1 Sao Tướng Quân là gì

Tướng Quân là sao thứ năm của vòng Bác Sĩ, lấy hình vị tướng cầm quân ra trận. Đây là một sao chủ uy võ, quyền uy, sự dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Tướng Quân không có phép an riêng. Nó là mắt thứ năm của một chuỗi mười hai mắt gọi là vòng Bác Sĩ. Phép an gồm ba bước. Bước một, lấy thiên can năm sinh mà định vị Lộc Tồn. Bước hai, đặt Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bước ba, chọn chiều: người dương nam và âm nữ đếm thuận, người âm nam và dương nữ đếm nghịch. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.
Suy luận Từ đó rút ra điều cốt lõi của bài này: Tướng Quân đứng thứ năm, tức cách Bác Sĩ bốn nhịp, mà Bác Sĩ nằm đúng cung Lộc Tồn, cho nên Tướng Quân luôn cách Lộc Tồn đúng bốn cung. Chạy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách ấy chỉ cho hai giá trị là 4 và 8, hai giá trị đối xứng của cùng một quan hệ. Mà bốn cung trên địa bàn chính là tam hợp. Nói gọn một câu: Tướng Quân vĩnh viễn nằm trong tam hợp của Lộc Tồn. Đây là điều hiếm, vì trong mười hai sao của vòng chỉ có hai sao giữ được vị thế ấy, là Tướng Quân và Bệnh Phù.
Bảng dưới đây trải đủ mười tuổi can kèm cả hai chiều đếm, để quý vị đối chiếu thẳng với lá số của mình.
| Tuổi can | Lộc Tồn tại | Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ) | Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ) |
|---|---|---|---|
| Giáp (can dương) | Dần | Ngọ | Tuất |
| Ất (can âm) | Mão | Mùi | Hợi |
| Bính (can dương) | Tỵ | Dậu | Sửu |
| Đinh (can âm) | Ngọ | Tuất | Dần |
| Mậu (can dương) | Tỵ | Dậu | Sửu |
| Kỷ (can âm) | Ngọ | Tuất | Dần |
| Canh (can dương) | Thân | Tý | Thìn |
| Tân (can âm) | Dậu | Sửu | Tỵ |
| Nhâm (can dương) | Hợi | Mão | Mùi |
| Quý (can âm) | Tý | Thìn | Thân |
Suy luận Đọc bảng sẽ thấy một điểm khác hẳn Tiểu Hao hay Đào Hoa. Lộc Tồn không bao giờ đóng bốn cung mộ khố Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nhưng Tướng Quân dịch khỏi Lộc Tồn bốn cung, mà bốn nhịp là bước nhảy đổi nhóm: cung tứ sinh nhảy bốn thành tứ mộ, tứ chính nhảy bốn cũng thành tứ mộ hoặc tứ sinh tùy chiều. Gộp cả hai chiều lại thì Tướng Quân tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm. Kiểm bằng máy: tập cung có thể an gồm cả mười hai địa chi, tập cung không bao giờ an là tập rỗng.
Suy luận Hệ quả kéo theo: vì Tướng Quân đi khắp mười hai cung, và vì mười bốn chính tinh cũng đi khắp mười hai cung tùy thế Tử Vi, nên không có chính tinh nào và cũng không có phụ tinh nào bị cấm đồng cung với Tướng Quân. Cái ràng buộc của sao này không nằm ở chỗ nó không được gặp ai, mà nằm ở chỗ nó luôn phải gặp ai. Đó là ba cái tên cố định trong cùng vòng, ghi trong hộp dưới đây.
Suy luận Còn một quan hệ nữa đáng ghi nhớ, vì nó trái với trực giác. Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, ai học Tử Vi cũng thuộc. Vậy Tướng Quân nằm trong tam hợp Lộc Tồn thì có dính Kình Đà không? Kiểm bằng máy, khoảng cách từ Tướng Quân tới Kình Dương chỉ nhận hai giá trị 3 và 7, tới Đà La cũng chỉ hai giá trị 5 và 9. Không giá trị nào là không, bốn, sáu hay tám, tức không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu. Tướng Quân nhìn thấy kho lộc nhưng không chạm vào hai lưỡi dao đứng gác kho. Đây là chỗ Thầy cho là hay nhất trong cấu trúc của sao này.
Những điều bất biến của Tướng Quân
- Tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm, khác hẳn Tiểu Hao chỉ tới được tám cung.
- Luôn cách Lộc Tồn đúng bốn cung, tức luôn tam hợp Lộc Tồn và Bác Sĩ. Không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, không bao giờ xung Lộc Tồn.
- Luôn xung chiếu Phục Binh, vì Phục Binh đứng thứ mười một, cách Tướng Quân đúng sáu nhịp.
- Luôn tam hợp Bệnh Phù, sao thứ chín của vòng.
- Luôn bị Tiểu Hao và Tấu Thư giáp hai bên, vì hai sao ấy đứng liền trước và liền sau trong vòng.
- Không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với Kình Dương và Đà La.
- Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tướng Quân, không sao nào bị loại.
3 Vị Trí Trong Lá Số Và Cách An Rút Gọn

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Tướng Quân giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Tướng Quân.
4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Tướng Quân

Tướng Quân mang khí của người cầm quân: uy nghi, dũng mãnh, có khả năng lãnh đạo và áp đảo. Ở cung Mệnh hay Quan, nó tăng uy quyền, chí tiến thủ, hợp võ nghiệp và môi trường cần chỉ huy. Người có Tướng Quân thường có khí phách, quyết đoán.
Là sao thiên về võ, Tướng Quân đi cùng chính tinh sáng và sao quyền thì thành uy võ chính đáng; gặp sát tinh thì cái uy dễ thành hung hăng.
5 Chỗ Đứng Của Tướng Quân Trong Vòng Bác Sĩ
Kinh văn Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh mười hai sao chạy quanh địa bàn: vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, vòng thần sát tam hợp đếm từ Kiếp Sát, và vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn. Mỗi vòng lấp kín mười hai cung, mỗi cung đúng một sao của vòng ấy. Vòng Bác Sĩ là vòng của lộc ăn và việc quan, vì gốc của nó là Lộc Tồn, và vì mười hai cái tên trong vòng đều là tên chức phận của một triều đình thu nhỏ: người chữa bệnh, người gánh vác, người báo điềm lành, người coi hao hụt, người cầm quân, người viết sớ, người coi ngục.
Suy luận Trong triều đình ấy, Tướng Quân giữ vị trí thứ năm, cách Bác Sĩ bốn nhịp. Sao đứng ngay trước là Tiểu Hao, sao đứng ngay sau là Tấu Thư. Trật tự này đọc theo tượng thì rất có nghĩa, và Thầy cho rằng cổ nhân xếp có chủ ý. Thanh Long là lúc hanh thông, Tiểu Hao là chỗ rò rỉ đầu tiên, rồi mới tới Tướng Quân là người ra tay chấn chỉnh, và ngay sau Tướng Quân là Tấu Thư, tức tờ trình báo lên trên. Ba mắt liền nhau kể một câu chuyện trọn vẹn: thấy hao, ra tay, rồi trình bày. Vị tướng trong Đẩu Số không phải người gây sự, mà là người được gọi tới khi có việc phải xử.
Suy luận Vì mười hai sao chiếm mười hai cung liền nhau nên khoảng cách trong vòng cũng là khoảng cách trên địa bàn. Ba quan hệ cố định của Tướng Quân, đúng với mọi tuổi và cả hai chiều đếm, là như sau. Cung xung chiếu luôn là cung Phục Binh, vì Phục Binh đứng thứ mười một, cách Tướng Quân sáu nhịp. Hai cung tam hợp luôn là cung Bác Sĩ, tức cung Lộc Tồn, và cung Bệnh Phù, vì hai sao ấy cách Tướng Quân bốn và tám nhịp. Hai cung giáp luôn là Tiểu Hao và Tấu Thư. Sáu cái tên ấy là bộ khung cố định, không cần tra lại lần nào nữa.
Suy luận Ba quan hệ trên gộp lại thành một hình rất dễ nhớ, và cũng là chìa khóa luận sao này. Tướng Quân đứng trong tam hợp có kho lộc, nhưng lại nhìn thẳng vào quân mai phục. Phục Binh theo tên là quân nấp, chủ sự ngấm ngầm, chuyện sau lưng, kẻ dòm ngó. Vị tướng nào cũng vậy: mặt hướng về kho lương mà mắt phải canh chỗ tối. Người có Tướng Quân đắc thế là người vừa có nguồn lực vừa biết có kẻ rình; người có Tướng Quân thất thế là người chỉ thấy một trong hai, hoặc chỉ lo canh chừng mà quên mất mình đang có gì, hoặc chỉ mải hưởng mà không biết sau lưng có ai.
Bảng dưới đây trải trọn mười hai sao của vòng theo từng tuổi can, tính theo chiều thuận. Người đếm nghịch chỉ cần lật gương: giữ nguyên cột Bác Sĩ, các cột sau đảo chiều quanh cung Lộc Tồn.
| Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận) | Bác Sĩ | Lực Sĩ | Thanh Long | Tiểu Hao | Tướng Quân | Tấu Thư | Phi Liêm | Hỷ Thần | Bệnh Phù | Đại Hao | Phục Binh | Quan Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Khí thế của Tướng Quân đến từ đâu trong cấu trúc
Kinh văn Sách chép Tướng Quân lấy hình vị tướng cầm quân ra trận, chủ uy võ, quyền uy, dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường. Đó là tượng của sao.
Suy luận Nhưng cái khí thế ấy có gốc trong cấu trúc chứ không phải chỉ ở cái tên. Ba lý do. Một, nó luôn có hậu cần. Tam hợp của Tướng Quân luôn chứa Lộc Tồn, mà Lộc Tồn là kho, là chỗ có ăn. Một vị tướng có lương thảo thì mới ra trận được, và cấu trúc bảo đảm cho Tướng Quân điều đó ở mọi lá số. Hai, nó không dính hai lưỡi dao. Kình Dương và Đà La kẹp Lộc Tồn, nhưng như đã kiểm ở mục trước, Tướng Quân không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung với hai sao ấy. Nghĩa là nó hưởng được cái lợi của kho mà không chịu cái sắc của dao. Ba, nó luôn có đối thủ. Phục Binh chiếu thẳng sang, và không có đối thủ thì không có tướng. Ba điều ấy hợp lại thành một chân dung nhất quán: người có nguồn lực, không bị bó, và luôn có việc phải xử. Đó chính là định nghĩa của quyết đoán.
Kinh nghiệm Trên lá số thật, Thầy thấy người có Tướng Quân nổi bật ở Mệnh hoặc Quan Lộc thường có ba nét chung, không phân biệt nam nữ. Thứ nhất là ra quyết định nhanh, thà quyết sai rồi sửa còn hơn treo đó; thứ hai là chịu được va chạm, bị nói nặng không nhớ lâu, cãi xong việc nào xong việc ấy; thứ ba là khó chịu khi phải chờ người khác. Mặt cần giữ cũng nằm ngay trong ba nét ấy: nhanh quá thành hấp tấp, không nhớ lâu thành vô tâm, và ghét chờ thành hay giành làm phần của người khác.
Tướng Quân không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc thế nào khi cung có hóa
Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Tướng Quân không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên nó không hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Sách không lập cho sao này một tầng biến hóa nào.
Kinh nghiệm Nhưng khi Tướng Quân đứng cùng cung với một chính tinh đang hóa thì cái uy của nó đổi hình rõ rệt. Cùng chính tinh hóa Lộc: uy đi kèm lợi, người này cầm quân mà quân có ăn, thường thấy ở người vừa quản lý vừa lo được thu nhập cho cả nhóm; đây là thế dễ chịu nhất. Cùng chính tinh hóa Quyền: quyền chồng lên uy, sức áp đảo rất mạnh, hợp việc phải dẹp loạn, phải cải tổ, phải nói câu cuối; nhưng nếu chính tinh hãm thì thành lấn át, người dưới sợ mà không phục. Cùng chính tinh hóa Khoa: uy được bọc bằng lý lẽ và danh tiếng, vị tướng biết viết quân lệnh cho có sách; đây là thế hợp nghề cần vừa chỉ huy vừa giảng giải. Cùng chính tinh hóa Kỵ: đây là thế cần giữ nhất, vì Kỵ chủ vướng, chủ đọng; uy gặp Kỵ hay thành cố chấp, giữ ý mình đến cùng, hoặc quyết rồi mà việc vẫn kẹt, càng ra sức càng rối. Cách xử lý là hạ nhịp và hỏi thêm một người ngoài cuộc trước khi quyết.
Suy luận Vì sao đọc Tướng Quân thì phải đọc cả vòng? Vì bản thân Tướng Quân chỉ là cái nhãn dán lên cung cách Lộc Tồn bốn nhịp. Muốn biết cái uy ấy có chỗ dụng hay không phải nhìn ba chỗ cùng lúc: Lộc Tồn ở cung chức nào vì đó là hậu cần của vị tướng, Phục Binh chiếu từ đâu vì đó là mặt trận, và Tiểu Hao với Tấu Thư kẹp hai bên là những cung nào vì đó là hai việc vị tướng ấy phải làm hằng ngày, một bên là chỗ hao, một bên là giấy tờ. Cả bốn thứ đều mọc từ một gốc là thiên can năm sinh, nên chúng chuyển động cùng nhau như một cỗ máy.
6 Bốn Cung Hay Được Hỏi Nhất Về Tướng Quân
Tướng Quân đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Tướng Quân |
|---|---|
| Mệnh | Khí phách, quyết đoán, có uy, chí tiến thủ. |
| Quan Lộc | Hợp võ nghiệp, vị trí chỉ huy, có quyền uy. |
| Tài Bạch | Kiếm tiền bằng bản lĩnh, nghề cứng. |
| Phu Thê | Bạn đời mạnh mẽ, có chủ kiến. |
7 Tướng Quân An Tại 12 Cung Chức
Địa chi là địa chỉ của cung trên địa bàn, cung chức là vai trò của cung trong đời sống. Tướng Quân tới được đủ mười hai địa chi, nên nó cũng có thể rơi vào đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận đủ mười hai dòng, mỗi ô nói đúng lĩnh vực của cung ấy. Cột giữa là khi Tướng Quân đứng cùng chính tinh sáng, có Hóa Quyền, Thiên Hình chính khí hoặc cát tinh đỡ; cột phải là khi chính tinh hãm, hoặc có Hóa Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt cùng tới.
| Cung | Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ | Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh |
|---|---|---|
| Mệnh | Người có khí phách, dáng đi dứt khoát, nói ngắn, quyết nhanh; vào việc khó thì đứng ra nhận, được người tin giao việc lớn. | Nóng nảy, thích ăn thua, hay nói trước nghĩ sau; cái uy không có nền nên thành hùng hổ, dễ mất người vì một câu. |
| Huynh Đệ | Trong anh em có người đứng mũi chịu sào, gánh việc chung, nói là làm; bản thân hay được anh em nể. | Anh em ai cũng muốn cầm trịch nên hay va nhau; việc chung dễ thành cuộc tranh phần, cần một người ngoài phân xử. |
| Phu Thê | Bạn đời mạnh mẽ, có chủ kiến, dám gánh việc nhà; hai người hợp nhau ở chỗ cùng dứt khoát, ít dây dưa. | Hai bên đều cứng, ai cũng muốn nói câu cuối; cãi nhau to nhưng ngắn, làm lành chậm. Nên chia rõ ai quyết việc gì. |
| Tử Tức | Con cái có cá tính, gan dạ, hợp thể thao và việc cần kỷ luật; dạy bằng nguyên tắc rõ ràng thì con nghe. | Con bướng, hay chống lại lời cha mẹ; càng ép càng dựng ngược. Nên đổi từ ra lệnh sang giao việc và giao trách nhiệm. |
| Tài Bạch | Kiếm tiền bằng bản lĩnh và quyết đoán, dám xuống tiền đúng lúc; hợp nghề cứng, nghề thầu, nghề phải chốt nhanh. | Quyết tiền theo cảm xúc, thấy cơ hội là lao vào, thắng thua đều đậm; nên đặt hạn mức trước khi vào việc. |
| Tật Ách | Sức vóc tốt, hồi phục nhanh, ít ốm vặt; bệnh đến thì chữa dứt khoát nên ít kéo dài. | Hay đau do va đập, do vận động quá sức, do làm cố; huyết áp và gan dễ bị vì tính nóng. Nên tập đều thay vì tập dồn. |
| Thiên Di | Ra ngoài có uy, được nể, dễ đứng ra chủ trì việc tập thể; đi xa lập nghiệp thường hơn ở nhà. | Ra ngoài hay va chạm, dễ dính cãi vã nơi công cộng hoặc trên đường; cần bớt hơn thua với người lạ. |
| Nô Bộc | Có người dưới đắc lực, bạn bè kiểu chiến hữu, gọi là có mặt; hợp làm người cầm đầu một nhóm nhỏ. | Bạn bè mạnh ai nấy làm, khó bảo; hoặc có người dưới lấn quyền, nói không nghe. Cần quy định rõ vai từ đầu. |
| Quan Lộc | Đây là cung Tướng Quân đắc dụng nhất: hợp vị trí chỉ huy, quản đội, việc cần ra quyết định và chịu trách nhiệm; hợp quân đội, công an, thi công, vận hành, thể thao. | Có chức mà không có quyền thật, hoặc ôm quyền mà không giao được việc; nghề dễ đổi liên tục vì không chịu được cấp trên. |
| Điền Trạch | Nhà cửa chắc chắn, hay sửa sang cho vững, thích không gian gọn và có trật tự; giữ được tài sản gốc. | Trong nhà hay có tiếng to, không khí căng; hoặc mua bán nhà đất quyết vội, sau mới thấy chưa xét kỹ. |
| Phúc Đức | Tinh thần vững, ít sợ, ngủ được sau khi đã quyết; sống theo nguyên tắc nên lòng ít giằng co. | Trong lòng lúc nào cũng như sắp ra trận, khó buông, khó nghỉ; hay bực vì chuyện không đáng, tự làm mình mệt. |
| Phụ Mẫu | Cha hoặc mẹ nghiêm, có uy, dạy con bằng kỷ luật; con nhờ đó nên nếp. | Bậc trên áp đặt, khó nói lại; quan hệ hai bên thường kính mà không gần, cần chọn lúc nói chuyện cho khéo. |
Kinh nghiệm: mẹo đọc bảng này
Kinh nghiệm Thầy có ba mẹo khi dùng bảng trên. Một, tìm việc cho vị tướng trước khi phán tính nết. Tướng Quân ở cung nào thì cung ấy là chỗ người này chịu ra tay. Nếu cung ấy là Quan Lộc thì cái uy có chỗ dụng, nếu là Phu Thê thì cái uy đổ vào nhà, thường là chỗ không cần tới nó. Nhiều lá số chỉ cần chuyển việc là hết căng. Hai, đọc kèm cung Phục Binh ở đối diện. Cái quyết đoán mạnh hay yếu tùy đối thủ ở đối cung là ai; đối cung có chính tinh sáng thì đó là đối thủ xứng tầm, có sát tinh thì là chỗ hay bị đâm sau lưng. Ba, tìm Lộc Tồn trong tam hợp. Lộc Tồn chắc chắn nằm trong tam hợp của Tướng Quân, và nó rơi vào cung chức nào thì đó là hậu cần của người này. Có hậu cần thì uy thành nghiệp, không có thì uy chỉ thành tiếng.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao trộn thành một tính chất mới. Xung chiếu mạnh nhì, sao bên kia bắn thẳng sang, luôn có mặt trong mọi quyết định của cung này. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, như người đứng xa góp lời. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh vì bị kẹp thì khó xoay, nhẹ với cát tinh vì được đỡ thì chỉ thêm êm. Với Tướng Quân còn một tầng nữa: cấu trúc vòng Bác Sĩ khóa chặt vài vị thế, nên Lộc Tồn chỉ tới được bằng tam hợp, Phục Binh chỉ tới được bằng xung chiếu, Tiểu Hao và Tấu Thư chỉ tới được bằng thế giáp, còn Kình Dương và Đà La thì không tới được bằng đường nào. Mỗi dòng dưới đây đều ghi rõ vị thế khả dĩ.
Tướng Quân đắc dụng khi gặp
- Lộc Tồn, tam hợp (vị thế cố định, không thể đồng cung): có hậu cần, uy biến thành nghiệp chứ không chỉ thành tiếng.
- Chính tinh hóa Quyền, đồng cung: quyền chồng lên uy, hợp việc cải tổ, dẹp loạn, nói câu cuối.
- Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang miếu vượng, đồng cung: bộ Sát Phá Tham vốn chủ khai phá, gặp Tướng Quân thì thành xông trận có chỉ huy.
- Vũ Khúc, đồng cung: tài tinh mang khí kim, hợp với võ khí của Tướng Quân, thường thấy ở người làm nghề cứng mà có tiền.
- Thiên Hình, đồng cung: hình là kỷ luật và phép tắc, giữ cho cái uy đi trong khuôn, hợp nghề quân pháp, kiểm tra, giám sát.
- Tả Phụ, Hữu Bật, đồng cung hoặc chiếu: có người phụ tá, tướng không phải tự mình làm hết.
- Lực Sĩ, tam hợp hoặc chiếu (cùng vòng, cách hai nhịp nên không cố định): sức vóc đi kèm uy quyền.
Tướng Quân mất thế khi gặp
- Tuần Triệt án ngữ cung có Tướng Quân: tướng bị tước ấn, có chí mà không có lệnh; hay thấy ở người giỏi mà mãi không được giao quyền.
- Hóa Kỵ, đồng cung: quyết rồi mà việc vẫn kẹt, càng ra sức càng rối; dễ thành cố chấp.
- Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung: uy thành hư, ra lệnh mà không ai theo, hoặc dựng nghiệp rồi tan.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh, đồng cung: nóng gặp nóng, quyết trong cơn giận, hay hỏng việc vì một câu nói.
- Phục Binh, xung chiếu (vị thế duy nhất có thể): luôn có chuyện sau lưng, cần giữ lời và giữ giấy tờ.
- Chính tinh hãm, đồng cung: uy không có nền, thành hùng hổ; càng ra oai càng lộ chỗ yếu.
- Đà La, tam hợp hoặc giáp là bất khả: xin lưu ý cấu trúc không cho Tướng Quân gặp Kình Đà bằng bất cứ đường nào, nên ai luận thấy hai sao ấy đi cùng Tướng Quân là đã an sai lá số.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tướng Quân thì cấu trúc vòng Bác Sĩ đã khóa sẵn vài vị thế: Lộc Tồn chỉ tới bằng tam hợp, Phục Binh chỉ tới bằng xung chiếu, Tiểu Hao và Tấu Thư chỉ tới bằng thế giáp, còn Kình Dương và Đà La thì không tới được bằng đường nào. Khi đọc một dòng trong hai cột trên, xin đọc kèm vị thế ghi ngay sau tên sao.
9 Tướng Quân Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Tướng Quân đứng yên trên lá số gốc. Câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: giai đoạn này tôi có nên nhận chức không, năm nay có nên ra riêng không. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.
Đại vận đi vào cung có Tướng Quân
Suy luận Mười năm đại vận đóng vào cung có Tướng Quân bản mệnh là mười năm phải cầm trịch. Không nhất thiết là mười năm làm sếp, mà là mười năm mà việc gì cũng dồn về mình quyết: trong nhà thì mình là người chốt, ngoài việc thì mình là người ký. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và có Quyền thì đây thường là đại vận lập nghiệp bằng vị trí: được cất nhắc, được giao đội, mở cơ sở riêng, đứng tên một việc lớn. Nếu cung ấy hãm, có Kỵ hoặc Tuần Triệt, thì mười năm ấy dễ thành mười năm gánh trách nhiệm mà không có quyền, làm thay người khác, chịu trách nhiệm thay người khác.
Kinh nghiệm Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc. Một là nhận quyền thì nhận cả phạm vi bằng văn bản, đừng nhận việc bằng lời hứa, vì Phục Binh luôn chiếu vào cung này. Hai là mỗi quyết định lớn để qua một đêm, cái mất của người có Tướng Quân hiếm khi vì quyết sai, phần lớn vì quyết sớm. Ba là chọn một người dám nói ngược và giữ người ấy bên cạnh suốt mười năm; vị tướng nào cũng cần một người can.
Tướng Quân có bản lưu niên, và đây là điểm phân biệt với nhiều phụ tinh khác
Kinh văn Trong bốn vòng phụ tinh, chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên. Vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm đang xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm đang xem, vì gốc của nó là Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo can. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục, mà Cục cố định suốt đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm.
Suy luận Vậy Tướng Quân có hai lớp. Lớp thứ nhất là Tướng Quân bản mệnh, đứng yên suốt đời, an theo can năm sinh. Lớp thứ hai là lưu Tướng Quân, mỗi năm dời một chỗ, an theo can năm đang xem: tìm lưu Lộc Tồn của năm ấy rồi đếm bốn nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó. Bảng dưới tính sẵn cho các năm tới.
| Năm xem | Lưu Lộc Tồn | Lưu Tướng Quân (người đếm thuận) | Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch) |
|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Tỵ | Dậu | Sửu |
| 2027 Đinh Mùi | Ngọ | Tuất | Dần |
| 2028 Mậu Thân | Tỵ | Dậu | Sửu |
| 2029 Kỷ Dậu | Ngọ | Tuất | Dần |
| 2030 Canh Tuất | Thân | Tý | Thìn |
| 2031 Tân Hợi | Dậu | Sửu | Tỵ |
| 2032 Nhâm Tý | Hợi | Mão | Mùi |
| 2033 Quý Sửu | Tý | Thìn | Thân |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Ngọ | Tuất |
| 2035 Ất Mão | Mão | Mùi | Hợi |
Kinh nghiệm Cách dùng bảng rất gọn. Trước hết xem lưu Tướng Quân của năm ấy rơi vào cung chức nào trên lá số gốc, đó là lĩnh vực năm ấy đòi người này phải ra mặt và ra quyết định. Sau đó xem nó có trùng cung với Tướng Quân bản mệnh không; năm trùng phùng là năm cái khí thế của người ấy lên cao nhất, hợp để nhận việc lớn, nhưng cũng là năm dễ va chạm nhất, nên nói ít mà làm nhiều. Cuối cùng xem nó có rơi vào cung đang là đại vận không, vì ba lớp chồng lên nhau mới đáng nói.
Các lưu sao chạm vào cung có Tướng Quân
Suy luận Trong một năm, cung có Tướng Quân bản mệnh còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì việc trong năm dồn về cung ấy, đúng lúc phải cầm trịch, thường là năm được giao việc. Lưu Kình Dương tới thì cái quyết đoán thành sắc bén quá tay, dễ va chạm, dễ dính tranh chấp; nên chọn cách nói mềm. Lưu Đà La tới thì việc kéo dài, quyết rồi mà chờ mãi mới chạy, cần kiên nhẫn hơn thường lệ. Lưu Bạch Hổ, lưu Tang Môn tới thì nên tránh đứng ra chủ trì việc có tranh chấp, và giữ gìn khi vận động mạnh. Lưu Hóa Quyền tới thì đây là năm đáng nhận vị trí, cấu trúc và vận cùng chỉ một hướng. Nguyên tắc chung: một lưu sao đơn lẻ chưa đủ kết luận, phải có ít nhất hai lớp cùng chỉ về một cung.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tướng Quân
Tên sao nghe oai nên đây là một trong những phụ tinh bị nói quá theo chiều tốt, ngược với các sao mang tên đáng sợ. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Hiểu lầm một: có Tướng Quân là làm chức lớn, là số làm sếp
Kinh văn Sách chép Tướng Quân chủ uy võ, quyền uy, dũng mãnh, khả năng chỉ huy, khí cương cường. Đó là tính chất, không phải một lời hứa về địa vị. Sách không nói ai có Tướng Quân thì làm quan, cũng không định ra cấp bậc hay thời điểm.
Kinh nghiệm Trên thực tế luận số, chức vị được quyết bởi chính tinh cung Quan Lộc, độ sáng tối của nó, Tứ Hóa rơi vào đâu, cách cục của cả lá số và cả đại vận. Tướng Quân chỉ thêm một sắc thái: người này chịu ra tay. Chịu ra tay ở một lá số có nền thì thành người cầm quân; chịu ra tay ở một lá số không có nền thì chỉ thành người hay xông vào việc của thiên hạ. Phụ tinh nhỏ không nâng được cả lá số, cũng không dìm được cả lá số.
Hiểu lầm hai: Tướng Quân là sát tinh, gặp là hung
Suy luận Có người thấy chữ võ liền xếp Tướng Quân vào nhóm sát tinh cùng Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp. Xếp như vậy là sai loại. Lục sát là sáu sao có sức phá riêng, tự chúng gây hại được. Tướng Quân là phụ tinh thuộc vòng Bác Sĩ, không nằm trong lục sát, và tự nó không gây họa. Nó chỉ làm đậm thêm chất quyết đoán của cung mà nó đóng. Cũng nên nhớ điều đã kiểm ở mục cấu trúc: Tướng Quân không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với Kình Dương và Đà La, nên cái ấn tượng nó đi liền với sát tinh là ấn tượng sai ngay từ cấu trúc.
Hiểu lầm ba: Tướng Quân có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung
Suy luận Một số trang có dựng bảng sáng tối cho Tướng Quân đủ mười hai cung. Thư tịch mà trang này dẫn không lập bảng miếu vượng đắc hãm cho Tướng Quân. Cái quyết định mạnh yếu của một sao thuộc vòng Bác Sĩ là vị trí của nó trong vòng và bộ sao cùng cung, không phải độ sáng tối của riêng nó. Với Tướng Quân, ba chỗ cần nhìn là chính tinh đồng cung, Lộc Tồn nằm ở cung chức nào trong tam hợp, và Phục Binh ở đối cung có sát tinh hay không.
Hiểu lầm bốn: Tướng Quân có câu phú riêng
Suy luận Phần lớn phụ tinh nhỏ trong bốn vòng không có phú riêng, và Tướng Quân nằm trong số đó. Những câu phú người ta hay gán cho nó thực ra là phú của Thất Sát, của Vũ Khúc hoặc của Kình Dương. Bài này không trích câu phú nào cho Tướng Quân, vì không có thì thôi, chép thêm chỉ làm người đọc tin nhầm. Chỗ nào bài nói chắc là chỗ đã kiểm bằng thuật toán an sao; chỗ nào là kinh nghiệm hay suy luận thì đã gắn thẻ ngay đầu câu.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Tướng Quân Qua Ba Bước
Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số cụ thể. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số đã chọn: nam mệnh tuổi Quý, Tử Vi an tại Dần, Mệnh an tại Thìn. Quý là can âm, người nam, nên vòng Bác Sĩ đếm nghịch. Tuổi Quý có Lộc Tồn tại Tý, vậy Bác Sĩ tại Tý, đếm nghịch bốn nhịp thì Tướng Quân an tại Thân, và Phục Binh đối diện tại Dần. Lưới dưới chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La; Tướng Quân xin quý vị đặt thêm bằng mắt vào cung Thân.
Tử Vi tại Dần, Mệnh tại Thìn
không phải người thật
nam mệnh tuổi Quý, vòng Bác Sĩ đếm nghịch
Tướng Quân tại Thân, Lộc Tồn tại Tý
Bước một: Tướng Quân đứng ở đâu và đứng cùng ai
Cung Thân trên lá số này là cung Quan Lộc, chính tinh đóng ở đó là Thất Sát độc tọa. Đây là thế Tướng Quân đắc dụng bậc nhất mà cấu trúc Đẩu Số cho phép: sao chủ chỉ huy đóng đúng cung sự nghiệp, lại đồng cung với chính tinh chủ khai phá và quyết liệt. Người này không hợp việc ngồi chờ lệnh; càng vào chỗ khó, chỗ phải dựng từ đầu, càng ra được cái chất của mình.
Cung xung chiếu của Quan Lộc là Dần, tức cung Phu Thê, có Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung, và đó chính là chỗ Phục Binh ngồi. Thế này đọc rất rõ: đối thủ của người này không ở ngoài trận mà ở ngay trong nhà, theo nghĩa cái níu lại lớn nhất là quan hệ gia đình. Tử Phủ ở đối cung Quan Lộc vốn là thế được nâng đỡ, nhưng nâng đỡ đi kèm ràng buộc, và Phục Binh nhắc rằng chuyện ngấm ngầm thường phát từ chỗ gần nhất.
Bước hai: hóa gì, và Lộc Tồn Kình Đà ở đâu
Tuổi Quý nên bộ Tứ Hóa là Phá Quân hóa Lộc, Cự Môn hóa Quyền, Thái Âm hóa Khoa, Tham Lang hóa Kỵ. Tham Lang đang ở Thìn tức cung Mệnh, vậy Mệnh mang Hóa Kỵ: người này ham muốn nhiều, cái gì cũng muốn làm cho bằng được, và chính cái ham ấy là chỗ vướng. Phá Quân ở Tý tức Tài Bạch mang Hóa Lộc, lại đúng cung có Lộc Tồn tuổi Quý, thành thế song lộc ở cung tiền bạc.
Đến đây thấy hiện ra đúng điều bất biến đã nêu ở mục cấu trúc. Tướng Quân tại Thân, Lộc Tồn tại Tý, hai cung cách nhau đúng bốn cung, tức nằm chung một tam hợp, và tam hợp ấy là Thìn, Thân, Tý, tức đúng bộ Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch của lá số này. Vị tướng ở cung sự nghiệp, kho lương ở cung tiền bạc, cả hai cùng chiếu về Mệnh. Đây là hình mẫu sạch nhất của câu "tướng có hậu cần".
Kình Dương tuổi Quý tại Sửu là cung Tử Tức, Đà La tại Hợi là cung Tật Ách. Cả hai đều không đồng cung, không tam hợp, không xung với Thân, đúng như kết quả đã kiểm bằng máy: Tướng Quân không gặp Kình Đà bằng bất cứ đường nào. Còn Bệnh Phù của cùng vòng, đếm nghịch tám nhịp từ Tý, đang ở Thìn tức ngay cung Mệnh, đúng vị thế tam hợp cố định đã nói.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Cung Quan Lộc tại Thân có tam hợp là Thìn và Tý, xung chiếu là Dần. Thìn là Mệnh có Tham Lang hóa Kỵ, Tý là Tài Bạch có Phá Quân hóa Lộc và Lộc Tồn, Dần là Phu Thê có Tử Vi Thiên Phủ. Vậy tam phương tứ chính của sự nghiệp gồm đủ bộ Sát Phá Tham cộng thêm Tử Phủ ở đối cung. Đây là cách cục của người dựng nghiệp bằng sức mình, đi từ không đến có, hợp nghề phải mở đường: thi công, sản xuất, thương mại đường dài, hoặc chỉ huy một đội đi làm việc khó.
Kinh nghiệm Tóm một câu cho lá số này: đây là người có tướng, có lương, và có một chỗ vướng ngay trong lòng mình. Chỗ vướng là Tham Lang hóa Kỵ ở Mệnh, tức ham muốn nhiều hơn sức. Lời khuyên cụ thể là mỗi giai đoạn chỉ chọn một mặt trận, đừng mở hai. Sao không quyết chuyện ấy, người quyết.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang nữ mệnh: tuổi Quý là can âm, âm nữ thì vòng Bác Sĩ đếm thuận. Lộc Tồn vẫn tại Tý nhưng Tướng Quân dời sang Thìn, tức cung Mệnh, còn Phục Binh sang Tuất là Thiên Di. Cái uy chuyển từ sự nghiệp về bản thân: không phải người được giao quyền mà là người tự nó đã cứng. Tướng Quân lúc này đồng cung Tham Lang hóa Kỵ, một thế đáng lưu ý, vì uy gặp Kỵ dễ thành cố chấp.
- Giữ nam mệnh nhưng đổi sang tuổi Tân: Lộc Tồn dời về Dậu, đếm nghịch bốn nhịp thì Tướng Quân sang Tỵ, tức cung Phụ Mẫu của lá số này, Phục Binh sang Hợi là Tật Ách. Cái uy đổi địa chỉ hoàn toàn, thành chuyện quan hệ với bậc trên. Bộ Tứ Hóa cũng đổi thành Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền, Văn Khúc hóa Khoa, Văn Xương hóa Kỵ, nên cung Mệnh không còn Hóa Kỵ nữa.
- Giữ nguyên tuổi Quý và nam mệnh, chỉ đổi vị trí Tử Vi từ Dần sang Thân: Tướng Quân vẫn ở Thân vì nó chỉ phụ thuộc can năm và chiều đếm, hoàn toàn không phụ thuộc thế Tử Vi. Nhưng chính tinh ở Thân đổi từ Thất Sát sang Tử Vi và Thiên Phủ. Cùng một Tướng Quân ở cùng một cung mà nghĩa khác hẳn: từ người xông trận thành người ngồi trong trướng, uy đến từ vị trí và thể chế chứ không từ việc tự mình lao vào.
Ba trường hợp trên cho thấy đọc Tướng Quân mà bỏ qua can năm, giới tính và thế Tử Vi là mới đọc được một phần ba. Muốn biết Tướng Quân của chính mình đứng ở cung chức nào, đồng cung với ai và chịu hóa gì, quý vị hãy an lá số Tử Vi tại đây rồi đối chiếu với ba bước ở trên.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Tướng Quân không phải sao cần trấn yểm, cũng không phải sao cần khoe. Nó là một khả năng có sẵn, và mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: chỗ. Cái uy đặt đúng chỗ thì thành nghiệp, đặt sai chỗ thì thành phiền cho chính mình và cho người quanh mình.
Cho vị tướng một mặt trận
Suy luận Việc hiệu quả nhất là đưa cái quyết đoán vào nghề nghiệp. Người có Tướng Quân nổi bật ở Mệnh, Quan Lộc hay Thiên Di nên chọn việc có ranh giới rõ và có trách nhiệm rõ: quản đội, vận hành, thi công, hậu cần, huấn luyện, thể thao, hoặc bất cứ nghề nào mà kết quả đo được bằng con số. Ngược lại, việc phải chiều lòng nhiều bên, phải chờ đồng thuận, phải nói vòng, là loại việc bào mòn người này nhanh nhất.
Ba thói quen giữ cái uy khỏi thành cái nóng
Kinh nghiệm Thầy vẫn dặn khách có Tướng Quân đậm ba việc, đều làm được ngay. Một, đặt luật cho chính mình trước khi đặt luật cho người. Người dưới phục cái nhất quán chứ không phục cái to tiếng. Hai, mỗi quyết định lớn để qua một đêm. Cái mất của người có sao này hiếm khi vì quyết sai, phần lớn vì quyết sớm. Ba, nuôi một người dám nói ngược. Cấu trúc đã cho sao này một Phục Binh ở đối cung, nghĩa là luôn có chỗ tối mà mình không thấy; người can chính là cái gương soi chỗ ấy.
Khi Tướng Quân gặp Kỵ, Không Kiếp hoặc Tuần Triệt
Suy luận Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là đổi vai và hạ nhịp. Gặp Tuần Triệt thì đừng cố tranh cái danh, hãy nhận việc thật và để kết quả nói thay; người bị tước ấn mà làm được việc thì sớm muộn cũng có ấn. Gặp Hóa Kỵ thì mỗi khi thấy mình càng ra sức càng rối, hãy dừng lại hỏi một người ngoài cuộc, vì Kỵ chủ vướng mà vướng thì không gỡ bằng sức. Gặp Không Kiếp thì đừng dựng nghiệp một mình, phải có người giữ sổ sách và người giữ quan hệ.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc như giữ bàn làm việc gọn, tách chỗ làm và chỗ nghỉ, tập thể dục đều để xả cái nóng, ngủ đủ trước ngày phải quyết việc lớn, đều thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí. Đây không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực bản thân và cũng không sửa được lá số. Ai nói chỉ cần treo một vật là có quyền có chức thì quý vị nên dè chừng.
Kinh nghiệm Lời cuối của mục này, cũng là lời Thầy hay nói khi tiễn khách có Tướng Quân thủ Mệnh: quyết được là một cái tài, biết khi nào không cần quyết mới là cái tướng. Sao chỉ cho biết mình có sức ra tay, dùng sức ấy vào đâu là việc của người.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc mà trang này thật sự dẫn, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, đã kiểm bằng máy nhưng chưa đối chiếu đủ ca thật.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục vòng Bác Sĩ: Tướng Quân chủ uy võ, quyền uy, dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường.
- Phép an vòng Bác Sĩ theo sao Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ, theo bảng an sao chuẩn của khoa Tử Vi Đẩu Số; thứ tự mười hai sao Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
- Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu qua đủ mười tuổi can nhân hai chiều đếm: Tướng Quân tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm; khoảng cách với Lộc Tồn chỉ nhận hai giá trị bốn và tám, tức luôn tam hợp Lộc Tồn và Bác Sĩ; luôn xung chiếu Phục Binh; luôn tam hợp Bệnh Phù; luôn bị Tiểu Hao và Tấu Thư giáp hai bên; khoảng cách với Kình Dương chỉ nhận ba và bảy, với Đà La chỉ nhận năm và chín, nên không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu với Kình Đà; và bảng lưu Lộc Tồn, lưu Tướng Quân theo can của từng năm.
- Ghi chú về phú: thư tịch mà trang này dẫn không lập câu phú riêng cho Tướng Quân, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này. Vì vậy bài không trích câu phú nào và không dựng bảng sáng tối cho Tướng Quân.
Lưu ý về tên trùng và dị bản: tên một số sao trong vòng Bác Sĩ trùng hoặc gần trùng với sao của vòng khác, dễ gây lẫn khi tra cứu. Quan Phủ của vòng Bác Sĩ khác Quan Phù của vòng Thái Tuế; Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ khác Trực Phù; Đại Hao của vòng Bác Sĩ khác sao Tuế Phá mà một số sách cũng gọi là Đại Hao. Riêng Tướng Quân thì không trùng tên với sao nào của ba vòng còn lại, nhưng cần phân biệt với sao Tướng Tinh của vòng thần sát tam hợp, hai sao khác nhau cả tên lẫn phép an.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tướng Quân
Tướng Quân là sao thứ năm của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, lấy hình vị tướng cầm quân. Sao này chủ uy võ, quyền uy, sự dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường.
Tướng Quân đứng thứ năm trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Tướng Quân ở Quan Lộc hợp võ nghiệp và vị trí chỉ huy, cho người có quyền uy, khí phách và quyết đoán, nhất là khi đi cùng chính tinh sáng và Hóa Quyền.
Tướng Quân là sao uy võ. Đi cùng chính tinh sáng và sao quyền thì thành uy chính đáng, hợp lãnh đạo; gặp sát tinh thì cái uy dễ thành hung hăng, cần tiết chế.
Đủ cả mười hai cung, không cung nào bị cấm. Đây là điểm khác với Tiểu Hao cùng vòng, sao ấy chỉ tới được tám cung vì luôn cách Lộc Tồn ba nhịp. Tướng Quân cách Lộc Tồn bốn nhịp, mà bốn nhịp là bước nhảy đổi nhóm địa chi, nên gộp cả hai chiều đếm thì phủ kín địa bàn. Kết quả đã chạy đủ mười tuổi can nhân hai chiều.
Vì Bác Sĩ luôn đứng đúng cung Lộc Tồn, mà Tướng Quân đứng thứ năm trong vòng, tức cách Bác Sĩ bốn nhịp. Bốn cung trên địa bàn chính là tam hợp. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách giữa Tướng Quân và Lộc Tồn chỉ nhận hai giá trị bốn và tám, hai giá trị đối xứng của cùng một quan hệ tam hợp. Trong mười hai sao của vòng chỉ Tướng Quân và Bệnh Phù giữ được vị thế ấy.
Không, bằng bất cứ đường nào. Kiểm bằng máy thì khoảng cách từ Tướng Quân tới Kình Dương chỉ nhận ba và bảy, tới Đà La chỉ nhận năm và chín; không giá trị nào là không, bốn, sáu hay tám, nên không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu. Ai luận thấy Tướng Quân đi cùng Kình Đà là đã an sai lá số, không phải dị bản.
Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm có một bản lưu: lấy can của năm đang xem để định lưu Lộc Tồn, rồi đếm bốn nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó thì ra lưu Tướng Quân. Vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh, giờ sinh thì không có bản lưu, vì tham số của chúng không đổi theo năm.