa hiện ngay dưới lá số: bấm vào từng cung là thấy can của cung ấy hóa gì và bay đi đâu. Tầng luận sâu của phi hóa thuộc phần luận có phí của UK MASTER ACADEMY.
7 Hóa Kỵ Tại 12 Cung Chức

Hóa Kỵ đóng vào cung nào thì gieo trở ngại và vướng mắc vào lĩnh vực đó. Đây là cung cần thận trọng nhất trong lá số.
| Cung | Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc | Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh | Tổ hợp đáng chú ý tại cung này |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Người sâu sắc, kỹ lưỡng, biết giữ, có một mối bận tâm lớn làm động lực cả đời; hợp nghề đòi hỏi tỉ mỉ và bền bỉ. | Hay nghĩ ngợi, khó buông, tự làm khó mình; làm gì cũng thấy vướng, dễ mang tiếng khó tính. | Kỵ tại Mệnh mà Khoa từ đại vận hoặc lưu niên chiếu tới là thế được gỡ. Kỵ tại Mệnh cộng Đà La đồng cung là người ôm việc trong lòng rất lâu. |
| Huynh Đệ | Anh em ít mà gắn bó, hoặc mình là người lo cho anh em và được nhìn nhận. | Anh em, cộng sự bất hòa vì tiền hoặc vì hiểu lầm; hùn hạp dễ tan. | Kỵ tại Huynh Đệ mà cung này cũng là cung hợp tác làm ăn: đây là chỗ Thầy luôn dặn không hùn vốn bằng lời nói suông, phải có giấy trắng mực đen. |
| Phu Thê | Duyên bền theo lối gắn chặt, hai người dính nhau qua cả lúc khó; hợp kết hôn muộn và chắc. | Hôn nhân nhiều vướng mắc, hiểu lầm kéo dài, một bên ôm uất không nói. | Kỵ tại Phu Thê thì cung Quan Lộc đối diện bị xung: chuyện nhà ảnh hưởng chuyện làm. Kỵ tại Phu Thê cộng Thiên Riêu là thế phải luận rất thận trọng, không kết luận vội. |
| Tử Tức | Con ít mà quý, hoặc mình dốc lòng cho con và con nên người. | Muộn con, lo cho con nhiều, hoặc con cái là mối bận tâm dai dẳng nhất đời. | Kỵ tại Tử Tức cần xem thêm Tật Ách trước khi nói bất kỳ điều gì về đường con cái. Cung này cũng chủ cấp dưới và học trò, nên Kỵ ở đây có thể là chuyện người mình dạy chứ không phải con mình đẻ. |
| Tài Bạch | Giữ tiền rất chặt, tiết kiệm có kỷ luật, hợp tích lũy dài hạn và quản quỹ. | Tiền vào rồi kẹt, cho vay khó đòi, hay vướng nợ và giấy tờ tiền bạc. | Kỵ tại Tài Bạch mà cùng cung có Hóa Lộc là thế Lộc Kỵ đồng cung: tiền vào nhiều mà ra cũng nhiều. Kỵ tại Tài cộng Không Kiếp thì phải rất kỹ với đầu tư theo phong trào. |
| Tật Ách | Biết bệnh sớm nên giữ gìn sớm; sức khỏe không rực rỡ nhưng bền vì cẩn thận. | Một chứng dai dẳng đúng theo tạng của sao bị Kỵ, hay tái đi tái lại hơn là bùng phát dữ dội. | Đọc bệnh phải đọc ở đây, không đọc từ Mệnh. Thái Dương Kỵ tại Tật là mắt, Vũ Khúc Kỵ là phổi và hô hấp, Liêm Trinh Kỵ là máu huyết, Thiên Cơ Kỵ là thần kinh gân cốt, Cự Môn Kỵ là tiêu hóa và họng. |
| Thiên Di | Ra ngoài thận trọng nên ít hớ; hợp làm việc ở môi trường quen, nơi mình đã có chỗ đứng. | Ra ngoài hay va chạm, đi xa lận đận, dễ mất lòng người lạ mà không hiểu vì sao. | Cung này đối diện Mệnh, nên Kỵ ở đây xung thẳng vào Mệnh: người ngoài nhìn vào thấy mình vướng trước cả khi mình thấy. Kỵ tại Thiên Di cộng Thiên Mã là đi xa mà mệt. |
| Nô Bộc | Bạn ít mà thật, giữ được người lâu năm; cấp dưới trung thành dù không đông. | Bị bạn hoặc cấp dưới làm phiền, giúp người mà mang tiếng, dễ bị lợi dụng lòng tốt. | Kỵ tại Nô Bộc là chỗ Thầy dặn kỹ nhất về việc đứng tên hộ và bảo lãnh, nhất là khi Kỵ bám Thiên Tướng theo Nam phái tuổi Canh. |
| Quan Lộc | Nghề đòi hỏi chuyên sâu, càng khó càng hợp; đi một nghề tới cùng và thành người giỏi nghề. | Công việc nhiều cản trở, hay bị soi, giấy tờ trục trặc, đổi việc nhiều mà chưa yên. | Kỵ tại Quan Lộc xung Phu Thê: áp lực nghề nghiệp dội về đời sống vợ chồng. Kỵ tại Quan cộng Văn Xương hoặc Văn Khúc là chuyện hồ sơ, bằng cấp, hợp đồng. |
| Điền Trạch | Giữ được nhà đất, không bán đi bán lại; của cải neo vào bất động sản nên khó tiêu tán. | Nhà cửa vướng giấy tờ, tranh chấp, sửa mãi không xong, hoặc ở nơi không ưng mà chưa dời được. | Điền Trạch trong Đẩu Số cũng là cái kho của cả lá số, nên Kỵ ở đây là của cải bị neo lại: nhìn thì có mà dùng thì khó. Kỵ tại Điền cộng Vũ Khúc Kỵ tuổi Nhâm là thế chôn vốn điển hình. |
| Phúc Đức | Người có chiều sâu nội tâm, hợp việc tu dưỡng, thiền, nghiên cứu; suy nghĩ kỹ nên ít sai lầm lớn. | Tâm hay bất an, nghĩ ngợi về đêm, khó thấy đủ dù bên ngoài đủ; hay tự trách mình. | Đây là cung Thầy coi trọng nhất khi thấy Kỵ, vì cung này quyết định người ấy chịu đựng cái Kỵ thế nào. Cùng một Kỵ ở Tài Bạch, người Phúc Đức tốt thì coi là bài học, người Phúc Đức có Kỵ nữa thì thành ám ảnh. |
| Phụ Mẫu | Hiếu thảo theo lối lo toan cụ thể; là người trong nhà đứng ra gánh việc cha mẹ. | Duyên với cha mẹ mỏng, xa cách, hoặc phải lo cho cha mẹ sớm và lâu. | Cung này cũng chủ cấp trên và giấy tờ chính thức. Kỵ tại Phụ Mẫu nhiều khi không phải chuyện cha mẹ mà là chuyện với sếp hoặc với cơ quan công quyền, phải hỏi rõ mới kết luận. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng này, và cũng là điều Thầy muốn quý vị nhớ hơn cả bảng: Hóa Kỵ ở cung nào thì chỉ đọc lĩnh vực của cung ấy, không phán chung cho cả đời. Người có Kỵ ở Tài Bạch không phải là "người số khổ", mà là người có chuyện phải học về tiền. Người có Kỵ ở Phu Thê không phải là "người không có hạnh phúc", mà là người phải học cách nói chuyện với bạn đời. Cách hỏi ngược rất hiệu quả khi luận: thấy Kỵ ở cung nào thì hỏi khách "trong đời anh chị, chuyện gì thuộc lĩnh vực này khiến anh chị bận tâm lâu nhất", gần như lần nào khách cũng kể ra được ngay. Đó là cách kiểm chứng lá số nhanh nhất, và cũng là cách để lời luận không thành lời phán.
8 Bảy Cách Cục Của Hóa Kỵ Và Điều Kiện Thành Thế

Thế hung tiêu biểu: Cự Cơ Hóa Kỵ, tức Cự Môn hoặc Thiên Cơ gặp Hóa Kỵ, chủ thị phi kiện cáo nặng. Kình Đà giáp Kỵ, tức Hóa Kỵ bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, là thế đại hung. Bộ Tam ám (Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu) che lấp Nhật Nguyệt cũng rất kỵ.
Thế hóa lành: Hóa Kỵ ở Sửu Mùi cùng Nhật Nguyệt làm sáng thêm; ở Tỵ Hợi cùng Liêm Tham chế hung; Hóa Kỵ gặp Hóa Khoa thì cái ám được hóa giải nhẹ. Vì vậy luận Hóa Kỵ phải rất thận trọng, không thấy Kỵ là vội cho là xấu.
Một thế chỉ đáng gọi là cách cục khi nêu được điều kiện đủ và điều kiện phá. Dưới đây bảy thế thường gặp nhất của Hóa Kỵ, mỗi thế ghi rõ khi nào thành, khi nào đủ đẹp hoặc đáng ngại, khi nào phá hoặc được giải. Xin lưu ý trước: trong bảy thế này chỉ có hai thế thật sự đáng ngại, còn lại đều có đường ra.
Song Kỵ, tức Kỵ chồng Kỵ
Kinh nghiệm Thành thế: hai tầng Hóa Kỵ trở lên cùng đậu vào một cung. Thường gặp nhất là Kỵ bản mệnh (can năm sinh) trùng với Kỵ lưu niên (can năm xem), hoặc Kỵ bản mệnh trùng Kỵ đại vận. Trường hợp gọn nhất để hình dung: người tuổi Giáp có Thái Dương hóa Kỵ ở Quan Lộc, tới năm can Giáp thì Thái Dương lại lưu hóa Kỵ ngay tại cung ấy, thành hai lớp Kỵ chồng lên nhau trong một năm. Đáng ngại: khi cả ba tầng bản mệnh, đại vận và lưu niên cùng dồn vào một cung, lại thêm sát tinh đồng cung. Khi ấy lĩnh vực của cung đó gần như chắc chắn có chuyện phải giải quyết trong năm, và nên chủ động đi trước thay vì đợi. Giải thế: có Hóa Khoa của một trong ba tầng chiếu tới cùng cung, hoặc có Tuần Triệt án ngay cung ấy, hoặc cung Phúc Đức vững. Suy luận Thầy vẫn nhắc: Song Kỵ là chuyện của một cung và của một quãng thời gian có hạn, không phải bản án cho cả đời người.
Lộc Kỵ đồng cung, tiền vào tiền ra
Kinh văn Thành thế: Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng đậu một cung. Điều kiện đủ, kiểm bằng thuật toán: nếu chỉ xét Tứ Hóa bản mệnh thì trong mười can chỉ có tuổi Ất làm được thế này một cách trọn vẹn, khi Tử Vi an tại Mão hoặc Dậu, lúc ấy Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ cùng đứng trong bộ Cơ Âm. Chín can còn lại, Lộc và Kỵ bản mệnh không bao giờ đồng cung, trừ hai tuổi Kỷ và Tân còn phụ thuộc giờ sinh vì có phụ tinh tham gia. Ngoài ra thế này rất hay xuất hiện khi ghép tầng: Lộc bản mệnh gặp Kỵ lưu niên tại cùng một cung, hoặc Lộc lưu niên rơi vào cung có Kỵ bản mệnh. Đọc thế nào: tiền vào rồi tiền ra, được rồi lại phải chi, làm ra tiền mà không giữ được bao nhiêu; ở cung tình cảm thì là yêu sâu mà hao tâm. Kinh nghiệm Đây không phải thế xấu, mà là thế dòng chảy: người có Lộc Kỵ đồng cung ở Tài Bạch thường là người kiếm được, tiêu cũng mạnh, và hợp với nghề có dòng tiền lớn chạy qua tay hơn là nghề ăn lương cố định. Phá thế: thêm Không Kiếp thì thành ra vào mà không đọng lại gì; thêm Lộc Tồn thì lại giữ được một phần.
Khoa giải Kỵ
Kinh văn Thành thế: Hóa Khoa đồng cung hoặc chiếu về cung có Hóa Kỵ. Sách nói Khoa là sao của danh dự, của sự sáng tỏ và của quý nhân trong lúc khó, nên Khoa gặp Kỵ thì cái ám được soi cho rõ, chuyện rối được người gỡ hộ. Đủ đẹp: Khoa đồng cung với Kỵ là mạnh nhất, Khoa xung chiếu là kế, Khoa tam hợp là nhẹ hơn. Suy luận Kiểm bằng thuật toán thì thấy một điều đáng chú ý: Khoa và Kỵ của cùng một tuổi can hầu như không gặp nhau. Chỉ tuổi Đinh có Thiên Cơ hóa Khoa đồng cung được với Cự Môn hóa Kỵ, khi Tử Vi tại Thìn hoặc Tuất. Tuổi Tân có Văn Khúc hóa Khoa gặp Văn Xương hóa Kỵ nếu sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu. Còn lại, cái Khoa cứu Kỵ thường phải đến từ đại vận, từ lưu niên hoặc từ phi hóa cung khác. Giới hạn của thế này: Khoa giải Kỵ là giảm nhẹ, không phải xóa. Sách chưa bao giờ nói Khoa làm mất Kỵ. Người có Khoa giải Kỵ vẫn phải đi qua cái vướng ấy, chỉ là đi qua có người đỡ và ít tổn thất hơn.
Kình Đà giáp Kỵ
Kinh văn Thành thế: cung có Hóa Kỵ bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên. Điều kiện đủ, kiểm bằng thuật toán: vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước, thế này chỉ thành khi sao hóa Kỵ rơi đúng vào cung có Lộc Tồn. Với mỗi tuổi can, điều đó chỉ xảy ra ở đúng một thế Tử Vi trong mười hai thế, hoặc đúng một giờ sinh trong mười hai giờ. Bảng ở mục hai liệt kê đủ mười trường hợp ấy. Đáng ngại: đây là một trong hai thế nặng thật của Hóa Kỵ, vì trước sau đều bị chặn, muốn tiến không được muốn lui cũng không xong; lĩnh vực của cung ấy tiến triển rất chậm và hay bị cản từ hai phía. Giải thế: chính Lộc Tồn nằm trong cung ấy là một cứu cánh đáng kể, vì Lộc Tồn là sao giữ của và có tính hòa hoãn; thêm Hóa Khoa hoặc Thiên Giải, Giải Thần thì đỡ hơn nữa. Kinh nghiệm Thầy để ý thấy người có thế này thường thành công muộn nhưng thành công chắc, vì bị chặn nhiều nên buộc phải làm kỹ.
Kỵ gặp Không Kiếp
Kinh văn Thành thế: Hóa Kỵ đồng cung hoặc bị giáp bởi Địa Không và Địa Kiếp. Đáng ngại: đây là thế nặng thứ hai. Kỵ là giữ chặt, Không Kiếp là làm tiêu tán, hai khí trái nhau dồn vào một cung nên lĩnh vực ấy vừa vướng vừa hao: giữ thì giữ không nổi mà buông cũng không buông được. Ở Tài Bạch là tiền vào rồi mất theo lối bất ngờ; ở Quan Lộc là công việc dựng lên rồi đổ; ở Điền Trạch là tài sản hao. Giải thế: Kinh văn sách nói Không Kiếp gặp người có tư tưởng khác thường lại thành hay, hợp nghề sáng tạo, nghiên cứu, tôn giáo, những nghề mà "mất" không phải là mất. Suy luận Vì thế thế này không nên đọc là tán gia bại sản, mà nên đọc là không hợp giữ của theo lối thường, và người ấy nên chọn con đường mà giá trị nằm ở cái vô hình.
Kỵ nhập Mệnh và Kỵ nhập Tật Ách, hai cách đọc khác nhau
Kinh văn Kỵ nhập Mệnh, thành thế: Hóa Kỵ đóng ngay cung Mệnh. Đây là cách bị hiểu sai nhiều nhất. Nó không nói người ấy khổ, mà nói người ấy có một mối bận tâm lớn theo suốt đời, đúng theo tính của sao bị Kỵ. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Kỵ nhập Mệnh cho ra kiểu người sâu, kỹ, nghĩ nhiều, khó buông, và rất hay là người giỏi nghề, vì cái không buông được ấy chính là cái làm nên tay nghề. Điều cần giữ là đừng để cái nghĩ nhiều thành cái tự trách. Đủ đẹp: Kỵ nhập Mệnh mà cung Phúc Đức sáng, hoặc có Khoa chiếu, thì thành người điềm đạm mà thâm hậu. Đáng ngại: Kỵ nhập Mệnh cộng thêm Kỵ ở Phúc Đức thì mới thật sự nặng về tinh thần.
Kinh văn Kỵ nhập Tật Ách, thành thế: Hóa Kỵ đóng cung Tật Ách. Đây mới là chỗ được phép nói tới bệnh, và bệnh ấy đọc theo tạng của sao bị Kỵ chứ không theo chữ Kỵ: Thái Dương Kỵ là mắt, Vũ Khúc Kỵ là phổi và hô hấp, Liêm Trinh Kỵ là máu huyết, Thiên Cơ Kỵ là thần kinh và gân cốt, Cự Môn Kỵ là tiêu hóa và họng, Thái Âm Kỵ là giấc ngủ và nội tiết. Suy luận Đặc điểm chung của bệnh do Kỵ là dai chứ không dữ: hay tái đi tái lại, khó dứt hẳn, hơn là bùng phát dữ dội. Vì thế lời khuyên đúng cho Kỵ ở Tật Ách là khám định kỳ và giữ nếp sinh hoạt, chứ không phải lo sợ. Đáng ngại: Kỵ ở Tật Ách cộng Kình Dương hoặc Đà La đồng cung là thế cần đi khám sớm và đều, nhất là khi lưu niên chạm tới.
Tuần Triệt án Kỵ
Kinh văn Thành thế: Tuần Không hoặc Triệt Lộ án ngữ ngay cung có Hóa Kỵ. Giải cách: đây là một trong ít thế mà hai sao vốn bị coi là bất lợi lại làm việc tốt. Tuần Triệt có tính chặn, chặn cái tốt thì tiếc, mà chặn cái xấu thì mừng. Kỵ bị Tuần Triệt án thì cái ám bị cắt bớt, lĩnh vực của cung ấy đỡ nặng đi thấy rõ, tuy đổi lại là mọi việc trong cung ấy đều đến muộn. Kinh nghiệm Thầy thường ví: Kỵ bị Triệt như cái ung nhọt bị chặn đường lan, nó vẫn còn đó nhưng không lan nữa. Giới hạn: Tuần Triệt chặn cả hai chiều, nên nếu cung ấy đồng thời có Hóa Lộc hay Hóa Khoa thì cái tốt cũng bị chặn theo. Vì thế không nên mong có Triệt để giải Kỵ, chỉ nên mừng khi có sẵn. Ngoài ra Kinh văn sách còn ghi Hóa Kỵ đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cái hung được giảm nhẹ, và Kỵ tọa Sửu Mùi gặp Nhật Nguyệt thì như mây năm sắc chầu, làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ; Kỵ tọa Tỵ Hợi gặp Liêm Trinh Tham Lang thì chế được tính hung của Liêm Tham. Đó là ba thế hóa lành đã có sẵn trong Tân Biên.
Cách đọc bảy thế trên cho đúng liều
Kinh nghiệm Trong bảy thế vừa nêu, chỉ hai thế đáng gọi là nặng: Kình Đà giáp Kỵ và Kỵ gặp Không Kiếp. Song Kỵ nặng hay nhẹ tùy số tầng chồng lên nhau và tùy có được giải hay không. Lộc Kỵ đồng cung là thế dòng chảy, không phải thế hung. Khoa giải Kỵ và Tuần Triệt án Kỵ là hai thế được đỡ. Kỵ nhập Mệnh phần lớn là chuyện tính cách chứ không phải chuyện họa phúc. Người luận có nghề phân biệt được bảy mức ấy; người mới học thì thấy chữ Kỵ nào cũng như chữ Kỵ nào, nên nói câu nào cũng nặng. Đó là khác biệt lớn nhất giữa đọc sách và luận số.
9 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho ra hai kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao cùng ngồi một chỗ nên nhập vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, vì hai cung đối diện chung một trục và luôn kéo nhau. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, là ảnh hưởng từ xa, có mặt nhưng không quyết định. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh và với các thế chặn, nhẹ với cát tinh. Với Hóa Kỵ, quy tắc này đặc biệt quan trọng: Kỵ đồng cung là cái vướng nằm ngay trong tay mình, Kỵ xung chiếu là cái vướng đến từ phía đối diện, còn Kỵ tam hợp chiếu nhiều khi chỉ là tiếng vọng.
Hóa Kỵ mừng khi gặp
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ hơn): cái ám được soi sáng, chuyện rối có người gỡ. Giảm nhẹ chứ không xóa.
- Lộc Tồn (đồng cung): sao giữ của có tính hòa hoãn, đứng cùng Kỵ thì cái giữ chặt thành ra biết tích lũy; đây cũng là sao đỡ cho thế Kình Đà giáp Kỵ.
- Tuần Không, Triệt Lộ (án ngay cung có Kỵ): chặn bớt cái ám, đổi lại mọi việc trong cung ấy đến muộn.
- Thiên Đồng, Thiên Lương (đồng cung hoặc chiếu): một là phúc tinh, một là ấm tinh, đều có tính giải; cái vướng vẫn có nhưng có chỗ tựa.
- Thái Dương và Thái Âm sáng tại Sửu Mùi (đồng cung): Kinh văn thế mây năm sắc chầu Nhật Nguyệt, Tân Biên ghi là làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ.
- Liêm Trinh và Tham Lang tại Tỵ Hợi (đồng cung): Kinh văn Tân Biên ghi Kỵ ở thế này chế được tính hung của Liêm Tham.
- Bốn cung Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi (là vị trí, không phải sao): Kinh văn Kỵ đắc địa ở đây, cái hung giảm nhẹ.
Hóa Kỵ e ngại khi gặp
- Kình Dương và Đà La kẹp hai bên (thế giáp, nặng nhất trong các thế giáp): Kình Đà giáp Kỵ, trước sau đều bị chặn. Chỉ thành khi Kỵ rơi đúng cung Lộc Tồn.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp cũng nặng): giữ chặt gặp tiêu tán, vừa vướng vừa hao.
- Đà La (đồng cung): sao trì kéo gặp sao giữ chặt, việc gì cũng dây dưa, lòng thì ôm lâu không nói.
- Thiên Riêu (đồng cung): Kinh văn cùng Đà La và Hóa Kỵ hợp thành bộ Tam ám, che mờ ánh sáng của Nhật Nguyệt.
- Cự Môn (đồng cung): Kinh văn ám tinh gặp ám khí, Tân Biên ghi là gây bệnh tật tai họa nặng, thị phi kiện cáo.
- Hóa Kỵ khác tầng đậu cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Song Kỵ, đếm được bao nhiêu tầng thì nặng bấy nhiêu phần.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái vướng thêm phần nóng vội, chuyện nhỏ dễ thành to vì nói năng lúc đang giận.
Hóa Kỵ là cái khí giữ chặt và ám trệ. Đặt vào chỗ cần giữ thì thành giữ của; đặt vào chỗ cần thông thì thành bế tắc. Hiểu được điều này mới biết Hóa Kỵ không phải lúc nào cũng đáng sợ.
10 Hóa Kỵ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về cái Kỵ "tĩnh": nó bám sao nào, đóng cung nào. Nhưng Hóa Kỵ là sao động nhất trong cả lá số, vì mỗi tầng can lại sinh ra một Kỵ mới. Đây là chỗ khách hỏi nhiều nhất, và cũng là chỗ người luận dễ nói quá lời nhất.
Đại vận đi vào cung có Hóa Kỵ bản mệnh
Kinh văn Khi đại vận mười năm rơi đúng vào cung có Kỵ bản mệnh, lĩnh vực của cung ấy trở thành chủ đề chính của cả một thập niên. Đại vận vào cung Tài Bạch có Kỵ là mười năm bận tâm về tiền: không nhất thiết là mười năm nghèo, mà là mười năm tiền bạc chiếm phần lớn tâm trí, có thể là mười năm cày để trả nợ, cũng có thể là mười năm dựng cơ nghiệp bằng cách thắt lưng buộc bụng. Đại vận vào cung Phu Thê có Kỵ là mười năm chuyện gia đạo phải giải quyết. Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với khách một câu: đại vận đi vào cung có Kỵ là mười năm học một bài. Học xong thì qua, không học thì đại vận sau lại phải học lại bằng cách khác. Người chịu nhìn thẳng vào cái Kỵ của mình thường qua vận nhanh hơn người né tránh.
Hóa Kỵ của đại vận, tầng ít người xét
Kinh văn Mỗi cung đại vận có thiên can riêng, và can ấy sinh ra một bộ Tứ Hóa của riêng đại vận đó. Cái Kỵ này bay tới một cung, và cung ấy chính là nơi phải cẩn thận trong mười năm ấy, dù cung đó không hề có Kỵ bản mệnh. Suy luận Cách đọc rất tiện: lấy cung đại vận làm Mệnh mới, rồi xem Kỵ đại vận rơi vào cung nào tính theo Mệnh mới ấy. Kỵ đại vận rơi vào cung Tài của đại vận thì mười năm ấy tiền là chỗ vướng. Kỵ đại vận bay ngược về cung Mệnh gốc thì mười năm ấy chính con người mình thay đổi, thường là thay đổi vì bị hoàn cảnh ép. Kỵ đại vận trùng đúng cung có Kỵ bản mệnh thì đó là hai tầng chồng nhau suốt mười năm, đây mới là đại vận cần chuẩn bị kỹ.
Hóa Kỵ lưu niên: năm nào sao nào bị Kỵ
Kinh văn Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, dùng đúng bảng như Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế cứ mười năm một vòng, mỗi ngôi sao trong lá số của mọi người lại lần lượt bị Kỵ một lần. Bảng dưới liệt kê các năm gần đây và sắp tới cho từng can, để quý vị tra nhanh.
| Can năm | Sao lưu hóa Kỵ | Các năm gần đây và sắp tới | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Giáp | Thái Dương | 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần | Năm giữ mắt, giữ tiếng; để ý sức khỏe cha hoặc chồng; công việc dễ bị soi. |
| Ất | Thái Âm | 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão | Năm tiền tích lũy dễ phải rút ra; lo ngầm, mất ngủ; để ý sức khỏe mẹ hoặc vợ. |
| Bính | Liêm Trinh | 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn | Năm cẩn thận giấy tờ, hợp đồng, kiện tụng; máu huyết và tình cảm dễ rối. |
| Đinh | Cự Môn | 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ | Năm của thị phi và hiểu lầm; nói ít lại, viết rõ ra, đừng để lời truyền miệng. |
| Mậu | Thiên Cơ | 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ | Năm kế hoạch hay đổi, tính nhiều mà chưa ra; đừng đổi hướng liên tục. |
| Kỷ | Văn Khúc | 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi | Năm giấy tờ và chữ nghĩa dễ sai sót; kiểm lại hợp đồng, hồ sơ, đơn từ. |
| Canh | Thiên Tướng (Nam phái) · Thiên Đồng (Bắc phái) | 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân | Nam phái: năm chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh. Bắc phái: năm muốn yên mà khó yên. |
| Tân | Văn Xương | 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu | Năm hồ sơ, bằng cấp, thủ tục dễ trục trặc; nộp sớm và giữ bản sao. |
| Nhâm | Vũ Khúc | 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất | Năm tiền dễ kẹt, cho vay khó đòi, đầu tư chôn vốn; giữ tiền mặt một phần. |
| Quý | Tham Lang | 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi | Năm ham muốn dễ dẫn đi xa mục tiêu; chọn một việc mà làm cho xong. |
Kinh nghiệm Cách đọc nhanh mà chắc gồm ba bước. Bước một, xem năm ấy can gì, tra bảng trên để biết sao nào bị lưu Kỵ. Bước hai, tìm sao ấy trên lá số của mình xem nó đang đóng cung nào, đó là cung phải để ý trong năm. Bước ba, hỏi cung ấy đã có Kỵ bản mệnh chưa, đã có Kỵ đại vận chưa: có một tầng nữa là nặng thêm một bậc. Ví dụ gọn: người tuổi Nhâm có Vũ Khúc hóa Kỵ ở Tài Bạch, tới năm can Nhâm thì Vũ Khúc lại lưu hóa Kỵ ngay tại Tài Bạch, thành Song Kỵ trong năm, đó là năm không nên cho vay và không nên rót vốn vào chỗ khó rút. Trên trang an lá số, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các lưu sao chạm vào cung có Hóa Kỵ
- Kinh văn Lưu Thái Tuế tới cung có Kỵ: năm có việc dính tới công quyền, giấy tờ, danh phận. Kỵ được giải thì là thủ tục lằng nhằng rồi xong; Kỵ nặng thì là chuyện phải theo đuổi lâu.
- Kinh văn Lưu Kình Dương, lưu Đà La tới cung có Kỵ: đây là lúc thế Kình Đà giáp Kỵ có thể tái hiện theo năm dù bản mệnh không có. Năm ấy việc trong cung ấy bị chặn cả trước lẫn sau, nên chủ động đi sớm hơn dự định.
- Kinh nghiệm Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới cung Tật Ách hoặc Phụ Mẫu đang có Kỵ: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sớm, cho mình và cho cha mẹ. Không kết luận điều gì nặng nề, chỉ là đi khám.
- Kinh văn Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt tới cung có Kỵ: năm có quý nhân và có cơ hội giấy tờ; nếu năm ấy lại có lưu Khoa chiếu tới nữa thì là năm thích hợp để gỡ những việc tồn đọng.
- Suy luận Lưu Hóa Lộc tới cung có Kỵ bản mệnh: thành Lộc Kỵ đồng cung theo năm, tức năm có tiền vào mà cũng có khoản phải chi lớn. Nhiều người năm ấy vừa được thưởng vừa phải sửa nhà, đó là tượng rất đúng của thế này.
11 Nam mệnh và nữ mệnh

Nam mệnh Hóa Kỵ thường hay lo nghĩ, kỹ tính, dễ vướng thị phi nhưng lại biết giữ của. Nếu Hóa Kỵ đắc địa hoặc được Hóa Khoa giải thì cái hung nhẹ đi nhiều; quan trọng là sống cẩn trọng, tránh tranh chấp.
Nữ mệnh Hóa Kỵ nhạy cảm, hay suy nghĩ, dễ ôm uẩn ức; cần học buông và tĩnh tâm. Một mặt tốt là người có Hóa Kỵ thường biết vun vén, giữ của cho gia đình. Riêng trường hợp cung Dương, năm sinh Dương mà Hóa Kỵ hãm thì sức tác họa đã được chiết giảm.
12 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hóa Kỵ
Không sao nào trong Đẩu Số bị gán oan nhiều như Hóa Kỵ. Chỉ một chữ Kỵ mà làm bao nhiêu người xem lá số của chính mình rồi mất ngủ. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Hóa Kỵ không phải án tử, Kỵ là cái vướng chứ không phải cái chết
Kinh văn Đây là điều quan trọng nhất của cả bài. Tân Biên xếp Hóa Kỵ vào loại hung tinh và ghi các nghĩa trở ngại, thị phi, bệnh tật, nhưng cũng chính Tân Biên ghi Hóa Kỵ giữ của cải bền vững, và ghi Hóa Kỵ đắc địa tại Tứ Mộ thì đỡ lo bệnh tật tai họa. Sách chưa bao giờ nói Hóa Kỵ định đoạt sinh tử của một người. Kinh nghiệm Thầy nói thẳng với quý vị: Kỵ là cái vướng, cái bận tâm, chứ không phải cái chết. Và có Kỵ mới có chỗ dụng công. Một lá số toàn Lộc mà không có chỗ nào phải cố, thì cái Lộc ấy cũng trôi qua tay mà người không lớn lên được. Cái Kỵ chính là nơi đời bắt người ta phải học một điều gì đó cho đến nơi đến chốn, và trên lá số thật, chỗ có Kỵ rất hay lại là chỗ người ấy giỏi nhất về sau. Người có Vũ Khúc Kỵ mà thành người quản tiền chặt chẽ nhất nhà, người có Cự Môn Kỵ mà thành người viết và nói cẩn trọng nhất, đó không phải chuyện hiếm. Ai cũng có ít nhất một cung mang Kỵ bản mệnh, không trừ một ai, nên nếu Kỵ là án tử thì cả thiên hạ đều mang án.
Kỵ ở cung nào thì đọc lĩnh vực ấy, không phán chung cho cả đời
Kinh văn Sách an Hóa Kỵ vào một cung cụ thể, và nghĩa của nó là nghĩa của cung ấy. Sách không nói Kỵ ở một cung thì cả lá số hỏng. Kinh nghiệm Đây là lỗi nặng nhất mà Thầy hay gặp khi đọc lại lời luận của người khác: thấy Kỵ ở Phu Thê liền nói "số này hôn nhân bất hạnh", thấy Kỵ ở Tài Bạch liền nói "số này vất vả về tiền cả đời". Nói đúng phải là: cung Phu Thê có Kỵ thì chuyện vợ chồng là chỗ phải dụng công, còn hạnh phúc hay không thì phải xem thêm Phúc Đức, xem chính tinh, xem đại vận, xem cả người bạn đời. Một cung có Kỵ trong mười hai cung không quyết định được đời người, cũng như một câu khó trong bài thi không quyết định được điểm cả bài.
Hóa Kỵ trong Tử Vi không phải "sao xấu chiếu mệnh" của cúng sao giải hạn
Kinh văn Hai hệ hoàn toàn khác nhau. Sao hạn mà người ta cúng đầu năm thuộc hệ Cửu Diệu gồm La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức, an theo tuổi mụ và giới tính, mỗi năm đổi một sao. Hóa Kỵ trong Tử Vi Đẩu Số là hóa khí sinh theo thiên can, bám vào chính tinh trên lá số. Người có Hóa Kỵ nặng trong lá số vẫn có thể gặp năm sao hạn tốt, và ngược lại. Muốn tra sao hạn từng năm thì dùng công cụ sao hạn, không phải bài này.
Không có chuyện "cúng để mất Hóa Kỵ"
Suy luận Hóa Kỵ sinh ra từ thiên can năm sinh, mà thiên can năm sinh thì không đổi được. Cho nên không có nghi lễ nào làm cho Hóa Kỵ biến khỏi lá số, cũng như không có vật phẩm nào gỡ được nó ra. Cái đổi được là cách người ấy sống với cái Kỵ của mình: biết trước lĩnh vực nào dễ vướng thì chuẩn bị sớm, làm kỹ, đừng chủ quan. Kinh nghiệm Thầy dặn kỹ điều này vì nó liên quan tới túi tiền của quý vị: hễ ai nói có cách xóa Hóa Kỵ trên lá số, xin quý vị hiểu rằng khoa Đẩu Số không có chỗ nào nói như vậy.
Hóa Kỵ không đồng nghĩa với nghèo, cũng không đồng nghĩa với bệnh
Kinh văn Nghèo giàu trong lá số do cung Tài Bạch, cung Điền Trạch, các tài tinh như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn và bộ Tứ Hóa nói chung quyết định, không do một mình chữ Kỵ. Bệnh tật đọc ở cung Tật Ách và theo tạng của sao, không đọc từ chữ Kỵ. Kinh nghiệm Trên lá số thật, người có Kỵ ở Tài Bạch rất hay là người giữ tiền giỏi, đúng như Tân Biên ghi Hóa Kỵ giữ của cải bền vững; cái vướng của họ thường là tiền khó rút ra chứ không phải không có tiền. Cho nên nghe tới Kỵ ở Tài Bạch, câu hỏi đúng là "tiền của anh chị đang nằm ở đâu mà khó động tới", chứ không phải "anh chị có nghèo không".
13 Lá Số Minh Họa: Đọc Hóa Kỵ Qua Ba Bước
Lý thuyết ở trên chỉ thật sự có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: tuổi Ất, Tử Vi an tại Mão, Mệnh an tại Dần. Chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La đều lấy đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Chọn tuổi Ất vì đây là tuổi duy nhất trong mười can mà Hóa Lộc và Hóa Kỵ bản mệnh có thể ngồi chung một cung, nên đọc được nhiều điều cùng lúc.
Tử Vi tại Mão, Mệnh tại Dần
không phải người thật
Lộc và Kỵ cùng đóng cung Mệnh
Bước một: Kỵ bám sao nào và đóng cung nào
Tuổi Ất thì Thái Âm hóa Kỵ. Trên lá số này Thái Âm đứng cùng Thiên Cơ tại Dần, mà Dần lại chính là cung Mệnh. Vậy Kỵ nhập Mệnh, và nó bám vào Thái Âm, tức mượn tính của Thái Âm: tài sản tích lũy, người mẹ, nhà cửa, giấc ngủ, và cái lo âm thầm. Đọc ngay bước này đã biết đây là người sâu, nghĩ nhiều, hay lo ngầm, và cả đời có một mối bận tâm gắn với tiền tích lũy hoặc với mẹ. Chưa nói gì tới hay dở, mới chỉ là chỉ ra chỗ dụng công.
Bước hai: cùng cung có gì, cả bộ Tứ Hóa rải đi đâu
Trong cung Mệnh, Thiên Cơ hóa Lộc ngồi ngay cạnh Thái Âm hóa Kỵ. Đây chính là thế Lộc Kỵ đồng cung đã nói ở mục cách cục: tiền vào tiền ra, làm ra được mà cũng tiêu ra được, đời sống có dòng chảy chứ không đọng. Cùng cung còn có Đà La, vì tuổi Ất an Lộc Tồn tại Mão nên Đà La rơi vào Dần và Kình Dương rơi vào Thìn. Đà La đồng cung với Kỵ làm cái vướng thêm phần dây dưa và làm người ấy ôm việc trong lòng lâu hơn cần thiết. Cả bộ Tứ Hóa tuổi Ất rải như sau: Thiên Cơ Lộc và Thái Âm Kỵ ở Mệnh, Thiên Lương hóa Quyền tại Ngọ tức cung Quan Lộc, Tử Vi hóa Khoa tại Mão tức cung Phụ Mẫu. Xin chú ý một điểm đã kiểm bằng thuật toán: Tử Vi Khoa của tuổi Ất không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp hay xung chiếu Thái Âm Kỵ, ở lá số này nó chỉ nằm kề bên, tức chỉ giáp chứ không chiếu. Nghĩa là cái Khoa ấy có mặt nhưng không với tới được cái Kỵ, cha mẹ có thể là chỗ dựa danh dự nhưng không gỡ hộ được cái vướng của chính mình.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì, cung nào bị xung
Mệnh tại Dần thì tam hợp là Ngọ và Tuất, xung chiếu là Thân. Ngọ có Thiên Lương hóa Quyền, đúng với kết quả thuật toán rằng tuổi Ất luôn có Thiên Lương Quyền tam hợp chiếu Thái Âm Kỵ, không trừ thế nào trong mười hai thế Tử Vi. Cái Quyền của ấm tinh chiếu về cái Kỵ là một điểm tựa thật: người này có khả năng tự đứng ra thu xếp việc của mình, và thường được giao trách nhiệm trong công việc. Tuất có Thiên Đồng, là phúc tinh, thêm một phần hòa hoãn. Thân là cung Thiên Di và đang trống, phải mượn chính Mệnh mà đọc, nên cái Kỵ ở Mệnh xung thẳng vào Thiên Di rồi dội ngược lại: người ngoài nhìn vào thấy cái bận tâm của người này trước cả khi người này nói ra. Tóm lại một lá có Kỵ nhập Mệnh, Lộc Kỵ đồng cung, thêm Đà La, nhưng có Quyền tam hợp và Đồng tinh chiếu: đây là lá vất vả mà không bế tắc, dụng công thì nên nếu chọn nghề có dòng tiền chạy qua tay và có trách nhiệm rõ ràng.
Cùng lá số này, đổi tuổi can thì đọc khác đi thế nào
- Đổi sang tuổi Mậu: Thiên Cơ hóa Kỵ và Thái Âm hóa Quyền cùng đóng cung Mệnh, thành thế Quyền Kỵ đồng cung. Người này nắm được việc nhưng nắm bằng cách vật lộn, tính toán nhiều, hay đổi kế hoạch; Tham Lang hóa Lộc rơi vào Phụ Mẫu cùng Tử Vi. So với tuổi Ất thì cái vướng chuyển từ chuyện tích lũy sang chuyện mưu tính.
- Đổi sang tuổi Đinh: Cự Môn hóa Kỵ đóng tại Thìn, tức cung Phúc Đức, còn cung Mệnh lại nhận cả Thái Âm hóa Lộc lẫn Thiên Cơ hóa Khoa. Cung Mệnh sạch Kỵ, nhưng cái Kỵ nằm ở Phúc Đức là chỗ khó thấy nhất: ngoài mặt thuận lợi mà trong lòng hay bất an, hay nghĩ về đêm. Đây là ví dụ rõ cho việc Kỵ ở cung nào thì đọc lĩnh vực ấy, không đem Kỵ của Phúc Đức mà phán vào Mệnh.
- Đổi sang tuổi Quý: Tham Lang hóa Kỵ đóng tại Mão cùng Tử Vi, tức cung Phụ Mẫu, chỉ giáp Mệnh chứ không chiếu; cung Mệnh lại được Thái Âm hóa Khoa. Phá Quân hóa Lộc tại Hợi tam hợp chiếu về Tham Lang Kỵ, đúng với kết quả thuật toán rằng tuổi Quý luôn có Phá Quân Lộc tam hợp Tham Lang Kỵ. Đọc ra: cái vướng nằm ở phía cha mẹ hoặc phía cấp trên, còn bản thân thì được tiếng tốt.
Ba trường hợp trên cùng một lưới sao, chỉ đổi thiên can, mà cái Kỵ nhảy từ Mệnh sang Phúc Đức rồi sang Phụ Mẫu, kéo theo ba cách đọc khác hẳn nhau. Đó là lý do không thể luận Hóa Kỵ mà bỏ qua tuổi can. Muốn thấy Hóa Kỵ của chính mình bám sao nào và đóng cung nào, hãy an lá số, rồi bấm vào ngôi sao mang chữ Kỵ trên lá số để đọc luận ngữ cảnh theo cung, theo mức miếu hãm và theo Tứ Hóa của riêng quý vị.
14 Lời khuyên và cách hóa giải

Với Hóa Kỵ, hóa giải là biết tránh những thế hung, tận dụng mặt giữ của, và tu dưỡng tâm tính để giảm thị phi.
- Thận trọng ở cung Hóa Kỵ đóng. Đó là lĩnh vực dễ vướng nhất, cần cẩn thận giấy tờ, lời nói, quan hệ.
- Tránh tranh chấp kiện tụng. Hóa Kỵ chủ thị phi; nhường một bước thường hóa giải được nhiều rắc rối.
- Tận dụng mặt giữ của. Cái khí giữ chặt của Hóa Kỵ hợp với tiết kiệm, tích lũy, quản tài chặt chẽ.
- Tu tâm, tĩnh trí. Bớt ghen ghét, bớt nghĩ ngợi tiêu cực chính là cách hóa giải gốc rễ của sao này.
- Xem cả lá số. Hóa Kỵ hung hay nhẹ tùy nó bám sao nào, đắc hay hãm, có Hóa Khoa giải hay bị Kình Đà giáp.
Gợi ý: người có Hóa Kỵ nổi bật nên xem nó như lời nhắc cẩn trọng ở một lĩnh vực, đồng thời tận dụng tính giữ của; tâm an và sống ngay thẳng là cách hóa giải bền nhất.
15 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ các sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, quý vị nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Hóa Kỵ: hành Thủy, đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; chủ độc hiểm, ích kỷ, hay ghen ghét, hay nhầm lẫn, gây bệnh tật, tai họa, thị phi, kiện cáo; nhưng giữ của cải bền vững; gặp Cự Môn đồng cung gây bệnh tật tai họa nặng; tọa Sửu Mùi gặp Thái Dương Thái Âm thì làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ; tọa Tỵ Hợi gặp Liêm Trinh Tham Lang thì chế được tính hung của Liêm Tham; gặp Thiên Riêu và Đà La hợp thành bộ Tam ám che mờ Nhật Nguyệt. Bảng Tứ Hóa theo mười can cũng theo hệ thống của sách này.
- Vũ Tài Lục, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (dịch và bình chú từ bản của Hi Di Trần Đoàn), phần cách cục hung: các thế Cự Cơ Hóa Kỵ và Kình Đà giáp Kỵ, cùng nguyên tắc Hóa Khoa có tính giải và Tuần Triệt có tính án ngữ hai chiều.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: bảng mười can ở mục hai và mục sáu chép đúng bảng máy chủ đang an sao, ghi rõ chỗ Nam phái và Bắc phái khác nhau ở tuổi Canh. Ba kết quả cấu trúc sau đây được sinh bằng chương trình chạy đủ mười hai thế Tử Vi và mười hai giờ sinh cho từng can, không viết theo trí nhớ: một là điều kiện thành thế Kình Đà giáp Kỵ, tức sao hóa Kỵ phải rơi đúng cung Lộc Tồn, mỗi can chỉ có một thế thỏa mãn; hai là quan hệ vị trí giữa sao hóa Lộc, sao hóa Khoa với sao hóa Kỵ trong cùng một tuổi can, cho thấy chỉ tuổi Ất có Lộc Kỵ đồng cung được và chỉ tuổi Đinh có Khoa Kỵ đồng cung được trong phạm vi các chính tinh; ba là hai vị trí đồng cung duy nhất của Văn Xương và Văn Khúc, tại Sửu khi sinh giờ Dậu và tại Mùi khi sinh giờ Mão, cùng hai giờ làm chúng xung chiếu là giờ Tý và giờ Ngọ. Lá số minh họa ở mục mười ba dựng bằng chính thuật toán ấy.
Lưu ý về dị bản: Tứ Hóa tuổi Canh khác nhau giữa hai phái, Nam phái cho Thiên Tướng hóa Kỵ còn Bắc phái cho Thiên Đồng hóa Kỵ; tuổi Nhâm hai phái thống nhất Vũ Khúc hóa Kỵ nhưng khác nhau ở Hóa Khoa. Đây là khác biệt giữa các trường phái, không phải lỗi. Bài này trình bày song song để đối chiếu; khi luận thực tế nên chọn một phái cho nhất quán từ đầu tới cuối, trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng bảng Nam phái làm mặc định và có tùy chọn Bắc phái. Ngoài ra, Hóa Kỵ là hóa khí bám chính tinh theo thiên can, không có vị trí cố định, nên mọi nhận định về Hóa Kỵ đều phải đặt trong trọn bộ lá số chứ không đọc rời.
16 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Hóa Kỵ
Hóa Kỵ là chân thứ tư của bộ Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số, hành Thủy, là hóa khí duy nhất mang tính hung. Nó phủ lên một chính tinh tầng ám trệ: trở ngại, vướng mắc, ganh ghét, thị phi, hao tổn; nhưng đặt đúng chỗ lại có thể giữ của bền.
Giáp Thái Dương, Ất Thái Âm, Bính Liêm Trinh, Đinh Cự Môn, Mậu Thiên Cơ, Kỷ Văn Khúc, Canh Thiên Đồng, Tân Văn Xương, Nhâm Vũ Khúc, Quý Tham Lang. Sao bị Hóa Kỵ là nơi cần thận trọng nhất trong lá số.
Không. Hóa Kỵ chủ trở ngại nhưng cũng giữ của cải bền. Đắc địa ở Tứ Mộ thì cái hung giảm nhẹ; ở Sửu Mùi gặp Nhật Nguyệt thì làm sáng thêm; ở Tỵ Hợi gặp Liêm Tham thì chế hung; gặp Hóa Khoa thì được giải. Cần luận trong trọn bộ lá số.
Là khi Cự Môn hoặc Thiên Cơ gặp Hóa Kỵ, chủ thị phi kiện cáo nặng. Cùng với Kình Đà giáp Kỵ và bộ Tam ám (Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu) che Nhật Nguyệt, đây là các thế hung cần đặc biệt thận trọng.
Thận trọng ở cung Hóa Kỵ đóng, tránh tranh chấp kiện tụng, tận dụng mặt giữ của để tiết kiệm tích lũy, tu tâm tĩnh trí để giảm thị phi, và xem cả lá số để biết Hóa Kỵ có được Hóa Khoa giải hay bị Kình Đà giáp.
Kỵ chồng Kỵ, còn gọi là Song Kỵ, là khi hai tầng Hóa Kỵ trở lên cùng đậu vào một cung: Kỵ của can năm sinh, Kỵ của can đại vận, Kỵ của can năm xem, hoặc Kỵ phi hóa từ can của một cung khác bay tới. Một tầng chỉ là lời nhắc, ai cũng có. Hai tầng thì nên để ý. Ba tầng trở lên mới là lúc phải chuẩn bị kỹ cho lĩnh vực của cung ấy, và cũng chỉ trong quãng thời gian có hạn của vận hay của năm chứ không phải cả đời.
Là khi Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng đóng một cung, đọc ra tượng tiền vào tiền ra, được rồi lại phải chi. Đây không phải thế hung mà là thế dòng chảy, hợp với nghề có dòng tiền lớn chạy qua tay hơn là nghề ăn lương cố định. Nếu chỉ xét Tứ Hóa của can năm sinh thì trong mười can chỉ tuổi Ất tạo được thế này một cách trọn vẹn, khi Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ cùng đứng trong bộ Cơ Âm. Ngoài ra thế này rất hay xuất hiện khi Lộc lưu niên rơi vào cung có Kỵ bản mệnh.
Hóa Khoa gặp Hóa Kỵ thì cái ám được soi cho rõ và chuyện rối có người gỡ hộ, mạnh nhất khi đồng cung, kế là xung chiếu, nhẹ hơn là tam hợp chiếu. Nhưng đó là giảm nhẹ chứ không xóa, sách chưa bao giờ nói Khoa làm mất Kỵ. Đáng chú ý là Khoa và Kỵ của cùng một tuổi can hầu như không gặp nhau: trong phạm vi các chính tinh chỉ tuổi Đinh có Thiên Cơ hóa Khoa đồng cung được với Cự Môn hóa Kỵ. Cho nên cái Khoa cứu Kỵ thường phải đến từ đại vận, lưu niên hoặc phi hóa.
Có. Hai cung xung chiếu nhau chung một trục nên không tách rời được. Kỵ đóng ở Mệnh thì Thiên Di bị kéo theo, Kỵ đóng ở Phu Thê thì Quan Lộc đối diện chịu lây, Kỵ đóng ở Tài Bạch thì Phúc Đức đối diện chịu. Trên lá số thật, cái cung bị xung nhiều khi lộ rõ hơn cả cung có Kỵ, vì cung có Kỵ là chỗ mình biết mình vướng, còn cung bị xung là chỗ mình không ngờ tới.