Sao Tấu Thư trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Tấu Thư

Sao thứ sáu của vòng Bác Sĩ, gắn với văn thư tấu sớ. Tấu Thư chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa.

Hành KimVòng Bác SĩVăn thư, thi cửTheo Lộc Tồn
奏書Zòu Shū
Tên sao: Tấu Thư
Ngũ hành: Kim
Nhóm: Vòng Bác Sĩ
Cách an: Theo sao Lộc Tồn
Cai quản: văn thư, giấy tờ, thi cử
Tính chất: Văn thư, thi cử
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Tấu Thư là gì

Một sao trong vòng Bác SĩẢnh minh họa cập nhật sau Sao Tấu Thư trong Tử Vi Đẩu Số
Một sao trong vòng Bác Sĩ

Tấu Thư là sao thứ sáu của vòng Bác Sĩ, gắn với việc tấu sớ, văn thư trình lên trên. Đây là một sao thiên về văn, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và con đường công danh bằng chữ nghĩa.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Tấu Thư không có phép an riêng. Nó là mắt thứ sáu của một chuỗi mười hai mắt gọi là vòng Bác Sĩ. Phép an gồm ba bước. Bước một, lấy thiên can năm sinh mà định vị Lộc Tồn. Bước hai, đặt Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bước ba, chọn chiều: người dương namâm nữ đếm thuận, người âm namdương nữ đếm nghịch. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

Suy luận Từ đó rút ra điều cốt lõi: Tấu Thư đứng thứ sáu, tức cách Bác Sĩ năm nhịp, mà Bác Sĩ nằm đúng cung Lộc Tồn, cho nên Tấu Thư luôn cách Lộc Tồn đúng năm cung khi đếm thuận và bảy cung khi đếm nghịch. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách ấy chỉ nhận hai giá trị là 5 và 7. Điều đáng nói là cả năm lẫn bảy đều không phải quan hệ nào cả: không phải không cung để thành đồng cung, không phải bốn hay tám để thành tam hợp, không phải sáu để thành xung chiếu. Vậy Tấu Thư và Lộc Tồn vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Tờ sớ và kho lương ở hai nơi khác nhau, đó là hình rất đúng với công việc giấy tờ.

Bảng dưới trải đủ mười tuổi can kèm cả hai chiều đếm, để quý vị đối chiếu thẳng với lá số của mình.

Vị trí an sao Tấu Thư theo thiên can năm sinh và theo chiều thuận nghịch
Tuổi canLộc Tồn tạiTấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ)Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ)
Giáp (can dương)DầnMùiDậu
Ất (can âm)MãoThânTuất
Bính (can dương)TỵTuất
Đinh (can âm)NgọHợiSửu
Mậu (can dương)TỵTuất
Kỷ (can âm)NgọHợiSửu
Canh (can dương)ThânSửuMão
Tân (can âm)DậuDầnThìn
Nhâm (can dương)HợiThìnNgọ
Quý (can âm)TỵMùi

Suy luận Nhưng Tấu Thư lại dính chặt vào hai sao đứng gác kho, là Kình Dương và Đà La, và đây mới là quan hệ quan trọng nhất của sao này. Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn, Đà La luôn ở cung liền trước. Tấu Thư cách Lộc Tồn năm cung khi thuận, nên cách Kình Dương bốn cung và cách Đà La sáu cung: tam hợp Kình Dương, xung chiếu Đà La. Khi nghịch thì đảo lại: cách Kình Dương sáu cung và cách Đà La tám cung, tức xung chiếu Kình Dương, tam hợp Đà La. Kết luận bất biến cho mọi lá số: Tấu Thư luôn có một trong hai sao Kình Đà trong tam hợp và sao còn lại ở ngay đối cung, không bao giờ thoát cả hai, cũng không bao giờ đồng cung với sao nào trong hai sao ấy.

Suy luận Còn một hệ quả nữa về phạm vi. Lộc Tồn không bao giờ đóng bốn cung mộ khố, nhưng Tấu Thư dịch khỏi Lộc Tồn năm cung, mà năm nhịp là bước nhảy đổi nhóm địa chi. Gộp cả hai chiều lại thì Tấu Thư tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm, và vì mười bốn chính tinh cũng đi khắp mười hai cung tùy thế Tử Vi nên không có chính tinh nào bị cấm đồng cung với Tấu Thư. Cái ràng buộc của sao này không nằm ở chỗ nó không được gặp ai, mà nằm ở hai cái tên nó buộc phải gặp.

Những điều bất biến của Tấu Thư

  • Tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm.
  • Không bao giờ gặp Lộc Tồn bằng bất cứ đường nào: khoảng cách chỉ nhận năm hoặc bảy cung, không phải đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu.
  • Luôn dính cả hai sao Kình Đà nhưng theo hai kiểu khác nhau: người đếm thuận thì tam hợp Kình Dương và xung chiếu Đà La; người đếm nghịch thì xung chiếu Kình Dương và tam hợp Đà La. Không bao giờ đồng cung với Kình hay Đà.
  • Luôn xung chiếu Quan Phủ, sao thứ mười hai của vòng, cách Tấu Thư đúng sáu nhịp.
  • Luôn tam hợp Lực Sĩ và Đại Hao, hai sao cách Tấu Thư bốn và tám nhịp.
  • Luôn bị Tướng Quân và Phi Liêm giáp hai bên, vì hai sao ấy đứng liền trước và liền sau trong vòng.
  • Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tấu Thư, không sao nào bị loại.

Kinh nghiệm Đọc tới đây quý vị đã thấy chân dung của sao này hiện ra từ chính cấu trúc, chưa cần tới ý nghĩa nào. Tấu Thư là người viết tờ trình: không giữ kho, nhưng ngồi giữa hai lưỡi dao và nhìn thẳng vào cửa quan. Đó là mô tả rất đúng của công việc giấy tờ trong đời thật: người làm hồ sơ không cầm tiền, nhưng mọi tranh chấp và mọi hình phạt đều đi qua tay họ.

3 Vị Trí Trong Lá Số Và Cách An Rút Gọn

Tấu Thư an theo Lộc TồnẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và vị trí sao Tấu Thư
Tấu Thư an theo Lộc Tồn

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.

Trong vòng mười hai sao, Tấu Thư giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Tấu Thư.

4 Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Tấu Thư

Tấu Thư chủ văn thư, giấy tờ, thi cửẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và ý nghĩa của Tấu Thư
Tấu Thư chủ văn thư, giấy tờ, thi cử

Tấu Thư mang khí của văn bài, giấy tờ trình tấu. Ở cung Quan, Mệnh, nó lợi cho thi cử, cầu công danh, các việc liên quan hồ sơ, văn bằng. Người có Tấu Thư thường chỉn chu giấy tờ, hợp nghề hành chính, văn phòng, học thuật.

Điểm hay đặc biệt: Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung tạo thế Hổ đội hòm sắt, lại lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị, quyền thế. Là sao văn nhỏ, Tấu Thư phát huy khi đi cùng văn tinh và chính tinh sáng.

5 Chỗ Đứng Của Tấu Thư Trong Vòng Bác Sĩ

Kinh văn Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh mười hai sao chạy quanh địa bàn: vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, vòng thần sát tam hợp đếm từ Kiếp Sát, và vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn. Mỗi vòng lấp kín mười hai cung, mỗi cung đúng một sao của vòng ấy. Vòng Bác Sĩ là vòng của lộc ăn và việc quan, vì gốc của nó là Lộc Tồn, và vì mười hai cái tên trong vòng đều là chức phận của một triều đình thu nhỏ: người chữa bệnh, người gánh vác, người báo điềm lành, người coi hao hụt, người cầm quân, người viết sớ, người coi ngục.

Suy luận Trong triều đình ấy, Tấu Thư giữ vị trí thứ sáu, cách Bác Sĩ năm nhịp. Sao đứng ngay trước là Tướng Quân, sao đứng ngay sau là Phi Liêm. Trật tự này đọc theo tượng thì rất có nghĩa. Tướng Quân là người ra tay, Tấu Thư là tờ trình báo lên trên sau khi đã ra tay, rồi Phi Liêm là tin đồn bay đi. Ba mắt liền nhau kể trọn một vòng đời của một sự việc trong công môn: làm, ghi lại, rồi loan ra. Chữ Tấu là dâng lên, chữ Thư là văn bản; hợp lại đúng nghĩa tờ sớ trình lên bề trên. Cho nên cái lõi của sao này không phải là chữ nghĩa nói chung, mà là chữ nghĩa có hiệu lực: giấy tờ, hồ sơ, đơn từ, hợp đồng, văn bằng, tin báo chính thức.

Suy luận Vì mười hai sao chiếm mười hai cung liền nhau nên khoảng cách trong vòng cũng là khoảng cách trên địa bàn. Ba quan hệ cố định của Tấu Thư, đúng với mọi tuổi và cả hai chiều đếm, là như sau. Cung xung chiếu luôn là cung Quan Phủ, sao thứ mười hai, cách Tấu Thư sáu nhịp. Hai cung tam hợp luôn là cung Lực Sĩ và cung Đại Hao, cách Tấu Thư bốn và tám nhịp. Hai cung giáp luôn là Tướng Quân và Phi Liêm. Sáu cái tên ấy là bộ khung cố định.

Suy luận Gộp lại thành một hình dễ nhớ: tờ trình nhìn thẳng vào cửa quan, một bên vai có sức vóc đỡ, một bên vai có chỗ hao chờ. Quan Phủ ở đối cung là kiện tụng, giấy phạt, thủ tục cưỡng chế, nên giấy tờ và pháp lý luôn đi liền nhau. Lực Sĩ trong tam hợp cho biết có người theo việc tới cùng; Đại Hao nhắc rằng giấy tờ tốn theo lối nhiều khoản nhỏ.

Bảng dưới đây trải trọn mười hai sao của vòng theo từng tuổi can, tính theo chiều thuận. Người đếm nghịch chỉ cần lật gương: giữ nguyên cột Bác Sĩ, các cột sau đảo chiều quanh cung Lộc Tồn.

Trọn mười hai sao vòng Bác Sĩ theo từng tuổi can, tính theo chiều thuận
Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận)Bác SĩLực SĩThanh LongTiểu HaoTướng QuânTấu ThưPhi LiêmHỷ ThầnBệnh PhùĐại HaoPhục BinhQuan Phủ
GiápDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
ẤtMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDần
BínhTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
ĐinhNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
MậuTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
KỷNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
CanhThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
TânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThân
NhâmHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
QuýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Thế Tấu Thư gặp Bạch Hổ, và nó xảy ra ở những tuổi nào

Kinh văn Sách chép một điểm hay riêng của sao này: Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung thì thành thế Hổ đội hòm sắt, lại hóa lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị và quyền thế. Đây là chỗ hiếm, vì Bạch Hổ vốn là hung tinh mà gặp Tấu Thư lại đổi sang nghĩa tốt.

Suy luận Bạch Hổ thuộc vòng Thái Tuế, an theo địa chi năm sinh, còn Tấu Thư an theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch. Hai tham số khác nhau nên hai sao có gặp nhau hay không là chuyện của từng tuổi cụ thể, không phải chuyện luôn luôn. Thầy cho chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới, tức một trăm hai mươi tổ hợp, và kết quả là thế Hổ đội hòm sắt chỉ xảy ra ở 12 tổ hợp, tức đúng một phần mười. Danh sách đầy đủ như sau.

Những tổ hợp tuổi và giới tính khiến Tấu Thư đồng cung với Bạch Hổ
TuổiGiớiTấu Thư và Bạch Hổ cùng đóng tại
Bính DầnnamTuất
Đinh MãonữHợi
Mậu Thìnnữ
Kỷ TỵnamSửu
Nhâm ThânnamThìn
Quý DậunữTỵ
Mậu DầnnamTuất
Kỷ MãonữHợi
Bính Thìnnữ
Đinh TỵnamSửu
Nhâm TuấtnữNgọ
Quý HợinamMùi

Kinh nghiệm Bảng này dùng để tự kiểm rất nhanh: nếu tuổi và giới của quý vị không có trong danh sách trên thì lá số ấy không có thế Hổ đội hòm sắt. Có tên thì mới xét tiếp: cung ấy là cung chức gì, chính tinh nào đóng, có văn tinh đi kèm không. Thế cách nào cũng cần điều kiện đủ.

Tấu Thư không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc thế nào khi cung có hóa

Kinh văn Bảng Tứ Hóa theo can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Tấu Thư không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên nó không hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Sách không lập cho sao này một tầng biến hóa nào.

Kinh nghiệm Nhưng vì Tấu Thư là sao văn thư, nó chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa rõ hơn phần lớn phụ tinh nhỏ khác, nhất là khi cung ấy có Văn Xương hoặc Văn Khúc đang hóa. Cách đọc của Thầy như sau. Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: giấy tờ sinh tiền, hợp đồng ký được, hồ sơ đúng lúc; đây là thế hợp nghề môi giới, tư vấn, thầu, xuất bản. Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: chữ ký của người này có sức nặng, văn bản do mình soạn thành lệnh; hợp việc quản trị, pháp chế, hành chính cấp cao. Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây là thế đẹp nhất của Tấu Thư, vì Khoa chính là danh tiếng bằng chữ nghĩa; hợp thi cử, học vị, nghiên cứu, viết lách, và cũng là thế dễ được người ta trích dẫn tên mình. Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: đây là thế cần giữ nhất, vì Kỵ chủ vướng, mà giấy tờ vướng thì thành hồ sơ sai sót, hợp đồng có điều khoản gài, bằng cấp trục trặc, đơn từ bị trả lại. Nhớ thêm rằng Quan Phủ luôn ở đối cung, nên chuyện giấy tờ hỏng của người có Tấu Thư gặp Kỵ hay đi tới cửa hành chính và pháp lý chứ không dừng ở nhà.

Suy luận Vì sao đọc Tấu Thư thì phải đọc cả vòng? Vì nó chỉ là cái nhãn dán lên cung cách Lộc Tồn năm nhịp. Muốn biết tờ trình ấy có giá trị hay không phải nhìn ba chỗ cùng lúc: Quan Phủ chiếu từ đâu, Kình Đà đang đứng thế nào vì một sao chắc chắn tam hợp và sao kia chắc chắn xung, và Lực Sĩ với Đại Hao ở cung chức nào. Cả bốn đều mọc từ một gốc là thiên can năm sinh nên chuyển động cùng nhau như một cỗ máy; đọc lẻ một sao thì như đọc một dòng trong cả bộ hồ sơ.

6 Bốn Cung Hay Được Hỏi Nhất Về Tấu Thư

Tấu Thư đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.

CungÝ nghĩa khi có Tấu Thư
MệnhChỉn chu, hợp việc giấy tờ, chữ nghĩa.
Quan LộcLợi thi cử, công danh bằng văn bằng, hồ sơ.
Phúc ĐứcTinh thần ham học, trọng chữ nghĩa.
Phụ MẫuLiên quan giấy tờ, học vấn của người trên.

7 Tấu Thư An Tại 12 Cung Chức

Địa chi là địa chỉ của cung trên địa bàn, cung chức là vai trò của cung trong đời sống. Tấu Thư tới được đủ mười hai địa chi nên cũng có thể rơi vào đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận đủ mười hai dòng, mỗi ô nói đúng lĩnh vực của cung ấy. Cột giữa là khi Tấu Thư đứng cùng chính tinh sáng, có Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc hoặc cát tinh đỡ; cột phải là khi chính tinh hãm, hoặc có Hóa Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp, Đà La cùng tới.

Ý nghĩa của sao Tấu Thư tại từng cung trong mười hai cung chức, phân theo trường hợp gặp cát và gặp hung
CungKhi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡKhi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp
MệnhNgười chỉn chu, nói có sách mách có chứng, giấy tờ đâu ra đấy; hợp mọi nghề mà chữ ký và hồ sơ là công cụ chính.Câu nệ hình thức, sa vào tiểu tiết, việc lớn chậm vì lo thủ tục; hoặc hay sai sót ở chính chỗ mình tưởng đã kỹ.
Huynh ĐệAnh em có người học hành đến nơi, hoặc làm nghề giấy tờ; việc chung trong nhà có người ghi chép rõ ràng.Giấy tờ chung với anh em dễ lằng nhằng, nhất là thừa kế và đứng tên; nên làm rõ bằng văn bản từ sớm.
Phu ThêBạn đời có học, trọng chữ nghĩa, hai bên hợp nhau ở chỗ nói chuyện được; hôn thú và giấy tờ chung suôn sẻ.Thủ tục hôn nhân hoặc giấy tờ chung có trục trặc, chậm trễ; hoặc hai bên hay tranh nhau bằng lời lẽ và bằng chứng cũ.
Tử TứcCon cái sáng dạ, hợp đường học, thi cử thuận; cha mẹ nên đầu tư vào việc học của con.Con học hành trục trặc về mặt thủ tục hơn là năng lực: hồ sơ, chuyển trường, xét tuyển; hoặc học giỏi mà thi không gặp thời.
Tài BạchTiền vào bằng hợp đồng, bằng nghề chữ nghĩa, bằng hoa hồng môi giới; thu nhập có giấy trắng mực đen nên bền.Tiền vướng ở giấy tờ: hợp đồng thiếu điều khoản, thanh toán chậm vì thủ tục, hoặc mất tiền vì ký mà không đọc kỹ.
Tật ÁchÍt bệnh nặng; hồ sơ sức khỏe rõ ràng, khám định kỳ đều nên phát hiện sớm.Hay mệt vì lao tâm, mắt và cổ vai gáy dễ mỏi do làm việc với chữ; giấy tờ bảo hiểm và viện phí dễ rắc rối.
Thiên DiRa ngoài được tiếng có học, dễ được mời phát biểu, viết bài, đại diện; đi xa vì việc học hoặc việc hồ sơ đều thuận.Ra ngoài dễ vướng thủ tục: giấy tờ đi lại, visa, đăng ký, hợp đồng ngoại tỉnh; cần chuẩn bị trước gấp đôi thời gian.
Nô BộcBạn bè có người trong ngành hành chính, học thuật, luật; khi cần giấy tờ luôn có người chỉ đường.Dính giấy tờ vì người quen: ký bảo lãnh, đứng tên hộ, làm chứng; đây là chỗ hay sinh chuyện nhất của Tấu Thư.
Quan LộcĐây là cung Tấu Thư đắc dụng nhất: hợp hành chính, văn phòng, pháp chế, giáo dục, xuất bản, nghiên cứu, thư ký, kiểm toán; công danh đi lên bằng văn bằng và hồ sơ.Công việc ngập thủ tục, làm nhiều báo cáo mà ít kết quả thật; hoặc thăng tiến bị chặn vì thiếu một loại giấy tờ.
Điền TrạchGiấy tờ nhà đất đầy đủ, sang tên thuận; trong nhà có chỗ để sách vở, hồ sơ được cất gọn.Sổ đỏ, hợp đồng thuê, thủ tục xây sửa hay trục trặc; nên rà lại giấy tờ nhà trước khi tính chuyện mua bán.
Phúc ĐứcTinh thần ham học, thích đọc, trọng chữ nghĩa; niềm vui đến từ việc hiểu ra một điều mới.Nghĩ nhiều, hay soạn sẵn lời trong đầu, khó ngủ vì việc chưa xong trên giấy; cần đặt giờ ngừng làm việc.
Phụ MẫuCha mẹ có học hoặc trọng việc học, giấy tờ của bậc trên rõ ràng; con cái được hưởng nếp học.Giấy tờ của bậc trên hay dở dang: hộ khẩu, hưu trí, thừa kế, bảo hiểm; nên giúp hoàn tất sớm khi còn thuận tiện.

Kinh nghiệm: mẹo đọc bảng này

Kinh nghiệm Thầy có ba mẹo khi dùng bảng trên. Một, đọc kèm cung Quan Phủ ở đối diện. Tấu Thư luôn xung Quan Phủ, nên mọi việc giấy tờ của cung này đều có một cửa quan đứng đợi. Cung đối có chính tinh sáng thì thủ tục xuôi, có sát tinh thì thủ tục thành rắc rối. Hai, xem người này thuận hay nghịch để biết Kình hay Đà đang tam hợp. Tam hợp Kình Dương thì giấy tờ đi nhanh mà dễ sắc, dễ tranh chấp; tam hợp Đà La thì giấy tờ chậm, kéo dài, hay phải làm lại. Cùng một Tấu Thư mà hai người khác giới đọc khác nhau chính ở chỗ này. Ba, tìm văn tinh trong cùng cung. Tấu Thư một mình chỉ là thủ tục; có Văn Xương, Văn Khúc hay Hóa Khoa đi cùng mới thành chữ nghĩa có giá trị. Không có văn tinh thì đừng luận thành người học cao.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao trộn thành một tính chất mới. Xung chiếu mạnh nhì, sao bên kia bắn thẳng sang, luôn có mặt trong mọi việc của cung này. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, như người đứng xa góp lời. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh vì bị kẹp thì khó xoay, nhẹ với cát tinh vì được đỡ thì chỉ thêm êm. Với Tấu Thư còn một tầng nữa: cấu trúc vòng Bác Sĩ khóa sẵn nhiều vị thế, nên Quan Phủ chỉ tới bằng xung chiếu, Lực Sĩ và Đại Hao chỉ tới bằng tam hợp, Tướng Quân và Phi Liêm chỉ tới bằng thế giáp, Kình Đà thì một sao tam hợp một sao xung tùy chiều đếm, còn Lộc Tồn thì không tới được bằng đường nào. Mỗi dòng dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ.

Tấu Thư phát huy khi gặp

  • Bạch Hổ, đồng cung: thành thế Hổ đội hòm sắt, lợi thi cử và cầu công danh, chủ chức vị; chỉ xảy ra ở 12 trong một trăm hai mươi tổ hợp tuổi và giới, xem bảng ở mục vòng Bác Sĩ.
  • Văn Xương, Văn Khúc, đồng cung: bộ văn tinh đủ mặt, chữ nghĩa có nội dung chứ không chỉ có thủ tục.
  • Hóa Khoa, đồng cung: danh tiếng bằng chữ nghĩa, thi cử và học vị thuận, tên mình được người khác nhắc.
  • Thái Âm, Thiên Lương, Thiên Cơ miếu vượng, đồng cung: ba chính tinh thiên về văn, hợp khí Tấu Thư.
  • Long Trì, Phượng Các, Thai Phụ, Phong Cáo, đồng cung hoặc chiếu: nhóm sao bằng sắc, làm tờ trình có trọng lượng.
  • Lực Sĩ, tam hợp (vị thế cố định của vòng): có sức theo việc tới cùng, hồ sơ không bỏ dở.
  • Chính tinh hóa Lộc, đồng cung: giấy tờ sinh tiền, hợp đồng ký được, hợp nghề môi giới và tư vấn.

Tấu Thư trục trặc khi gặp

  • Hóa Kỵ, đồng cung: sai sót hồ sơ, hợp đồng có điều khoản gài, đơn từ bị trả lại; nặng nhất trong các thế vì Quan Phủ luôn chờ ở đối cung.
  • Tuần Triệt án ngữ cung có Tấu Thư: việc văn bằng bị ngăn nửa chừng, thi đỗ mà chậm nhận, hồ sơ nộp rồi treo đó.
  • Quan Phủ, xung chiếu (vị thế duy nhất có thể): mọi việc giấy tờ đều có cửa quan đứng đợi, cần giữ bản gốc và giữ lời.
  • Đà La, tam hợp hoặc xung tùy chiều đếm (không thể đồng cung): giấy tờ chậm, kéo dài, phải làm đi làm lại.
  • Kình Dương, tam hợp hoặc xung tùy chiều đếm (không thể đồng cung): giấy tờ đi nhanh nhưng dễ thành tranh chấp, dễ động tới kiện tụng.
  • Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung: hồ sơ mất, bản gốc thất lạc, công sức viết ra không đọng lại thành kết quả.
  • Đại Hao, tam hợp (vị thế cố định của vòng): chi phí giấy tờ nhiều khoản nhỏ, cộng lại thành một khoản đáng kể.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tấu Thư thì cấu trúc vòng Bác Sĩ đã khóa sẵn nhiều vị thế: Quan Phủ chỉ tới bằng xung chiếu, Lực Sĩ và Đại Hao chỉ tới bằng tam hợp, Kình Đà thì một sao tam hợp một sao xung tùy chiều đếm, còn Lộc Tồn thì không tới được bằng đường nào. Khi đọc một dòng trong hai cột trên, xin đọc kèm vị thế ghi ngay sau tên sao.

9 Tấu Thư Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục trên nói về Tấu Thư đứng yên trên lá số gốc. Câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: năm nay thi có đỗ không, giai đoạn này ký hợp đồng có ổn không, hồ sơ nhà đất nên làm năm nào. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.

Đại vận đi vào cung có Tấu Thư

Suy luận Mười năm đại vận đóng vào cung có Tấu Thư bản mệnh là mười năm đời sống chạy bằng giấy tờ. Không nhất thiết là mười năm đi học, mà là mười năm mà việc gì cũng phải có văn bản: ký kết, đăng ký, xét duyệt, chứng nhận, sang tên. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh thì đây thường là đại vận lập danh bằng chữ nghĩa: học thêm một bằng, đổi sang nghề cần chuyên môn, viết ra được thứ mang tên mình, hoặc lên vị trí mà chữ ký có sức nặng. Nếu cung ấy hãm, có Kỵ hoặc Tuần Triệt, thì mười năm ấy dễ thành mười năm bận thủ tục: làm nhiều báo cáo, chờ nhiều xét duyệt, kết quả thật thì ít.

Kinh nghiệm Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc. Một là lập một chỗ cất giấy tờ cố định, cả bản giấy lẫn bản chụp, vì mười năm ấy sẽ dùng tới rất nhiều lần. Hai là đọc hết trước khi ký, nhất là các phụ lục; Quan Phủ luôn ở đối cung nên cái giá của một dòng bỏ sót thường đắt hơn tưởng. Ba là học thêm một thứ có bằng, vì đại vận này trả công rất hậu cho việc học chính quy, hơn hẳn các đại vận khác.

Tấu Thư có bản lưu niên, và đây là điểm phân biệt với nhiều phụ tinh khác

Kinh văn Trong bốn vòng phụ tinh, chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên. Vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm đang xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm đang xem, vì gốc của nó là Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo can. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục, mà Cục cố định suốt đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm.

Suy luận Vậy Tấu Thư có hai lớp. Lớp thứ nhất là Tấu Thư bản mệnh, đứng yên suốt đời, an theo can năm sinh. Lớp thứ hai là lưu Tấu Thư, mỗi năm dời một chỗ, an theo can năm đang xem: tìm lưu Lộc Tồn của năm ấy rồi đếm năm nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó. Bảng dưới tính sẵn cho các năm tới.

Lưu Lộc Tồn và lưu Tấu Thư theo can của năm đang xem
Năm xemLưu Lộc TồnLưu Tấu Thư (người đếm thuận)Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch)
2026 Bính NgọTỵTuất
2027 Đinh MùiNgọHợiSửu
2028 Mậu ThânTỵTuất
2029 Kỷ DậuNgọHợiSửu
2030 Canh TuấtThânSửuMão
2031 Tân HợiDậuDầnThìn
2032 Nhâm TýHợiThìnNgọ
2033 Quý SửuTỵMùi
2034 Giáp DầnDầnMùiDậu
2035 Ất MãoMãoThânTuất

Kinh nghiệm Cách dùng bảng rất gọn, và với sao này thì thiết thực hơn nhiều sao khác vì việc giấy tờ thường chọn được thời điểm. Xem lưu Tấu Thư của năm ấy rơi vào cung chức nào: rơi vào Điền Trạch thì hợp làm giấy tờ nhà, vào Quan Lộc thì hợp thi cử và bổ nhiệm, vào Phu Thê thì hợp đăng ký kết hôn. Rồi xem nó có trùng cung với Tấu Thư bản mệnh không, và có rơi vào cung đang là đại vận không, vì ba lớp chồng lên nhau mới đáng nói.

Các lưu sao chạm vào cung có Tấu Thư

Suy luận Trong một năm, cung có Tấu Thư bản mệnh còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Xương Khúc hoặc lưu Hóa Khoa tới thì đây là năm nên thi, nên nộp hồ sơ, nên công bố; hai lớp văn tinh chồng nhau là dấu hiệu rõ nhất. Lưu Hóa Kỵ tới thì rà lại mọi giấy tờ đang có hiệu lực, nhất là hợp đồng tự động gia hạn. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới thì việc giấy tờ hoặc thành tranh chấp hoặc thành kéo dài, nên chừa thêm thời gian và giữ bản gốc. Lưu Bạch Hổ tới cung có Tấu Thư là trường hợp đáng chú ý riêng: với người vốn không có thế Hổ đội hòm sắt trên lá số gốc, năm ấy có một bản tạm thời của thế ấy, nên là năm đáng thử sức ở việc thi cử và bổ nhiệm. Lưu Thái Tuế tới thì việc trong năm dồn về cung ấy. Nguyên tắc chung: một lưu sao đơn lẻ chưa đủ kết luận, phải có ít nhất hai lớp cùng chỉ về một cung.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tấu Thư

Tấu Thư là sao hay bị thổi theo chiều tốt, vì ai cũng thích nghe mình có sao văn. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.

Hiểu lầm một: có Tấu Thư là học giỏi, là thi đâu đỗ đó

Kinh văn Sách chép Tấu Thư gắn với việc tấu sớ, văn thư trình lên trên, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa. Đó là lĩnh vực của sao, không phải lời hứa về kết quả.

Kinh nghiệm Việc học được quyết bởi chính tinh cung Quan Lộc và Phúc Đức, bởi bộ Xương Khúc Khôi Việt, bởi Hóa Khoa và bởi vận có tới hay không. Tấu Thư chỉ thêm một sắc thái: việc của người này đi qua giấy tờ. Người có Tấu Thư mà không có văn tinh đi kèm thường là người làm hồ sơ giỏi chứ chưa hẳn là người học cao.

Hiểu lầm hai: Tấu Thư gặp Bạch Hổ thì ai cũng thành thế Hổ đội hòm sắt

Suy luận Đây là chỗ bị chép lại nhiều nhất mà ít ai kiểm. Bạch Hổ an theo địa chi năm sinh, Tấu Thư an theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch, nên hai sao chỉ gặp nhau ở một số tuổi nhất định. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới thì thế ấy chỉ xuất hiện ở 12 trong một trăm hai mươi tổ hợp, đúng một phần mười. Bảng đầy đủ đã đặt ở mục vòng Bác Sĩ. Ai không có tên trong bảng ấy thì đọc lời luận về Hổ đội hòm sắt cho biết, không áp vào mình được.

Hiểu lầm ba: Tấu Thư có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung

Suy luận Một số trang có dựng bảng sáng tối cho Tấu Thư đủ mười hai cung. Thư tịch mà trang này dẫn không lập bảng miếu vượng đắc hãm cho Tấu Thư. Cái quyết định mạnh yếu của một sao thuộc vòng Bác Sĩ là vị trí của nó trong vòng và bộ sao cùng cung, không phải độ sáng tối của riêng nó. Với Tấu Thư, ba chỗ cần nhìn là có văn tinh cùng cung không, Quan Phủ ở đối cung có sát tinh không, và người này đếm thuận hay nghịch để biết Kình hay Đà đang tam hợp.

Hiểu lầm bốn: Tấu Thư có câu phú riêng

Suy luận Phần lớn phụ tinh nhỏ trong bốn vòng không có phú riêng, và Tấu Thư nằm trong số đó; những câu phú người ta hay gán cho nó thực ra là phú của Văn Xương, Văn Khúc hoặc Hóa Khoa. Bài này không trích câu phú nào cho Tấu Thư, chỉ giữ lại điều sách thật sự có chép là thế gặp Bạch Hổ.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Tấu Thư Qua Ba Bước

Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số cụ thể. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số đã chọn: nam mệnh tuổi Bính Dần, Tử Vi an tại Mùi, Mệnh an tại Ngọ. Bính là can dương, người nam, nên vòng Bác Sĩ đếm thuận. Tuổi Bính có Lộc Tồn tại Tỵ, vậy Bác Sĩ tại Tỵ, đếm thuận năm nhịp thì Tấu Thư an tại Tuất. Tuổi chi Dần thì Bạch Hổ của vòng Thái Tuế cũng an tại Tuất, nên lá số này có đúng thế Hổ đội hòm sắt, một trong 12 tổ hợp đã liệt kê. Lưới dưới chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La; Tấu Thư và Bạch Hổ xin quý vị đặt thêm bằng mắt vào cung Tuất.

Bước một: Tấu Thư đứng ở đâu và đứng cùng ai

Cung Tuất trên lá số này là cung Quan Lộc, chính tinh đóng ở đó là Thái Âm độc tọa. Đây là thế Tấu Thư đắc dụng bậc nhất mà cấu trúc cho phép: sao văn thư đóng đúng cung sự nghiệp, lại đồng cung với chính tinh vốn thiên về văn, về tài sản chìm và về sự tỉ mỉ. Cộng thêm Bạch Hổ ngồi cùng, cung Quan Lộc này mang trọn thế Hổ đội hòm sắt mà sách nói là lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị.

Suy luận Thái Âm tại Tuất thuộc đất sáng, nên cái tỉ mỉ của người này thành cẩn trọng có kết quả chứ không thành vụn vặt; hợp những nghề mà hồ sơ chính là sản phẩm.

Bước hai: hóa gì, và Lộc Tồn Kình Đà ở đâu

Tuổi Bính nên bộ Tứ Hóa là Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ theo bảng Nam phái mà trang an lá số đang dùng. Thiên Cơ ở Ngọ tức cung Mệnh mang Hóa Quyền, Thiên Đồng ở Dần tức Tài Bạch mang Hóa Lộc, Liêm Trinh ở Hợi tức Nô Bộc mang Hóa Kỵ. Riêng Văn Xương hóa Khoa thì vị trí tùy giờ sinh, mà lá số minh họa này không cố định giờ, nên xin không kết luận nó ở cung nào; đây chính là chỗ mỗi người phải tự an lá số của mình mới biết.

Lộc Tồn tuổi Bính an tại Tỵ, tức cung Huynh Đệ, Kình Dương tại Ngọ là cung Mệnh, Đà La tại Thìn là cung Phu Thê. Đến đây hiện ra đúng hai điều bất biến đã nêu ở mục cấu trúc. Một, Tấu Thư tại Tuất cách Lộc Tồn tại Tỵ đúng năm cung, không đồng cung, không tam hợp, không xung. Hai, người này đếm thuận nên Tấu Thư tam hợp Kình Dương và xung chiếu Đà La: Tuất tam hợp với Ngọ và Dần, mà Kình Dương đang ở Ngọ; còn đối cung của Tuất là Thìn, đúng chỗ Đà La ngồi. Sắc thái đọc được ngay: giấy tờ của người này đi nhanh và sắc, nhưng cứ đụng tới chuyện đôi lứa và người bạn đời là hồ sơ lại chậm và phải làm lại.

Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì

Cung Quan Lộc tại Tuất có tam hợp là Ngọ và Dần, xung chiếu là Thìn. Ngọ là Mệnh có Thiên Cơ hóa Quyền cùng Kình Dương, Dần là Tài Bạch có Thiên Đồng hóa Lộc cùng Thiên Lương, Thìn là Phu Thê có Thái Dương. Vậy sự nghiệp của người này được Quyền ở Mệnh và Lộc ở Tài cùng chiếu về, một thế rất thuận cho đường công danh bằng chuyên môn.

Đáng chú ý là ba sao cùng vòng nằm đúng ba vị thế cố định đã nói: đếm thuận từ Tỵ thì Lực Sĩ tại Ngọ đồng cung Kình Dương, Đại Hao tại Dần đồng cung Hóa Lộc, còn Quan Phủ tại Thìn đồng cung Đà La. Đọc cùng lúc thì thấy trọn câu chuyện: có sức làm hồ sơ, hồ sơ sinh tiền, nhưng cửa quan nằm ngay bên nhà.

Kinh nghiệm Tóm một câu cho lá số này: đây là người sống bằng chữ ký của mình. Việc cần làm không phải là cầu may khi thi cử, mà là giữ ba thói quen: đọc kỹ trước khi ký, lưu bản gốc, và không đứng tên hộ ai. Riêng điều thứ ba rất quan trọng vì Liêm Trinh hóa Kỵ đang ở cung Nô Bộc.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  • Giữ nguyên mọi thứ, chỉ đổi sang nữ mệnh: tuổi Bính là can dương, dương nữ thì vòng Bác Sĩ đếm nghịch. Lộc Tồn vẫn tại Tỵ nhưng Tấu Thư dời sang , tức cung Thiên Di, và thế Hổ đội hòm sắt không còn vì Bạch Hổ vẫn đứng yên tại Tuất. Đồng thời quan hệ với Kình Đà đảo chiều: Tấu Thư lúc này xung chiếu Kình Dương và tam hợp Đà La, nên chuyện giấy tờ đổi từ nhanh mà sắc sang chậm mà dai.
  • Giữ nam mệnh nhưng đổi sang tuổi Canh Dần: Lộc Tồn dời về Thân, đếm thuận năm nhịp thì Tấu Thư sang Sửu, tức cung Tật Ách của lá số này, cũng không còn thế gặp Bạch Hổ. Bộ Tứ Hóa đổi thành Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Khoa, Thiên Tướng hóa Kỵ, nên cung Mệnh không còn Hóa Quyền. Cùng một chi năm mà đổi can là cả cỗ máy vòng Bác Sĩ dời chỗ.
  • Giữ nguyên tuổi Bính Dần và nam mệnh, chỉ đổi vị trí Tử Vi từ Mùi sang Dậu: Tấu Thư vẫn ở Tuất và vẫn gặp Bạch Hổ, vì cả hai chỉ phụ thuộc can và chi năm sinh, hoàn toàn không phụ thuộc thế Tử Vi. Nhưng chính tinh ở Tuất đổi từ Thái Âm sang Cự Môn. Cùng một thế Hổ đội hòm sắt mà nghĩa khác hẳn: từ hồ sơ thầm lặng thành nghề dùng lời, hợp luật sư, phát ngôn, tranh biện, và cũng dễ vướng thị phi hơn.

Ba trường hợp trên cho thấy đọc Tấu Thư mà bỏ qua can năm, chi năm, giới tính và thế Tử Vi là mới đọc được một phần tư. Muốn biết Tấu Thư của chính mình đứng ở cung chức nào, có gặp Bạch Hổ không và chịu hóa gì, quý vị hãy an lá số Tử Vi tại đây rồi đối chiếu với ba bước ở trên.

12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Tấu Thư không phải sao cần trấn yểm. Nó là một công cụ, và mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: giữ. Cái mạnh của sao này là giấy trắng mực đen, cái yếu của nó cũng là giấy trắng mực đen. Người biết giữ giấy tờ thì sao này nuôi cả đời; người cẩu thả với giấy tờ thì chính sao này mang phiền tới.

Ba thói quen làm được ngay

Kinh nghiệm Một, lập một chỗ cất giấy tờ cố định, có bản giấy và bản chụp, sắp theo năm. Nghe rất tầm thường nhưng đây là việc đổi đời của nhiều khách có Tấu Thư nổi bật. Hai, đọc hết trước khi ký, nhất là phụ lục và điều khoản gia hạn. Quan Phủ luôn ở đối cung Tấu Thư, nghĩa là cấu trúc đã cảnh báo sẵn rằng cái giá của một dòng bỏ sót thường đắt hơn tưởng. Ba, không đứng tên hộ và không ký bảo lãnh cho ai, dù thân tới đâu; đây là chỗ sinh chuyện nhiều nhất của người có sao này, nhất là khi Tấu Thư hoặc cung Nô Bộc có Kỵ.

Cho sao văn thư một nghề

Suy luận Việc hiệu quả nhất là đưa cái tỉ mỉ ấy vào nghề nghiệp: pháp chế, kiểm toán, thẩm định, biên tập, hành chính nhân sự, quản lý dự án, giảng dạy. Ngược lại, việc phải quyết nhanh bằng cảm tính, không quy trình, không văn bản, là loại việc làm người này khổ mà không giỏi lên được.

Khi Tấu Thư gặp Kỵ, Tuần Triệt hoặc Không Kiếp

Suy luận Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là làm chậm một nhịp và nhờ người soát. Gặp Hóa Kỵ thì mọi văn bản quan trọng đều nên có người thứ hai đọc lại trước khi ký. Gặp Tuần Triệt thì đừng sốt ruột khi hồ sơ bị treo, hãy chuẩn bị đủ bộ rồi nộp lại đúng cửa, vì Triệt chặn chứ không hủy. Gặp Không Kiếp thì việc quan trọng nhất là sao lưu: bản gốc cất một nơi, bản chụp cất một nơi khác.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc như giữ bàn làm việc gọn, có một ngăn riêng cho giấy tờ quan trọng, đủ ánh sáng khi đọc để đỡ mỏi mắt, đặt giờ ngừng làm việc để đầu được nghỉ, đều thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí. Đây không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực bản thân và cũng không sửa được lá số. Ai nói chỉ cần đặt một vật lên bàn là thi đâu đỗ đó thì quý vị nên dè chừng.

Kinh nghiệm Lời cuối: một tờ giấy đúng lúc đáng giá hơn mười lời hứa. Sao chỉ cho biết đời mình đi qua giấy tờ, viết đúng và giữ kỹ là việc của người.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc mà trang này thật sự dẫn, không lấy lại số liệu thứ cấp chưa kiểm chứng. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, đã kiểm bằng máy nhưng chưa đối chiếu đủ ca thật.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục vòng Bác Sĩ: Tấu Thư gắn với việc tấu sớ và văn thư trình lên trên, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa; Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung thành thế Hổ đội hòm sắt, lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị và quyền thế.
  • Phép an vòng Bác Sĩ theo sao Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ, theo bảng an sao chuẩn của khoa Tử Vi Đẩu Số; thứ tự mười hai sao Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Phép an Bạch Hổ theo vòng Thái Tuế, đếm theo địa chi năm sinh.
  • Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu qua đủ mười tuổi can nhân hai chiều đếm: Tấu Thư tới đủ mười hai cung; khoảng cách với Lộc Tồn chỉ nhận năm và bảy nên không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu; khi đếm thuận thì tam hợp Kình Dương và xung chiếu Đà La, khi đếm nghịch thì đảo lại; luôn xung chiếu Quan Phủ; luôn tam hợp Lực Sĩ và Đại Hao; luôn bị Tướng Quân và Phi Liêm giáp hai bên. Riêng thế gặp Bạch Hổ đã chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới, tức một trăm hai mươi tổ hợp, và chỉ 12 tổ hợp cho kết quả đồng cung; danh sách đầy đủ in trong bài.
  • Ghi chú về phú: ngoài lời chép về thế gặp Bạch Hổ, thư tịch mà trang này dẫn không lập câu phú riêng cho Tấu Thư, cũng không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung cho sao này. Vì vậy bài không trích câu phú nào khác và không dựng bảng sáng tối.

Lưu ý về tên trùng và dị bản: tên một số sao trong vòng Bác Sĩ trùng hoặc gần trùng với sao của vòng khác, dễ gây lẫn khi tra cứu. Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, tức sao luôn xung chiếu Tấu Thư, khác Quan Phù của vòng Thái Tuế; hai sao viết gần giống nhau nhưng an theo hai tham số khác nhau, một theo can năm sinh, một theo chi năm sinh. Tương tự, Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ khác Trực Phù, và Đại Hao của vòng Bác Sĩ khác sao Tuế Phá mà một số sách cũng gọi là Đại Hao. Khi tra sách hoặc tra trang mạng, xin nhìn kỹ tác giả đang nói tới vòng nào.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên phần Đặc Tính Các Sao, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao, vị trí trong vòng Bác Sĩ, thế gặp Bạch Hổ và các bảng lưu niên thì kiểm bằng thuật toán an sao của trang, chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Tấu Thư

Tấu Thư là sao thứ sáu của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, gắn với văn thư tấu sớ. Đây là sao thiên về văn, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa.

Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung tạo thế Hổ đội hòm sắt, lại hóa lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị và quyền thế. Đây là một thế hay của hai sao vốn khác tính chất.

Tấu Thư đứng thứ sáu trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.

Trong lưu niên, cung gặp Tấu Thư thường lợi cho thi cử, hồ sơ, giấy tờ, hợp đồng và các việc cần văn bản, là sao báo điềm thuận cho việc chữ nghĩa.

Không, bằng bất cứ đường nào. Tấu Thư đứng thứ sáu trong vòng Bác Sĩ, cách Bác Sĩ năm nhịp, mà Bác Sĩ luôn đóng đúng cung Lộc Tồn. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều đếm thì khoảng cách giữa Tấu Thư và Lộc Tồn chỉ nhận năm hoặc bảy cung; cả hai giá trị đều không phải đồng cung, không phải tam hợp bốn tám cung, cũng không phải xung chiếu sáu cung.

Vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước, mà Tấu Thư thì cách Lộc Tồn năm cung khi đếm thuận. Khi ấy Tấu Thư cách Kình Dương bốn cung nên tam hợp, cách Đà La sáu cung nên xung chiếu. Người đếm nghịch thì đảo lại, xung Kình Dương và tam hợp Đà La. Không có trường hợp nào Tấu Thư thoát được cả hai sao ấy, và cũng không có trường hợp nào đồng cung với chúng.

Tấu Thư an theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch, còn Bạch Hổ an theo địa chi năm sinh, nên hai sao chỉ đồng cung ở một số tuổi. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới, tức một trăm hai mươi tổ hợp, thì chỉ mười hai tổ hợp cho kết quả đồng cung, đúng một phần mười. Bài viết in đủ danh sách mười hai tổ hợp ấy trong mục vị trí của Tấu Thư trong vòng Bác Sĩ.

Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm có một bản lưu: lấy can của năm đang xem để định lưu Lộc Tồn, rồi đếm năm nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó thì ra lưu Tấu Thư. Đây là lý do người ta chọn được năm thuận cho việc thi cử và giấy tờ. Vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh, giờ sinh thì không có bản lưu.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.