Sao Tức Thần trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Tức Thần

Sao thần sát chủ sự ngưng nghỉ, trì hoãn, an phận; dễ thụ động, thiếu xông xáo.

Hành ThổThần sátNgưng nghỉ, an phậnTheo tam hợp
息神Xí Shén
Tên sao: Tức Thần
Ngũ hành: Thổ
Nhóm: Thần Sát Tam Hợp
Cách an: Đây là một trong mười hai thần sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh
Cai quản: ngưng nghỉ, trì hoãn, an phận
Tính chất: Ngưng nghỉ, an phận
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Tức Thần là gì

Sao Tức Thần trong lá số Tử ViẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tức Thần trong Tử Vi Đẩu Số
Sao Tức Thần trong lá số Tử Vi

Tức Thần là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp. Tên Tức Thần nghĩa là thần khí ngưng nghỉ, nên sao mang sắc thái trì hoãn, dừng lại, an phận, đôi khi là sự thụ động, thiếu xông xáo.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Tức Thần an theo tam hợp của địa chi năm sinh, tức chỉ cần biết người ấy tuổi con gì là an được ngay. Không cần thiên can, không cần tháng sinh, không cần giờ sinh, không cần cục, cũng không phân nam nữ. Đây là vòng phụ tinh dễ an nhất trong bốn vòng của Đẩu Số, và cũng vì thế mà thô nhất: mười hai tuổi chi chỉ cho ra bốn kiểu bài trí.

Kinh văn Cách an của cả vòng như sau. Trước hết định cung khởi bằng sao Kiếp Sát: tuổi Thân Tý Thìn khởi tại Tỵ, tuổi Dần Ngọ Tuất khởi tại Hợi, tuổi Tỵ Dậu Sửu khởi tại Dần, tuổi Hợi Mão Mùi khởi tại Thân. Từ đó đếm thuận đủ mười hai sao theo thứ tự cố định: Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Đào Hoa, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái. Tức Thần là sao thứ mười một, tức cách Kiếp Sát mười bước thuận, và đứng ngay sau Thiên Mã, ngay trước Hoa Cái.

Suy luận Cộng hai điều ấy lại thì ra một kết quả rất gọn. Cung Kiếp Sát luôn nằm ở tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi, đếm thuận mười bước thì rơi đúng vào tứ chính. Vậy Tức Thần chỉ đóng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, không bao giờ khác. Tuổi Thân Tý Thìn thì Tức Thần tại Mão, tuổi Dần Ngọ Tuất tại Dậu, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Tý, tuổi Hợi Mão Mùi tại Ngọ. Có một điểm cần nhớ ngay: tứ chính cũng là chỗ đóng của Tướng Tinh, nhưng hai sao ấy luôn cách nhau đúng ba cung nên không bao giờ gặp nhau, việc này sẽ nói kỹ ở mục sau.

Vị trí an sao Tức Thần theo địa chi năm sinh
Tuổi chiTức Thần an tại
Mão
Sửu
DầnDậu
MãoNgọ
ThìnMão
Tỵ
NgọDậu
MùiNgọ
ThânMão
Dậu
TuấtDậu
HợiNgọ

Suy luận Đọc bảng theo hàng thì thấy điểm khác thường: mười hai tuổi chi mà chỉ có bốn vị trí. Ba tuổi cùng một nhóm tam hợp thì Tức Thần nằm y một chỗ. Người tuổi Hợi, người tuổi Mão, người tuổi Mùi đều có Tức Thần tại Ngọ; ba người ấy chỉ khác nhau ở chỗ cung Ngọ ứng vào cung chức nào của mỗi lá số. Đây là lý do bản thân việc có Tức Thần không nói lên điều gì riêng cho ai; cái nói lên điều gì là cung chức mà nó rơi vào và sao nào đứng cùng.

Suy luận Vì Tức Thần chỉ đóng ở tứ chính, mà tứ chính là bốn cung mà cả mười bốn chính tinh đều có thể tới, nên không có chính tinh nào bị loại khỏi khả năng đồng cung với Tức Thần. Đã chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho cả bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu: cung nào cũng có thể chứa bất kỳ chính tinh nào. Vậy câu "Tức Thần chỉ đi với sao yếu" là lời luận về ý nghĩa, không phải một ràng buộc cấu trúc; trên lá số thật, Tức Thần ngồi cùng Tử Vi hay cùng Thất Sát đều là chuyện thường.

Những điều bất biến của Tức Thần

  • Chỉ đóng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đã chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao: tập vị trí của Tức Thần đúng bốn cung tứ chính, không hơn.
  • Vĩnh viễn không đóng tám cung còn lại: Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi. Câu "Tức Thần cư Tuất" hay "Tức Thần tại Hợi" là chép nhầm sao, không phải dị bản.
  • Luôn bị Thiên Mã và Hoa Cái giáp hai bên. Thiên Mã đứng cung liền trước, Hoa Cái đứng cung liền sau, ở đủ mười hai tuổi chi. Sao dừng lại bị kẹp giữa sao chạy và sao lọng che, đây là thế bao vây đặc trưng nhất của nó.
  • Luôn xung chiếu Đào Hoa, không sai một tuổi nào. Sao nghỉ ngơi nhìn thẳng vào sao rộn ràng, và ngược lại.
  • Luôn tam hợp với Vong Thần và với Thiên Sát, ở đủ mười hai tuổi chi.
  • Luôn hội Thiếu Âm, Long Đức, Trực Phù của vòng Thái Tuế, vì ba sao ấy là một tam hợp cố định; kéo theo là luôn hội cả Quán Sách, sao vốn đồng cung Trực Phù.
  • Vĩnh viễn không hội Thái Tuế. Tức Thần luôn cách cung tuổi một, năm hoặc chín cung, ba khoảng cách đều không tạo quan hệ. Sao của sự dừng lại không bao giờ đứng chung với sao của danh phận, và điều này rất đúng tượng.
  • Vĩnh viễn không gặp Tướng Tinh (luôn cách ba cung) và không gặp Phan An (luôn cách hai cung), dù cả ba đều nằm gần nhau trong vòng.
  • Không loại trừ chính tinh nào. Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tức Thần tại cả bốn vị trí.

Kinh nghiệm Thầy dặn học trò một mẹo tra nhanh. Trên lá số, muốn tìm Tức Thần thì đừng tìm chữ, hãy tìm Thiên Mã trước. Thiên Mã đóng ở tứ sinh, và cung liền sau Thiên Mã chính là Tức Thần, cung liền sau nữa là Hoa Cái. Ba sao ấy luôn xếp thành một dãy liền nhau theo thứ tự Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái, không bao giờ đứt. Kể cả cung liền trước Thiên Mã cũng cố định, đó là Phan An. Nhớ dãy bốn sao Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần thì an cả vòng chỉ mất vài giây.

3 Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số

Cách an và đặc tính sao Tức ThầnẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và đặc tính sao Tức Thần
Cách an và đặc tính sao Tức Thần

Đây là một trong mười hai Thần Sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh. Mốc của vòng là Tướng Tinh đóng tại cung vượng của tam hợp (Thân Tý Thìn tại Tý, Dần Ngọ Tuất tại Ngọ, Tỵ Dậu Sửu tại Dậu, Hợi Mão Mùi tại Mão), các thần sát khác an theo thứ tự cố định quanh mười hai cung. Tức Thần đứng gần cuối vòng, trước Hoa Cái.

Vì là phụ tinh, Tức Thần làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

4 Đặc Tính Và Tượng Của Tức Thần

Tức Thần: chủ sự ngưng nghỉ, an phậnẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và mức đắc hãm của Tức Thần
Tức Thần: chủ sự ngưng nghỉ, an phận

Trong hệ thống Thần Sát, Tức Thần mang khí lắng, chủ sự nghỉ ngơi, dừng lại, an phận thủ thường. Mặt tốt là biết đủ, điềm tĩnh, không bon chen; mặt kém là dễ thụ động, trì trệ, thiếu ý chí tiến thủ.

Tức Thần đi cùng phúc tinh và chính tinh sáng thì cái an phận thành sự ung dung, biết đủ; gặp sao trì trệ và Tuần Triệt thì dễ thành chậm chạp, bỏ lỡ cơ hội. Là sao phụ, cần xem cùng chính tinh.

5 Tức Thần Trong Vòng Mười Hai Thần Sát Tam Hợp

Kinh văn Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh lớn, mỗi vòng mười hai sao trải kín mười hai cung. Vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, khởi ngay tại cung tuổi. Vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh, còn phân thuận nghịch theo âm dương nam nữ. Vòng Tràng Sinh đếm theo cục của lá số. Còn vòng thần sát tam hợp, vòng của Tức Thần, đếm theo nhóm tam hợp của địa chi năm sinh và luôn đếm thuận. Vòng này là bộ thần sát dùng chung của mệnh lý Đông phương, có mặt cả trong Bát Tự Tử Bình, và Đẩu Số mượn về đặt lên địa bàn mười hai cung.

Suy luận Vì đếm theo tam hợp nên vòng chỉ có bốn kiểu bài trí. Bảng dưới rút gọn bốn kiểu ấy, chỉ lấy các mốc quanh Tức Thần để thấy bộ khung.

Bốn nhóm tam hợp địa chi và vị trí các mốc chính của vòng thần sát quanh Tức Thần
Nhóm tam hợp năm sinhKiếp Sát khởi tạiPhan AnThiên MãTức ThầnHoa CáiĐào Hoa xung chiếu
Thân, Tý, ThìnTỵSửuDầnMãoThìnDậu
Dần, Ngọ, TuấtHợiMùiThânDậuTuấtMão
Tỵ, Dậu, SửuDầnTuấtHợiSửuNgọ
Hợi, Mão, MùiThânThìnTỵNgọMùi

Suy luận Nhìn bốn hàng ấy sẽ thấy một trật tự hình học rất sạch, và trật tự này là chìa khóa đọc cả vòng. Bốn sao ở vị trí thứ nhất, thứ tư, thứ bảy và thứ mười luôn rơi vào tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi: Kiếp Sát, Chỉ Bối, Vong Thần, Thiên Mã. Bốn sao ở vị trí thứ hai, thứ năm, thứ tám và thứ mười một luôn rơi vào tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu: Tai Sát, Đào Hoa, Tướng Tinh, Tức Thần. Bốn sao còn lại luôn rơi vào tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi: Thiên Sát, Nguyệt Sát, Phan An, Hoa Cái. Ai nhớ ba nhóm này thì không bao giờ an sai vòng thần sát.

Chỗ đứng của Tức Thần: bước thứ mười một, ngay sau con ngựa và ngay trước cái lọng

Suy luận Tức Thần là sao thứ mười một của vòng, đứng ở bước thứ mười tính từ Kiếp Sát, và cũng là sao gần cuối vòng. Sao liền trước nó là Thiên Mã, chủ di động, đi xa, thay đổi. Sao liền sau nó là Hoa Cái, chủ cái lọng che trên đầu người quý, kèm theo cả cái cô độc và cái thanh cao của người ngồi dưới lọng. Hai sao ấy giáp Tức Thần ở mọi tuổi, không sai một trường hợp nào.

Suy luận Trật tự này đọc ra một câu rất đời và rất đúng với tên sao. Chữ Tức nghĩa là thở ra, là ngưng, là nghỉ; chữ Thần chỉ khí, chỉ tinh thần. Tức Thần là lúc khí ngưng lại để thở, là chỗ dừng chân sau một chặng đi. Và phép an đặt nó đúng vào khe giữa con ngựa với cái lọng: vừa hết một chặng rong ruổi thì tới chỗ ngồi xuống, ngồi xuống rồi thì bước tiếp là chỗ thanh cao lặng lẽ. Cả một cung đường của vòng thần sát khép lại theo đúng nhịp ấy: Tướng Tinh cầm cờ, Phan An vin lên, Thiên Mã rong ruổi, Tức Thần dừng lại, Hoa Cái thu mình. Bốn bước cuối của vòng chính là bốn chặng của một đời người làm việc.

Suy luận Trong cùng vòng, quan hệ của Tức Thần cố định như sau, đã chạy đủ mười hai tuổi chi để kiểm. Xung chiếu luôn là Đào Hoa. Đây là cặp đối rất đẹp về mặt tượng: sao của sự nghỉ ngơi ngồi đối diện sao của sự rộn ràng, sự được ưa, sự cuốn theo người khác. Hai đầu của một trục, và người có Tức Thần đậm thường sống giữa hai lực kéo ấy suốt đời: một bên muốn yên, một bên bị gọi ra. Tam hợp luôn là Vong Thần và Thiên Sát. Vong Thần chủ hao hụt ngầm, cái mất mà không thấy mất. Thiên Sát chủ cái họa từ trên đưa xuống, sự cắt bỏ. Ghép lại: sự dừng lại luôn có hai bạn đường là cái hao ngầm và cái bị cắt. Cấu trúc nói rất thẳng rằng nghỉ ngơi không miễn phí; dừng lâu thì mất phần, và có những chặng dừng là do người khác bắt dừng chứ không phải mình chọn.

Bảng dưới in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười hai tuổi chi, để quý vị đối chiếu tận mắt thay vì tin lời.

Vị trí đủ mười hai sao vòng thần sát tam hợp theo từng địa chi năm sinh
Tuổi chiKiếp SátTai SátThiên SátChỉ BốiĐào HoaNguyệt SátVong ThầnTướng TinhPhan AnThiên MãTức ThầnHoa Cái
TỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
DầnHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
MãoThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
ThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
TỵDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
NgọHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
MùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
ThânTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
DậuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
TuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
HợiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi

Tức Thần với Tướng Tinh và Phan An: ba sao gần nhau mà không bao giờ gặp nhau

Suy luận Đây là điểm cấu trúc mà người mới học hay đọc sai. Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần là bốn sao liên tiếp trong vòng, chiếm bốn cung liền nhau. Nhưng liền nhau không có nghĩa là gặp nhau. Tức Thần cách Tướng Tinh đúng ba cung, cách Phan An đúng hai cung, cách Thiên Mã đúng một cung. Trong Đẩu Số, quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Vậy Tức Thần vĩnh viễn không hội chiếu Tướng Tinh và Phan An, còn với Thiên Mã thì chỉ có thế giáp, tức thế bao vây, chứ không có hội chiếu.

Suy luận Hệ quả thực hành rất rõ. Mọi câu ghép kiểu "Tức Thần gặp Tướng Tinh thì bù được sự thụ động" là ghép trên giấy, vì trên bản mệnh hai sao ấy không bao giờ nhìn thấy nhau. Muốn nói tới cái bù cho sự trì trệ thì phải tìm ở chỗ khác: chính tinh đồng cung, Hóa Quyền, Kình Dương, Thiên Mã lưu niên, hoặc đại vận. Đây là một ví dụ điển hình cho lý do vì sao khung luận của UK MASTER ACADEMY bắt buộc kiểm cấu trúc bằng thuật toán trước khi viết một câu về sao hội sao.

Tức Thần vĩnh viễn không hội Thái Tuế, nhưng luôn hội Long Đức và Trực Phù

Suy luận Bắc cầu sang vòng Thái Tuế thì thấy thêm hai điều cố định. Một, Tức Thần không bao giờ hội Thái Tuế: nó luôn cách cung tuổi một, năm hoặc chín cung, không khoảng cách nào tạo quan hệ. Sao của sự dừng lại không đứng chung với sao của danh phận và tiếng nói, cũng là điều rất đúng tượng. Hai, Tức Thần luôn hội Thiếu Âm, Long Đức và Trực Phù, vì ba sao ấy là một tam hợp cố định của vòng Thái Tuế; kèm theo là Quán Sách, sao đồng cung Trực Phù. Thiếu Âm chủ cái ẩn, cái kín, việc âm thầm. Long Đức là một sao giải, chủ phần được che chở. Trực Phù chủ chuyện lặp lại, chuyện quay vòng, và cả tin tức chuyển tới.

Suy luận Bộ ấy đọc ra rất hợp với Tức Thần: người dừng lại thì phần việc chuyển sang chỗ kín, có phần được che chở, và cái gì đã qua thì có thể quay lại. Đây là lý do Thầy không xếp Tức Thần vào nhóm hung tinh. Nó không phá gì cả, nó chỉ hạ nhịp; và trong một lá số vốn đã quá động thì việc hạ nhịp lại là điều cần.

Kinh nghiệm Cũng vì vậy Thầy không bao giờ luận Tức Thần một mình. Biết Tức Thần ở đâu là biết luôn Thiên Mã và Hoa Cái kẹp hai bên, Đào Hoa nhìn thẳng từ cung đối diện, Vong Thần và Thiên Sát nằm ở hai góc tam hợp nào, Long Đức chiếu về từ hướng nào. Một sao mở ra cả một bản đồ.

Tức Thần không nằm trong bảng Tứ Hóa

Kinh văn Nói cho rõ để khỏi ai đi tìm: Tức Thần không có tên trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ điểm danh mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, cả bảng Nam phái lẫn bảng Bắc phái mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang dùng.

Suy luận Nhưng Tức Thần đổi nghĩa rõ rệt theo Tứ Hóa của chính tinh đứng cùng cung, và với một sao chủ sự dừng thì bốn hóa cho bốn kiểu dừng rất khác nhau. Đứng cùng chính tinh hóa Lộc là thế dễ chịu nhất: dừng mà vẫn có nguồn, tức là nghỉ ngơi thật sự, an nhàn có của, hưởng cái đã tích. Đứng cùng chính tinh hóa Quyền thì cái dừng ấy là chủ động: người này dừng vì mình quyết dừng, giữ thế thủ mà vẫn nắm việc; đây là thế biến Tức Thần từ thụ động thành điềm tĩnh. Đứng cùng chính tinh hóa Khoa thì dừng để làm cho kỹ, hợp người nghiên cứu, người làm nghề cần ngồi yên lâu. Đứng cùng chính tinh hóa Kỵ là thế đáng lưu ý nhất: dừng mà không yên, đứng lại vì vướng chứ không vì muốn; hay ứng vào cảnh việc bị treo, người bị kẹt, chuyện kéo dài không dứt được.

Kinh nghiệm Thầy thêm một câu thực hành. Khi cung có Tức Thần mà chính tinh hóa Kỵ, hãy xem cung Đào Hoa bên xung chiếu. Nếu cung ấy sạch thì cái dừng chỉ là một quãng lặng, qua rồi thì thôi. Nếu cung ấy có thêm sát tinh hoặc có Hóa Kỵ khác chiếu tới thì mới thành lời dặn thật: quãng ấy dễ có chuyện bị kéo ra khỏi chỗ yên rồi lại không đi được tới đâu.

6 Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách

Tức Thần phối với các sao cho kết quả khác nhau:

Khi Tức Thần gặpÝ nghĩa kết hợp
Phúc tinh, Thiên LươngAn nhàn, biết đủ, ung dung.
Chính tinh sángĐiềm tĩnh có chiều sâu, không bon chen.
Tuần Triệt, sao trì trệThụ động, trì hoãn, bỏ lỡ cơ hội.
Hóa Quyền, Tướng TinhBù lại sự thụ động, có động lực hơn.

7 Tức Thần Tại 12 Cung Chức

Tức Thần chỉ đóng bốn cung địa chi, nhưng bốn cung ấy rơi vào cung chức nào thì tùy vị trí cung Mệnh của từng người, nên xét theo cung chức thì nó vẫn có thể vào đủ mười hai vai. Bảng dưới luận đủ mười hai, tách rõ hai cảnh: khi cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh đỡ, tức cái dừng thành sự ung dung; và khi cung ấy bị sát tinh hoặc Hóa Kỵ kéo xuống, tức cái dừng thành sự trì trệ. Mỗi ô nói đúng lĩnh vực của cung ấy.

Ý nghĩa của sao Tức Thần tại từng cung chức trong hai cảnh gặp cát và gặp hung
CungKhi gặp chính tinh sáng, cát tinhKhi gặp sát tinh, Hóa Kỵ
MệnhTính điềm, không vội, làm việc gì cũng để dành sức. Biết đủ, ít tranh, ở đâu cũng giữ được nhịp riêng. Người khác thấy dễ chịu vì không bị hối.Chậm thành trì, việc để đấy rồi quên, cơ hội qua rồi mới tiếc. Ngại bắt đầu hơn là ngại thất bại.
Huynh ĐệAnh chị em bạn bè không ồn, gặp nhau thưa mà tình bền. Có người trong nhóm đóng vai chỗ nghỉ cho cả nhóm.Quan hệ nguội dần vì không ai chủ động, lâu ngày thành xa. Việc chung bị đùn đẩy tới lúc quá hạn.
Phu ThêBạn đời tính trầm, sống với nhau êm, nhà là chỗ để nghỉ chứ không phải chỗ để tranh. Hợp cặp đôi ưa nếp yên.Duyên tới muộn hoặc chuyện cưới hỏi bị hoãn đi hoãn lại. Sống chung mà ít nói, hai bên cùng chờ người kia lên tiếng trước.
Tử TứcCon cái tính hiền, nuôi nhàn, không quấy. Chuyện con cái đến đúng lúc mình đã sẵn sàng.Đường con cái chậm, hoặc con thiếu xông xáo, học được mà không đua. Cha mẹ dễ để con tự trôi vì thấy con ngoan.
Tài BạchTiền vào đều, ít đột biến, giữ được và tích được. Đây là cung Tức Thần hợp bậc nhất, vì thu về là đúng nghĩa của sao.Tiền đứng yên, thu nhập không tăng nhiều năm liền. Tiền bị đọng trong khoản khó rút, hoặc chờ mãi không tới.
Tật ÁchBệnh nhẹ, ít cấp tính, cơ thể quen nhịp chậm nên bền. Nghỉ đúng là khỏi, không cần can thiệp nhiều.Bệnh dây dưa, chậm khỏi, dễ thành mạn tính vì ít vận động và vì chần chừ đi khám. Thiên về chuyện khí huyết trì, tiêu hóa chậm, giấc ngủ nhiều mà không lại sức. Muốn nói bệnh cụ thể phải đọc chính tinh và Tứ Hóa của cung, không đọc Tức Thần.
Thiên DiRa ngoài không ồn, đi đâu cũng nhẹ nhàng, không gây chuyện và cũng không bị kéo vào chuyện. Hợp người làm việc xa mà cần yên.Ngại đi, ngại đổi, ở lâu một chỗ tới mức mất cơ hội. Chuyến đi hay bị hoãn, việc bên ngoài dễ dở dang.
Nô BộcBạn bè cấp dưới trầm tính, không đông mà chắc, không ai làm phiền ai.Người quanh mình thụ động, giao việc thì phải nhắc, việc chung ì ạch. Quan hệ nhạt dần vì không ai giữ.
Quan LộcNghề nghiệp ổn định, hợp việc cần ngồi lâu và làm kỹ: nghiên cứu, lưu trữ, kế toán, kiểm định, thư viện, nghề thủ công tinh xảo, chăm sóc và trông giữ. Không thăng nhanh nhưng ít khi lùi.Công việc trì trệ, dự án bị treo, thăng tiến chậm hơn người cùng lứa. Cũng chủ chuyện chán việc nhưng không đổi được.
Điền TrạchNhà cửa yên, ở lâu một chỗ, có của để dành dưới dạng nhà đất. Nhà là nơi thật sự nghỉ được.Nhà đất để không, khó bán khó cho thuê, giấy tờ kéo dài. Việc sửa nhà định mãi mà không làm.
Phúc ĐứcĐây là cung Tức Thần phát huy rõ nhất mặt hay. Tâm tính an, biết đủ, ít bị cuốn theo bên ngoài, tuổi càng lớn càng thấy nhẹ. Hợp người tu tập, người sống theo nếp.An phận thành buông xuôi, nghĩ nhiều mà không làm. Cũng chủ cảm giác đời trôi qua mà mình đứng yên.
Phụ MẫuCha mẹ tính điềm, không ép con, nhà có nếp trầm và ấm. Quan hệ trên dưới nhẹ nhàng.Bậc trên thụ động hoặc sức khỏe kém, việc trong nhà chờ mãi không quyết. Con muốn xin ý mà không có câu trả lời dứt khoát.

Mẹo đọc bảng: phân biệt ung dung với trì trệ

Kinh nghiệm Vì lá số nào cũng có Tức Thần và cả vòng thần sát trải kín mười hai cung, nên câu "cung này có Tức Thần" gần như không mang tin tức gì. Cái mang tin tức là cái dừng ấy do mình chọn hay bị bắt phải chịu. Thầy có ba câu hỏi luôn hỏi theo thứ tự. Một, chính tinh của cung sáng hay hãm, có mang Hóa Lộc hay Hóa Quyền không; có Lộc hoặc Quyền thì dừng là chủ động, không có thì dễ là bị động. Hai, cung Thiên Mã liền trước có sạch không; Thiên Mã mạnh mà Tức Thần đậm thì người ấy đi rồi biết dừng, còn Thiên Mã bị Không Kiếp hay Tuần Triệt thì thành muốn đi mà không đi được. Ba, cung Đào Hoa bên xung chiếu nặng hay nhẹ, vì đó là lực kéo mình ra khỏi chỗ yên.

Kinh nghiệm Một mẹo phụ cho người mới. Tức Thần mạnh về nhịp chứ không mạnh về chất lượng. Nó cho biết người này sống theo nhịp chậm, chứ không cho biết người này giỏi hay dở, giàu hay nghèo. Muốn nói những thứ ấy phải xem chính tinh, Tứ Hóa và đại vận. Thầy đã gặp không ít lá số Tức Thần thủ Mệnh mà làm nghề rất nặng và rất thành, chỉ khác ở chỗ họ không bao giờ vội, và cũng không bao giờ để mình kiệt sức.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tức Thần là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Tức Thần còn thêm một tầng: cấu trúc an sao đã khóa sẵn một số quan hệ, có sao chắc chắn phải gặp và có sao vĩnh viễn không gặp được. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.

Tức Thần hợp khi gặp

  • Hóa Quyền (đồng cung qua chính tinh cùng cung là mạnh nhất, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ hơn): biến cái dừng bị động thành cái dừng chủ động. Đây là tổ hợp cứu Tức Thần rõ nhất.
  • Hóa Lộc (đồng cung hoặc chiếu): nghỉ mà vẫn có nguồn, an nhàn có của, đúng nghĩa thu về.
  • Thiên Lương (đồng cung khả dĩ ở cả bốn vị trí): phúc tinh và sao giải, hợp với tượng ngồi yên mà vẫn được che chở. Người có hai sao này đậm thường sống lâu và sống nhẹ.
  • Thiên Đồng (đồng cung khả dĩ ở cả bốn vị trí): phúc tinh chủ hưởng, gặp Tức Thần thì thành người biết an trong cái đang có.
  • Long Đức (luôn hội, đồng cung hoặc tam hợp tùy tuổi): sao giải, làm nhẹ phần trì trệ.
  • Lộc Tồn (đồng cung khả dĩ tùy tuổi can): kho dành dụm gặp sao thu về, rất hợp tượng, chủ tích lũy bền.
  • Hoa Cái (luôn giáp cung liền sau, mọi tuổi): thanh cao và lặng lẽ đi liền nhau. Thế giáp nhẹ nhưng bền, và nó là lý do người có Tức Thần đậm hay hợp với nếp sống có phần tu tập.

Tức Thần e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): đây là tổ hợp đáng ngại nhất. Sao vốn đã chủ dừng lại còn bị chặn thêm một lớp nữa thì thành đứng hẳn, việc gì cũng chậm và cũng dở dang.
  • Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, xung chiếu kế): dừng mà không yên, việc bị treo, chuyện kéo dài không dứt.
  • Vong Thần (luôn tam hợp, mọi tuổi): cái hao ngầm đi kèm sự dừng. Dừng lâu thì mất phần, đây là lời nhắc cố định của cấu trúc.
  • Thiên Sát (luôn tam hợp, mọi tuổi): có những chặng dừng là do bị bắt dừng chứ không phải mình chọn.
  • Đào Hoa (luôn xung chiếu, mọi tuổi): lực kéo mình ra khỏi chỗ yên. Nhẹ khi cung xung sạch, thành phiền khi cung ấy có thêm Thiên Riêu, Mộc Dục hoặc sát tinh.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng, giáp xấu hơn chiếu): dừng lại rồi thành trống rỗng, cái tích được cũng tan.
  • Tử, Tuyệt, Bệnh của vòng Tràng Sinh (đồng cung tùy cục và chiều an): các sao cùng chủ khí suy dồn vào một cung thì sức bật gần như không còn. Cần đọc kèm chính tinh trước khi kết luận.
  • Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung khả dĩ, giáp là thế bao vây): sát tinh vào cung Tức Thần thường không cho biến động lớn mà cho sự dằng dai, chuyện nhỏ mà lâu dứt.
  • Tướng Tinh và Phan An (không bao giờ gặp: cách ba cung và hai cung): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Câu "Tức Thần gặp Tướng Tinh thì bù được sự thụ động" là ghép trên giấy, không có trên lá số.
  • Thái Tuế (không bao giờ gặp: luôn cách một, năm hoặc chín cung): cùng lý do trên.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau thì cho kết quả khác nhau, và với Tức Thần thì cấu trúc an sao đã khóa sẵn bốn điều: luôn bị Thiên Mã và Hoa Cái giáp hai bên, luôn xung chiếu Đào Hoa, luôn tam hợp Vong Thần cùng Thiên Sát, và vĩnh viễn không gặp Tướng Tinh, Phan An hay Thái Tuế. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc rồi mới kết luận.

9 Tức Thần Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Các mục trên nói về Tức Thần đứng yên trên bản mệnh. Nhưng câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: giai đoạn này có nên khởi sự không, năm nay nên tiến hay nên giữ. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng thần sát.

Đại vận đi vào cung có Tức Thần

Suy luận Khi đại vận mười năm bước vào cung có Tức Thần bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là nhịp đời chậm lại: việc bớt dồn, người bớt gọi, những thứ đang chạy thì tự nhiên thưa dần. Nếu cung ấy có chính tinh sáng cùng Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền thì đây là quãng rất tốt để củng cố: trả nợ, tích lũy, học một nghề cho tới nơi, chữa dứt một cái bệnh cũ, chỉnh lại nếp sống. Nếu cung ấy có sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ thì quãng ấy dễ thành mười năm mắc kẹt: muốn đổi mà không đổi được, việc đâu vẫn đấy.

Kinh nghiệm Thầy nhắc một điều rất thực tế mà lá số thật hay cho thấy. Đại vận có Tức Thần không phải là vận xấu, nó là vận sai nhịp nếu người ta cố đi nhanh. Người bước vào quãng này mà vẫn giữ nhịp của quãng trước thì mệt gấp đôi mà kết quả bằng nửa. Ngược lại, ai chịu hạ nhịp và dùng mười năm ấy để làm cho chắc thì hết vận sẽ thấy mình vững hơn hẳn. Thầy vẫn nói: có những quãng đời trời cho để nghỉ, tiêu nó vào việc chạy là uổng.

Vòng thần sát có bản lưu niên hay không

Kinh văn Bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế có bản lưu, an theo địa chi của năm đang xem. Vòng Bác Sĩ có bản lưu, an theo thiên can của năm đang xem, qua lưu Lộc Tồn. Vòng Tràng Sinh không có bản lưu, vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm. Các sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh như Tả Hữu, Xương Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu, Không Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì không đổi theo năm.

Suy luận Vòng thần sát tam hợp an theo địa chi năm sinh, nên về nguyên tắc nó lưu được theo địa chi của năm đang xem, cùng cơ chế với vòng Thái Tuế. Trên thực tế thì thư tịch chỉ dùng đều đặn hai sao lưu của vòng này là lưu Thiên Mã, sao mà mọi phái đều tính, và lưu Đào Hoa. Riêng lưu Tức Thần thì sách không lập thành phép, và Thầy ghi rõ điều đó thay vì lấp chỗ trống. Bảng dưới tính sẵn theo đúng công thức của vòng, in kèm lưu Thiên Mã và lưu Đào Hoa vì ba sao ấy có quan hệ cố định với nhau, để quý vị dùng như một lớp tham khảo phụ.

Vị trí lưu Tức Thần, lưu Thiên Mã và lưu Đào Hoa theo địa chi từng năm lưu niên
Năm lưu niênTam hợp của nămLưu Tức ThầnLưu Thiên MãLưu Đào Hoa
2026 Bính NgọDần-Ngọ-TuấtDậuThânMão
2027 Đinh MùiHợi-Mão-MùiNgọTỵ
2028 Mậu ThânThân-Tý-ThìnMãoDầnDậu
2029 Kỷ DậuTỵ-Dậu-SửuHợiNgọ
2030 Canh TuấtDần-Ngọ-TuấtDậuThânMão
2031 Tân HợiHợi-Mão-MùiNgọTỵ
2032 Nhâm TýThân-Tý-ThìnMãoDầnDậu
2033 Quý SửuTỵ-Dậu-SửuHợiNgọ
2034 Giáp DầnDần-Ngọ-TuấtDậuThânMão
2035 Ất MãoHợi-Mão-MùiNgọTỵ
2036 Bính ThìnThân-Tý-ThìnMãoDầnDậu
2037 Đinh TỵTỵ-Dậu-SửuHợiNgọ
2038 Mậu NgọDần-Ngọ-TuấtDậuThânMão

Suy luận Cách dùng bảng rất gọn. Nhìn cột lưu Tức Thần xem nó rơi vào cung nào của lá số mình, rồi xem cung ấy là cung chức gì. Rơi vào Quan Lộc thì năm ấy công việc dễ vào nhịp chậm, hợp củng cố hơn là mở mới. Rơi vào Tài Bạch thì tiền vào chậm mà cũng ít hao. Rơi vào Tật Ách thì năm ấy nên chú ý phục hồi và nghỉ cho đủ. Năm đáng chú ý nhất là năm lưu Tức Thần trùng đúng cung Tức Thần bản mệnh, tức năm mà chi năm cùng nhóm tam hợp với chi năm sinh; ba năm như vậy trong mỗi mười hai năm. Trong ba năm ấy, lưu Thiên Mã cũng trùng cung Thiên Mã bản mệnh, nên nhịp dừng và nhịp đi cùng đậm lên một lúc, dễ ứng vào cảnh vừa muốn đi vừa muốn ở.

Các lưu sao khác chạm vào cung Tức Thần

Suy luận Lưu Thái Tuế đáng xem trước nhất, vì trên bản mệnh Tức Thần không bao giờ gặp Thái Tuế; chỉ có năm lưu mới đưa được sao danh phận vào ngồi chung cung với sao dừng lại. Năm ấy thường ứng vào cảnh bị gọi ra khỏi chỗ yên: được mời giữ một việc, phải đứng ra nói một điều mà mình vốn muốn tránh. Lưu Thiên Mã vào cung Tức Thần thì hai lực đi và ở dồn vào một chỗ, năm ấy hay có chuyện dời chỗ mà lòng còn tiếc. Lưu Kình Dương, lưu Đà La vào cung ấy thì cái chậm thành cái dằng dai, việc nhỏ mà lâu dứt, nên xử lý gọn từ sớm. Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ vào cung ấy thì quãng nghỉ đi kèm chuyện buồn trong nhà, hoặc phải ngừng việc để lo việc khác.

Kinh nghiệm Thầy vẫn dặn một câu gọn để khỏi luận quá tay: một lớp chạm chỉ là một dấu nhỏ, hai lớp là đáng ghi nhớ, ba lớp cùng dồn vào một cung thì năm ấy mới thật sự đáng nói. Riêng với Tức Thần, dấu hiệu đáng tin nhất không phải sao lưu, mà là đại vận đang đi vào cung có Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ; sao lưu chỉ báo một quãng lặng ngắn, còn đại vận mới quyết cái chậm ấy kéo dài bao lâu.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tức Thần

Tức Thần có cái tên nghe không thuận tai với người Việt, nên nó bị đọc lệch nhiều hơn cả Tướng Tinh và Phan An. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.

Một: chữ Tức trong tên sao nghĩa là nghỉ, không phải là tức giận

Suy luận Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất, và nó thuần túy do âm Hán Việt. Trong tiếng Việt hằng ngày, chữ tức hay được hiểu là bực bội, tức tối, tức ngực. Nhưng chữ Tức trong tên sao này là chữ chỉ hơi thở, sự ngưng nghỉ, cùng nghĩa với chữ tức trong hai từ quen thuộc là an tức, tức là yên nghỉ, và tiêu tức, tức là tin tức theo nghĩa cái sinh ra rồi lại lặng đi. Ghép với chữ Thần chỉ khí, chỉ tinh thần, thì Tức Thần nghĩa là khí ngưng lại, thần nghỉ ngơi, dừng chân mà thu về. Không có chút nghĩa nào của sự tức giận. Ai luận Tức Thần thành sao chủ nóng nảy cáu bẳn là luận theo âm tiếng Việt chứ không theo nghĩa chữ; muốn xem tính nóng thì đọc Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Hình.

Hai: Tức Thần không phải Tử, không phải Tuyệt, không phải Bệnh

Suy luận Nhiều bài viết xếp Tức Thần cùng một rổ với các sao suy nhược của vòng Tràng Sinh, kiểu "Tức Thần cũng như Tử Tuyệt, chủ hết khí". Hai thứ khác nhau về cả cách an lẫn về nghĩa. Tử, Tuyệt, Bệnh, Suy thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục của lá số và có phân thuận nghịch; chúng mô tả một chặng trong vòng đời của khí, và Tuyệt là chặng khí đã hết hẳn. Tức Thần thuộc vòng thần sát, an theo tam hợp chi năm sinh; nó mô tả một chỗ dừng, mà dừng thì khác hết. Nghỉ là để lại đi được, còn tuyệt là không còn gì để đi. Về mặt cấu trúc, hai vòng dùng hai tham số khác nhau nên Tức Thần có thể trùng cung với Tử hay Tuyệt một cách hoàn toàn ngẫu nhiên tùy cục và tùy tuổi, chứ không theo quy luật nào.

Ba: Tức Thần không phải Tuần Triệt, cũng không phải Thiên Không

Suy luận Cả ba đều dính tới ý ngăn lại, nên hay bị gộp. Nhưng ba thứ ngăn theo ba kiểu khác nhau. Tuần và Triệt là hai vạch chặn cả cung, an theo can chi năm sinh theo phép riêng, và chúng chặn mọi sao trong cung ấy chứ không riêng sao nào. Thiên Không chủ cái rỗng, cái tưởng có mà hóa không, an theo chi năm sinh và luôn đồng cung Thiếu Dương. Tức Thần chủ cái dừng: mọi thứ vẫn còn nguyên đó, chỉ là không chạy nữa. Chặn khác rỗng, rỗng khác dừng. Trên lá số, một cung có Tức Thần mà sạch thì nghĩa là nhịp chậm; một cung có Tức Thần lại thêm Tuần Triệt thì mới là đứng hẳn; còn Tức Thần gặp Thiên Không thì là dừng lại rồi mới phát hiện chỗ mình dừng chẳng có gì.

Bốn: Tức Thần không phải sao xấu, và cũng không quyết định vận mệnh

Kinh văn Thư tịch xếp Tức Thần vào nhóm thần sát nhỏ, chép về nó rất ngắn, và không lập cách cục riêng nào mang tên nó. Suy luận Một sao được chép trong vài dòng thì trọng lượng luận cũng chỉ nên bằng vài dòng. Hơn nữa lá số nào cũng có Tức Thần, và cứ ba người thì một người có nó ở cùng một cung địa chi; một dấu hiệu phổ biến tới mức ấy không thể là bản án cho ai.

Kinh nghiệm Điều Tức Thần thật sự nói là nhịp: người này sống chậm, làm chậm, và hồi lại bằng cách ngồi yên chứ không bằng cách bung ra. Đó là một nét tính khí, không phải một dự báo về thành bại. Đặt đúng chỗ thì nó là ưu điểm lớn: những nghề cần ngồi lâu, làm kỹ, giữ được bí mật, chăm sóc lâu dài đều cần đúng loại người này. Đặt sai chỗ thì nó thành gánh nặng. Nhắc lại cho rõ để khép mục này: Tức Thần là thần sát nhỏ, chủ về khí thế và chỗ đứng, không quyết định vận mệnh. Không một sao nhỏ nào trong Đẩu Số đủ sức làm việc đó, và không nên phán họa hay phán phúc chỉ từ một cái tên sao.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Tức Thần Qua Ba Bước

Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh đã chọn: tuổi Đinh Mão, nam mệnh, Tử Vi an tại Hợi, Mệnh an tại Ngọ. Tuổi Mão thuộc nhóm tam hợp Hợi Mão Mùi, Kiếp Sát khởi tại Thân, nên đếm thuận mười bước thì Tức Thần rơi vào cung Ngọ, đúng ngay cung Mệnh. Trọn vòng thần sát của lá số này là: Kiếp Sát tại Thân, Tai Sát Dậu, Thiên Sát Tuất, Chỉ Bối Hợi, Đào Hoa Tý, Nguyệt Sát Sửu, Vong Thần Dần, Tướng Tinh Mão, Phan An Thìn, Thiên Mã Tỵ, Tức Thần Ngọ, Hoa Cái Mùi. Thái Tuế của tuổi Mão đóng tại Mão, tức cung Tử Tức, cách cung Mệnh ba cung nên không hội, đúng như quy luật đã nêu; còn sao Thiếu Âm của vòng Thái Tuế thì đóng ngay tại Ngọ, đồng cung với Tức Thần. Lưới dưới chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao thần sát không nằm trong nhóm ấy nên ghi bằng chữ ngay trên đây.

Bước một: Tức Thần đứng ở đâu và đứng cùng ai

Tức Thần tại Ngọ, rơi đúng cung Mệnh, đồng cung với Thiên Đồng và Thái Âm, mà tuổi Đinh thì Thiên Đồng hóa Quyền và Thái Âm hóa Lộc. Cùng cung còn có Lộc Tồn của tuổi Đinh và sao Thiếu Âm. Đây là một cung Mệnh rất đáng đọc, vì nó cho thấy Tức Thần ở thế tốt nhất mà nó có thể có: hai phúc tinh đồng cung, một mang Quyền một mang Lộc, lại thêm Lộc Tồn là kho dành dụm.

Đọc ra rất gọn: người này dừng lại là do mình chọn, và dừng mà vẫn có nguồn. Không phải trì trệ, mà là ung dung. Thiên Đồng hóa Quyền cho cái điềm tĩnh có chủ ý, Thái Âm hóa Lộc cùng Lộc Tồn cho phần tích lũy bền, còn Thiếu Âm thì nhấn thêm nét kín đáo, ưa làm việc trong lặng lẽ. Đây chính là ví dụ để phân biệt hai mặt của Tức Thần: cùng một sao, đặt lên nền có Lộc Quyền thì thành biết đủ, đặt lên nền có Kỵ và sát tinh thì thành mắc kẹt.

Bước hai: thế giáp hai bên, và Kình Đà chiếu từ đâu

Thế giáp là chỗ đặc trưng nhất của Tức Thần, và lá số này cho thấy rất rõ. Bên trái là Thiên Mã tại Tỵ, cung Huynh Đệ, có Thiên Phủ cùng Đà La. Bên phải là Hoa Cái tại Mùi, cung Phụ Mẫu, có Vũ Khúc, Tham Lang cùng Kình Dương. Vậy hai cung giáp Mệnh chính là hai cung mang Kình Dương và Đà La: đây là thế Kình Đà giáp Mệnh, một thế bao vây có thật và đáng lưu ý, và nó trùng đúng với thế giáp cố định của Tức Thần bởi Thiên Mã và Hoa Cái.

Ý nghĩa rất cụ thể. Người này bên trong thì yên, nhưng hai bên đều có gai: một bên là chuyện anh em bạn bè kèm sao Mã, tức là chuyện người ta rủ đi, rủ đổi; một bên là chuyện bậc trên với Vũ Tham và Kình Dương, tức là áp lực phải làm, phải kiếm, phải hơn. Cả hai đều là lực đẩy người này ra khỏi chỗ ngồi yên của họ. Cung xung chiếu ở Tý là cung Thiên Di, không có chính tinh nên mượn sao cung Ngọ, và đó cũng là cung có Đào Hoa theo đúng quy luật xung chiếu cố định. Cung Quan Lộc ở Tuất có Thiên Cơ hóa Khoa cùng Thiên Lương, đồng thời là cung Thiên Sát tam hợp chiếu về. Cung Tài Bạch ở Dần không chính tinh, là cung Vong Thần, cũng tam hợp chiếu về.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì, và kết luận

Cung Mệnh tại Ngọ có tam hợp là Dần và Tuất, xung chiếu là Tý. Dần trống nên mượn sao cung Thân là Thái Dương Cự Môn, Tuất có Thiên Cơ hóa Khoa với Thiên Lương, Tý trống nên mượn chính cung Ngọ. Nền chung là Đồng Âm thủ Mệnh hội Cơ Lương, có Lộc Quyền Khoa cùng góp: Thái Âm hóa Lộc và Thiên Đồng hóa Quyền ở Mệnh, Thiên Cơ hóa Khoa ở Quan Lộc. Riêng Cự Môn hóa Kỵ thì nằm ở Thân là cung Phúc Đức, tức chỗ nghĩ ngợi.

Đặt Tức Thần vào nền ấy thì nó không làm yếu đi, nó định nhịp. Người này làm nghề cần ngồi kỹ và làm lâu, hợp với Cơ Lương hóa Khoa ở Quan Lộc: nghiên cứu, tư vấn, chăm sóc, giảng dạy, những việc mà giá trị nằm ở độ sâu chứ không ở tốc độ. Cái hay là họ giữ được nhịp riêng giữa hai bên đều thúc. Điều cần giữ nằm ở hai chỗ. Một là Kình Đà giáp hai bên: đừng để người khác quyết hộ nhịp của mình, và cũng đừng vì bị thúc mà nhận việc quá sức. Hai là Cự Môn hóa Kỵ ở Phúc Đức: người này nghĩ nhiều trong lặng lẽ, và cái nghĩ ấy dễ thành ngại nói ra. Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với những lá số kiểu này một câu ngắn: quý vị không cần đi nhanh hơn, quý vị chỉ cần nói ra sớm hơn.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Đổi sang tuổi Đinh Dậu, giữ nguyên Mệnh tại Ngọ: tuổi Dậu thuộc nhóm Tỵ Dậu Sửu, Kiếp Sát khởi tại Dần, nên Tức Thần dời về cung Tý, tức cung Thiên Di của lá số này. Cung Mệnh không còn Tức Thần, chỉ còn Đồng Âm với Lộc Quyền. Đọc khác hẳn: người vẫn có phúc, nhưng cái nhịp chậm chuyển ra bên ngoài, tức ra tới đâu cũng thong thả, đi chậm mà chắc. Thiên Mã khi ấy về Hợi và Hoa Cái về Sửu, tức bộ ba Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái dời sang trục Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách.
  • Giữ tuổi Mão nhưng đổi sang tuổi Ất Mão, Mệnh vẫn tại Ngọ: vòng thần sát không đổi vì nó chỉ theo chi, nên Tức Thần vẫn ở Ngọ cùng cung Mệnh. Nhưng bộ Tứ Hóa đổi thành Thiên Cơ hóa Lộc, Thiên Lương hóa Quyền, Tử Vi hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ. Thái Âm ở ngay cung Mệnh, nên Tức Thần từ chỗ ngồi cùng Lộc chuyển sang ngồi cùng Kỵ: cái dừng không còn là ung dung mà thành mắc kẹt, hay ứng vào cảnh muốn đổi mà không đổi được. Lộc Tồn tuổi Ất về Mão, Kình Dương về Thìn, Đà La về Dần, nên thế Kình Đà giáp Mệnh cũng tan.
  • Giữ tuổi Đinh Mão nhưng Mệnh an tại Tuất thay vì Ngọ: Tức Thần vẫn ở Ngọ vì nó chỉ theo chi năm, nhưng cung Ngọ bây giờ là cung Tài Bạch. Cùng một sao, cùng một cung địa chi, mà đọc thành chuyện khác: tiền của người này vào chậm mà giữ được, hợp tích lũy dài hạn hơn là xoay vòng nhanh, và Lộc Tồn cùng Thái Âm hóa Lộc ở đó càng làm rõ nét kho dành dụm.

Ba trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Tức Thần mà chỉ nhìn tên sao là mới đọc được một phần rất nhỏ. Muốn biết Tức Thần của chính mình đóng ở cung chức nào, ngồi cùng chính tinh nào, mang Lộc hay mang Kỵ, và hai bên giáp là gì, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Tức Thần trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.

12 Lời Khuyên Khi Tức Thần Nổi Bật

Kinh nghiệm Tức Thần không phải hung tinh nên không có gì phải trấn, phải yểm. Lời khuyên ở đây đi theo hướng khác: giữ cái chậm mà bỏ cái ì. Hai thứ ấy nhìn giống nhau mà khác hẳn, và phân biệt được chúng là toàn bộ việc phải làm của người có Tức Thần đậm ở Mệnh, Quan Lộc hoặc Phúc Đức.

Bốn việc làm được ngay

Kinh nghiệm Một, đặt hạn cho mọi việc đang chờ. Người có Tức Thần đậm ít khi bỏ việc, họ chỉ để đấy; mà để đấy lâu thì thành bỏ. Mỗi việc treo hãy ghi một ngày phải quyết, dù quyết là thôi. Hai, tách cái nghỉ ra khỏi cái né. Nghỉ là sau khi đã làm, né là trước khi bắt đầu. Cứ tự hỏi câu này trước mỗi lần dừng: mình đang hồi sức hay đang tránh. Ba, chọn nghề đúng nhịp của mình. Đây là lời khuyên quan trọng nhất; ép người nhịp chậm vào việc đòi phản xạ nhanh thì cả hai bên cùng khổ. Bốn, mỗi năm bắt đầu đúng một việc mới. Không cần nhiều, một việc là đủ để cái nhịp chậm không biến thành cái đứng yên.

Dùng Tức Thần vào việc

Suy luận Sao này là khả năng ngồi yên được lâu mà không sốt ruột. Trong một thời buổi mà ai cũng vội, khả năng ấy hiếm và có giá. Người có Tức Thần nổi bật ở Mệnh, Quan Lộc hay Phúc Đức hợp những việc mà giá trị nằm ở độ bền và độ sâu: nghiên cứu, biên soạn, lưu trữ, kế toán, kiểm định, chăm sóc người bệnh và người già, nghề thủ công tinh xảo, trồng trọt lâu năm, dạy học, tư vấn tâm lý, và cả những việc tu tập. Ở những chỗ ấy, người biết ngồi yên làm được thứ mà người vội không bao giờ làm nổi.

Kinh nghiệm Ngược lại, có hai chỗ Thầy khuyên nên cẩn thận. Một là những việc ăn nhau ở tốc độ và ở phản ứng tức thời, như buôn bán theo sóng, môi giới ngắn hạn, nghề phải chốt trong ngày. Hai là những môi trường không ai nhắc mà tự mình phải chạy; người có sao này ở đó dễ trôi vài năm rồi giật mình. Cách chữa không phải là ép mình nhanh lên, mà là tìm một người hoặc một cơ chế nhắc nhịp: một cộng sự tính động, một cái hạn có người kiểm.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Chỗ ngồi làm việc nên đủ sáng và nên nhìn ra một khoảng thoáng, vì người vốn ưa yên thì cần ánh sáng để khỏi lún vào cái ì. Trong nhà nên tách rõ chỗ nghỉ với chỗ làm, đừng làm việc trên giường, vì với người có Tức Thần đậm thì hai chỗ ấy lẫn vào nhau là cả hai cùng hỏng. Nên có một thói quen vận động cố định giờ, dù nhẹ, vì khí trì là chỗ yếu thật của kiểu người này. Về màu sắc, hợp sắc sáng vừa và ấm hơn là sắc trầm tối, vì nếp sống vốn đã đủ phần lặng. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Tật Ách rồi hãy quyết.

Kinh nghiệm Lời cuối của mục này. Biết dừng là một khả năng, không phải một khuyết điểm. Phần lớn những việc hỏng trong đời không hỏng vì người ta chậm, mà hỏng vì người ta không biết lúc nào nên dừng. Người có Tức Thần đậm được trời cho sẵn cái phanh ấy; việc còn lại chỉ là nhớ rằng xe còn có chân ga.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ nguồn dẫn dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Hệ thống mười hai thần sát an theo tam hợp cục, dùng chung trong mệnh lý Đông phương gồm cả Tử Vi Đẩu Số và Bát Tự Tử Bình: thứ tự Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Đào Hoa, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái; cung khởi Kiếp Sát theo bốn nhóm tam hợp; chiều đếm thuận. Đây là nguồn mà trang gốc dẫn, và bài này giữ nguyên.
  • Bảng an mười hai thần sát theo tam hợp địa chi năm sinh, đối chiếu với các sách Tử Vi mở rộng, cho tính chất của Tức Thần là ngưng nghỉ, trì hoãn, dừng lại, an phận, đôi khi là thụ động và thiếu xông xáo.
  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục các sao vòng Tràng Sinh và mục Tuần Triệt: dùng để đối chiếu và phân biệt Tức Thần với các sao Tử, Tuyệt, Bệnh, Suy vốn an theo cục, và với hai vạch chặn Tuần Triệt.
  • Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu: vị trí Tức Thần theo đủ mười hai địa chi năm sinh, cho kết quả đúng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu và không bao giờ rơi vào tám cung còn lại; khoảng cách cố định giữa Tức Thần với đủ mười một sao còn lại của vòng thần sát, cho kết quả luôn bị Thiên Mã và Hoa Cái giáp hai bên, luôn xung chiếu Đào Hoa, luôn tam hợp Vong Thần và Thiên Sát, và vĩnh viễn không hội chiếu Tướng Tinh cùng Phan An; quan hệ giữa Tức Thần với đủ mười hai sao vòng Thái Tuế, cho kết quả vĩnh viễn không hội Thái Tuế nhưng luôn hội Thiếu Âm, Long Đức, Trực Phù, kèm Quán Sách; danh sách chính tinh có thể đồng cung tại từng vị trí, chạy đủ mười hai thế Tử Vi, cho kết quả không loại trừ chính tinh nào. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
  • Ghi chú về phú: thư tịch không lập câu phú riêng cho Tức Thần, và bài này không dẫn câu phú nào cho sao ấy. Những câu phú lưu truyền trên mạng gắn tên Tức Thần phần lớn không tra được nguồn, nên bài không dùng.
  • Ghi chú về lưu niên: thư tịch không lập phép lưu Tức Thần thành một quy tắc riêng. Bảng lưu trong bài tính theo đúng công thức của vòng thần sát, dùng như lớp tham khảo phụ, và đã ghi rõ điều đó ngay tại mục vận hạn. Riêng lưu Thiên Mã và lưu Đào Hoa in kèm trong bảng thì là phép được dùng chung.

Lưu ý về dị bản và về tên gọi: một số tài liệu chép thứ tự vòng mười hai thần sát bắt đầu từ Tướng Tinh thay vì từ Kiếp Sát, hoặc dùng tên Lục Ách thay cho Chỉ Bối; riêng tên sao này có nơi chép là Tức Thần, có nơi chép là Tức Thân. Thứ tự tương đối giữa các sao thì không đổi, nên mọi khoảng cách nêu trong bài vẫn đúng với các dị bản ấy. Bài này dùng đúng thứ tự và cung khởi mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang chạy. Về nghĩa chữ, cần nhớ chữ Tức trong tên sao chỉ hơi thở và sự ngưng nghỉ, cùng nghĩa với chữ tức trong an tức và tiêu tức, chứ không phải chữ tức mang nghĩa bực bội trong tiếng Việt hằng ngày.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn hệ thống mười hai thần sát an theo tam hợp cục dùng chung trong mệnh lý Đông phương, cùng phần Đặc Tính Các Sao của Tử Vi Đẩu Số Tân Biên để đối chiếu Tức Thần với các sao vòng Tràng Sinh và với Tuần Triệt, còn phần cấu trúc an sao, vị trí trong vòng và các bảng vị trí thì kiểm bằng thuật toán an sao của trang, chạy đủ mười hai địa chi năm sinh và mười hai thế Tử Vi. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tức Thần

Tức Thần là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp, ngũ hành Thổ. Tên nghĩa là thần khí ngưng nghỉ, sao chủ sự trì hoãn, dừng lại, an phận, đôi khi là thụ động và thiếu xông xáo.

Tức Thần hai mặt: mặt tốt là biết đủ, điềm tĩnh, ung dung khi đi cùng phúc tinh; mặt kém là thụ động, trì trệ, bỏ lỡ cơ hội khi gặp Tuần Triệt và sao yếu. Cần xem cùng chính tinh.

Tức Thần đứng gần cuối vòng mười hai thần sát, trước Hoa Cái, an theo tam hợp địa chi năm sinh.

Người có Tức Thần nổi bật nên chủ động rèn ý chí tiến thủ, tránh an phận quá mức. Trong năm gặp Tức Thần thì hợp nghỉ ngơi, củng cố hơn là khởi sự lớn.

Chỉ bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức bốn cung tứ chính. Tuổi Thân Tý Thìn thì Tức Thần tại Mão, tuổi Dần Ngọ Tuất tại Dậu, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Tý, tuổi Hợi Mão Mùi tại Ngọ. Đã chạy đủ mười hai địa chi năm sinh bằng thuật toán an sao để kiểm. Tức Thần vĩnh viễn không đóng ở Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.

Không. Chữ Tức ở đây là chữ chỉ hơi thở và sự ngưng nghỉ, cùng nghĩa với chữ tức trong hai từ quen thuộc an tức và tiêu tức. Ghép với chữ Thần chỉ khí, chỉ tinh thần, thì Tức Thần nghĩa là khí ngưng lại, thần nghỉ ngơi, dừng chân mà thu về. Không có chút nghĩa nào của sự nóng nảy. Ai luận Tức Thần thành sao chủ cáu bẳn là luận theo âm tiếng Việt chứ không theo nghĩa chữ; muốn xem tính nóng thì đọc Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Hình.

Không bao giờ. Trong vòng thần sát, Tức Thần đứng thứ mười một, Phan An thứ chín, Tướng Tinh thứ tám, nên Tức Thần luôn cách Phan An đúng hai cung và cách Tướng Tinh đúng ba cung. Cả hai khoảng cách đều không tạo quan hệ trong Đẩu Số, vì quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Vì vậy câu Tức Thần gặp Tướng Tinh thì bù được sự thụ động là ghép trên giấy, không có trên lá số. Sao duy nhất luôn kề Tức Thần là Thiên Mã ở cung liền trước và Hoa Cái ở cung liền sau.

Không. Nó là thần sát nhỏ, chủ về nhịp chậm và chỗ dừng, không chủ họa. Đặt lên nền có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn, Thiên Đồng, Thiên Lương thì thành biết đủ và ung dung, rất hợp những nghề cần ngồi lâu làm kỹ. Đặt lên nền có Tuần Triệt, Hóa Kỵ hoặc sát tinh thì mới thành trì trệ và mắc kẹt. Cần phân biệt rõ với Tử, Tuyệt, Bệnh của vòng Tràng Sinh vốn an theo cục, và với Tuần Triệt vốn chặn cả cung: nghỉ là để lại đi được, còn tuyệt là không còn gì để đi.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.