Hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống, trị chứng huyết ứ ở thượng tiêu.
[TỔNG QUAN]
Huyết Phủ Trục Ứ Thang do y gia Vương Thanh Nhậm thời Thanh sáng tạo trong sách Y Lâm Cải Lỗi. Phương này nổi tiếng trong việc hóa ứ ở Huyết phủ (tức vùng ngực), điều trị xuất sắc các chứng đau tức ngực, bệnh tim mạch do huyết ứ đình trệ.
[THÀNH PHẦN BÀI THUỐC]
- Đào nhân: 12g.
- Hồng hoa: 9g.
- Đương quy: 9g.
- Sinh địa: 9g.
- Xuyên khung: 4.5g.
- Xích thược: 6g.
- Ngưu tất: 9g.
- Sài hồ: 3g.
- Chỉ xác: 6g.
- Cát cánh: 4.5g.
- Cam thảo: 3g.
Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2-3 lần.
[CÔNG NĂNG CHỦ TRỊ]
Công năng: Hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.
Chủ trị: Chứng huyết ứ tại vùng ngực: đau ngực đâm nhói như dao cắt, vị trí đau cố định, mất ngủ dai dẳng, hồi hộp, hay cáu gắt, nấc cụt lâu ngày, môi tím tái, chất lưỡi tím sẫm có điểm ứ huyết, mạch sáp hoặc kết đại.
[PHÂN TÍCH PHƯƠNG TỄ]
- Quân dược (Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy): Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết trục ứ mạnh. Đương quy hoạt huyết dưỡng huyết, làm huyết đi mà không làm tổn thương chính khí.
- Thần dược (Xuyên khung, Xích thược, Ngưu tất): Xuyên khung hành khí trung chi huyết. Xích thược tán ứ chỉ thống. Ngưu tất dẫn huyết ứ đi xuống.
- Tá dược (Sinh địa, Sài hồ, Chỉ xác, Cát cánh): Sinh địa lương huyết tư âm. Sài hồ sơ can giải uất. Chỉ xác lý khí giáng nghịch. Cát cánh mở phế khí, đưa thuốc lên vùng ngực (thượng tiêu).
- Sứ dược (Cam thảo): Điều hòa các vị, hòa hoãn chỉ thống.
[LƯU Ý KHI DÙNG]
Phụ nữ có thai, người có chứng xuất huyết hoặc đang trong kỳ kinh nguyệt (nếu không phải do huyết ứ trệ) tuyệt đối kiêng dùng. Lưu ý: Cần có sự tư vấn của thầy thuốc trước khi sử dụng.