1 Sao Bệnh Phù là gì

Bệnh Phù là sao thứ chín của vòng Bác Sĩ. Đây là một sao nhỏ mang khí bệnh tật, chủ sự ốm đau, mệt mỏi, sức khỏe không thật tốt. Lưu ý đây là Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ, khác với sao Bệnh trong vòng Trường Sinh.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Bệnh Phù an theo sao Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh. Đặt Bác Sĩ vào đúng cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp mười một sao của vòng, thuận với người dương nam âm nữ, nghịch với người âm nam dương nữ. Bệnh Phù là sao thứ chín trong thứ tự ấy, tức cách Bác Sĩ tám bước. Nói ngay từ đầu điều quan trọng nhất về sao này: nó không an theo cục, nên nó không phải sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, dù hai cái tên chỉ khác nhau một chữ.
Suy luận Tám bước đếm thuận và tám bước đếm nghịch cho hai cung khác nhau, nhưng cả hai đều rơi vào vị trí tam hợp của Lộc Tồn: đếm thuận thì Bệnh Phù cách Lộc Tồn tám cung, đếm nghịch thì cách bốn cung, mà bốn và tám chính là hai khoảng cách tạo tam hợp trong Đẩu Số. Vậy điều bất biến đầu tiên rất gọn: Bệnh Phù luôn tam hợp chiếu với Lộc Tồn và với Bác Sĩ, ở mọi tuổi và cả hai chiều an. Cổ nhân đặt sao mang tiếng ốm đau vào đúng tam hợp của sao tài lộc và sao học vấn, và điều đó nói lên cách người xưa nhìn bệnh: bệnh nằm trong tầm tay của cái mình dành dụm được và cái mình hiểu biết được.
| Tuổi can | Lộc Tồn tại | Bệnh Phù khi an thuận | Bệnh Phù khi an nghịch | Kình Dương · Đà La |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Tuất | Ngọ | Mão · Sửu |
| Ất | Mão | Hợi | Mùi | Thìn · Dần |
| Bính | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
| Đinh | Ngọ | Dần | Tuất | Mùi · Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Dần | Tuất | Mùi · Tỵ |
| Canh | Thân | Thìn | Tý | Dậu · Mùi |
| Tân | Dậu | Tỵ | Sửu | Tuất · Thân |
| Nhâm | Hợi | Mùi | Mão | Tý · Tuất |
| Quý | Tý | Thân | Thìn | Sửu · Hợi |
Suy luận Đọc tiếp hai cột giữa của bảng thì thấy điều bất biến thứ hai. Từ Bệnh Phù tới Kình Dương là năm hoặc chín cung, tới Đà La là ba hoặc bảy cung, tùy chiều an. Ba, năm, bảy, chín đều không phải khoảng cách tạo quan hệ, vì quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Nghĩa là Bệnh Phù không bao giờ gặp Kình Dương, cũng không bao giờ gặp Đà La trên bản mệnh. Câu quen miệng "Bệnh Phù gặp Kình Đà thì bệnh nặng" vì thế phải sửa lại: hai sát tinh ấy chỉ chạm được vào cung Bệnh Phù qua bản lưu của năm xem, hoặc khi xét cung đại vận.
Sáu điều bất biến của Bệnh Phù
- Phải biết chiều an mới an được. Đếm thuận và đếm nghịch cho hai cung khác nhau, nên hỏi thiên can năm sinh thôi chưa đủ.
- Luôn tam hợp Lộc Tồn và Bác Sĩ. Cố định tuyệt đối ở mọi tuổi và cả hai chiều an.
- Không bao giờ gặp Kình Dương và Đà La. Luôn cách ba, năm, bảy hoặc chín cung, đều là những khoảng cách không tạo quan hệ.
- Luôn bị Hỷ Thần và Đại Hao giáp hai bên. Cố định ở mọi tuổi và cả hai chiều, chỉ đổi bên trái phải. Một bên là sao niềm vui, một bên là sao hao lớn.
- Trong vòng, luôn xung chiếu Thanh Long và luôn tam hợp Tướng Quân. Cùng với Bác Sĩ ở tam hợp kia, đây là bốn quan hệ cố định của Bệnh Phù trong vòng.
- Đủ mười hai cung, không kén chính tinh. Gộp cả hai chiều thì Bệnh Phù có thể đóng bất kỳ cung nào, và vì mọi chính tinh đều có thể rơi vào bất cứ cung nào qua mười hai thế của Tử Vi, nó có thể đứng cùng bất cứ chính tinh nào hoặc đứng một mình trong cung vô chính diệu.
3 Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Bệnh Phù giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Bệnh Phù.
4 Đặc Tính Và Tượng Của Bệnh Phù

Bệnh Phù mang khí của ốm đau và mệt mỏi. Ở cung Tật Ách, nó nhắc đề phòng bệnh; ở cung khác, nó báo sự uể oải, thiếu sức, việc dễ chậm. Người có Bệnh Phù đôi khi sức khỏe không dồi dào hoặc hay vướng bệnh vặt.
Là sao nhỏ, Bệnh Phù không gây đại họa; có phúc tinh, sao giải và chính tinh sáng thì bệnh nhẹ, gặp Hóa Kỵ và sát tinh thì cần giữ gìn hơn.
5 Bệnh Phù Trong Vòng Bác Sĩ Và Chỗ Khác Sao Bệnh
Kinh văn Vòng Bác Sĩ là một trong bốn vòng phụ tinh lớn của Đẩu Số, cùng với vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo cục, và vòng thần sát tam hợp. Riêng vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn. Mười hai sao theo đúng thứ tự là: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Chúng trải kín mười hai cung, mỗi cung đúng một sao. Chiều đếm phân theo âm dương của can năm sinh và giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận, âm nam và dương nữ đếm nghịch. Trang an lá số của thayungkhiem.vn dùng đúng quy tắc ấy.
Chỗ đứng của Bệnh Phù: bước thứ chín, giữa niềm vui và hao tổn
Suy luận Sao liền trước Bệnh Phù trong thứ tự vòng là Hỷ Thần, sao liền sau là Đại Hao. Dù an thuận hay an nghịch, hai sao ấy vẫn giáp Bệnh Phù, chỉ đổi bên. Kinh nghiệm Thế giáp ấy là hình ảnh Thầy hay dùng khi giảng: bệnh tật nằm ngay giữa những dịp vui quá đà và những khoản hao không kiểm, nên lời khuyên cho sao này bao giờ cũng là lời khuyên về nếp sống chứ không phải về thuốc men. Trong cùng vòng, cung xung chiếu của Bệnh Phù luôn là Thanh Long, và tam hợp luôn là Bác Sĩ cùng Tướng Quân. Bốn quan hệ ấy không đổi ở bất cứ tuổi nào.
Suy luận Bộ tam hợp này rất đáng đọc kỹ vì nó chính là lời khuyên gói sẵn trong phép an sao. Bác Sĩ chủ học vấn, hiểu biết, và theo Tân Biên còn chủ việc giải bệnh; đứng cùng cung Lộc Tồn nên còn mang nghĩa tài lực. Tướng Quân chủ uy võ, sức mạnh, kỷ luật. Hai sao ấy tam hợp chiếu vào Bệnh Phù, còn Thanh Long chủ hỷ khí và sinh khí thì xung chiếu thẳng vào. Ghép lại thành một câu: cái đối trị với bệnh trong Đẩu Số là hiểu biết, là tài lực, là kỷ luật, và là sinh khí. Cổ nhân không đặt Bệnh Phù vào một góc cô lập; họ đặt nó vào giữa bốn thứ có thể đối trị với nó.
Bảng dưới in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười tuổi can, chiều thuận. Người an nghịch đọc ngược thứ tự sao trên cùng một hàng, riêng cột Bác Sĩ và cột Phi Liêm giữ nguyên vì đó là hai điểm bất động của vòng.
| Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận) | Bác Sĩ | Lực Sĩ | Thanh Long | Tiểu Hao | Tướng Quân | Tấu Thư | Phi Liêm | Hỷ Thần | Bệnh Phù | Đại Hao | Phục Binh | Quan Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Bệnh Phù và sao Bệnh của vòng Tràng Sinh là hai sao khác nhau
Kinh văn Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất khi đọc sao này. Sao Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục của lá số, tức theo Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục hay Hỏa Lục Cục. Vòng ấy mô tả mười hai chặng của một đời sự vật: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Sao Bệnh là chặng thứ bảy, chặng sau Suy và trước Tử, mang nghĩa khí đã qua đỉnh và đang xuống. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh và chiều thuận nghịch. Hai sao dùng hai tham số hoàn toàn khác nhau.
Suy luận Hệ quả cấu trúc rất rõ ràng và rất dễ kiểm. Vì sao Bệnh đứng ở bước thứ sáu tính từ Tràng Sinh, mà sáu bước là điểm đối xứng của vòng mười hai, nên vị trí của nó không phụ thuộc chiều an: chỉ cần biết cục là biết ngay. Chạy đủ năm cục thì sao Bệnh chỉ có thể đóng bốn cung tứ sinh là Dần, Tỵ, Thân, Hợi, không bao giờ vào tám cung còn lại. Trong khi đó Bệnh Phù đi đủ mười hai cung. Bảng dưới in vị trí sao Bệnh theo từng cục, đặt cạnh Tràng Sinh và Đế Vượng để thấy trọn nhịp của vòng.
| Cục của lá số | Tràng Sinh tại | Đế Vượng tại | Sao Bệnh tại |
|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | Thân | Tý | Dần |
| Mộc Tam Cục | Hợi | Mão | Tỵ |
| Kim Tứ Cục | Tỵ | Dậu | Hợi |
| Thổ Ngũ Cục | Thân | Tý | Dần |
| Hỏa Lục Cục | Dần | Ngọ | Thân |
Suy luận Từ đó rút ra một điều bất biến nữa, rất tiện khi soát lá số: người an nghịch, tức âm nam và dương nữ, thì Bệnh Phù không bao giờ đồng cung với sao Bệnh. Lý do là khi an nghịch, Bệnh Phù chỉ rơi vào tám cung Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, tức đúng tám cung mà sao Bệnh không tới. Còn người an thuận thì mới có khả năng hai sao trùng cung, và cũng chỉ ở bốn nhóm tuổi can: tuổi Ất cùng tại Hợi nếu là Kim Tứ Cục, tuổi Đinh hoặc Kỷ cùng tại Dần nếu là Thủy Nhị Cục hoặc Thổ Ngũ Cục, tuổi Tân cùng tại Tỵ nếu là Mộc Tam Cục, tuổi Quý cùng tại Thân nếu là Hỏa Lục Cục. Ngoài những trường hợp ấy, hai sao nằm hai nơi và người luận phải nói rõ mình đang nói tới sao nào.
Bệnh Phù không nằm trong bảng Tứ Hóa
Kinh văn Nói cho rõ để khỏi ai đi tìm: Bệnh Phù không có tên trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ điểm danh mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, cả bảng Nam phái lẫn bảng Bắc phái mà trang an lá số đang dùng.
Suy luận Nhưng Bệnh Phù vẫn đổi nghĩa theo Tứ Hóa của chính tinh đứng cùng cung, và đây mới là tầng đáng đọc. Đứng cùng chính tinh hóa Kỵ là tổ hợp đáng lưu ý nhất: Hóa Kỵ chủ vướng mắc và kéo dài, nên chuyện mệt mỏi ở cung ấy có xu hướng dai dẳng chứ không dứt điểm; nếu cung ấy lại là Tật Ách thì đây là chỗ nên đi khám định kỳ thay vì chờ tới lúc thấy đau. Đứng cùng chính tinh hóa Khoa thì ngược lại, Hóa Khoa chủ danh và chủ sự được ghi nhận, thường ứng vào việc gặp đúng thầy đúng thuốc, chẩn đoán ra sớm, việc rắc rối được làm sáng. Đứng cùng chính tinh hóa Quyền thì có sức để chịu và có kỷ luật để theo phác đồ. Đứng cùng chính tinh hóa Lộc thì có điều kiện vật chất để lo, mà cũng dễ sinh cái chủ quan của người thấy mình lo được.
Kinh nghiệm Kết lại mục này bằng lý do vì sao đọc Bệnh Phù phải đọc cả vòng. Một mình chữ bệnh trong tên sao không nói được gì; nó chỉ là cái nhãn. Nhưng biết Bệnh Phù ở đâu là biết luôn Lộc Tồn và Bác Sĩ tam hợp chiếu tới từ cung nào, biết Thanh Long xung chiếu về từ đâu, biết Hỷ Thần và Đại Hao giáp hai bên có sạch hay không. Một sao mở ra cả một bản đồ, mà bản đồ ấy lại là bản đồ của những thứ đối trị được với nó. Thầy vẫn dặn học trò: gặp Bệnh Phù thì đừng dừng ở chữ bệnh, hãy tìm xem cái đối trị đang nằm ở đâu.
6 Ý Nghĩa Nhanh Tại Bốn Cung Hay Được Hỏi
Bệnh Phù đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Bệnh Phù |
|---|---|
| Mệnh | Sức khỏe không thật dồi dào, hay bệnh vặt. |
| Tật Ách | Đề phòng bệnh tật, nên khám và dưỡng. |
| Quan Lộc | Công việc dễ uể oải, tiến chậm. |
| Phúc Đức | Tinh thần dễ mỏi, nên nghỉ ngơi. |
7 Bệnh Phù Tại 12 Cung Chức
Bệnh Phù đi đủ mười hai cung địa chi nên cũng có thể rơi vào đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận đủ mười hai vai trò, tách rõ hai cảnh: khi cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi cung ấy bị sát tinh hoặc Hóa Kỵ kéo xuống. Xin lưu ý trước: ngay cả ở cung Tật Ách, sao này cũng chỉ nói tới nếp sinh hoạt và mức bền sức, không chỉ định bộ phận cơ thể nào; việc chỉ bộ phận là việc của chính tinh, của Tứ Hóa và của sát tinh trong cung.
| Cung | Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh | Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ |
|---|---|---|
| Mệnh | Người biết giữ sức, sống chừng mực, không ưa gắng quá. Sức bền không nổi trội nhưng biết liệu sức mà làm nên ít khi gãy giữa chừng. | Dễ uể oải, làm việc theo đợt, hay bỏ dở khi mệt. Nên xây thói quen ngủ và vận động đều thay vì trông vào ý chí từng lúc. |
| Huynh Đệ | Anh chị em biết chăm nhau lúc yếu, trong nhà có người thạo việc thuốc thang chăm sóc. | Có người trong nhóm thân hay đau yếu và mình là chỗ dựa, việc chung dễ đứt đoạn vì lý do sức khỏe của ai đó. |
| Phu Thê | Hai người chăm nhau chu đáo, quan tâm tới nếp sống và bữa ăn của nhau. | Một bên hay mệt, sinh hoạt lệch nhịp, chuyện chăm sóc trở thành gánh nếu không chia đều. Nên nói rõ và chia việc. |
| Tử Tức | Con cái được chăm kỹ, nhà chú ý tới ăn ngủ của trẻ, việc nuôi con có nề nếp. | Con hay ốm vặt quãng nhỏ, cha mẹ tốn công thức đêm. Đây là dấu để chuẩn bị chứ không phải dấu để lo. |
| Tài Bạch | Biết dành một phần cho việc phòng thân, có bảo hiểm hoặc khoản để dành cho lúc yếu. | Tiền hao vào việc thuốc men chăm sóc, hoặc thu nhập chững lại trong những quãng sức khỏe không tốt. |
| Tật Ách | Sức bền vừa phải nhưng biết giữ, ốm thì chóng lại vì chịu đi khám và chịu nghỉ. Sao này ở đây là lời nhắc kiểm tra định kỳ, không phải bản án. | Nếp sinh hoạt dễ sinh mệt kéo dài, việc nhỏ để lâu thành việc lớn. Muốn biết bệnh gì thì phải đọc chính tinh của cung, Tứ Hóa rơi vào cung, sát tinh trong cung và đại vận lưu niên đang chạm tới; Bệnh Phù chỉ là một dấu nhỏ cộng thêm. |
| Thiên Di | Đi xa biết giữ sức, chuẩn bị chu đáo, ít khi ốm dọc đường. | Ra ngoài dễ mệt, đi nhiều thì đuối, nên tránh lịch trình dày và nên mang sẵn thuốc quen dùng. |
| Nô Bộc | Bạn bè cấp dưới quan tâm nhau, nhóm có văn hóa nghỉ ngơi lành mạnh. | Người quanh mình hay có chuyện sức khỏe, mình thành chỗ nhờ vả. Việc chung dễ chậm vì nhân sự đứt quãng. |
| Quan Lộc | Công việc có nhịp, biết dừng đúng lúc, không đốt sức. Hợp nghề chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng, dược, dinh dưỡng. | Việc tiến chậm, hay bị gián đoạn, sức không theo kịp đầu việc. Nên cắt bớt đầu việc thay vì cố kéo dài giờ làm. |
| Điền Trạch | Nhà ở thoáng, sạch, có chỗ nghỉ tử tế; nếp nhà chú ý tới ăn ngủ. | Chỗ ở ẩm thấp, thiếu sáng hoặc thiếu thoáng, nhà cửa hay phải sửa. Đây là cung nên xem lại nơi ngủ trước tiên. |
| Phúc Đức | Biết nghỉ, biết buông, không ôm việc vào lòng. Tinh thần là chỗ mạnh chứ không phải chỗ yếu. | Hay lo nghĩ, mệt trong lòng trước khi mệt trong thân, khó ngủ vì nghĩ ngợi. Đây là cung nên chỉnh trước nếu muốn đỡ mệt. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ được chăm sóc chu đáo, nhà có nếp đưa người lớn đi khám định kỳ. | Bậc trên hay đau yếu, mình phải lo. Đây là dấu để sắp xếp trước cho chủ động, không phải dấu để đoán việc. |
Mẹo đọc bảng: đọc Bệnh Phù cùng ba cung chiếu tới
Kinh nghiệm Vì lá số nào cũng có Bệnh Phù, bản thân việc nó nằm ở cung nào chỉ mới là nửa câu. Thầy có ba câu hỏi luôn hỏi theo thứ tự. Một, cung ấy có chính tinh gì và chính tinh ấy sáng hay hãm, vì chính tinh mới là thứ quyết định sắc thái của cung. Hai, cung tam hợp có Lộc Tồn và Bác Sĩ chiếu về đang sạch hay đang bị phá, vì đó chính là cái đối trị mà cấu trúc đã cấp sẵn. Ba, Hỷ Thần và Đại Hao giáp hai bên có mang thêm sát tinh nào không. Trả lời xong ba câu ấy mới nói được Bệnh Phù ở cung ấy nghĩa là gì. Suy luận Bỏ qua ba câu ấy thì chỉ còn lại cái nhãn "bệnh", mà cái nhãn thì ai cũng có một cái trong lá số của mình.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Bệnh Phù là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Bệnh Phù còn thêm một tầng: cấu trúc an sao đã khóa sẵn một số quan hệ, có sao chắc chắn phải gặp và có sao không bao giờ gặp được trên bản mệnh. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Bệnh Phù nhẹ đi khi gặp
- Bác Sĩ và Lộc Tồn (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): hiểu biết và tài lực chiếu tới, đây là cái đối trị mà cấu trúc cấp sẵn cho mọi lá số.
- Thiên Lương (đồng cung khả dĩ ở mọi tuổi, hoặc chiếu): sao chủ giải ách và che chở, được sách xếp vào hàng đối trị bệnh tật rõ nhất trong bộ chính tinh.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): gặp đúng thầy đúng thuốc, chẩn đoán sớm, việc rắc rối được làm sáng.
- Chính tinh sáng đắc địa (đồng cung, cả mười bốn chính tinh đều khả dĩ): nền vững thì cái nhãn bệnh không thành chuyện.
Bệnh Phù nặng thêm khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, chiếu nhẹ hơn): chuyện mệt mỏi kéo dài, không dứt điểm. Ở cung Tật Ách thì đây là dấu để đi khám định kỳ.
- Sao Bệnh của vòng Tràng Sinh (đồng cung chỉ có ở người an thuận và đúng nhóm can cùng cục đã nêu ở mục vòng): hai lớp cùng nói một chuyện thì đáng chú ý hơn một lớp, nhưng vẫn chưa đủ để phán bệnh.
- Kình Dương và Đà La (trên bản mệnh không bao giờ đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp): chỉ chạm được qua lưu Kình lưu Đà của năm xem hoặc qua cung đại vận. Câu chép trong sách phải hiểu theo nghĩa lưu.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Bệnh Phù thì cấu trúc an sao đã khóa sẵn hai điều: nó luôn được Lộc Tồn và Bác Sĩ tam hợp chiếu tới, và nó không bao giờ gặp Kình Dương hay Đà La trên bản mệnh. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và đừng bao giờ kết luận về sức khỏe chỉ từ một sao.
9 Bệnh Phù Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Bệnh Phù đứng yên, còn câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: quãng này sức khỏe thế nào, năm nay có phải giữ gìn không. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.
Đại vận đi vào cung có Bệnh Phù
Suy luận Khi đại vận mười năm bước vào cung có Bệnh Phù bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là nhịp chậm lại: việc tiến từ tốn hơn, sức bền không như quãng trước, cơ thể đòi được nghỉ nhiều hơn. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và có bộ Bác Sĩ Lộc Tồn tam hợp sạch thì đây thường là quãng tốt để chỉnh lại nếp sống: tập đều, ăn đúng giờ, khám định kỳ, và những việc ấy cho kết quả rõ hơn so với làm ở quãng khác. Nếu cung ấy có Hóa Kỵ và sát tinh thì đây là quãng nên chủ động đi kiểm tra thay vì chờ triệu chứng. Kinh nghiệm Thầy nhấn một điều: đại vận có Bệnh Phù không phải đại vận xấu, nhiều người có quãng này lại là quãng họ bắt đầu sống điều độ.
Bệnh Phù có bản lưu niên
Kinh văn Bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ đều có bản lưu niên: vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm xem. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm, nên sao Bệnh của vòng ấy đứng yên suốt đời; các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh cũng không có bản lưu vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm. Đây là một khác biệt nữa giữa Bệnh Phù và sao Bệnh: một bên chạy theo năm, một bên đứng yên.
Suy luận Cách tính lưu Bệnh Phù: lấy thiên can năm đang xem, tìm lưu Lộc Tồn của can ấy, rồi đếm tám bước theo đúng chiều an của người xem. Chiều an vẫn là chiều của bản mệnh, không đổi theo năm. Bảng dưới tính sẵn cả hai chiều cho các năm lưu niên gần, kèm lưu Kình lưu Đà để tiện đối chiếu.
| Năm lưu niên | Lưu Lộc Tồn | Lưu Bệnh Phù nếu an thuận | Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch | Lưu Kình · lưu Đà |
|---|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
| 2027 Đinh Mùi | Ngọ | Dần | Tuất | Mùi · Tỵ |
| 2028 Mậu Thân | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
| 2029 Kỷ Dậu | Ngọ | Dần | Tuất | Mùi · Tỵ |
| 2030 Canh Tuất | Thân | Thìn | Tý | Dậu · Mùi |
| 2031 Tân Hợi | Dậu | Tỵ | Sửu | Tuất · Thân |
| 2032 Nhâm Tý | Hợi | Mùi | Mão | Tý · Tuất |
| 2033 Quý Sửu | Tý | Thân | Thìn | Sửu · Hợi |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Tuất | Ngọ | Mão · Sửu |
| 2035 Ất Mão | Mão | Hợi | Mùi | Thìn · Dần |
| 2036 Bính Thìn | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
| 2037 Đinh Tỵ | Ngọ | Dần | Tuất | Mùi · Tỵ |
| 2038 Mậu Ngọ | Tỵ | Sửu | Dậu | Ngọ · Thìn |
Suy luận Hai cách dùng bảng. Cách thứ nhất là tìm năm trùng phùng: năm nào lưu Bệnh Phù rơi đúng cung có Bệnh Phù bản mệnh thì sắc thái của sao đậm gấp đôi trong năm ấy. Vì can năm quay một vòng mười năm nên năm trùng phùng trở lại đều đặn mười năm một lần, là những năm có thiên can trùng với thiên can năm sinh. Cách thứ hai là xem lưu Bệnh Phù rơi vào cung chức nào trong năm ấy: rơi vào Tật Ách thì năm nên khám định kỳ, rơi vào Phụ Mẫu thì năm nên để ý sức khỏe bậc trên, rơi vào Quan Lộc thì năm nên giảm cường độ làm việc.
Suy luận Các lưu sao khác chạm vào cung Bệnh Phù cũng nên xem cùng lúc. Lưu Kình Dương và lưu Đà La đáng chú ý nhất, đúng vì lý do cấu trúc đã nêu: trên bản mệnh Bệnh Phù không bao giờ gặp hai sao ấy, nên khi lưu Kình hay lưu Đà đóng đúng cung Bệnh Phù thì đó là một tổ hợp chỉ có trong năm lưu, và vì hiếm nên đáng để ý. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ vào cung Bệnh Phù thì năm ấy dễ có việc thăm nom lo lắng cho người thân. Lưu Thiên Lương và lưu Hóa Khoa vào cung Bệnh Phù thì đó là dấu lành, thường ứng vào việc gặp được đúng người giúp. Kinh nghiệm Thầy vẫn dặn một câu gọn: một lớp chạm chỉ là dấu nhỏ, ba lớp cùng chạm vào một cung thì năm ấy mới đáng nói, và ngay cả khi ba lớp cùng chạm thì việc phải làm cũng chỉ là đi khám sớm, không phải ngồi lo.
10 Ranh Giới: Bệnh Phù Không Phải Sao Quyết Định Sức Khỏe
Đây là mục quan trọng nhất của bài. Bệnh Phù mang cái tên khiến người ta sợ, và nỗi sợ ấy làm hỏng rất nhiều buổi luận. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Một: đây là phụ tinh nhỏ, không phán được bệnh
Kinh văn Tân Biên xếp Bệnh Phù vào nhóm phụ tinh của vòng Bác Sĩ, chép về nó vài dòng, không lập cách cục riêng và không lập câu phú riêng. Suy luận Một sao được sách chép trong vài dòng thì trọng lượng luận cũng chỉ nên bằng vài dòng. Thêm nữa, vòng Bác Sĩ trải kín mười hai cung nên lá số nào cũng có Bệnh Phù; nếu sao này phán được bệnh thì cả thiên hạ đều có bệnh, điều đó tự nó cho thấy cách đọc ấy sai ở đâu. Bệnh Phù cho biết sắc thái của một cung, không cho biết sự việc, và tuyệt đối không cho biết bộ phận cơ thể nào.
Hai: đọc bệnh phải đọc cung Tật Ách với chính tinh và Tứ Hóa
Suy luận Muốn nói về sức khỏe trên lá số thì trình tự đúng là như sau, và Bệnh Phù chỉ xuất hiện ở bước cuối. Bước một, xem chính tinh của cung Tật Ách: mỗi chính tinh có ngũ hành và có nhóm tạng phủ mà sách gắn cho, đây mới là thứ chỉ ra bộ phận. Bước hai, xem Tứ Hóa rơi vào cung ấy, đặc biệt là Hóa Kỵ, vì Kỵ ở Tật Ách là dấu mạnh nhất về chỗ vướng kéo dài. Bước ba, xem sát tinh trong cung và trong tam phương tứ chính: Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, cùng với Tuần Triệt án ngữ. Bước bốn, xem đại vận và lưu niên có đang chạm vào cung ấy không. Bước năm mới tới các dấu nhỏ: Bệnh Phù, sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, Thiên Y, Bệnh Phù lưu niên. Ai đảo ngược trình tự này, tức nhìn thấy Bệnh Phù rồi kết luận, là đang lấy cái nhãn thay cho cái nội dung. Kinh nghiệm Thầy nói thẳng với học trò: Bệnh Phù là một dấu nhỏ, không phải một chẩn đoán. Và dù đọc đủ năm bước thì lá số cũng không thay được việc đi khám; mệnh lý nói khuynh hướng, y học nói bệnh.
Ba: Bệnh Phù khác sao Bệnh của vòng Tràng Sinh
Suy luận Mục vòng đã nói kỹ, ở đây nhắc lại cho gọn vì đây là chỗ nhầm hay gặp nhất. Sao Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục, đứng ở chặng thứ bảy của mười hai chặng sinh vượng mộ tuyệt, và chỉ có thể đóng bốn cung tứ sinh là Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Nó mô tả chặng suy của một chu kỳ, không riêng gì thân thể; cùng một sao ấy đặt ở cung Tài Bạch thì nói về chặng đi xuống của dòng tiền chứ không nói về ốm đau. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và chiều thuận nghịch, đi đủ mười hai cung, có bản lưu niên trong khi sao Bệnh thì không. Hai sao trùng cung chỉ ở một số trường hợp đếm được, và người an nghịch thì không bao giờ có trường hợp ấy.
Bốn: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra
Suy luận Điều này đúng cho cả nhóm sao mang tên đáng sợ trong Đẩu Số, và Bệnh Phù là một ví dụ điển hình. Chữ phù trong tên sao mang nghĩa cái dấu, cái phù hiệu, cái điềm báo, không mang nghĩa sự việc đã thành. Bệnh Phù là cái dấu về bệnh, không phải bệnh. Cũng như Tang Môn không có nghĩa là sẽ có tang, Bạch Hổ không có nghĩa là gặp nạn, Đại Hao không có nghĩa là sẽ mất của. Tên sao là tượng, tức hình ảnh gợi ý một loại khí, còn sự việc thì phải có đủ chính tinh, đủ hóa, đủ vận mới nói được. Kinh nghiệm Thầy vẫn dặn học trò một câu, và đây là câu đáng nhớ nhất của bài này: người luận mà làm khách sợ thì đã hỏng nửa buổi luận. Với những sao mang tên nặng, việc đầu tiên phải làm là nói cho khách biết sao ấy nhỏ tới mức nào, rồi mới nói tới nội dung. Cũng nên phân biệt chữ phù trong Bệnh Phù với Quan Phù của vòng Thái Tuế và Trực Phù cùng vòng ấy: cùng một chữ nhưng ba sao khác nhau.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Bệnh Phù Qua Ba Bước
Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh đã chọn: tuổi Tân, nữ mệnh nên âm nữ an thuận, Tử Vi an tại Tuất, Mệnh an tại Tuất. Tuổi Tân có Lộc Tồn tại Dậu, nên Bác Sĩ cũng tại Dậu, và Bệnh Phù ở bước thứ tám rơi vào cung Tỵ. Với Mệnh an tại Tuất thì Tỵ chính là cung Tật Ách, tức trường hợp mà người ta lo nhất khi nghe tên sao. Chọn đúng trường hợp này để chỉ ra vì sao nó không đáng lo như tên gọi. Trọn vòng Bác Sĩ của lá số này là: Bác Sĩ tại Dậu, Lực Sĩ Tuất, Thanh Long Hợi, Tiểu Hao Tý, Tướng Quân Sửu, Tấu Thư Dần, Phi Liêm Mão, Hỷ Thần Thìn, Bệnh Phù Tỵ, Đại Hao Ngọ, Phục Binh Mùi, Quan Phủ Thân. Lưới dưới chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao vòng Bác Sĩ ghi bằng chữ ngay trên đây.
Tử Vi tại Tuất, Mệnh tại Tuất
không phải người thật
nữ mệnh tuổi âm nên vòng Bác Sĩ an thuận
Bệnh Phù tại Tỵ, tức cung Tật Ách
Bước một: Bệnh Phù đứng ở đâu và đứng cùng ai
Bệnh Phù tại Tỵ, rơi đúng cung Tật Ách, đồng cung với Thiên Đồng độc tọa. Ngay bước này đã có bốn điều đáng nói. Một, Thiên Đồng là phúc tinh, chủ hưởng phúc và chủ sự an hòa, được sách xếp vào nhóm sao lành; một cung Tật Ách có phúc tinh thủ thì cái nhãn Bệnh Phù đứng cùng đã nhẹ đi rất nhiều ngay từ dòng đầu. Hai, Lộc Tồn tại Dậu tam hợp chiếu về cung Tỵ, đúng như điều bất biến thứ hai, và ở Dậu còn có Thiên Cơ Cự Môn với Cự Môn hóa Lộc. Ba, Thanh Long tại Hợi xung chiếu thẳng vào Bệnh Phù, mà Hợi là cung Phụ Mẫu có Thiên Lương, chính là chính tinh chủ giải ách rõ nhất trong bộ mười bốn sao. Bốn, Hỷ Thần tại Thìn và Đại Hao tại Ngọ giáp hai bên.
Kinh nghiệm Đây là ví dụ Thầy hay đưa ra khi có khách hoảng vì nghe tên sao. Cùng một cung Tật Ách có Bệnh Phù, nhưng cấu trúc đã cấp sẵn ba thứ đối trị: phúc tinh đồng cung, Lộc Tồn tam hợp, Thiên Lương xung chiếu. Đọc cho đủ thì cái nhãn bệnh ở đây gần như bị hóa giải bởi chính hàng xóm của nó.
Bước hai: hóa gì, và Kình Đà nằm ở đâu
Tuổi Tân nên bộ Tứ Hóa là Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền, Văn Khúc hóa Khoa, Văn Xương hóa Kỵ. Trên lá số này Cự Môn ở Dậu là cung Huynh Đệ, Thái Dương ở Mùi là cung Tử Tức. Hai hóa còn lại rơi vào Văn Khúc và Văn Xương là phụ tinh an theo giờ sinh, không vẽ trên lưới này, nên muốn biết chúng ở cung nào thì phải có giờ sinh cụ thể. Cung Tật Ách có Thiên Đồng không mang hóa nào, vậy Bệnh Phù ở đây không chịu Tứ Hóa trực tiếp, mà nhận Cự Môn hóa Lộc từ tam hợp chiếu về. Đọc ra: sức khỏe của người này có nền, và cái nền ấy đến từ điều kiện sống cùng sự hỗ trợ của người thân.
Lộc Tồn tuổi Tân tại Dậu, nên Kình Dương tại Tuất và Đà La tại Thân. Kình Dương rơi đúng cung Mệnh, còn Đà La ở cung Phu Thê. Từ cung Tật Ách ở Tỵ nhìn ra, Kình Dương cách năm cung và Đà La cách ba cung, đúng như quy luật: Bệnh Phù không gặp Kình Đà. Đây là chi tiết nên chỉ cho học trò xem tận mắt, vì nó bác thẳng câu "Bệnh Phù gặp Kình Đà thì bệnh nặng" mà nhiều trang chép lại: trên bản mệnh chuyện ấy không xảy ra được, chỉ năm lưu mới có.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Cung Tật Ách tại Tỵ có tam hợp là Dậu và Sửu, xung chiếu là Hợi. Dậu là Huynh Đệ có Thiên Cơ Cự Môn hóa Lộc cùng Lộc Tồn và Bác Sĩ; Sửu là Điền Trạch không chính tinh nên mượn sao cung Mùi là Thái Dương Thái Âm; Hợi là Phụ Mẫu có Thiên Lương cùng Thanh Long. Vậy toàn bộ tam phương tứ chính của cung Tật Ách không có một sát tinh nào, lại đủ cả Lộc Tồn, Hóa Lộc và Thiên Lương. Kết luận đọc được: người này thể chất không thuộc loại cường tráng, sức bền vừa phải, nhưng có nếp sống và có chỗ dựa, ốm thì chóng lại, và quan trọng nhất là chịu đi khám vì cung Tật Ách được Bác Sĩ chiếu tới.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Đổi giới tính, giữ nguyên tuổi Tân và vị trí Tử Vi: nam mệnh tuổi Tân là âm nam nên vòng Bác Sĩ an nghịch. Lộc Tồn vẫn ở Dậu, nhưng Bệnh Phù dời từ Tỵ sang Sửu, tức cung Điền Trạch của lá số này. Cung Tật Ách sạch hẳn cái nhãn ấy, còn chữ bệnh chuyển sang chiều nhà cửa chỗ ở: nên xem lại nơi ngủ có đủ thoáng và đủ sáng không. Đây cũng là trường hợp cho thấy người an nghịch thì Bệnh Phù chỉ vào tám cung ngoài tứ sinh, nên không bao giờ trùng cung với sao Bệnh của vòng Tràng Sinh.
- Đổi sang tuổi Canh, giữ Mệnh tại Tuất: Lộc Tồn tuổi Canh về Thân. Nữ mệnh tuổi Canh là dương nữ nên an nghịch, Bệnh Phù rơi vào Tý tức cung Phúc Đức; nam mệnh tuổi Canh an thuận, Bệnh Phù rơi vào Thìn tức cung Thiên Di. Cùng một cung Mệnh mà chữ bệnh chuyển sang chuyện tâm tính hoặc chuyện đi lại, hoàn toàn không còn dính tới cung Tật Ách. Bộ Tứ Hóa cũng đổi thành Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Khoa theo Nam phái hoặc Thái Âm hóa Khoa theo Bắc phái, và Thiên Tướng hóa Kỵ theo Nam phái hoặc Thiên Đồng hóa Kỵ theo Bắc phái.
Hai trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Bệnh Phù mà bỏ qua chiều thuận nghịch là mới đọc được một nửa, và cũng cho thấy vị trí của nó thay đổi rất dễ dàng theo tham số sinh. Muốn biết Bệnh Phù của chính mình đứng ở cung chức nào và cung ấy còn có gì, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Bệnh Phù trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Khi Bệnh Phù Nổi Bật
Kinh nghiệm Bệnh Phù không phải sao cần trấn yểm, và cũng không có bùa chú nào trong khoa Tử Vi dành cho nó. Lời khuyên ở đây đều là việc đời thường, và tất cả đều xoay quanh một chữ: đều. Cái mà sao này mô tả không phải một cơn bệnh, mà là sự thiếu đều đặn trong nếp sống, và cái thiếu đều đặn thì sửa được bằng thói quen.
Ba việc làm được ngay
Kinh nghiệm Một, giữ giờ ngủ cố định. Trong tất cả các lời khuyên Thầy đưa cho khách có Bệnh Phù ở Mệnh, Tật Ách hoặc Phúc Đức, đây là lời khuyên cho kết quả nhanh nhất. Ngủ đúng giờ quan trọng hơn ngủ nhiều. Hai, khám định kỳ theo lịch, không chờ triệu chứng. Cấu trúc của sao này đã nói sẵn điều ấy: Bác Sĩ chiếu tới từ tam hợp, tức cái đối trị là sự hiểu biết và việc chịu đi kiểm tra. Ba, vận động vừa sức mà đều, vì mặt yếu của sao là sức bền chứ không phải sức mạnh.
Với người có Bệnh Phù ở cung Tật Ách
Suy luận Nếu quý vị vừa đọc thấy Bệnh Phù đóng cung Tật Ách của mình thì việc cần làm không phải là lo, mà là đọc tiếp cho hết cung ấy: chính tinh là sao gì, có Hóa Kỵ không, có sát tinh không, tam hợp có Lộc Tồn và Bác Sĩ sạch không. Rất nhiều lá số cho ra kết quả giống ví dụ trong mục lá số minh họa, tức cái nhãn nặng mà hàng xóm toàn sao lành. Và dù cung ấy có xấu thật thì kết luận cũng chỉ dừng ở một câu: nên đi khám sớm hơn và sống điều độ hơn người bình thường một chút. Mệnh lý nói khuynh hướng, còn chẩn đoán và điều trị là việc của thầy thuốc; không có bản luận nào thay được một lần xét nghiệm.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được việc khám chữa bệnh và cũng không sửa được lá số. Phòng ngủ nên thoáng khí và tối khi ngủ, tránh kê giường sát tường ẩm, tránh để thiết bị phát sáng trong tầm mắt lúc nằm. Bếp và chỗ ăn nên sạch và đủ sáng, vì nếp ăn là chỗ nhiều người có Bệnh Phù đậm hay bỏ bê nhất. Trong nhà nên có một chỗ để vận động dù nhỏ, để việc tập không phụ thuộc thời tiết hay quãng đường. Về màu sắc và cây cỏ, người có Bệnh Phù đậm thường thấy dễ chịu với sắc nhạt, ánh sáng ấm và cây lá xanh thường, hơn là không gian tối màu và bí. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Tật Ách rồi hãy quyết.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục các sao vòng Bác Sĩ: thứ tự mười hai sao Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ; phép an theo sao Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ; tính chất của Bệnh Phù chủ ốm đau, mệt mỏi, sức khỏe không dồi dào; tính chất của Bác Sĩ chủ học hành hiểu biết và chủ việc giải bệnh. Mục vòng Tràng Sinh trong cùng sách được dùng để đối chiếu, vì sao Bệnh của vòng ấy an theo cục chứ không theo Lộc Tồn.
- Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu: vị trí Bệnh Phù theo đủ mười thiên can và cả hai chiều an; khoảng cách cố định giữa Bệnh Phù với đủ mười một sao còn lại của vòng Bác Sĩ, cho kết quả luôn tam hợp Bác Sĩ và Tướng Quân, luôn xung chiếu Thanh Long, luôn bị Hỷ Thần và Đại Hao giáp; khoảng cách cố định giữa Bệnh Phù với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, chạy đủ mười can nhân hai chiều, cho kết quả luôn tam hợp Lộc Tồn và không bao giờ gặp Kình Đà; vị trí sao Bệnh của vòng Tràng Sinh theo đủ năm cục, cho kết quả chỉ đóng bốn cung tứ sinh; các trường hợp Bệnh Phù trùng cung với sao Bệnh, cho kết quả người an nghịch không bao giờ có; bảng lưu Lộc Tồn, lưu Bệnh Phù và lưu Kình lưu Đà theo từng năm lưu niên. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Ghi chú về phú: Tân Biên không lập câu phú riêng cho Bệnh Phù, và bài này không dẫn câu phú nào cho sao ấy. Những câu phú lưu truyền trên mạng gắn tên Bệnh Phù phần lớn không tra được nguồn, nên bài không dùng.
Lưu ý về dị bản, về tên gọi và về giới hạn của bài: một số tài liệu chép thứ tự vòng Bác Sĩ hơi khác ở đoạn cuối vòng, hoặc đổi chỗ Phục Binh với Quan Phủ; bài này dùng đúng thứ tự mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang chạy, và mọi khoảng cách nêu trong bài tính theo thứ tự ấy. Về tên gọi, cần phân biệt Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ với sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, và phân biệt chữ phù trong Bệnh Phù với Quan Phù cùng Trực Phù của vòng Thái Tuế. Sau cùng, xin nói rõ giới hạn: mọi nội dung liên quan tới sức khỏe trong bài này là cách đọc mệnh lý về khuynh hướng và nếp sống, không phải chẩn đoán y khoa, không thay thế việc thăm khám và điều trị của thầy thuốc.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Bệnh Phù
Bệnh Phù là sao thứ chín của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, mang khí bệnh tật, chủ sự ốm đau, mệt mỏi và sức khỏe không thật tốt. Đây là sao nhỏ nhắc người ta chăm sóc sức khỏe.
Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ (an theo Lộc Tồn), còn sao Bệnh thuộc vòng Trường Sinh (an theo Cục). Hai sao tên gần giống, đều liên quan ốm đau, nhưng khác vòng và cách an, cần phân biệt khi luận.
Bệnh Phù đứng thứ chín trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Năm gặp Bệnh Phù ở cung quan trọng nên chú ý sức khỏe, dưỡng sức, tránh làm quá sức. Có phúc tinh và sao giải như Thiên Lương, Hóa Khoa thì cái yếu nhẹ đi.
Không suy ra được như vậy. Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao trải kín mười hai cung nên lá số nào cũng có Bệnh Phù ở một cung nào đó; nếu sao này quyết định sức khỏe thì cả thiên hạ đều có bệnh. Bệnh Phù là phụ tinh nhỏ, chỉ cho biết sắc thái của cung chứ không chỉ ra bộ phận cơ thể và không phán được sự việc. Muốn đọc sức khỏe phải xem cung Tật Ách với chính tinh, với Tứ Hóa nhất là Hóa Kỵ, với sát tinh trong cung và tam phương, rồi mới tới các dấu nhỏ như Bệnh Phù.
Khác cả cách an lẫn phạm vi. Sao Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục của lá số, là chặng thứ bảy trong mười hai chặng sinh vượng mộ tuyệt, và chỉ đóng được bốn cung tứ sinh là Dần, Tỵ, Thân, Hợi; nó mô tả chặng suy của một chu kỳ chứ không riêng thân thể. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và chiều thuận nghịch, đi đủ mười hai cung, lại có bản lưu niên trong khi sao Bệnh thì không. Người an nghịch, tức âm nam dương nữ, thì hai sao không bao giờ trùng cung.
Trên bản mệnh thì chuyện ấy không xảy ra được. Chạy đủ mười thiên can và cả hai chiều an thì Bệnh Phù luôn cách Kình Dương năm hoặc chín cung và cách Đà La ba hoặc bảy cung, đều là những khoảng cách không tạo quan hệ trong Đẩu Số. Hai sát tinh ấy chỉ chạm được vào cung Bệnh Phù qua lưu Kình lưu Đà của năm đang xem hoặc khi xét cung đại vận. Ngược lại, Bệnh Phù luôn tam hợp với Lộc Tồn và Bác Sĩ ở mọi lá số, đó là cái đối trị mà cấu trúc cấp sẵn.
Có. Vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can của năm đang xem, giống như vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem; còn vòng Tràng Sinh thì không có bản lưu vì nó an theo cục, và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh cũng không có. Tìm lưu Lộc Tồn theo can năm rồi đếm tám bước theo đúng chiều an của người xem là ra lưu Bệnh Phù. Vì can năm quay một vòng mười năm nên lưu Bệnh Phù trở về đúng cung Bệnh Phù bản mệnh đều đặn mười năm một lần.