1 Sao Bác Sĩ là gì

Bác Sĩ là sao đứng đầu vòng Bác Sĩ, ngũ hành Thủy, luôn đi cùng cung với Lộc Tồn. Đây là một cát tinh nhỏ, chủ sự thông minh, hiếu học, lợi cho việc học hành thi cử, lại có khả năng giải trừ bệnh tật.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Bác Sĩ không có công thức an riêng. Sách chỉ ghi một câu ngắn: Bác Sĩ an cùng cung với Lộc Tồn, rồi từ đó đếm ra mười một sao còn lại của vòng. Mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh, mỗi can một cung cố định, không dính gì tới tháng sinh, giờ sinh, ngày sinh hay cục. Vậy nên câu đúng nhất về cơ chế của sao này là: Bác Sĩ chính là cái bóng của Lộc Tồn. Lộc Tồn đi đâu, Bác Sĩ theo tới đó, không sai một cung nào trong cả mười can.
Suy luận Từ một câu ngắn ấy suy ra được rất nhiều điều cứng. Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần, tuổi Ất tại Mão, tuổi Bính và Mậu cùng tại Tỵ, tuổi Đinh và Kỷ cùng tại Ngọ, tuổi Canh tại Thân, tuổi Tân tại Dậu, tuổi Nhâm tại Hợi, tuổi Quý tại Tý. Đếm lại tập hợp ấy chỉ được tám địa chi: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung Sửu, Thìn, Mùi, Tuất, tức tứ mộ, hoàn toàn vắng mặt. Cho nên Bác Sĩ cũng vậy: Bác Sĩ không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ai đọc thấy dòng "Bác Sĩ tại Thìn" hay "Bác Sĩ tại Mùi" là lá số ấy an sai, không phải dị bản của phái khác.
Suy luận Hệ quả thứ hai còn quan trọng hơn. Kình Dương an tại cung liền sau Lộc Tồn, Đà La an tại cung liền trước Lộc Tồn, đây là quy tắc bất di bất dịch của bộ ba Lộc Kình Đà. Bác Sĩ đứng ngay ô Lộc Tồn, tức đứng ngay giữa hai sao ấy. Kết luận rút ra bằng máy, chạy đủ mười can, không sót trường hợp nào: Bác Sĩ vĩnh viễn không thể đồng cung với Kình Dương hay Đà La, nhưng vĩnh viễn bị Kình Dương và Đà La giáp hai bên. Không có lá số nào trên đời mà Bác Sĩ thoát khỏi thế giáp này. Đây là điều Thầy muốn quý vị nhớ trước tiên khi đọc một cung có Bác Sĩ.
Bảng dưới đây đặt ba sao cùng an theo can năm cạnh nhau. Cột Lộc Tồn cũng chính là cột Bác Sĩ, cột Kình Dương và cột Đà La chính là hai cung giáp.
| Tuổi can | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi |
Sáu điều bất biến của Bác Sĩ
- Luôn đồng cung Lộc Tồn, không có ngoại lệ. Đây là điểm cấu trúc quan trọng nhất của sao này và là lý do mọi lời luận về Bác Sĩ phải bắt đầu từ Lộc Tồn. Máy chạy đủ mười can, mười lần trùng khớp, không lần nào lệch.
- Chỉ đóng tám cung. Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cả đời không tới. Nói cách khác, Bác Sĩ không bao giờ rơi vào Thiên La Địa Võng.
- Không bao giờ đồng cung Kình Dương hay Đà La, nhưng luôn bị hai sao ấy giáp. Thế bao vây này là bẩm sinh, không phải điều xảy đến. Cái hay của Lộc Tồn và cái phiền của Kình Đà là một gói, không tách rời được.
- Chiều đếm thuận hay nghịch không làm Bác Sĩ dịch chuyển. Nó ở vị trí số không của vòng, tức ngay tại điểm khởi. Mười một sao sau nó thì đổi chỗ theo chiều, riêng nó thì không.
- Không liên quan gì tới vòng Tử Vi. Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh, vị trí Bác Sĩ tính từ can năm. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung, kết quả đều ra đủ mười bốn chính tinh, nghĩa là bất kỳ chính tinh nào cũng có thể đứng chung cung với Bác Sĩ, và cũng có thể là cung trống.
- Hai tuổi dùng chung một cung. Tuổi Bính và tuổi Mậu cùng có Bác Sĩ tại Tỵ, tuổi Đinh và tuổi Kỷ cùng có Bác Sĩ tại Ngọ. Đây là chỗ nhiều người tra bảng hay nhầm, vì bốn can khác nhau mà chỉ ra hai địa chỉ.
Kinh nghiệm Thầy nói thêm một điều bảng không nói ra được. Vì Bác Sĩ dính chặt Lộc Tồn, nên khi luận thực tế, Bác Sĩ gần như không bao giờ là chủ ngữ của câu luận. Không ai nói cung này có Bác Sĩ nên thông minh, mà nói cung này có Lộc Tồn lại thêm Bác Sĩ, nên cái lộc ấy nghiêng về đường chữ nghĩa hơn là đường buôn bán. Ai luận Bác Sĩ mà quên Lộc Tồn thì đã bỏ mất chín phần mười sức nặng của cung ấy.
3 Nhắc Lại Gọn Cách An Cho Người Mới

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Suy luận Riêng Bác Sĩ có một đặc quyền mà mười một sao còn lại trong vòng không có: nó đứng ở vị trí số không, tức ngay tại điểm khởi, nên chiều đếm thuận hay nghịch không làm nó xê dịch một cung nào. Người dương nam âm nữ hay người âm nam dương nữ, Bác Sĩ vẫn nằm đúng cung Lộc Tồn. Muốn biết Bác Sĩ ở đâu, chỉ cần biết thiên can năm sinh, không cần hỏi giới tính, không cần hỏi tháng, không cần hỏi giờ. Mọi chi tiết còn lại của cơ chế an sao đã trình bày ở mục hai và mục năm.
4 Đặc Tính Của Bác Sĩ Theo Tân Biên

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Bác Sĩ chủ sự thông minh, khoan hòa, nhân hậu, lợi ích cho việc học hành thi cử và có khả năng giải trừ bệnh tật. Vì luôn đi cùng Lộc Tồn, Bác Sĩ thường góp phần làm cung an Lộc Tồn thêm phần tốt đẹp về tri thức.
Là cát tinh nhỏ, Bác Sĩ phát huy rõ khi đi cùng văn tinh và chính tinh sáng, hợp người theo nghiệp chữ nghĩa, học thuật, y dược.
5 Vị Trí Của Bác Sĩ Trong Vòng Mười Hai Sao
Kinh văn Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng đúng mười hai sao chạy liền nhau theo thứ tự cố định: vòng Thái Tuế khởi từ cung có chi năm sinh, vòng Tràng Sinh khởi theo cục, vòng Thần Sát khởi từ Kiếp Sát theo tam hợp chi năm, và vòng Bác Sĩ khởi từ cung có Lộc Tồn, tức khởi theo thiên can năm sinh. Bác Sĩ chính là sao mở đầu, sao mà cả vòng mang tên.
Kinh văn Thứ tự mười hai sao trong vòng, đếm từ Bác Sĩ đi: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Chiều đếm không cố định mà theo âm dương của can năm và giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận, tức Lực Sĩ ở cung liền sau Bác Sĩ; âm nam và dương nữ đếm nghịch, tức Lực Sĩ ở cung liền trước. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Đây cũng chính là quy tắc quyết định chiều đi của đại vận, nên người nào đại vận đi thuận thì vòng Bác Sĩ của người ấy cũng đi thuận.
Suy luận Bác Sĩ giữ vị trí số không trong vòng, tức vị trí khởi. Đây là chỗ đặc biệt: mười một sao còn lại đều phải hỏi chiều rồi mới biết đóng ở đâu, riêng Bác Sĩ thì không. Thuận hay nghịch, nó vẫn nằm đúng ô Lộc Tồn. Sao đứng liền sau nó theo thứ tự vòng là Lực Sĩ, sao đứng liền trước nó, tức sao cuối vòng, là Quan Phủ. Hai sao ấy đổi chỗ cho nhau khi đổi chiều đếm, và vì hai cung kề Lộc Tồn chính là Kình Dương và Đà La, nên rút ra được kết luận sau đây, đã chạy máy kiểm đủ mười can cả hai chiều:
Bốn quan hệ cứng giữa Bác Sĩ và bộ Lộc Kình Đà
- Bác Sĩ luôn đồng cung Lộc Tồn ở cả mười can, cả hai chiều đếm. Mười trên mười.
- Khi đếm thuận: Lực Sĩ rơi đúng cung Kình Dương, Quan Phủ rơi đúng cung Đà La. Mười trên mười.
- Khi đếm nghịch: hai sao ấy đổi vai, Lực Sĩ rơi đúng cung Đà La, Quan Phủ rơi đúng cung Kình Dương. Mười trên mười.
- Bác Sĩ không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và cũng không bao giờ tam hợp với Kình Dương hay Đà La. Khoảng cách giữa chúng luôn là một cung, mà một cung thì không nằm trong tam phương tứ chính. Chúng chỉ có thể giáp nhau, và luôn giáp nhau.
| Tuổi can | Bác Sĩ và Lộc Tồn | Lực Sĩ khi thuận | Quan Phủ khi thuận | Lực Sĩ khi nghịch | Quan Phủ khi nghịch |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu | Sửu | Mão |
| Ất | Mão | Thìn | Dần | Dần | Thìn |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn | Thìn | Ngọ |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ | Tỵ | Mùi |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn | Thìn | Ngọ |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ | Tỵ | Mùi |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi | Mùi | Dậu |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân | Thân | Tuất |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất | Tuất | Tý |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi | Hợi | Sửu |
Suy luận Khoảng cách trong vòng là cố định, nên quan hệ tam hợp và xung chiếu giữa các sao cùng vòng cũng cố định, không đổi theo can và không đổi theo chiều. Với Bác Sĩ ở vị trí số không: sao xung chiếu luôn là Phi Liêm, hai chân tam hợp luôn là Tướng Quân và Bệnh Phù, có mặt trong mọi lá số không trừ lá nào. Ngược lại Tiểu Hao cách ba cung và Đại Hao cách chín cung, nên hai sao hao vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính của Bác Sĩ. Đó là tin lành có tính cấu trúc, không phải may rủi.
Bảng dưới đây in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười can, trường hợp đếm thuận. Người đếm nghịch chỉ cần lấy Bác Sĩ làm gốc rồi soi gương lại thứ tự, vị trí Bác Sĩ vẫn giữ nguyên.
| Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận) | Bác Sĩ | Lực Sĩ | Thanh Long | Tiểu Hao | Tướng Quân | Tấu Thư | Phi Liêm | Hỷ Thần | Bệnh Phù | Đại Hao | Phục Binh | Quan Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Bác Sĩ không có Tứ Hóa, nhưng ở chung cung với chính tinh đang hóa
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và tùy phái mà thêm Thiên Phủ hoặc Thái Âm. Bác Sĩ không nằm trong bảng ấy, không tuổi nào làm nó hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Sách không lập mục Tứ Hóa cho sao này, và Thầy cũng không bịa thêm.
Kinh nghiệm Nhưng chính tinh đứng chung cung với Bác Sĩ vẫn hóa như thường, và cái hóa ấy đổi hẳn giọng của cung. Hóa Lộc: cung ấy có Lộc Tồn sẵn, nay thêm Hóa Lộc thành thế Song Lộc, có Bác Sĩ thì phần lộc nghiêng về bằng cấp và nghề chữ nghĩa chứ không thuần là tiền tươi. Hóa Quyền: người ấy nắm việc bằng chuyên môn chứ không bằng thế lực. Hóa Khoa: đây là chỗ Bác Sĩ hợp nhất, vì Khoa chủ danh và chủ chữ, đúng đường của nó. Hóa Kỵ: cái vướng thường hiện ra dưới dạng học mãi chưa xong, hồ sơ phải làm lại, chữa mãi chưa dứt, chứ không phải mất trắng, vì Lộc Tồn cùng cung vẫn giữ được phần nền.
Kinh nghiệm Vì sao đọc Bác Sĩ phải đọc cả vòng. Bởi mười hai sao ấy không phải mười hai mảnh rời mà là một guồng quay có thứ tự, giống mười hai chặng của một đời làm việc: khởi bằng Bác Sĩ là học và biết, sang Lực Sĩ là ra sức, sang Thanh Long là gặp vận vui, rồi hao, rồi cầm quân, rồi trình bày, rồi tiếng dữ, tin mừng, mỏi mệt, hao lớn, ẩn phục, và khép lại ở Quan Phủ là kiện tụng. Biết một sao là biết một chặng; biết cả vòng mới thấy chặng ấy nằm trong nhịp nào. Thực dụng hơn: đã xác định được cung Lộc Tồn tức cung Bác Sĩ, chỉ cần hỏi thêm chiều thuận hay nghịch là toàn bộ mười hai sao hiện ra tức khắc, không phải tra bảng lần nào nữa.
6 Ý Nghĩa Nhanh Tại Bốn Cung Hay Được Hỏi
Bác Sĩ đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Bác Sĩ |
|---|---|
| Mệnh | Thông minh, hiếu học, khoan hòa, nhân hậu. |
| Quan Lộc | Lợi học hành, thi cử, công danh bằng tri thức. |
| Tật Ách | Có khả năng giải bệnh, gặp thầy gặp thuốc. |
| Phúc Đức | Tinh thần ham hiểu biết, đời sống trí tuệ. |
7 Bác Sĩ An Tại Mười Hai Cung Chức
Mục bốn ở trên chỉ nêu bốn cung hay được hỏi nhất. Bảng dưới đây đi đủ mười hai cung, tách hai vế: một bên là khi Bác Sĩ đứng cùng chính tinh sáng và có cát tinh trợ, một bên là khi cung ấy bị sát tinh chèn, bị Tuần Triệt án ngữ hoặc chính tinh hãm địa và hóa Kỵ. Xin nhớ mọi dòng dưới đây đều đang nói về một cung có sẵn Lộc Tồn, vì hai sao này không tách nhau bao giờ.
| Cung | Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng | Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm |
|---|---|---|
| Mệnh | Hiếu học, khoan hòa, thích hiểu ngọn ngành trước khi làm; có nghề nuôi thân bằng chuyên môn, tự lo được. Là chân dung Lộc Tồn thủ Mệnh nhưng nghiêng hẳn về tri thức. | Học nhiều mà khó ra kết quả, biết rộng mà không sâu, hay bàn hơn hay làm; cẩn thận thành câu nệ. Thế giáp Kình Đà hiện thành cô độc và hay lo xa. |
| Huynh Đệ | Anh chị em có người ăn học, làm nghề chữ nghĩa hoặc nghề thuốc; giúp nhau bằng hiểu biết và lời khuyên đúng lúc. | Mỗi người một hướng, nói không cùng ngôn ngữ; giúp nhau bằng lý lẽ hơn bằng việc thật, dễ dây dưa chuyện tiền nong. |
| Phu Thê | Bạn đời có học, có nghề, hai người nói chuyện được với nhau; hôn nhân bền theo kiểu tôn trọng nhau chứ không nồng nhiệt ồn ào. | Hay tranh luận đúng sai, ai cũng có lý; tình cảm nguội dần vì thiếu vế mềm. Bác Sĩ ở đây không chủ chia lìa, chỉ chủ khô. |
| Tử Tức | Con sáng dạ, có đứa theo đường khoa cử hoặc y dược; cha mẹ dạy con bằng lý lẽ và con nghe ra. | Con học chậm hoặc học lệch, cha mẹ kỳ vọng nặng thành áp lực. Đường con muộn hơn người, không phải hiếm muộn. |
| Tài Bạch | Tiền vào đều đặn từ lương, dạy học, tư vấn, chữa trị; biết tính toán, không tiêu bừa. Lộc Tồn chủ nguồn nuôi ổn định, Bác Sĩ chỉ rõ nguồn ấy đến từ cái đầu. | Kiếm được mà giữ chật vật vì Kình Đà giáp; tiền hay đi vào việc học, chữa bệnh, giấy tờ. Tính quá kỹ tới mức mất cơ hội. |
| Tật Ách | Kinh văn Sách ghi Bác Sĩ có khả năng giải trừ bệnh tật, nên cung này chủ gặp thầy gặp thuốc, chữa đúng bệnh, khám ra sớm; người có ý thức giữ gìn, chịu đi khám định kỳ. | Bệnh thuộc loại phải theo dõi dài, chữa lâu mới dứt; hay lo về sức khỏe tới mức thành bệnh tưởng. Có Hóa Kỵ đồng cung thì hồ sơ bệnh án dày, không phải bệnh nặng. |
| Thiên Di | Ra ngoài gặp người có học, được người trên chỉ bảo; đi xa để học, để thi, để chữa bệnh đều thuận. | Hay bị nhờ vả chuyện giấy tờ và chuyên môn mà không được đền đáp; đi nhiều mà việc chính không tiến. |
| Nô Bộc | Bạn bè đồng nghiệp có nghề, có chữ; giúp nhau bằng thông tin đúng. Hợp sinh hoạt trong hội nhóm chuyên môn. | Bạn nhiều mà sâu ít, gặp nhau chỉ để bàn; cấp dưới giỏi lý thuyết, yếu tay nghề. |
| Quan Lộc | Công danh đi bằng học vấn: thi cử, bằng cấp, nghiên cứu, giảng dạy, y dược, luật, kế toán, kiểm định. Chỗ đứng vững nhờ chuyên môn chứ không nhờ quan hệ. | Nhiều giấy tờ thủ tục, tiến chậm; giỏi mà không được cất nhắc vì thiếu vế quan hệ. |
| Điền Trạch | Nhà có chỗ để sách, để làm việc; mua nhà bằng tiền tích cóp từ nghề. Nhà gần trường học, gần bệnh viện cũng ứng. | Giấy tờ nhà đất rắc rối, phải qua nhiều thủ tục; nhà chật mà sách vở nhiều. Không chủ mất nhà. |
| Phúc Đức | Đời sống tinh thần đầy đặn, thích đọc, thích học tới già; tâm an vì hiểu ra lẽ. Có phúc ấm từ dòng họ trọng chữ. | Nghĩ nhiều, phân tích cả việc đáng để yên; hưởng thụ ít. Đây là mặt mỏi của một cái đầu không chịu nghỉ. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ có học hoặc trọng việc học, dạy con nghiêm mà có lý; được lo cho đường học tử tế. | Kỳ vọng học hành nặng, quan hệ đúng mực mà thiếu gần gũi; sức khỏe cha mẹ phải theo dõi dài. |
Kinh nghiệm Mẹo đọc bảng. Thầy dặn ba bước, làm đúng thứ tự thì không sai. Bước một, đừng đọc dòng Bác Sĩ trước, hãy đọc Lộc Tồn tại cung ấy trước đã, vì Lộc Tồn mới là sao mang lực; Bác Sĩ chỉ trả lời câu hỏi lộc ấy chảy qua ngả nào. Bước hai, nhìn hai cung kề, vì hai cung ấy chắc chắn có Kình Dương và Đà La: kề Tài Bạch hay Quan Lộc thì cái phiền chạm vào tiền bạc và công việc, kề Tật Ách thì chạm vào sức khỏe. Người ta hay quên bước này rồi ngạc nhiên vì sao cung có Lộc Tồn mà đời vẫn vất. Bước ba mới xét chính tinh đồng cung sáng hay hãm, có hóa gì không.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Bác Sĩ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Bác Sĩ thì hai vị thế đã bị khóa cứng: Lộc Tồn vĩnh viễn ở thế đồng cung, còn Kình Dương và Đà La vĩnh viễn ở thế giáp. Đó là lý do Thầy nói cái hay của Bác Sĩ là cái hay có rào, không phải cái hay trống trải.
Bác Sĩ rất thích gặp
- Lộc Tồn (vĩnh viễn đồng cung, không cần tra): đây không phải điều may mà là điều mặc định. Nhớ rằng mọi cái hay của Bác Sĩ đều mượn lực từ Lộc Tồn, nên cứ hỏi Lộc Tồn ở cung ấy có được dùng đúng chỗ không.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): bộ văn tinh gặp sao hiếu học, thành đường khoa cử rõ ràng. Xương Khúc chiếu về thì cho tài hoa, đồng cung thì cho bằng cấp.
- Hóa Khoa của chính tinh đồng cung (đồng cung là đắc nhất): Khoa chủ danh và chủ chữ, hợp đúng tượng Bác Sĩ. Bộ Lộc Tồn thêm Hóa Khoa thêm Bác Sĩ là nền tốt nhất cho người theo nghiệp học thuật.
- Thiên Y, Thiên Giải, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): cùng hướng cởi gỡ với vế giải bệnh Tân Biên ghi.
Bác Sĩ e ngại khi gặp
- Kình Dương và Đà La (vĩnh viễn ở thế giáp, không bao giờ đồng cung): thế bao vây bẩm sinh. Biểu hiện thường gặp là làm gì cũng có vướng ở hai đầu, được việc nhưng phải trả giá bằng công sức và bằng sự cô đơn. Không hóa giải được bằng cách tránh, chỉ quản được bằng cách biết trước.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): học được mà giữ thành quả khó, hay bỏ dở giữa chừng. Nên chọn ngành có chứng chỉ rõ ràng để cái đã học không bay mất.
- Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Bác Sĩ là nặng nhất): việc học và việc thi bị chậm, bị hoãn, phải làm lại lần hai. Tuần Triệt không xóa cái hay, chỉ dời nó ra sau.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung): cái vướng bám đúng lĩnh vực của chính tinh ấy. Với Bác Sĩ thường hiện thành học mãi chưa xong, hồ sơ giấy tờ đi lại nhiều lần, chữa mãi chưa dứt.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung mạnh nhất): tính nóng phá mất vế khoan hòa mà sách khen ở Bác Sĩ; làm việc chuyên môn mà nóng thì hay sai ở khâu cuối.
- Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): Bác Sĩ không đủ sức nâng một chính tinh đã hãm. Lúc ấy nó chỉ còn giữ được vế cẩn thận và ham hiểu biết, còn vế thành đạt thì phải trông vào tam phương.
Kinh nghiệm Tóm lại một câu cho dễ nhớ: với Bác Sĩ, vị thế quan trọng hơn danh sách. Cùng là Văn Xương, đứng chung cung với Bác Sĩ thì bộ văn tinh có chỗ tựa vào Lộc Tồn, còn chiếu về từ tam hợp thì chỉ thêm phần chữ nghĩa. Cùng là Kình Dương, đồng cung là điều vĩnh viễn không xảy ra, mà giáp một bên thì lại là chuyện luôn luôn xảy ra. Cho nên khi tra hai cột trên, quý vị đừng chỉ hỏi có sao ấy hay không, mà hãy hỏi sao ấy đứng ở đâu so với Bác Sĩ, rồi mới định nặng nhẹ.
9 Bác Sĩ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Kinh nghiệm Đại vận đi vào cung có Bác Sĩ nghĩa là đi vào cung có Lộc Tồn của lá số gốc, vì hai sao không rời nhau. Đây thường là một trong những đại vận dễ chịu nhất về nguồn nuôi: có việc để làm, có nghề để sống. Thêm Bác Sĩ thì mười năm ấy nghiêng về tích lũy chuyên môn: đi học lại, lấy bằng, đổi sang nghề cần chứng chỉ. Thầy hay nói đây là đại vận nên đầu tư vào cái đầu, vì tiền lúc ấy có sẵn ở mức đủ, mà thời gian thì không quay lại.
Suy luận Mặt trái của đại vận ấy nằm ở hai cung kề. Đại vận đi vào cung Lộc Tồn thì hai đại vận liền trước và liền sau chính là cung Đà La và cung Kình Dương, không thể khác, vì đại vận đi tuần tự theo cung. Nghĩa là mười năm êm ấy được kẹp giữa hai mười năm có sát tinh án ngữ. Người biết trước điều này thì dùng mười năm giữa để dựng nền: học nghề, trả nợ, mua chỗ ở, giữ sức khỏe. Người không biết thì tiêu hết phần dư của nó rồi ngạc nhiên khi bước sang chặng sau.
Bác Sĩ có bản lưu niên, và bản lưu ấy đổi chỗ mỗi năm
Kinh văn Đây là điểm phân biệt quan trọng giữa bốn vòng phụ tinh. Vòng Tràng Sinh an theo cục của lá số, mà cục thì cả đời không đổi, nên vòng Tràng Sinh không có bản lưu niên. Các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu, hay an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, cũng vậy: tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm xem nên chúng không có bản lưu. Ngược lại, vòng Thái Tuế có bản lưu vì nó khởi từ chi năm, và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì nó khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn thì tính theo thiên can. Mỗi năm can đổi một lần, nên mỗi năm lưu Lộc Tồn dời sang cung khác, và lưu Bác Sĩ dời theo, vì bản lưu cũng giữ đúng luật đồng cung.
Bảng dưới đây tính sẵn vị trí lưu Lộc Tồn, tức cũng là lưu Bác Sĩ, cùng lưu Kình Dương và lưu Đà La cho mười ba năm tới. Xin đọc bảng theo địa chi của cung trên lá số của quý vị, không đọc theo cung chức.
| Năm lưu niên | Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại | Lưu Kình Dương tại | Lưu Đà La tại |
|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| 2027 Đinh Mùi | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| 2028 Mậu Thân | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| 2029 Kỷ Dậu | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| 2030 Canh Tuất | Thân | Dậu | Mùi |
| 2031 Tân Hợi | Dậu | Tuất | Thân |
| 2032 Nhâm Tý | Hợi | Tý | Tuất |
| 2033 Quý Sửu | Tý | Sửu | Hợi |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Mão | Sửu |
| 2035 Ất Mão | Mão | Thìn | Dần |
| 2036 Bính Thìn | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| 2037 Đinh Tỵ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| 2038 Mậu Ngọ | Tỵ | Ngọ | Thìn |
Kinh nghiệm Cách dùng bảng rất gọn. Lưu Bác Sĩ rơi vào cung Mệnh hoặc Quan Lộc thì năm ấy thuận cho thi cử, học thêm, nộp hồ sơ chuyên môn, xin cấp phép. Rơi vào Tật Ách thì hợp khám tổng quát và chữa dứt một chứng cũ, đúng vế giải bệnh Tân Biên ghi. Rơi vào Tài Bạch thì nguồn thu nghiêng về chất xám hơn là buôn bán. Nhưng nhớ kèm một câu: lưu Bác Sĩ đi tới đâu thì lưu Kình Dương và lưu Đà La cũng kẹp hai bên tới đó, y như bản mệnh.
Suy luận Về chiều đếm của vòng lưu, sách không nói rõ và các phái không thống nhất: phần lớn thầy Việt giữ nguyên chiều của bản mệnh, một số phái đếm thuận cho mọi trường hợp. Điều đáng mừng là tranh cãi ấy không chạm tới Bác Sĩ, vì nó ở vị trí số không nên thuận hay nghịch vẫn nằm đúng ô lưu Lộc Tồn.
Những lưu sao khác chạm vào cung có Bác Sĩ
Kinh nghiệm Ngoài bản lưu của chính nó, cung có Bác Sĩ còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì năm ấy có việc phải trình bày, phải ra mặt, và với Bác Sĩ thường là việc chuyên môn hoặc thi cử. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới đúng ô Bác Sĩ, chứ không phải hai ô kề, là năm đáng lưu ý nhất, vì thế giáp bẩm sinh biến thành thế đè trực tiếp. Lưu Xương Khúc hợp cho thi viết và công bố; lưu Khôi Việt cho người đỡ đầu; lưu Tang Môn Bạch Hổ thì nên đi khám sớm thay vì chờ. Cách xem chung là đặt lá số gốc xuống, chỉ ra ô có Bác Sĩ, rồi xem năm nay lưu sao nào rơi đúng ô ấy, chứ đừng luận từng lưu sao rời rạc.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Bác Sĩ
Bác Sĩ không phải sao của nghề bác sĩ
Kinh văn Đây là hiểu lầm phổ biến nhất, và nó sinh ra từ tiếng Việt hiện đại chứ không từ sách. Chữ Bác Sĩ trong Tử Vi viết là 博士, nghĩa gốc là người học rộng, một chức quan coi việc học trong triều đình xưa, tương đương học vị tiến sĩ ngày nay, không có nghĩa thầy thuốc. Tân Biên mô tả sao này thông minh, khoan hòa, nhân hậu, lợi việc học hành thi cử, có khả năng giải trừ bệnh tật. Vế cuối khiến người đọc hiện đại nối ngay sang nghề y, nhưng trong sách nó là giải bệnh theo nghĩa hóa giải tai ách, cùng họ với Giải Thần và Thiên Giải. Muốn xét nghề y phải nhìn cả bộ Thiên Lương, Thiên Y, Thiên Hình, Thái Âm, Cự Môn và cung Quan Lộc.
Bác Sĩ không tự nó cho thông minh, và cũng không hứa đỗ đạt
Kinh nghiệm Bác Sĩ là phụ tinh nhỏ, loại sao gieo sắc thái chứ không quyết định. Thầy đã xem nhiều lá số có Bác Sĩ thủ Mệnh mà đường học rất chật, vì cung ấy còn bị Tuần Triệt án ngữ và Không Kiếp chiếu về; ngược lại cũng nhiều lá số Bác Sĩ nằm ở Nô Bộc mà người ấy học hành rực rỡ vì Mệnh có Xương Khúc Khôi Việt đủ bộ. Nói cách khác, Bác Sĩ trả lời câu hỏi cái lộc này chảy theo ngả nào, không trả lời câu hỏi người này có giỏi không.
Bác Sĩ trong vòng Bác Sĩ khác Bác Sĩ trong các bảng sao khác
Suy luận Trong bộ 121 sao có nhiều tên gọi gần nhau, và vòng Bác Sĩ là nơi lắm nhầm lẫn nhất. Quan Phủ của vòng Bác Sĩ không phải Quan Phù của vòng Thái Tuế; Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ không phải Trực Phù của vòng Thái Tuế, cũng không phải sao Bệnh của vòng Tràng Sinh; Thanh Long của vòng Bác Sĩ không phải Thanh Long trong Phong Thủy tứ tượng. Riêng với Bác Sĩ, xin nhớ nó chỉ có một chỗ đứng duy nhất là vị trí khởi của vòng này, và cách nhận ra nó chắc chắn nhất là hỏi Lộc Tồn ở đâu. Nếu một bảng an sao nào đó đặt Bác Sĩ lệch khỏi Lộc Tồn thì bảng ấy sai, không phải phái khác.
Có Bác Sĩ không có nghĩa là miễn nhiễm bệnh tật
Kinh nghiệm Vế giải bệnh làm nhiều người yên tâm quá mức, nhất là khi Bác Sĩ đóng ngay cung Tật Ách. Cách hiểu đúng theo Thầy là: Bác Sĩ tại Tật Ách chủ gặp thầy gặp thuốc, chữa đúng chỗ, phát hiện sớm, chứ không chủ không mắc bệnh. Người có sao này thường có duyên với việc chữa trị theo nghĩa tìm ra được nguyên nhân và theo được phác đồ, đó đã là điều quý. Nhưng nó không xóa được Kình Đà giáp hai bên, không xóa được Hóa Kỵ đồng cung, và tuyệt đối không thay được việc đi khám. Một phụ tinh nhỏ không bao giờ là lời hứa về sức khỏe, và cũng không ai nên hoãn một cuộc khám vì trên lá số có sao lành.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Bác Sĩ Qua Ba Bước
Lý thuyết trên chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: nam mệnh, tuổi can Canh, Tử Vi an tại Tý, Mệnh an tại Thân. Hình vẽ đúng theo thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Riêng vòng Bác Sĩ thì hình không vẽ, xin ghi ra để đối chiếu: Canh là can dương, người này là nam nên vòng đếm thuận, vậy Bác Sĩ tại Thân cùng ô Lộc Tồn, Lực Sĩ tại Dậu cùng ô Kình Dương, Thanh Long tại Tuất, Quan Phủ tại Mùi cùng ô Đà La.
Tử Vi tại Tý, Mệnh tại Thân
không phải người thật
dương nam nên vòng Bác Sĩ đếm thuận
Bác Sĩ tại Thân cùng Lộc Tồn
Bước một: Bác Sĩ đóng đâu, và cung ấy là cung gì
Tuổi Canh thì Lộc Tồn an tại Thân, nên Bác Sĩ cũng tại Thân, mà Thân chính là cung Mệnh. Vậy đây là Bác Sĩ thủ Mệnh cùng Lộc Tồn: người này có nguồn nuôi tự thân ngay ở cung Mệnh, và nguồn ấy nghiêng về đường chuyên môn học vấn. Cung Mệnh tại Thân có Vũ Khúc và Thiên Tướng đồng cung, một sao tài chính và một sao ấn tín, vốn đã là tổ hợp của người làm việc có quy củ; thêm Lộc Tồn và Bác Sĩ thì quy củ ấy có chỗ tựa và có màu chữ nghĩa.
Bước hai: đồng cung với ai đang hóa, và bị giáp thế nào
Tuổi Canh, theo bảng Tứ Hóa Nam phái mà trang an lá số đang dùng: Thái Dương hóa Lộc tại Dậu là cung Phụ Mẫu, Vũ Khúc hóa Quyền tại Thân là cung Mệnh, Thiên Đồng hóa Khoa tại Mùi là cung Huynh Đệ, Thiên Tướng hóa Kỵ tại Thân là cung Mệnh. Vậy ngay trong ô Thân có đủ: Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Tướng hóa Kỵ, Lộc Tồn và Bác Sĩ. Bác Sĩ tự nó không hóa gì, nhưng nó ngồi giữa một cung vừa có Quyền vừa có Kỵ. Đọc ra: người này nắm việc bằng chuyên môn và bằng con số, có thực quyền trong phần việc của mình, đó là phần Vũ Khúc hóa Quyền cộng Lộc Tồn; nhưng phần ấn tín, giấy tờ, chức danh, con dấu thì hay vướng, đó là phần Thiên Tướng hóa Kỵ. Có Bác Sĩ nên cái vướng ấy thường hiện ra dưới dạng hồ sơ phải làm lại, chứng chỉ phải bổ sung, thủ tục phải đi thêm lượt, chứ không phải mất chức mất việc, vì Lộc Tồn cùng ô vẫn giữ được nền.
Suy luận Nói cho sòng phẳng: tuổi Canh là một trong ba tuổi hai phái ghi khác nhau. Bắc phái cho Thái Âm hóa Khoa và Thiên Đồng hóa Kỵ, khi ấy cung Mệnh Thân không còn Hóa Kỵ và lời luận nhẹ đi một tầng. Bài này đọc theo bảng Nam phái, đúng bảng trang an lá số đang chạy.
Việc thứ hai là nhìn hai cung kề, thứ mà lá số nào có Bác Sĩ cũng phải nhìn. Kình Dương tại Dậu là cung Phụ Mẫu, Đà La tại Mùi là cung Huynh Đệ, nên thế giáp rơi vào hai cung người thân chứ không vào Tài Bạch hay Tật Ách. Đọc ra: chỗ vướng của đời người này nằm ở quan hệ trên dưới trong nhà, không nằm ở tiền hay sức khỏe. Cùng một thế giáp mà rơi cung khác thì luận khác hẳn.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Cung Mệnh tại Thân thì tam hợp là Tý và Thìn, xung chiếu là Dần. Tý là cung Quan Lộc có Tử Vi độc tọa, Thìn là cung Tài Bạch có Liêm Trinh và Thiên Phủ, Dần là cung Thiên Di có Phá Quân. Có Tử Vi chiếu từ Quan Lộc và Liêm Phủ chiếu từ Tài Bạch là cấu trúc vững: có người trên đỡ, có kho để giữ. Phá Quân xung chiếu từ Thiên Di thì ra ngoài hay gặp việc phải phá đi làm lại. Ghép với Bác Sĩ tại Mệnh, chân dung hiện khá rõ: một người sống bằng chuyên môn, có chỗ đứng do bằng cấp và do sự cẩn thận, đổi việc vài lần nhưng lần nào cũng đổi trong cùng một nghề. Đó là cách Bác Sĩ thể hiện: không rực rỡ, nhưng bền.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Vẫn tuổi Canh nhưng là nữ mệnh. Canh là can dương, dương nữ thì vòng Bác Sĩ đếm nghịch. Bác Sĩ vẫn ở Thân không đổi một cung nào, nhưng Lực Sĩ chuyển sang Mùi cùng ô với Đà La, và Quan Phủ chuyển sang Dậu cùng ô với Kình Dương. Cung Huynh Đệ từ chỗ có Quan Phủ thành có Lực Sĩ, cung Phụ Mẫu từ chỗ có Lực Sĩ thành có Quan Phủ. Lời luận về Mệnh không đổi, lời luận về hai cung người thân đổi hẳn giọng.
- Đổi sang tuổi Quý, giữ nguyên Mệnh tại Thân. Lộc Tồn tuổi Quý an tại Tý, nên Bác Sĩ dời sang Tý, rời khỏi cung Mệnh và rơi vào cung Quan Lộc của lá số này. Cung Mệnh mất cả Lộc Tồn lẫn Bác Sĩ, không còn nguồn nuôi tự thân ngay tại Mệnh; bù lại cái lộc và cái học dồn vào đường công danh. Người ấy thành người thăng tiến nhờ nghề, chứ không phải người có nền sẵn từ đầu. Kình Dương lúc này ở Sửu và Đà La ở Hợi, tức thế giáp chuyển sang kẹp cung Quan Lộc.
- Đổi sang tuổi Bính hoặc tuổi Mậu. Hai can khác nhau nhưng Lộc Tồn cùng an tại Tỵ, nên Bác Sĩ cùng tại Tỵ, rơi vào cung Tử Tức của lá số này. Cả cái lộc lẫn cái học dồn về đường con cái và đường sáng tạo. Đây cũng là ví dụ cho thấy vì sao không thể suy ngược từ vị trí Bác Sĩ ra can năm sinh: hai can Bính Mậu cho cùng một chỗ, hai can Đinh Kỷ cũng vậy.
Ba bước trên là quy trình Thầy vẫn dùng, và quý vị hoàn toàn làm được với lá số của mình. Việc đầu tiên là phải có một lá số an đúng. Quý vị có thể an lá số Tử Vi miễn phí tại đây, rồi tìm ô có Lộc Tồn, đó chính là ô có Bác Sĩ, sau đó đọc lại ba bước theo đúng thứ tự trên.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Bác Sĩ là cát tinh nhỏ, không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Việc của quý vị với sao này không phải là hóa giải nó, mà là dùng nó cho hết, đồng thời quản cái thế giáp Kình Đà đi kèm nó. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Bác Sĩ nổi bật trong lá số.
Học một thứ tới nơi, đừng học nhiều thứ tới lưng chừng
Kinh nghiệm Người có Bác Sĩ hay ham hiểu biết, mà ham quá thì thành rải mỏng. Cái hay của Lộc Tồn là bền và đều, hợp việc theo đuổi một môn đủ lâu để thành nghề. Thầy vẫn khuyên chọn một chuyên môn có bằng cấp rõ ràng rồi đi cho hết. Học rộng vẫn tốt, nhưng phải có một cái sâu làm trụ.
Nhận trước rằng cái hay của mình luôn có rào hai bên
Suy luận Đã có Bác Sĩ thì vĩnh viễn có Kình Dương và Đà La giáp, không lá số nào thoát. Cho nên đừng đợi tới lúc gặp trở ngại mới ngạc nhiên. Cách quản thiết thực nhất là nhìn xem hai cung kề ấy là cung chức gì rồi phòng đúng chỗ: kề Tài Bạch thì giữ sổ sách rõ ràng và không đứng tên vay hộ; kề Tật Ách thì khám định kỳ; kề Phu Thê thì đừng để việc chuyên môn nuốt hết thời gian dành cho gia đình. Phòng đúng chỗ tốn ít công hơn chống đỡ khắp nơi rất nhiều.
Cho cái biết của mình một chỗ để trả lại
Kinh nghiệm Sách gọi Bác Sĩ là thông minh, khoan hòa, nhân hậu. Ba chữ ấy đi liền nhau có ý: cái biết mà không có lòng thì thành cái sắc. Thầy để ý những khách có Bác Sĩ mà làm nghề truyền lại, dù là dạy học, hướng dẫn nghề, hay chỉ viết lại kinh nghiệm cho người sau, thường sống nhẹ hơn hẳn người giữ cái biết cho riêng mình.
Việc giấy tờ thì làm sớm, đừng dồn tới hạn
Kinh nghiệm Đây là lời khuyên thực dụng nhất và cũng hay đúng nhất. Cung có Bác Sĩ là cung của hồ sơ, bằng cấp, chứng chỉ, đơn từ. Bị Kình Đà giáp nên loại việc ấy hay phải đi lại lần hai. Nộp sớm hơn hạn một tuần, giữ bản sao, ghi lại ngày tháng, đó là ba việc nhỏ mà tiết kiệm được rất nhiều bực dọc, nhất là trong những năm lưu Kình hoặc lưu Đà rơi đúng ô có Bác Sĩ.
Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung
Thầy gợi ý những việc rất đời thường: dành một góc cố định trong nhà để đọc và làm việc, đủ sáng và đủ yên; giữ giấy tờ quan trọng trong một hộp duy nhất có ghi nhãn; mỗi năm dọn sách một lần. Đây là gợi ý chung cho người làm việc bằng đầu óc, không phải phép thuật gắn với sao Bác Sĩ, và không thay được việc học thật, làm thật, khám sức khỏe thật.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục Bác Sĩ: sao thuộc Thủy, an cùng cung Lộc Tồn, đứng đầu vòng mười hai sao mang tên nó; chủ thông minh, khoan hòa, nhân hậu, lợi việc học hành thi cử, có khả năng giải trừ bệnh tật. Đây là nguồn Kinh văn duy nhất trang gốc dẫn cho sao này.
- Bảng an sao chuẩn của Tử Vi Đẩu Số về vòng Bác Sĩ: mười hai sao theo thứ tự Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ; khởi từ cung có Lộc Tồn; đếm thuận với dương nam âm nữ, đếm nghịch với âm nam dương nữ.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: phần cấu trúc và vị trí trong vòng của bài này được sinh và đối chiếu bằng chương trình chạy đủ mười thiên can, cả hai chiều đếm, dùng đúng thuật toán đang chạy trên trang an lá số. Đã kiểm và đều đúng mười trên mười: Bác Sĩ đồng cung Lộc Tồn ở cả mười can và cả hai chiều; chỉ an được tại tám cung Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, không bao giờ tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Kình Dương và Đà La mà luôn bị hai sao ấy giáp; đếm thuận thì Lực Sĩ trùng Kình Dương và Quan Phủ trùng Đà La, đếm nghịch thì hai sao đổi vai; Phi Liêm luôn xung chiếu, Tướng Quân và Bệnh Phù luôn ở hai chân tam hợp; Tiểu Hao và Đại Hao vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính. Bảng lưu Lộc Tồn và lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Về câu phú: Tân Biên không lập phú riêng cho sao Bác Sĩ, và Thầy cũng không tìm thấy câu phú nào dành riêng cho sao này trong các bản Thầy tra. Vì vậy bài viết không dẫn câu phú nào; gặp câu phú gán cho Bác Sĩ thì nên hỏi lại xuất xứ.
Về dị bản
Ba chỗ các phái ghi khác nhau, xin nêu rõ để quý vị không tưởng là lỗi. Thứ nhất, ngũ hành của Bác Sĩ: trang này ghi Thủy theo Tân Biên, một số bảng khác xếp thuộc Thổ theo nghĩa quan chức coi việc học. Thứ hai, chiều đếm của vòng lưu niên: phần lớn thầy Việt giữ nguyên chiều của bản mệnh, một số phái đếm thuận cho mọi trường hợp; tranh cãi này không chạm tới Bác Sĩ. Thứ ba, bảng Tứ Hóa tuổi Canh, Nhâm và Mậu: Nam phái và Bắc phái ghi khác nhau ở Hóa Khoa và Hóa Kỵ; bài này dùng bảng Nam phái, đúng bảng trang an lá số đang chạy.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Bác Sĩ
Bác Sĩ là sao đứng đầu vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, luôn đi cùng Lộc Tồn. Đây là cát tinh nhỏ chủ sự thông minh, hiếu học, lợi học hành thi cử và có khả năng giải trừ bệnh tật.
Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, là khởi điểm của vòng Bác Sĩ. Từ đó cả vòng mười hai sao an theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Bác Sĩ chủ thông minh và khả năng giải bệnh, nên ở cung Tật Ách hay đi cùng sao y dược thì lợi cho sức khỏe và nghề liên quan chữa trị. Nhưng cốt lõi là sao học hành, tri thức, không chỉ riêng nghề y.
Trong lưu niên, cung gặp Bác Sĩ thường lợi cho học hành, thi cử, nghiên cứu và chữa bệnh, là dấu hiệu lành cho việc trau dồi tri thức và sức khỏe.
Vì sách không cho Bác Sĩ một công thức an riêng. Quy tắc gốc chỉ nói vòng mười hai sao khởi từ cung có Lộc Tồn, mà Bác Sĩ đứng ở vị trí khởi ấy. Chạy thuật toán an sao của thayungkhiem.vn cho đủ mười thiên can và cả hai chiều đếm thì Bác Sĩ trùng cung Lộc Tồn mười trên mười. Hệ quả thực dụng: muốn tìm Bác Sĩ trên lá số, chỉ cần tìm Lộc Tồn.
Không bao giờ, và điều này đã kiểm bằng máy đủ mười can. Kình Dương luôn an ở cung liền sau Lộc Tồn, Đà La luôn an ở cung liền trước, mà Bác Sĩ thì đứng đúng ô Lộc Tồn ở giữa. Khoảng cách một cung không nằm trong tam phương tứ chính, nên Bác Sĩ cũng không xung chiếu và không tam hợp với hai sao ấy. Đổi lại, Bác Sĩ vĩnh viễn bị Kình Dương và Đà La giáp hai bên, không lá số nào thoát khỏi thế bao vây này. Sao đồng cung Kình Dương là Lực Sĩ khi đếm thuận, hoặc Quan Phủ khi đếm nghịch.
Có. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm can đổi thì lưu Lộc Tồn dời cung và lưu Bác Sĩ dời theo, vẫn giữ đúng luật đồng cung. Đây là điểm khác với vòng Tràng Sinh vốn an theo cục nên cả đời không đổi, và khác với các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh vốn cũng không có bản lưu. Ví dụ năm 2026 Bính Ngọ thì lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại Tỵ, năm 2027 Đinh Mùi thì tại Ngọ, năm 2028 Mậu Thân thì lại về Tỵ.
Không suy ra được từ một sao. Chữ Bác Sĩ trong Tử Vi viết là 博士, nghĩa gốc là người học rộng, là chức quan coi việc học thời xưa, không phải thầy thuốc. Vế giải trừ bệnh tật mà Tân Biên ghi cho sao này thuộc nghĩa hóa giải tai ách, cùng họ với Giải Thần và Thiên Giải, chứ không phải mô tả nghề nghiệp. Muốn xét duyên với nghề y phải nhìn cả bộ Thiên Lương, Thiên Y, Thiên Hình, Thái Âm, Cự Môn cùng cung Quan Lộc và cung Tật Ách, chứ không dựa vào một phụ tinh nhỏ.