Sao Đại Hao trong Tử Vi Đẩu Số
121 Sao Tử Vi Đẩu Số

Sao Đại Hao

Sao thứ mười của vòng Bác Sĩ. Đại Hao chủ sự hao tổn lớn, phá tán, mất mát đáng kể, là bại tinh nặng hơn Tiểu Hao, cần đề phòng.

Hành HỏaVòng Bác SĩHao tổn lớn, phá tánTheo Lộc Tồn
大耗Dà Hào
Tên sao: Đại Hao
Ngũ hành: Hỏa
Nhóm: Vòng Bác Sĩ
Cách an: Theo sao Lộc Tồn
Cai quản: hao tổn lớn, phá tán, ly tán
Tính chất: Hao tổn lớn, phá tán
Mỗi nhận định trong bài gắn thẻ cấp bằng chứng: Kinh văncó trong thư tịch gốc Kinh nghiệmThầy đúc kết từ lá số thật Suy luậnrút từ nguyên lý, chưa kiểm bằng ca thật

1 Sao Đại Hao là gì

Một sao trong vòng Bác SĩẢnh minh họa cập nhật sau Sao Đại Hao trong Tử Vi Đẩu Số
Một sao trong vòng Bác Sĩ

Đại Hao là sao thứ mười của vòng Bác Sĩ, đi cặp với Tiểu Hao nhưng ở mức nặng hơn. Đây là một bại tinh, chủ sự hao tổn lớn, phá tán, mất mát đáng kể về tài lộc và sự ly tán, xa cách.

2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Kinh văn Đại Hao không an theo chi năm, không theo tháng, không theo giờ, cũng không theo vòng Tử Vi. Nó an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo thiên can năm sinh. Muốn biết Đại Hao của mình ở đâu, quý vị chỉ cần hai dữ kiện: can năm sinh và chiều đếm. Chiều đếm lấy theo âm dương của can năm cùng với giới tính: dương nam và âm nữ thì đếm thuận, âm nam và dương nữ thì đếm nghịch. Bác Sĩ luôn ngồi đúng cung Lộc Tồn, rồi từ đó đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, rồi mới tới Đại Hao ở bước thứ mười.

Suy luận Vì bước thứ mười tính từ Lộc Tồn nên khoảng cách giữa Đại Hao và Lộc Tồn là một hằng số. Đếm thuận thì Đại Hao đứng sau Lộc Tồn chín cung, tức là lùi lại ba cung; đếm nghịch thì Đại Hao tiến lên ba cung. Cả hai chiều đều cho cùng một con số ba. Ba cung là một khoảng cách lẻ, mà mọi thế chiếu trong Tử Vi đều là số chẵn: đồng cung là không, tam hợp là bốn hoặc tám, xung chiếu là sáu. Số lẻ không bao giờ trùng số chẵn. Từ đó rút ra một điều mà nhiều người luận sai suốt: Đại Hao vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu với Lộc Tồn. Hai sao ấy sinh ra từ cùng một gốc mà cả đời không nhìn mặt nhau trong bộ khung tam phương tứ chính.

Bảng dưới đây in đủ mười can, cả hai chiều, kèm cột đắc hãm theo Tân Biên để quý vị tự tra.

Vị trí Lộc Tồn, Đại Hao và Tiểu Hao theo mười thiên can năm sinh, hai chiều thuận nghịch
Tuổi canLộc Tồn tạiĐại Hao khi đếm thuậnTiểu Hao khi đếm thuậnĐại Hao khi đếm nghịchĐại Hao đắc hay hãm
GiápDầnHợiTỵTỵHãm địa
ẤtMãoNgọNgọHãm địa
BínhTỵDầnThânThânĐắc địa
ĐinhNgọMãoDậuDậuĐắc địa
MậuTỵDầnThânThânĐắc địa
KỷNgọMãoDậuDậuĐắc địa
CanhThânTỵHợiHợiHãm địa
TânDậuNgọHãm địa
NhâmHợiThânDầnDầnĐắc địa
QuýDậuMãoMãoĐắc địa

Sáu điều bất biến của Đại Hao

  1. Đại Hao và Tiểu Hao luôn xung chiếu nhau, không bao giờ đồng cung. Tiểu Hao ở bước thứ tư, Đại Hao ở bước thứ mười, cách nhau đúng sáu cung, mà sáu cung là thế xung chiếu; con số ấy giữ nguyên ở cả mười can và cả hai chiều đếm. Cho nên câu "Song Hao đồng cung" là câu an sai lá số. Song Hao chỉ có một thế duy nhất, là đứng hai đầu một trục.
  2. Đại Hao không bao giờ đóng bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn vốn tránh tứ mộ, Đại Hao cách Lộc Tồn ba cung nên tránh theo, chỉ rơi vào tám cung Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Ai luận Đại Hao tại Thìn hay tại Mùi là đã an nhầm sao.
  3. Đại Hao không bao giờ ngồi chung cung với Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Ba sao ấy chiếm ba cung liền nhau quanh Lộc Tồn, còn Đại Hao đứng cách ra ba cung. Cho nên trên bất kỳ lá số nào, cụm Lộc Kình Đà và Đại Hao là hai điểm rời.
  4. Nhưng Đại Hao luôn tam hợp với một trong hai sát tinh ấy. Đếm thuận thì Đại Hao cách Kình Dương tám cung, tức tam hợp Kình Dương. Đếm nghịch thì Đại Hao cách Đà La bốn cung, tức tam hợp Đà La. Không có ngoại lệ nào trong mười can. Nghĩa là trong tam phương của Đại Hao luôn có sẵn một sát tinh của bộ Lộc Tồn, dương nam âm nữ thì gặp Kình, âm nam dương nữ thì gặp Đà.
  5. Đại Hao luôn bị Bệnh Phù và Phục Binh giáp hai bên. Bệnh Phù ở bước trước, Phục Binh ở bước sau, đổi chiều đếm chỉ đổi bên trái phải. Một thế giáp cố định mà không sách nào nêu rõ: một bên hao thân, một bên kẻ giấu mặt, ở giữa hao của.
  6. Không có chính tinh nào kiêng Đại Hao theo nghĩa cấu trúc. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung trong tám cung nói trên đều ra đủ mười bốn chính tinh, kể cả Tử Vi và Thiên Phủ.

Một phát hiện nhỏ về đắc hãm mà bảng an sao chỉ ra

Suy luận Tân Biên chép Đại Hao và Tiểu Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Đem điều kiện ấy đối chiếu với bảng vị trí thì ra một kết quả gọn tới mức bất ngờ. Đại Hao đắc địa với sáu tuổi can là Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, và hãm địa với bốn tuổi can là Giáp, Ất, Canh, Tân. Đáng nói là kết quả ấy không đổi khi đổi chiều đếm. Người tuổi Bính dù là dương nam đếm thuận hay dương nữ đếm nghịch thì Đại Hao vẫn rơi vào cung đắc, chỉ khác là rơi vào Dần hay rơi vào Thân. Nói cách khác, độ đắc hãm của Đại Hao do can năm sinh quyết định trọn vẹn, không dính gì tới giới tính.

Suy luận Hệ quả thứ hai còn gọn hơn: Tiểu Hao luôn ở cung xung chiếu, mà Dần xung Thân, Mão xung Dậu, nên Song Hao cùng đắc hoặc cùng hãm, không bao giờ một sao đắc một sao hãm. Điều này Thầy không tìm thấy trong sách nào, chỉ rút ra khi cho máy chạy đủ mười can hai chiều, nên xin để nguyên thẻ Suy luận.

3 Cách An Theo Lộc Tồn, Nói Gọn Trước Khi Đi Sâu

Đại Hao an theo Lộc TồnẢnh minh họa cập nhật sau Cách an và vị trí sao Đại Hao
Đại Hao an theo Lộc Tồn

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.

Trong vòng mười hai sao, Đại Hao giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Đại Hao.

4 Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Của Đại Hao

Đại Hao chủ hao tổn lớn, phá tánẢnh minh họa cập nhật sau Đặc tính và ý nghĩa của Đại Hao
Đại Hao chủ hao tổn lớn, phá tán

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Đại Hao và Tiểu Hao là bại tinh, đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách. Đại Hao là mức nặng: phá tán lớn, mất mát đáng kể, hơn là hao vặt như Tiểu Hao.

Ở cung Tài, Điền, Đại Hao nhắc đề phòng phá tài, thất thoát lớn. Là bại tinh, nó cần chính tinh sáng và Lộc để bù; gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ thì phá tán rõ.

5 Đại Hao Trong Vòng Bác Sĩ: Vị Trí Thứ Mười

Kinh văn Vòng Bác Sĩ là một trong bốn vòng phụ tinh lớn của Tử Vi Đẩu Số, bên cạnh vòng Thái Tuế đếm theo chi năm, vòng Tràng Sinh đếm theo cục, và vòng Thần Sát đếm theo tam hợp chi năm. Riêng vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn, nghĩa là gián tiếp đếm theo can năm sinh. Mười hai sao của vòng, theo đúng thứ tự, là: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Mười hai sao rải đủ mười hai cung, mỗi cung đúng một sao, không cung nào trống, không cung nào hai sao. Vì thế trên bất kỳ lá số nào cũng có đúng một cung mang Đại Hao.

Suy luận Vòng này khác vòng Thái Tuế ở một điểm: nó có chiều. Vòng Thái Tuế luôn đếm thuận cho mọi người, còn vòng Bác Sĩ thì dương nam âm nữ đếm thuận, âm nam dương nữ đếm nghịch. Hai người sinh cùng năm mà khác giới tính sẽ có Bác Sĩ ở cùng một cung nhưng Đại Hao ở hai cung đối xứng qua trục Lộc Tồn. Đây là chỗ dễ an nhầm nhất, cũng là lý do phải hỏi giới tính trước khi đếm.

Ai đứng trước, ai đứng sau, ai chiếu về

Suy luận Vì mười hai sao xếp liền nhau mỗi sao một cung, mọi quan hệ trong vòng đều là hằng số tính được, không phụ thuộc tuổi. Với Đại Hao ở bước thứ mười, kết quả như sau, đã kiểm bằng thuật toán:

  • Đứng ngay trước Đại Hao là Bệnh Phù, bước thứ chín, sao chủ đau ốm vặt và sự uể oải.
  • Đứng ngay sau Đại Hao là Phục Binh, bước thứ mười một, sao chủ kẻ giấu mặt và sự cản ngầm.
  • Ở cung xung chiếu Đại Hao luôn là Tiểu Hao, bước thứ tư, sao chủ hao vặt. Đây là quan hệ cứng nhất của cả vòng.
  • Trong tam hợp của Đại Hao luôn có Lực Sĩ và Tấu Thư, bước thứ hai và thứ sáu, một sao chủ sức vóc gắng gỏi, một sao chủ giấy tờ văn thư. Hai sao ấy chiếu về ở mọi lá số.
  • Bác Sĩ và Lộc Tồn không bao giờ vào tam phương tứ chính của Đại Hao, vì khoảng cách ba cung.

Bảng dưới đây in trọn mười hai sao vòng Bác Sĩ theo mười tuổi can, tính theo chiều thuận. Người đếm nghịch thì lấy đối xứng qua cung Lộc Tồn.

Vị trí mười hai sao vòng Bác Sĩ theo từng tuổi can năm sinh, tính theo chiều thuận
Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận)Bác SĩLực SĩThanh LongTiểu HaoTướng QuânTấu ThưPhi LiêmHỷ ThầnBệnh PhùĐại HaoPhục BinhQuan Phủ
GiápDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửu
ẤtMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDần
BínhTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
ĐinhNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
MậuTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìn
KỷNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵ
CanhThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùi
TânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThân
NhâmHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuất
QuýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Đại Hao không nằm trong bảng Tứ Hóa

Kinh văn Nói rõ để khỏi mất công tra: không tuổi can nào làm Đại Hao hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ động tới mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở bảng Bắc phái tuổi Nhâm. Cả mười hai sao vòng Bác Sĩ đều đứng ngoài.

Suy luận Nhưng đứng ngoài Tứ Hóa không có nghĩa là không chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa. Đại Hao là sao rút: nó lấy đi một phần của thứ đang có mặt trong cung. Cho nên chính tinh đồng cung đang hóa gì sẽ quyết định phần lớn cách đọc. Bốn trường hợp:

  • Hóa Lộc đồng cung. Lộc là nguồn chảy vào, Đại Hao là chỗ chảy ra, cùng một cung thành thế tiền vào cửa trước ra cửa sau: kiếm được thật mà cuối kỳ không dồn được bao nhiêu. Kinh nghiệm Thầy hay gặp tổ hợp này ở người buôn bán vòng quay lớn. Đây không phải thế nghèo, mà là thế phải tự đặt kỷ luật cất tiền.
  • Hóa Quyền đồng cung. Quyền là nắm và mở rộng, Đại Hao là tán. Người ấy dám chi khoản lớn để lấy vị thế; được thì được lớn, hụt thì hụt lớn. Đây là tổ hợp cần nhất một cố vấn dám cản.
  • Hóa Khoa đồng cung. Khoa là danh và là sự minh bạch, đây là hóa hợp với Đại Hao nhất vì nó biến cái hao thành khoản chi có sổ sách: chi cho học hành, cho bằng cấp, cho thương hiệu.
  • Hóa Kỵ đồng cung. Đây là thế nặng nhất mà cấu trúc cho phép: Kỵ là vướng, Đại Hao là mất, chồng nhau thường ra chuyện tiền bạc dây dưa, cho vay không đòi được, một khoản chi bắt buộc kéo dài. Nhưng đó vẫn chỉ là một cung, phải xem chính tinh sáng tối và tam phương có gì đỡ rồi mới định nặng nhẹ.

Vì sao đọc Đại Hao thì phải đọc cả vòng

Suy luận Một sao lẻ của vòng Bác Sĩ tự nó chỉ là một nhãn dán; cái làm nên nghĩa là vị trí của nhãn ấy trong chuỗi mười hai bước. Chuỗi kể một câu chuyện có đầu có cuối: khởi từ Bác Sĩ ngồi cùng Lộc Tồn là chỗ có kho, qua Lực Sĩ Thanh Long là gắng sức và gặp mừng, tới Tiểu Hao là hao vặt, rồi Tướng Quân Tấu Thư Phi Liêm Hỷ Thần là quãng làm việc và giao tế, tới Bệnh Phù là mỏi mệt, rồi Đại Hao là mất mát lớn, Phục Binh là kẻ ngầm, khép lại bằng Quan Phủ là cửa quan. Đại Hao nằm ở đoạn trả giá của chuỗi. Đọc nó mà bỏ chuỗi thì chỉ thấy chữ hao, không thấy vì sao hao.

6 Đại Hao Tại Bốn Cung Hay Được Hỏi Nhất

Đại Hao đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.

CungÝ nghĩa khi có Đại Hao
MệnhTính phóng khoáng, dễ tiêu lớn, cần học giữ.
Tài BạchĐề phòng phá tài, thất thoát lớn, đầu tư hụt.
Điền TrạchNhà đất dễ hao, dễ bán đi.
Phu ThêQuan hệ dễ ly tán, xa cách.

7 Đại Hao An Tại Mười Hai Cung Chức

Đại Hao là phụ tinh, nghĩa của nó đổi theo cung nó đóng nhiều hơn theo bản thân nó. Cột giữa là khi Đại Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu, tức các tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, hoặc khi cung ấy có chính tinh miếu vượng đỡ. Cột phải là khi Đại Hao hãm địa tại Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi, tức các tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân, hoặc gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ, sát tinh.

Ý nghĩa của sao Đại Hao tại từng cung trong mười hai cung chức, phân theo đắc địa và hãm địa
CungĐại Hao đắc địa hoặc gặp cátĐại Hao hãm địa hoặc gặp hung
MệnhTính rộng rãi, tiêu pha có gan, dám bỏ cái nhỏ để lấy cái lớn. Người sống thoáng, không bủn xỉn, được lòng người vì không tính toán vặt. Hợp nghề phải chi trước thu sau.Tiêu trước nghĩ sau, tiền vừa vào tay đã có chỗ đi, khó giữ của riêng. Hay xót của khi nhìn lại nhưng lần sau vẫn vậy. Cần một cuốn sổ chi tiêu hơn cần một câu bùa.
Huynh ĐệAnh em giúp nhau bằng tiền một cách sòng phẳng, cho vay có trả, tốn kém cho nhau mà tình vẫn còn.Dễ mất tiền vì anh em, vì đứng tên hoặc bảo lãnh. Chung vốn với người nhà là chỗ cần cẩn thận nhất.
Phu ThêHai vợ chồng đều là người tiêu rộng, hợp nhau ở chỗ không so đo. Chi tiêu cho gia đình lớn nhưng cùng đồng thuận nên không sinh chuyện.Tiền bạc là đề tài hay cãi nhau nhất trong nhà. Ngoài ra Tân Biên còn ghi Đại Hao chủ ly tán xa cách, ở cung này nên hiểu là xa nhau về mặt gần gũi: mỗi người một việc, một nơi, ít có thời gian chung, chứ không phải bản án chia ly.
Tử TứcChịu đầu tư cho con, chi cho học hành và sức khỏe của con không tiếc, đồng tiền ấy có chỗ dùng.Nuôi con tốn hơn dự tính nhiều, hoặc phải chu cấp dài. Cũng là cung của dự án bỏ dở, đầu tư vào ý tưởng mà không thu lại.
Tài BạchTiền vào lớn ra cũng lớn, hợp với nghề vòng quay nhanh: buôn bán, phân phối, thầu khoán, nghề mùa vụ. Biết dùng đồng tiền để đẻ ra đồng tiền, không sợ bỏ vốn.Đây là cung nặng nhất của Đại Hao. Hay có khoản thất thoát ngoài dự tính, đầu tư hụt, hàng tồn, nợ khó đòi. Kỵ nhất là vay để đánh một ván lớn. Nên tách bạch tiền kinh doanh với tiền nhà, và giữ một quỹ dự phòng cố định.
Tật ÁchHao thể lực do làm nhiều, nghỉ là hồi; chi cho việc chăm sóc sức khỏe thì thấy hiệu quả rõ.Hao khí lực, dễ suy nhược, gầy sút, mất ngủ. Có Bệnh Phù ở cung kề nên đây là sức khỏe hao mòn từ từ hơn là bệnh cấp, kèm khoản chi lớn cho bệnh viện.
Thiên DiRa ngoài tiêu rộng mà được việc, chi cho quan hệ và đi lại thì thu về cơ hội.Ra ngoài hay tốn kém oan, dễ mất đồ, mất giấy tờ khi đi xa, đi nhiều mà không dồn được kết quả.
Nô BộcRộng rãi với bạn bè và cấp dưới nên được người theo, đãi người có chừng mực mà vẫn giữ lòng.Tốn kém vì bạn, bao đồng, hay đứng ra lo việc chung rồi tự bù. Có Phục Binh ở cung kề nên còn phải xem thất thoát do người trong nhóm.
Quan LộcLàm việc lớn, dám chi để mở rộng, hợp vị trí quản trị ngân sách lớn, làm dự án, làm nghề tiêu tiền để ra kết quả như tiếp thị, sản xuất, xây dựng.Nghề hay hao tổn: chi phí đội lên, dự án dở dang, hay phải bỏ dở rồi làm lại. Cũng hay gặp ở người đổi việc nhiều, mỗi lần đổi là một lần mất công tích lũy.
Điền TrạchNhà cửa có ra có vào, mua bán bất động sản là nghề, đổi nhà là để lên đời chứ không phải vì túng.Nhà đất khó giữ, dễ phải bán đi, hoặc nhà hay phải sửa chữa tốn kém. Tài sản cố định là chỗ dễ hụt nhất. Nên cẩn thận giấy tờ đất và tránh mua chung.
Phúc ĐứcSống thoáng, không chấp, biết cho đi. Người có phúc phần ở chỗ không tiếc, và thường được hưởng lại từ chỗ khác.Trong lòng hay bất an về chuyện được mất, tiếc của, nghĩ nhiều về những gì đã mất. Đây là cái hao của tâm chứ không phải của cải. Nếu Tiểu Hao xung về từ Tài Bạch thì cái lo tiền bạc đeo bám dai.
Phụ MẫuSẵn lòng chi cho cha mẹ, phụng dưỡng chu đáo, coi đó là việc phải làm chứ không tính.Tốn kém vì cha mẹ, nhất là thuốc men tuổi già; hoặc gia sản bề trên hao đi trước khi tới tay. Cũng là cung của giấy tờ hay thất lạc, hồ sơ làm đi làm lại.

Kinh nghiệm: mẹo đọc bảng này

Kinh nghiệm Ba mẹo Thầy vẫn dùng, xin chép lại cho quý vị.

  1. Đọc theo cặp, đừng đọc lẻ. Đại Hao ở cung nào thì Tiểu Hao ở ngay cung đối diện, nên hai cung ấy phải đọc cùng lúc. Đại Hao tại Tài Bạch thì Tiểu Hao tại Phúc Đức: tiền hao ngoài đời kéo theo cái lo trong lòng. Đại Hao tại Điền Trạch thì Tiểu Hao tại Tử Tức: nhà cửa hao thì thường vì con cái. Cặp cung nào cũng có một câu chuyện như vậy.
  2. Hỏi cung ấy có Lộc không, chứ đừng hỏi có Lộc Tồn không. Lộc Tồn về mặt cấu trúc không thể ngồi cùng Đại Hao, nhưng Hóa Lộc thì được, vì Hóa Lộc đi theo chính tinh. Một cung có Đại Hao mà chính tinh hóa Lộc là cung có vào có ra; một cung có Đại Hao mà không một chút Lộc nào là cung chỉ có ra.

8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Đại Hao là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, còn giáp hai bên là thế bao vây. Riêng với Đại Hao nhớ thêm ba hằng số đã chứng ở trên: Tiểu Hao vĩnh viễn xung chiếu nên lực của nó không bao giờ lên tới mức đồng cung; Lộc Tồn vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính nên đừng chờ nó tới cứu; Bệnh Phù và Phục Binh vĩnh viễn giáp hai bên nên thế bao vây ấy là mặc định.

Đại Hao đỡ được khi gặp

  • Chính tinh hóa Lộc (đồng cung là tốt nhất, tam hợp chiếu thì đỡ một phần): có nguồn chảy vào bù cho chỗ chảy ra. Đây là cách bù duy nhất đặt được đúng vào cung Đại Hao, vì Lộc Tồn thì không thể.
  • Cung đắc địa Dần, Thân, Mão, Dậu (chính vị thế của sao): Kinh văn Tân Biên cho đây là chỗ Song Hao đắc, cái hoang hủy được tiết chế. Ứng với sáu tuổi can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý.
  • Chính tinh miếu vượng đồng cung, nhất là Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thái Dương sáng: có nền vững thì hao mà không sụp, tiêu mà vẫn còn gốc.
  • Chính tinh hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): biến cái hao thành khoản chi có sổ sách, chi cho học hành và danh tiếng.
  • Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): giảm phần hoang hủy, cho người ta biết dừng lại đúng lúc.
  • Thiên Phủ hoặc Lộc Tồn ở cung Điền Trạch (đứng cung khác, không cùng cung Đại Hao): cách giữ của đúng cấu trúc, vì Điền Trạch là kho của lá số.

Đại Hao nặng thêm khi gặp

  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế đó): Không Kiếp là mất trắng, Đại Hao là hao dần. Hai thứ cùng cung thì tiền không những ra mà còn ra không dấu vết. Đây là tổ hợp đáng ngại nhất ở cung Tài Bạch.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung: hao mà còn vướng, mất mà còn dây dưa. Nếu Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì nhẹ hơn hẳn một bậc.
  • Kình Dương khi đếm thuận, Đà La khi đếm nghịch (luôn ở thế tam hợp, không bao giờ đồng cung): sát tinh mặc định trong tam phương của Đại Hao. Lực vừa phải nhưng không bao giờ mất, nên phải tính vào ngay từ đầu.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung mạnh nhất): hao gấp, hao đột ngột, kiểu tai nạn hoặc hỏng hóc bất ngờ chứ không phải hao dần.
  • Tuần, Triệt đóng ngay cung Đại Hao: Suy luận sách không nói rõ; Thầy quan sát thấy thường làm cái hao chậm lại và tản ra chứ không xóa, nên để thẻ Suy luận.
  • Bệnh Phù và Phục Binh giáp hai bên (mặc định trên mọi lá số): tự nó không đáng ngại, nhưng hai cung kề mà có thêm sát tinh thì cụm ba cung thành một vùng trũng cần xem kỹ.

Kinh nghiệm Một câu để nhớ khi tra hai cột trên: với Đại Hao, hỏi sao ấy đứng ở đâu quan trọng hơn hỏi sao ấy là ai. Cùng là Lộc Tồn, nó không bao giờ có thể ngồi chung cung với Đại Hao, nên câu "Đại Hao gặp Lộc Tồn thì bù được" chỉ đúng theo nghĩa Lộc Tồn đứng ở một cung khác trong lá số, chứ không phải một thế sao. Cùng là Hóa Lộc, đồng cung thì thật sự đỡ, tam hợp chiếu thì chỉ đỡ một phần. Nặng nhẹ nằm ở vị thế, không nằm ở danh sách.

9 Đại Hao Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Đại Hao tĩnh: nó nằm ở đâu, đi cùng ai. Nhưng đời người là dòng chảy, mười năm đại vận đổi một cung, mỗi năm lưu niên đổi một cung. Đây là chỗ Đại Hao động, và cũng là chỗ khách hỏi nhiều nhất: năm nay tôi có mất tiền không.

Đại Hao có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ

Suy luận Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo can. Cho nên khi xem một năm, người ta lấy can của năm ấy mà an lại một bộ vòng Bác Sĩ mới, gọi là lưu Bác Sĩ, trong đó có lưu Đại Hao. Đây là điểm khác hẳn các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Thiên Hình, Thiên Riêu, Văn Xương, Văn Khúc: những sao ấy không có bản lưu vì tháng và giờ sinh của một người không đổi. Vòng Tràng Sinh an theo cục cũng không có bản lưu niên theo nghĩa này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ thì có, vì chi năm và can năm của năm đang xem thì mỗi năm một khác.

Suy luận Cách tính lưu Đại Hao rất gọn: lấy can của năm xem, tra ra lưu Lộc Tồn, rồi đếm đúng mười bước như trên. Ví dụ năm 2026 là năm Bính Ngọ, can Bính, lưu Lộc Tồn tại Tỵ, nên lưu Đại Hao tại Dần nếu đếm thuận và tại Thân nếu đếm nghịch, kèm theo lưu Tiểu Hao ở cung đối diện. Năm 2027 Đinh Mùi, can Đinh, lưu Lộc Tồn tại Ngọ, lưu Đại Hao tại Mão hoặc tại Dậu. Năm 2028 Mậu Thân thì lưu Lộc Tồn lại về Tỵ như năm Bính. Trên trang an lá số, chọn năm xem là bảng lưu tự hiện ra, không phải tính tay.

Kinh nghiệm Điều đáng lưu ý nhất về bản lưu: năm nặng không phải năm lưu Đại Hao đi qua bất kỳ cung nào, mà là năm lưu Đại Hao chồng đúng lên Đại Hao gốc, hoặc chồng lên cung Tài Bạch, cung Điền Trạch của lá số. Hai lớp Đại Hao chồng nhau ở một cung là dấu hiệu rõ nhất mà Thầy dùng để nhắc khách giữ tiền trong năm ấy. Còn lưu Đại Hao rơi vào một cung bình thường thì chỉ là một nét nhỏ, không đáng để mất ngủ.

Đại vận đi vào cung có Đại Hao

Kinh nghiệm Mười năm đại vận rơi đúng cung có Đại Hao gốc là mười năm dòng tiền chảy mạnh cả hai chiều. Biểu hiện hay gặp, xếp theo thứ tự thường thấy: thu nhập tăng nhưng chi phí tăng nhanh hơn; có một hai khoản chi lớn ngoài kế hoạch, thường là nhà cửa, chữa bệnh, hoặc một quyết định đầu tư; và một cảm giác chung là làm nhiều mà cuối vận nhìn lại không dồn được bao nhiêu.

Kinh nghiệm Nhưng phải phân hai hướng. Đại vận Đại Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu, lại có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Lộc đồng cung thường là mười năm mở rộng: dám bỏ vốn, dám thuê người, cái hao ấy là hao đầu tư, nhiều người khởi nghiệp thành công đúng trong loại vận này. Ngược lại, đại vận Đại Hao hãm địa tại Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi, thêm Không Kiếp hoặc Hóa Kỵ là mười năm phải giữ: không vay để đánh lớn, không đứng tên cho ai. Thầy dặn một câu cho loại vận này: cái quan trọng không phải kiếm thêm mà là giữ lại.

Suy luận Một điểm cấu trúc dùng được ngay: vì Tiểu Hao luôn ở cung xung chiếu, đại vận đi vào cung Tiểu Hao cũng là đại vận bị Đại Hao chiếu về và ngược lại. Trong sáu đại vận liền có ít nhất hai vận nằm trên trục Song Hao, biết trước hai vận ấy là biết trước hai quãng đời cần chặt tay hơn.

Các lưu sao chạm vào cung Đại Hao

Suy luận Ngoài lưu Đại Hao của chính nó, cung có Đại Hao gốc còn bị các bộ lưu khác quét qua từng năm. Ba trường hợp đáng ghi:

  • Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La rơi vào cung Đại Hao. Vì hai sao ấy cũng an theo can năm xem, năm nào chúng rơi đúng cung Đại Hao gốc là năm cái hao có thêm phần sắc bén: hao vì tranh chấp, vì hỏng hóc, vì phải cắt bỏ một thứ gì đó.
  • Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ của vòng Thái Tuế rơi vào cung Đại Hao. Năm hay có việc hiếu hỉ, việc gia đình, phải chi cho người khác; cái hao mang màu bổn phận chứ không phải màu mất mát.

10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đại Hao

Đại Hao là một cái tên đáng sợ. Hai chữ ấy đọc lên đã thấy mất mát, nên nó bị gán cho đủ thứ tai họa mà sách chưa từng nói. Mục này Thầy viết kỹ hơn các mục khác, vì với những sao mang tên nặng, việc gỡ hiểu lầm còn quan trọng hơn việc luận thêm.

Hiểu lầm một: Đại Hao là sao báo phá sản

Kinh văn Sách nói gì: Tân Biên xếp Đại Hao và Tiểu Hao vào loại bại tinh, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách, đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Hết. Sách không nói gì: không có câu nào nói Đại Hao chủ phá sản, chủ vỡ nợ. Hoang hủy là bỏ hoang, là để cho hao đi, khác hẳn mất sạch. Suy luận Thêm điều nữa mà cấu trúc chỉ ra: Đại Hao là một trong mười hai sao của một vòng phụ tinh, lá số nào cũng có đúng một cung mang nó, không ai không có. Một thứ mà ai cũng có thì không thể là dấu hiệu của một tai họa hiếm.

Hiểu lầm hai: Đại Hao ở Phu Thê là số ly hôn

Kinh văn Chữ "ly tán, xa cách" trong Tân Biên là nguyên nhân của hiểu lầm này. Nhưng ly tán trong văn cổ nghĩa rộng: xa nhau về không gian, thưa nhau về thời gian, rời rạc trong sinh hoạt. Kinh nghiệm Trên lá số thật, Đại Hao tại Phu Thê hay ứng nhất vào ba việc rất đời thường: hai vợ chồng làm hai ca khác nhau, một người đi làm xa, hoặc chuyện tiền nong trong nhà không rõ ràng nên hay va chạm. Đó là những việc sửa được bằng thói quen chứ không phải bằng chia tay. Muốn nói tới chuyện hôn nhân đứt gãy thì phải hội đủ nhiều tầng: chính tinh ở Phu Thê thế nào, có Không Kiếp hay Hóa Kỵ không, cung Phúc Đức ra sao, đại vận nào chạm tới. Một phụ tinh không phán được chuyện lớn như vậy, và Thầy không cho phép mình phán như vậy.

Hiểu lầm ba: cứ Song Hao là xấu, gặp nhau là hao gấp đôi

Suy luận Đây là chỗ cấu trúc nói rõ nhất. Nhiều lời luận trên mạng viết "Song Hao đồng cung thì hao tổn nhân đôi". Câu ấy về mặt an sao là không thể xảy ra: Đại Hao ở bước thứ mười, Tiểu Hao ở bước thứ tư, hai bước cách nhau đúng sáu cung nên hai sao vĩnh viễn ở hai đầu một trục, không đời nào chung một cung. Đã kiểm đủ mười can và cả hai chiều đếm. Nghĩa là quý vị có thể yên tâm gạch bỏ mọi lời luận nào nói tới Song Hao đồng cung, đó là dấu hiệu người viết chưa từng an lá số.

Kinh văn Ngược lại, có một lối luận cổ ít người biết mà Thầy cho là đáng nhắc: sách xưa nói Song Hao đóng ở Mão, Dậu thì không những không hại mà còn có lợi cho người làm ăn buôn bán, vì đó là thế "chúng thủy triều đông", nước chảy về một chỗ. Hai cung Mão Dậu lại đúng là hai trong bốn cung đắc địa của Song Hao. Đối chiếu bảng an sao thì thế này ứng với ba tuổi can Đinh, Kỷ, Quý, ở cả hai chiều đếm. Đây là dị bản trong lối luận dân gian; Tân Biên không lập thành mục riêng, nên Thầy ghi lại kèm ghi chú, không lấy làm chuẩn.

Hiểu lầm bốn: Đại Hao trong Tử Vi cũng là Đại Hao trong lịch và trong cúng sao

Suy luận Trong lịch cổ và trong một số phép chọn ngày có thần sát tên Đại Hao dùng để kiêng ngày kiêng hướng. Đó là hệ thống khác hẳn, đếm cách khác, dùng vào việc khác. Đại Hao trong Tử Vi Đẩu Số chỉ là bước thứ mười của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, chỉ có nghĩa trong khung mười hai cung. Cũng đừng nhầm với phép cúng sao giải hạn theo Cửu Diệu: Tử Vi Đẩu Số không có phép cúng sao.

Kinh nghiệm Nói cho tận cùng: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra. Tên sao là cái tượng, là một hướng gió. Người có Đại Hao đắc địa ở Tài Bạch mà biết đặt kỷ luật thì cả đời làm ăn lớn; người có Đại Hao hãm mà cứ vay để đánh ván lớn thì mới ra chuyện. Thầy chưa từng, và sẽ không bao giờ, phán một tai họa từ một phụ tinh.

11 Lá Số Minh Họa: Đọc Đại Hao Qua Ba Bước

Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: nam mệnh tuổi can Canh, can dương nên vòng Bác Sĩ đếm thuận, Tử Vi an tại Dậu, Mệnh an tại Dậu. Hình vẽ chính tinh, Tứ Hóa theo can Canh, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Vòng Bác Sĩ hình không vẽ, xin ghi ra để đối chiếu: Lộc Tồn tại Thân nên Bác Sĩ cũng tại Thân, đếm thuận mười bước thì Đại Hao tại Tỵ, Tiểu Hao tại Hợi đối diện, Bệnh Phù tại ThìnPhục Binh tại Ngọ giáp hai bên, Quan Phủ tại Mùi ngồi chung cung Đà La.

Bước một: Đại Hao đóng đâu, đắc hay hãm

Tuổi Canh, đếm thuận, Đại Hao rơi vào cung Tỵ. Tra bảng cung chức thì Tỵ chính là cung Tài Bạch của lá số này. Kinh văn Theo Tân Biên, Đại Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu; Tỵ không nằm trong bốn cung ấy nên đây là Đại Hao hãm địa, lại đóng đúng cung tiền bạc. Đây là vị thế nặng nhất mà một Đại Hao có thể có. Đối diện tại Hợi là Tiểu Hao xung chiếu về, mà Hợi là cung Phúc Đức. Trục Song Hao của người này nằm trên trục Tài Bạch với Phúc Đức: hễ tiền động là lòng động.

Bước hai: đồng cung với ai, chính tinh hóa gì

Cung Tỵ có Vũ Khúc và Phá Quân đồng cung. Tuổi Canh thì Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Khoa, Thiên Tướng hóa Kỵ theo bảng Nam phái đang chạy trên trang. Vậy trong một ô Tỵ có đủ: Vũ Khúc hóa Quyền, Phá Quân, Đại Hao. Vũ Khúc là sao tài chính, Phá Quân là sao phá cũ dựng mới, Quyền là dám nắm dám mở, Đại Hao là dòng chảy ra.

Kinh nghiệm Đọc ra một chân dung rất rõ: người làm ăn tay to, dám bỏ vốn, dám phá đi làm lại, kiếm nhiều mà chi cũng nhiều. Điểm cần giữ nằm ở chỗ Đại Hao đang hãm: cái gan ấy không có phanh cấu trúc đi kèm.

Bước ba: tam phương chiếu gì, đỡ được tới đâu

Tam phương của cung Tài Bạch tại Tỵ gồm Dậu và Sửu. Tại Dậu là cung Mệnh, có Tử Vi và Tham Lang, thêm Kình Dương; tại Sửu là cung Quan Lộc, có Liêm Trinh và Thất Sát. Xung chiếu từ Hợi là cung Phúc Đức, có Thiên Tướng hóa Kỵ cùng Tiểu Hao.

Suy luận Đọc cấu trúc: Kình Dương tại Dậu tam hợp chiếu về, đúng quy tắc đã chứng ở mục hai là người đếm thuận thì Đại Hao luôn tam hợp Kình Dương. Tử Vi ở Mệnh là chỗ đỡ lớn nhất, nhưng đi với Tham Lang lại là thế ham hưởng; Liêm Trinh Thất Sát ở Quan Lộc cho nghề cứng. Đáng chú ý nhất: Thiên Tướng hóa Kỵ xung chiếu về cùng Tiểu Hao, cái lo trong lòng mang màu vướng mắc, hay tiếc chuyện đã chi.

Kinh nghiệm Kết luận: đây không phải người nghèo, ngược lại là người có sức làm ra tiền lớn. Nhưng cả tam phương tứ chính của cung tiền đều là sao động, không một sao tĩnh nào làm cái kho. Lời khuyên cụ thể là tách phần giữ ra khỏi phần làm, để tài sản dài hạn ở chỗ khó động tới.

Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào

  1. Vẫn tuổi Canh nhưng là nữ mệnh. Canh là can dương, dương nữ thì vòng Bác Sĩ đếm nghịch. Lộc Tồn vẫn tại Thân, nhưng Đại Hao chuyển sang Hợi và Tiểu Hao sang Tỵ. Trục Song Hao vẫn là trục Tài Bạch với Phúc Đức, chỉ đảo hai đầu: bây giờ Đại Hao ở Phúc Đức, Tiểu Hao ở Tài Bạch. Đọc ra: cái hao nặng chuyển vào bên trong, thành lo nghĩ và bất an về tiền nhiều hơn là mất tiền thật. Ngoài ra chiều nghịch làm Đại Hao tam hợp Đà La thay vì tam hợp Kình Dương, nên màu của cái hao chuyển từ sắc bén sang dây dưa.
  2. Đổi sang tuổi Nhâm, vẫn nam mệnh đếm thuận. Lộc Tồn chuyển về Hợi, Đại Hao về Thân, mà Thân là một trong bốn cung đắc địa. Cùng một cấu trúc chính tinh, Đại Hao đắc thì cái tiêu rộng trở nên có mục đích, thường ứng vào người biết chi để mở rộng chứ không chi theo hứng. Tuổi Nhâm lại có Vũ Khúc hóa Kỵ thay vì hóa Quyền, nên chuyện tiền bạc đổi màu hẳn: từ dám cầm dám quyết sang vướng víu, phải cẩn thận hợp đồng và nợ.

Ba trường hợp trên cho thấy một điều: cùng một bộ chính tinh, chỉ đổi can năm sinh hoặc đổi giới tính là cả cách đọc chuyển hướng. Muốn biết Đại Hao của mình nằm ở cung nào, đắc hay hãm, đi cùng chính tinh nào, quý vị hãy an lá số Tử Vi tại trang của Thầy, bảng vòng Bác Sĩ và bản lưu từng năm đều hiện sẵn.

12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Kinh nghiệm Đại Hao không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Nó là một nét trong dòng tiền và trong tính cách, và cách hóa giải đúng đắn nhất là đặt cho dòng chảy ấy một cái bờ. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Đại Hao nổi bật, xếp theo thứ tự quan trọng.

Chia ví trước khi cần tới ý chí

Kinh nghiệm Cái hại của Đại Hao không nằm ở chỗ tiêu nhiều, mà ở chỗ tiêu và giữ chung một chỗ. Việc thiết thực nhất là tách hẳn: một tài khoản chi tiêu, một tài khoản vốn làm ăn, một khoản dài hạn khó rút, chuyển tự động ngay khi tiền vào. Làm được đúng việc này thì phần lớn cái gọi là hạn hao tự nó hết.

Ghi lại, vì cái không thấy thì không giữ được

Kinh nghiệm Đại Hao hao theo kiểu rỉ rả hơn kiểu sập một lần, mà rỉ rả thì chỉ sổ sách mới thấy. Một cuốn sổ chi tiêu đơn giản thường có tác dụng lớn hơn mọi vật phẩm phong thủy. Người làm ăn thì chốt sổ theo tháng, đừng theo năm.

Đừng vay để đánh một ván lớn

Kinh nghiệm Đây là lời dặn nặng nhất, dành riêng cho người có Đại Hao hãm địa ở Tài Bạch hoặc Điền Trạch, nhất là khi có thêm Không Kiếp hay Hóa Kỵ. Cấu trúc ấy không cấm làm ăn lớn, nhưng nó rất kỵ đòn bẩy. Làm lớn bằng vốn của mình thì hao rồi gây lại được; làm lớn bằng vốn vay thì một lần hụt là kéo theo nhiều năm.

Cho cái hao một chỗ đáng hao

Suy luận Dòng chảy ra thì không chặn được, chỉ dẫn được. Người có Đại Hao mạnh nếu chủ động dành một phần cố định cho việc học, cho sức khỏe, cho việc giúp người, thì phần hao ngoài ý muốn giảm hẳn: đã có chỗ ra thì nước không tự phá bờ.

Ghi chú về phong thủy bổ trợ: nhiều người hỏi Thầy nên bày gì, đeo gì để chặn Đại Hao. Xin nói thẳng: những gợi ý như giữ nhà cửa gọn gàng, không để chỗ chứa tiền bừa bộn, sửa ngay đồ hỏng và vòi nước rò rỉ, tránh mua sắm lúc mệt hoặc lúc buồn, đều là gợi ý chung có ích cho mọi người, không phải phép trấn riêng cho sao này. Chúng có tác dụng vì chúng tạo thói quen, không phải vì chúng đổi được lá số. Thầy không bán vật phẩm, không nhận cúng giải hạn, và không khuyên ai tiêu tiền để chặn một sao chủ hao tiền.

13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng

Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ cấu trúc an sao, nên coi là giả thuyết để tự kiểm.

  • Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần đặc tính các sao, mục vòng Bác Sĩ và mục Đại Hao Tiểu Hao: hai sao thuộc loại bại tinh, đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách; vòng Bác Sĩ mười hai sao an theo Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ. Đây là sách duy nhất mà trang gốc dẫn cho bài này, và Thầy giữ nguyên phạm vi ấy.
  • Sách không lập phú riêng cho Đại Hao. Trong phần phú của Tân Biên và trong các bản phú lưu hành, không có câu phú nào dành riêng cho Đại Hao như cách có phú cho Tử Vi, Thái Dương hay Kình Đà. Vì vậy bài này không dẫn câu phú nào, và quý vị nếu gặp một trang trích "phú Đại Hao" thì nên hỏi lại nguồn.
  • Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: toàn bộ phần cấu trúc được sinh và đối chiếu bằng chương trình chạy đủ mười thiên can và cả hai chiều thuận nghịch, dùng đúng thuật toán đang chạy trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: Đại Hao ở bước thứ mười của vòng; luôn cách Tiểu Hao đúng sáu cung nên luôn xung chiếu và không bao giờ đồng cung; luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung nên không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu Lộc Tồn; không bao giờ đồng cung Kình Dương hay Đà La, nhưng luôn tam hợp Kình Dương khi đếm thuận và tam hợp Đà La khi đếm nghịch; chỉ rơi vào tám cung Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi; đắc địa với sáu tuổi can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý và hãm với bốn tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân, không đổi theo chiều đếm; Song Hao luôn cùng đắc hoặc cùng hãm; đủ mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung. Lá số minh họa dựng bằng chính thuật toán ấy.
  • Bảng Tứ Hóa dùng trong bài lấy đúng bảng Nam phái đang chạy trên máy chủ của trang. Chỗ nào Bắc phái khác Nam phái, cụ thể là tuổi Canh và tuổi Nhâm, bài có ghi rõ khi cần dùng.

Ghi chú về dị bản: có hai chỗ các bản chép không thống nhất. Thứ nhất là chiều đếm vòng Bác Sĩ: đa số bản chép theo lối dương nam âm nữ đếm thuận, âm nam dương nữ đếm nghịch, và trang an lá số của Thầy theo lối này; một số bản ít gặp cho vòng Bác Sĩ đếm thuận cho tất cả mọi người. Hai lối cho vị trí Đại Hao khác nhau ở người âm nam dương nữ, nên khi đối chiếu với một lá số an ở nơi khác, xin kiểm chiều đếm trước khi kết luận ai đúng ai sai. Thứ hai là lối luận Song Hao tại Mão Dậu thành cách tốt cho người buôn bán: đây là lối luận lưu hành trong dân gian và trong một số bản chép, Tân Biên không lập thành mục riêng, bài này nêu lại kèm ghi chú chứ không lấy làm chuẩn.

Thầy Ưng Khiêm, nhà nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số và Mệnh Lý Đông Phương
Thầy Ưng Khiêm
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, Mệnh Lý Đông Phương

Loạt bài 121 sao Tử Vi của UK MASTER ACADEMY được biên soạn từ thư tịch gốc và đối chiếu với lá số thật; riêng bài này dẫn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, phần đặc tính các sao mục vòng Bác Sĩ, còn toàn bộ phần cấu trúc an sao và vị trí trong vòng thì kiểm bằng thuật toán an sao của trang. Mục tiêu là giúp người đọc phân biệt được đâu là lời sách, đâu là kinh nghiệm, đâu là suy luận, trước khi áp vào lá số của mình.

An lá số Tử Vi của bạn →

14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Đại Hao

Đại Hao là sao thứ mười của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, đi cặp với Tiểu Hao nhưng nặng hơn. Đây là bại tinh, chủ sự hao tổn lớn, phá tán, mất mát đáng kể về tài lộc và sự ly tán xa cách.

Theo Tân Biên, Đại Hao và Tiểu Hao đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu, khi đó cái hung được giảm bớt. Các cung khác thì tính hao tổn rõ hơn.

Đại Hao ở Tài Bạch nhắc đề phòng phá tài, thất thoát lớn, đầu tư hụt. Có Lộc Tồn, Hóa Lộc và chính tinh miếu vượng thì bù lại phần hao; gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ thì phá tán nặng.

Năm gặp Đại Hao ở cung quan trọng nên thận trọng tài chính, tránh đầu tư mạo hiểm, giữ quỹ dự phòng và vun đắp quan hệ, nhất là ở cung Tài và Điền.

Không bao giờ. Trong vòng Bác Sĩ, Tiểu Hao đứng ở bước thứ tư còn Đại Hao ở bước thứ mười, cách nhau đúng sáu cung, mà sáu cung là thế xung chiếu. Khoảng cách ấy giữ nguyên ở cả mười thiên can và cả hai chiều đếm, đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Song Hao chỉ có một thế duy nhất là đứng hai đầu một trục; mọi lời luận nói tới Song Hao đồng cung đều là an sai lá số.

Không. Đại Hao luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung, đếm thuận thì lùi ba, đếm nghịch thì tiến ba. Ba là số lẻ, trong khi mọi thế chiếu đều là số chẵn: đồng cung là không cung, tam hợp là bốn hoặc tám, xung chiếu là sáu. Vì vậy Đại Hao vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và cũng không xung chiếu với Lộc Tồn, và cũng không bao giờ ngồi cùng cung Kình Dương hay Đà La. Cách bù duy nhất đặt được đúng vào cung Đại Hao là Hóa Lộc của chính tinh, vì Hóa Lộc đi theo chính tinh chứ không đi theo Lộc Tồn.

Tân Biên chép Song Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Đối chiếu với bảng an sao thì Đại Hao đắc địa với sáu tuổi can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, và hãm địa với bốn tuổi can Giáp, Ất, Canh, Tân. Điều đáng chú ý là kết quả này không đổi khi đổi chiều đếm, nghĩa là không phụ thuộc giới tính; đổi chiều chỉ làm Đại Hao chuyển sang cung đối diện, mà hai cung đối diện trong bộ Dần Thân Mão Dậu thì cùng đắc. Hệ quả kèm theo: Đại Hao và Tiểu Hao luôn cùng đắc hoặc cùng hãm.

Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm lấy can của năm ấy an lại một bộ vòng Bác Sĩ lưu, trong đó có lưu Đại Hao và lưu Tiểu Hao. Các sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh thì không có bản lưu. Năm đáng lưu ý không phải năm lưu Đại Hao đi qua một cung bất kỳ, mà là năm lưu Đại Hao chồng đúng lên Đại Hao gốc, hoặc lên cung Tài Bạch và Điền Trạch của lá số.

Lá Số Của Bạn Cần Được Luận Cho Đúng

Đọc lý thuyết là một chuyện, biết các sao trong lá số của chính bạn đóng cung nào, miếu hay hãm, đi cùng sao gì lại là chuyện quyết định vận mệnh. Hãy an lá số đầy đủ để luận cho đúng.

An lá số Tử Vi ngay

Khám Phá Trọn Bộ 121 Sao Tử Vi

Mỗi sao một bài luận chuyên sâu, biên soạn và đối chiếu từ thư tịch gốc. Đọc tiếp để hiểu trọn vẹn lá số của bạn.

Xem trọn bộ 121 sao Tử Vi

Xem đầy đủ công cụ tại trang Công Cụ Huyền Học.