1 Thông Quan Là Gì

Thông quan nghĩa là mở cửa ải cho thông suốt. Trong lá số, khi hai hành mạnh ngang nhau lao vào khắc nhau, khí bị tắc nghẽn ở chỗ tương tranh, cả hai cùng bị tổn thương. Thông quan là lấy một hành thứ ba làm cầu, dẫn khí từ bên này chảy sang bên kia.
Nguyên lý của nó rất hay: biến tương khắc thành tương sinh. Hai hành vốn khắc nhau, nay nhờ hành trung gian, bên khắc sẽ sinh cho cầu, cầu lại sinh cho bên bị khắc, thành một dòng chảy thuận, không còn xung đột.
2 Khi Nào Cần Thông Quan
Phép thông quan dùng khi lá số có hai thế lực ngũ hành mạnh ngang nhau và đang khắc nhau trực tiếp, mà không bên nào áp đảo được bên nào. Đây là tình huống mà phù ức khó xử, vì nâng bên này thì ép bên kia, rốt cuộc vẫn không yên.
Dấu hiệu nhận biết là trong cục có hai hành cùng vượng, lại đứng ở thế tương khắc, khí giữa chúng căng thẳng. Ví dụ Kim rất vượng mà Mộc cũng rất vượng, Kim khắc Mộc dữ dội; hoặc Thủy vượng mà Hỏa cũng vượng, Thủy Hỏa giao tranh. Khi ấy việc cần làm là mở một lối cho khí lưu thông, chứ không phải bồi thêm hay chặt bớt một bên.
3 Lấy Hành Trung Gian Làm Cầu
Cách chọn hành trung gian rất logic: lấy hành nằm giữa hai hành tương tranh trong vòng tương sinh, tức hành mà bên khắc sinh ra và hành ấy lại sinh cho bên bị khắc.
Quy tắc là: bên khắc sinh ra cầu, cầu sinh cho bên bị khắc. Như vậy lực của bên mạnh không còn đổ thẳng vào khắc bên kia, mà được dẫn vòng qua cầu rồi nuôi lại chính bên bị khắc. Một mũi tên trúng hai đích: vừa giảm sức công, vừa tiếp sức cho bên yếu.
4 Năm Cặp Tương Tranh Và Hành Hòa Giải
📚 Năm cặp tương tranh và hành làm cầu
- Kim khắc Mộc: dùng Thủy làm cầu. Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
- Mộc khắc Thổ: dùng Hỏa làm cầu. Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ.
- Thổ khắc Thủy: dùng Kim làm cầu. Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy.
- Thủy khắc Hỏa: dùng Mộc làm cầu. Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa.
- Hỏa khắc Kim: dùng Thổ làm cầu. Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Nhìn bảng trên sẽ thấy hành làm cầu luôn là hành đứng giữa hai hành tương tranh trong chu trình tương sinh. Đây là điều dễ nhớ và dễ áp dụng nhất của phép thông quan.
5 Ví Dụ Lá Số
Lấy ví dụ một lá số Kim và Mộc đều vượng, đứng thế Kim khắc Mộc gay gắt, Nhật Chủ kẹt giữa hai làn đạn. Nếu dùng phù ức, nâng Mộc thì Kim càng lao vào, ép Kim thì lại đụng tới gốc khác, loay hoay không yên.
Lúc này lấy Thủy làm dụng thần thông quan. Kim gặp Thủy thì sức khắc Mộc được hút bớt, vì Kim bận sinh Thủy; Thủy lại sinh cho Mộc, khiến Mộc được nuôi thay vì bị chặt. Cả cục từ chỗ giao tranh chuyển sang một dòng Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc liền mạch, khí lập tức lưu thông, lá số hóa đẹp. Đây chính là cái tài tình của thông quan.
Tương tự, lá số Thủy Hỏa giao tranh dùng Mộc làm cầu, lá số Mộc Thổ tương khắc dùng Hỏa làm cầu. Nguyên tắc luôn giống nhau, chỉ đổi hành theo cặp tương tranh cụ thể.
6 Thông Quan Trong Quan Hệ Với Phù Ức
Thông quan và phù ức không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau. Phù ức xử lý chuyện thân một mình mạnh hay yếu; thông quan xử lý chuyện hai thế lực ngoài thân đánh nhau làm tắc khí.
Có lá số chỉ cần phù ức, có lá số chỉ cần thông quan, có lá số cần cả hai. Khi gặp thế tương tranh rõ rệt mà phù ức không gỡ được, hãy nghĩ ngay tới thông quan. Ngược lại, nếu lá số chỉ đơn thuần thân vượng hay nhược, không có hai hành đánh nhau, thì không cần tới phép này.
Lưu ý: hành làm cầu phải có mặt và có lực trong lá số hoặc tới ở đại vận thì thông quan mới thành. Nếu hành cầu vắng bóng, cả cục vẫn kẹt, lúc đó trông chờ đại vận đem hành cầu tới để khơi thông.
7 Lời Khuyên Vận Dụng

Vận dụng thông quan, mấu chốt là nhận ra thế tương tranh: hai hành cùng vượng, đứng thế khắc nhau, khí bị tắc. Nhận ra rồi thì việc chọn hành cầu là tự nhiên theo vòng tương sinh.
Sau đó kiểm xem hành cầu đã có trong cục chưa, mạnh hay yếu, hay phải đợi đại vận mang tới. Đó là cách đọc một lá số cần thông quan.
- Nhận diện thế tương tranh. Tìm hai hành cùng vượng đang khắc nhau làm tắc khí.
- Chọn hành làm cầu. Lấy hành đứng giữa hai hành ấy trong vòng tương sinh.
- Kiểm hành cầu có lực không. Hành cầu phải có mặt và đủ mạnh thì mới khơi thông được.
- Trông đại vận nếu thiếu cầu. Hành cầu vắng thì chờ vận mang tới mới giải được thế tắc.
- Phối với phù ức. Xét xem lá số còn cần nâng ép thân nữa không, để dùng kết hợp.
Đọc tiếp: bài Bệnh Dược Dụng Thần để hiểu cách tìm cái bệnh nổi trội của lá số, và Quy Trình Tìm Dụng Thần để biết khi nào ưu tiên phép nào.
8 Nguồn Tham Khảo
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với các thư tịch gốc của khoa Tử Bình:
- Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm: nguyên tắc lấy Nguyệt lệnh làm gốc, định cách cục và thủ dụng thần.
- Trích Thiên Tủy: phần luận cường nhược, trung hòa và sự lưu thông của khí trong mệnh cục.
- Uyên Hải Tử Bình và Cùng Thông Bảo Giám: vượng tướng hưu tù tử và điều hậu theo mùa.
- Thiệu Vĩ Hoa và Trần Viên, Dự Đoán Theo Tứ Trụ: phương pháp chấm cường nhược và ứng dụng dụng thần.
Thông quan chỉ dùng đúng khi có thế hai hành tương tranh thực sự. Lạm dụng khi không có tương tranh sẽ làm loãng trọng tâm của lá số.
9 Câu Hỏi Thường Gặp
Thông quan là phép lấy một hành trung gian làm cầu khi hai hành mạnh ngang nhau khắc nhau trong lá số. Hành cầu giúp biến tương khắc thành tương sinh, dẫn khí từ bên này chảy sang bên kia, cho cả cục lưu thông thay vì giao tranh.
Khi lá số có hai hành cùng vượng đứng thế khắc nhau trực tiếp, không bên nào áp đảo, khiến khí bị tắc. Đây là tình huống phù ức khó xử vì nâng bên này thì ép bên kia, nên phải dùng hành trung gian hòa giải.
Lấy hành đứng giữa hai hành tương tranh trong vòng tương sinh: bên khắc sinh ra cầu, cầu sinh cho bên bị khắc. Ví dụ Kim khắc Mộc dùng Thủy, Thủy khắc Hỏa dùng Mộc, Mộc khắc Thổ dùng Hỏa, Thổ khắc Thủy dùng Kim, Hỏa khắc Kim dùng Thổ.
Phù ức xử lý chuyện Nhật Chủ một mình mạnh hay yếu, bằng cách nâng hoặc ép. Thông quan xử lý chuyện hai thế lực ngũ hành ngoài thân đánh nhau làm tắc khí, bằng cách bắc cầu. Hai phép bổ sung cho nhau, có lá số cần cả hai.
Nếu hành làm cầu vắng mặt hoặc quá yếu thì thế tương tranh vẫn kẹt, cả cục bế tắc. Lúc đó phải trông chờ đại vận hoặc lưu niên mang hành cầu tới để khơi thông, đó thường là giai đoạn lá số chuyển từ trắc trở sang hanh thông.