1 Sao Phi Liêm là gì

Phi Liêm là sao thứ bảy của vòng Bác Sĩ. Đây là một sao nhỏ thiên về điều tiếng, chủ thị phi, lời đồn, sự cô lẻ và những phiền toái từ miệng tiếng người đời.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Phi Liêm không an theo chi năm, không an theo tháng, không an theo giờ. Nó an theo sao Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh. Đây là điều đầu tiên phải nắm, vì nó quyết định toàn bộ những gì Phi Liêm có thể gặp và không thể gặp trong suốt một đời người. Cụ thể: đặt Bác Sĩ vào đúng cung Lộc Tồn, rồi đếm tiếp mười một sao còn lại của vòng, thuận với người dương nam âm nữ, nghịch với người âm nam dương nữ. Phi Liêm là sao thứ bảy trong thứ tự ấy, tức cách Bác Sĩ đúng sáu bước.
Suy luận Con số sáu ấy là chỗ Phi Liêm khác hẳn mười sao còn lại của vòng. Sáu bước trên một vòng mười hai cung thì đi thuận hay đi nghịch cũng ra cùng một cung. Nghĩa là vị trí Phi Liêm hoàn toàn không phụ thuộc vào giới tính và âm dương của tuổi: chỉ cần biết thiên can năm sinh là biết chắc chắn Phi Liêm ở đâu, không cần hỏi thêm câu nào. Trong mười hai sao vòng Bác Sĩ chỉ có hai sao có tính chất ấy: Bác Sĩ ở bước không và Phi Liêm ở bước sáu. Mười sao còn lại đều phải hỏi thuận nghịch mới an được. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười tuổi can, cột thuận và cột nghịch giống hệt nhau, và đó không phải lỗi in.
| Tuổi can | Lộc Tồn tại | Phi Liêm khi an thuận | Phi Liêm khi an nghịch | Kình Dương · Đà La |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Thân | Thân | Mão · Sửu |
| Ất | Mão | Dậu | Dậu | Thìn · Dần |
| Bính | Tỵ | Hợi | Hợi | Ngọ · Thìn |
| Đinh | Ngọ | Tý | Tý | Mùi · Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Hợi | Hợi | Ngọ · Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Tý | Tý | Mùi · Tỵ |
| Canh | Thân | Dần | Dần | Dậu · Mùi |
| Tân | Dậu | Mão | Mão | Tuất · Thân |
| Nhâm | Hợi | Tỵ | Tỵ | Tý · Tuất |
| Quý | Tý | Ngọ | Ngọ | Sửu · Hợi |
Suy luận Hệ quả thứ ba đến từ chính danh sách cung mà Lộc Tồn có thể đóng. Lộc Tồn chỉ an tại tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, không bao giờ vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, vì cổ nhân không đặt Lộc vào tứ mộ. Cộng thêm sáu cung thì tập hợp ấy quay về đúng chính nó. Vậy nên Phi Liêm cũng chỉ có thể đóng tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, và không bao giờ đặt chân vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ai đọc thấy dòng "Phi Liêm tại Thìn" hay "Phi Liêm tại Mùi" thì đó là lá số an sai, không phải dị bản của trường phái nào.
Bảy điều bất biến của Phi Liêm
- Vị trí chỉ phụ thuộc thiên can năm sinh. Thuận hay nghịch đều cho cùng một cung, vì sáu bước trên vòng mười hai là điểm đối xứng. Tuổi Giáp thì Phi Liêm tại Thân, Ất tại Dậu, Bính và Mậu tại Hợi, Đinh và Kỷ tại Tý, Canh tại Dần, Tân tại Mão, Nhâm tại Tỵ, Quý tại Ngọ. Mười can gom lại chỉ còn tám địa chỉ.
- Luôn xung chiếu Lộc Tồn và Bác Sĩ. Không tuổi nào khác. Cung Phi Liêm luôn là cung đối diện của cung tài lộc dành dụm, nên đọc Phi Liêm mà không nhìn sang cung Lộc Tồn là bỏ mất một nửa nghĩa.
- Không bao giờ vào tứ mộ. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi tuyệt đối không có Phi Liêm. Người an Mệnh ở tứ mộ mà Phi Liêm rơi vào Mệnh là chuyện không thể xảy ra.
- Không bao giờ gặp Kình Dương, cũng không bao giờ gặp Đà La. Kình Dương đứng liền sau Lộc Tồn nên cách Phi Liêm bảy cung, Đà La đứng liền trước Lộc Tồn nên cách Phi Liêm năm cung. Bảy và năm đều không phải không, không phải bốn, không phải sáu, không phải tám. Nghĩa là Phi Liêm không đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp với hai sát tinh ấy trong bất kỳ lá số nào. Câu quen miệng "Phi Liêm gặp Đà La thì thị phi nặng thêm" vì thế phải sửa lại cho đúng: hai sao ấy không gặp nhau trên bản mệnh, chỉ có thể gặp qua lưu Kình lưu Đà của năm xem.
- Luôn bị Tấu Thư và Hỷ Thần giáp hai bên. Cố định ở mọi tuổi và cả hai chiều an. Đi thuận thì Tấu Thư trước Hỷ Thần sau, đi nghịch thì đảo lại, nhưng cặp giáp không đổi. Đây là thế bao vây rất đáng chú ý: một bên là sao văn thư giấy tờ, một bên là sao niềm vui.
- Tam hợp luôn là Thanh Long và Phục Binh. Cũng cố định tuyệt đối. Thanh Long chủ hỷ khí và tài lộc, Phục Binh chủ ngầm ẩn và cản trở. Ba sao ấy làm thành một tam giác bất biến trên mọi lá số.
Kinh nghiệm Thầy vẫn nói với học trò rằng muốn nhớ Phi Liêm cho nhanh thì đừng nhớ tên, hãy nhớ thế đứng. Phi Liêm là sao ngồi đối diện túi tiền. Ở đâu có của cải tích được, ở đó có tiếng người bàn tán về của cải ấy. Ở đâu có chỗ đứng, ở đó có lời ra tiếng vào về chỗ đứng ấy. Cổ nhân đặt Phi Liêm vào đúng cung xung của Lộc Tồn là đã gói cả một quy luật đời sống vào một phép an sao ba dòng.
3 Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Phi Liêm giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Phi Liêm.
4 Đặc Tính Và Tượng Của Phi Liêm

Phi Liêm mang khí của lời ra tiếng vào, đồn đại. Ở cung Mệnh hay Nô Bộc, nó báo dễ vướng điều tiếng, bị nói sau lưng, hoặc quan hệ có phần cô lẻ. Người có Phi Liêm cần giữ lời và cẩn trọng trong giao tiếp.
Điều thú vị: Phi Liêm gặp Bạch Hổ tạo thế Hổ mọc cánh, lại thành vui vẻ nhanh nhẹn, lợi cho thi cử và mang may mắn tới nhanh. Là sao nhỏ, Phi Liêm gặp cát tinh thì điều tiếng nhẹ đi.
5 Phi Liêm Trong Vòng Bác Sĩ: Đọc Một Sao Phải Đọc Cả Vòng
Kinh văn Vòng Bác Sĩ là một trong bốn vòng phụ tinh lớn của Đẩu Số, cùng với vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo cục, và vòng thần sát tam hợp. Riêng vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn, tức đếm theo thiên can năm sinh. Mười hai sao của vòng theo đúng thứ tự là: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bác Sĩ luôn nằm đúng cung Lộc Tồn; mười một sao sau nối đuôi nhau, mỗi sao một cung, chiếm trọn mười hai cung của địa bàn không thừa không thiếu.
Kinh văn Chiều đếm phân theo âm dương của can năm sinh và giới tính: dương nam và âm nữ thì đếm thuận theo chiều Tý, Sửu, Dần, Mão; âm nam và dương nữ thì đếm nghịch. Đây là quy tắc chung của vòng, và trang an lá số của thayungkhiem.vn cũng dùng đúng quy tắc ấy.
Chỗ đứng của Phi Liêm: bước thứ bảy, ngay giữa vòng
Suy luận Phi Liêm đứng ở bước thứ sáu tính từ Bác Sĩ, tức sao thứ bảy của vòng. Sáu bước trên mười hai cung là điểm chính giữa, nên Phi Liêm là sao đối diện Bác Sĩ. Đây là chỗ đứng có ý nghĩa: nửa vòng trước Phi Liêm gồm Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, phần nhiều nói về cái mình gây dựng và cái mình phô ra; nửa vòng sau gồm Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ, phần nhiều nói về cái đến với mình và cái mình chịu. Phi Liêm nằm đúng bản lề giữa hai nửa ấy, và tượng của nó cũng là bản lề: lời người khác nói về mình, tức cái từ mình phát ra rồi quay lại thành cái mình chịu.
Sao đứng liền trước Phi Liêm trong thứ tự vòng là Tấu Thư, sao chủ văn thư, tấu trình, giấy tờ, lời nói được ghi lại. Sao đứng liền sau là Hỷ Thần, sao chủ niềm vui và tin lành. Dù người ta an thuận hay an nghịch, hai sao ấy vẫn kẹp Phi Liêm ở giữa, chỉ đổi bên trái phải. Suy luận Trật tự này rất đáng đọc: lời được ghi thành văn bản đứng một bên, tin vui đứng một bên, còn ở giữa là lời truyền miệng chưa thành văn bản mà cũng chưa thành tin vui. Đó đúng là chỗ của tin đồn.
Suy luận Trong cùng vòng, tam hợp của Phi Liêm luôn là Thanh Long và Phục Binh, còn cung xung chiếu luôn là Bác Sĩ. Ba quan hệ này không đổi ở bất cứ tuổi nào, bất cứ chiều an nào, vì khoảng cách trong vòng là cố định. Thanh Long chủ hỷ khí, tài lộc, tin lành đến từ bên ngoài. Phục Binh chủ quân mai phục, cái ngầm ẩn, sự cản trở không lộ mặt. Bác Sĩ chủ học vấn, hiểu biết, khả năng phân giải. Ghép lại thành một câu để nhớ: tin đồn có hai người bạn đường là tin vui và mai phục, và có một người đối diện là hiểu biết. Muốn dập tin đồn thì nhìn sang cung Bác Sĩ, tức cung Lộc Tồn, vì đó là chỗ có tri thức và có thực lực để phản bác.
Bảng dưới đây in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười tuổi can, chiều thuận. Người an nghịch chỉ cần đọc ngược thứ tự sao trên cùng một hàng, riêng cột Bác Sĩ và cột Phi Liêm thì giữ nguyên vì hai sao ấy nằm ở hai điểm bất động của vòng.
| Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận) | Bác Sĩ | Lực Sĩ | Thanh Long | Tiểu Hao | Tướng Quân | Tấu Thư | Phi Liêm | Hỷ Thần | Bệnh Phù | Đại Hao | Phục Binh | Quan Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Phi Liêm không nằm trong bảng Tứ Hóa
Kinh văn Nói cho rõ để khỏi ai đi tìm: Phi Liêm không có tên trong bảng Tứ Hóa của bất kỳ tuổi can nào. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ điểm danh mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Cả bảng Nam phái lẫn bảng Bắc phái mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang dùng đều không có Phi Liêm. Không có tuổi nào làm Phi Liêm hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ.
Suy luận Nhưng Phi Liêm vẫn đổi nghĩa theo Tứ Hóa, vì nó đứng chung cung với chính tinh, mà chính tinh thì hóa. Cách đọc như sau. Phi Liêm đứng cùng chính tinh hóa Kỵ: đây là tổ hợp đáng lưu ý nhất, vì Hóa Kỵ vốn chủ vướng mắc, dây dưa, khó dứt; cộng với tính lời ra tiếng vào của Phi Liêm thì thành chuyện nói qua nói lại không dứt, việc đã xong mà tiếng vẫn còn. Lời khuyên rất cụ thể: cái gì đã giải thích một lần mà không xong thì đừng giải thích lần thứ hai bằng miệng, hãy đưa ra giấy tờ. Phi Liêm đứng cùng chính tinh hóa Kỵ mà lại ở cung Nô Bộc hay Huynh Đệ thì lời bàn tán đến từ người quen chứ không từ người lạ, đó là chỗ khó xử nhất.
Suy luận Phi Liêm đứng cùng chính tinh hóa Khoa là thế dễ chịu nhất trong bốn hóa. Hóa Khoa chủ danh tiếng lành, chủ sự được ghi nhận, chủ giấy tờ minh bạch. Tiếng đồn khi ấy chuyển thành tiếng tăm: người ta vẫn nói về mình, nhưng nói theo hướng có lợi. Đứng cùng chính tinh hóa Quyền thì lời bàn tán xoay quanh chức phận và quyền hành, thường gặp ở người mới lên vị trí mới. Đứng cùng chính tinh hóa Lộc thì lời bàn tán xoay quanh tiền bạc, và vì Phi Liêm vốn đã xung chiếu Lộc Tồn, cung ấy thành ra một cung mà chuyện tiền được nói tới từ cả hai phía. Kinh nghiệm Thầy gặp nhiều lá số kiểu này ở người làm nghề môi giới và người buôn bán có tiếng trong vùng: tiền có thật, tiếng cũng có thật, và hai thứ ấy đi liền nhau không tách ra được.
Kinh nghiệm Kết lại mục này bằng lý do vì sao đọc Phi Liêm phải đọc cả vòng. Một phụ tinh nhỏ như Phi Liêm gần như không có nghĩa riêng đủ mạnh để phán bất cứ điều gì. Sức nặng của nó nằm ở chỗ đứng trong một hệ mười hai sao trải kín địa bàn: biết Phi Liêm ở đâu là biết luôn Lộc Tồn ở đâu, Bác Sĩ ở đâu, Thanh Long và Phục Binh ở đâu, Tấu Thư và Hỷ Thần ở đâu, và từ đó biết cả Kình Dương Đà La kẹp ở chỗ nào. Một sao mở ra cả một bản đồ. Thầy vẫn dặn học trò: gặp Phi Liêm thì đừng dừng lại ở chữ thị phi, hãy quay sang cung đối diện xem cái Lộc của người ta đang nằm ở đâu, rồi mới nói.
6 Ý Nghĩa Nhanh Tại Bốn Cung Hay Được Hỏi
Phi Liêm đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Phi Liêm |
|---|---|
| Mệnh | Dễ vướng điều tiếng, đôi khi cô lẻ; cần giữ lời. |
| Nô Bộc | Quan hệ dễ có lời ra tiếng vào, bị nói sau lưng. |
| Quan Lộc | Công việc dễ vướng thị phi, cần thận trọng. |
| Phu Thê | Tình cảm dễ bị đồn đại, hiểu lầm. |
7 Phi Liêm Tại 12 Cung Chức
Địa chi là địa chỉ của cung trên địa bàn, còn cung chức là vai trò của cung trong đời sống. Phi Liêm bị khóa vào tám địa chi, nhưng tám địa chi ấy rơi vào cung chức nào thì tùy nơi an Mệnh, nên Phi Liêm vẫn có thể xuất hiện ở đủ mười hai cung chức. Bảng dưới luận đủ mười hai vai trò, tách rõ hai cảnh: khi cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh đỡ, và khi cung ấy bị sát tinh hoặc Hóa Kỵ kéo xuống. Mỗi ô nói đúng lĩnh vực của cung, không nói chung chung.
| Cung | Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh | Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ |
|---|---|---|
| Mệnh | Người được nhắc tên nhiều, đi đâu cũng có người biết. Nói năng nhanh nhẹn, nắm tin tức sớm, hợp những việc cần lan truyền thông tin. Tiếng tăm thường tới trước khi gặp mặt. | Dễ vướng lời bàn tán không do mình gây ra, hay bị suy diễn, một câu nói vô tình thành chuyện lớn. Cần tập thói quen nói ít lại và xác nhận lại trước khi truyền tin. |
| Huynh Đệ | Anh chị em bạn bè trao đổi tin tức nhiều, có người trong nhóm rất thạo tin, giúp nhau bằng thông tin và quan hệ. | Chuyện riêng của mình bị bàn trong nhóm thân, dễ có người mang chuyện nhà ra ngoài. Vay mượn trong nhóm dễ sinh tiếng. |
| Phu Thê | Chuyện tình duyên được nhiều người biết và ủng hộ, hai bên gia đình cùng bàn tính, cưới hỏi có tiếng vang. | Quan hệ dễ bị người ngoài đồn đoán, hiểu lầm sinh từ lời thứ ba. Việc trong nhà nên khép cửa nói, đừng để bên thứ ba làm trọng tài. |
| Tử Tức | Con cái lanh lợi, hoạt ngôn, sớm có tiếng ở trường lớp. Sản phẩm mình tạo ra dễ được nói tới. | Con cái dễ vướng chuyện bạn bè nói qua nói lại, cần dạy cách giữ lời. Việc học của con hay bị đem ra so sánh. |
| Tài Bạch | Tiền vào qua đường thông tin và quan hệ: môi giới, giới thiệu, truyền miệng. Khách tìm tới vì nghe người khác nói. | Tiền hao ngầm, hao vì tiếng: chi cho việc giữ thể diện, chi vì nể lời, hoặc mất mối vì một lời đồn. Sổ sách nên rõ ràng từng khoản. |
| Tật Ách | Sức khỏe không có gì đáng nói ở riêng sao này. Phi Liêm tại Tật Ách phần nhiều chỉ nói tới trạng thái tinh thần: hay nghĩ ngợi về lời người khác. | Cái mệt do tâm trí không yên, khó ngủ vì bận lòng chuyện người nói. Đây là dấu nhỏ về giấc ngủ và thần kinh, không phải dấu về bệnh thực thể; bệnh phải đọc chính tinh và Tứ Hóa của cung. |
| Thiên Di | Ra ngoài được người nhắc tới, đi tới đâu cũng có người quen biết trước tên. Rất hợp nghề phải đi và phải nói. | Ra ngoài dễ vướng chuyện không đâu, bị kéo vào tranh cãi của người khác. Đi xa nên tránh bình luận việc của người bản xứ. |
| Nô Bộc | Quan hệ rộng, tin tức tới nhanh, có người dưới trung thành lại nhanh nhạy. Đây là cung Phi Liêm phát huy rõ nhất mặt hay. | Bị nói sau lưng, nhóm bạn hay có chuyện chia phe. Người mình giúp lại là người mang tiếng cho mình. Nên giữ khoảng cách vừa phải và đừng làm trọng tài. |
| Quan Lộc | Công việc có tính lan truyền: truyền thông, bán hàng, đối ngoại, giảng dạy, môi giới. Được cấp trên biết tên sớm. | Nơi làm nhiều lời ra tiếng vào, công trạng dễ bị nói lệch, thăng tiến vướng đàm tiếu. Nên có bằng chứng công việc bằng văn bản. |
| Điền Trạch | Nhà ở chỗ đông người qua lại, hàng xóm quen biết nhiều, thông tin trong khu tới nhanh. | Chuyện nhà đất dễ có tiếng: tranh chấp ranh giới, lời qua tiếng lại với hàng xóm, giấy tờ nên làm cho đủ. |
| Phúc Đức | Tâm tính hoạt, thích biết chuyện, sống có nhiều mối giao du, tuổi già không buồn tẻ. | Lòng hay xao động vì lời người khác, khó ngồi yên, vui buồn theo dư luận. Đây là chỗ nên tập buông bớt. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ có tiếng trong vùng hoặc trong nghề, quan hệ rộng, con cái được hưởng lây cái quen biết ấy. | Chuyện bậc trên là điều khó nói trong nhà, hoặc mình hay nghe lời bàn tán về cha mẹ. Nên dừng ở mức nói khuynh hướng, không phán việc. |
Mẹo đọc bảng: đọc cặp cung, đừng đọc một cung
Kinh nghiệm Thầy có một mẹo dùng riêng cho vòng Bác Sĩ, và với Phi Liêm thì mẹo ấy đắt nhất. Đọc Phi Liêm phải đọc thành cặp với cung đối diện, vì cung đối diện chắc chắn là cung Lộc Tồn. Phi Liêm ở Nô Bộc thì Lộc Tồn ở Huynh Đệ; Phi Liêm ở Quan Lộc thì Lộc Tồn ở Phu Thê; Phi Liêm ở Mệnh thì Lộc Tồn ở Thiên Di. Cặp ấy đọc ra một câu chuyện hoàn chỉnh: tiếng ở bên này, tiền ở bên kia. Người có Phi Liêm ở Mệnh và Lộc Tồn ở Thiên Di là người tiếng tăm gắn với bản thân còn nguồn sống gắn với bên ngoài, ra ngoài mới có ăn. Người có Phi Liêm ở Tài Bạch và Lộc Tồn ở Phúc Đức thì tiền bạc hay bị bàn tán mà cái gốc giữ của lại nằm ở nếp sống và tâm tính.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Phi Liêm là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Phi Liêm còn thêm một tầng nữa: vì nó chỉ đóng tám cung và luôn cách Lộc Tồn sáu cung, có những sao về mặt cấu trúc không thể đồng cung với nó, nên dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu, đường giáp, hoặc bằng bản lưu của năm xem. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Phi Liêm hợp khi gặp
- Bạch Hổ (đồng cung chỉ ở bốn hoa giáp Giáp Tý tại Thân, Ất Sửu tại Dậu, Canh Ngọ tại Dần, Tân Mùi tại Mão; ngoài ra là chiếu hoặc giáp): thành thế Hổ mọc cánh, nhanh nhẹn, may mắn tới nhanh, lợi cho thi cử.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu tới): tiếng đồn chuyển thành tiếng lành, chuyện được nói theo hướng có lợi. Đây là hóa hợp nhất với Phi Liêm.
- Tấu Thư (luôn giáp một bên, cố định mọi tuổi): lời được ghi thành văn bản, giấy tờ rõ ràng thì tiếng đồn hết đất sống.
- Hỷ Thần (luôn giáp bên còn lại, cố định mọi tuổi): niềm vui đứng ngay cạnh, làm dịu sắc thái nặng nề của cung.
- Thanh Long (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): hỷ khí và tài lộc chiếu vào, tiếng nói được đón nhận.
- Bác Sĩ và Lộc Tồn (luôn xung chiếu, cố định tuyệt đối): hiểu biết và thực lực nhìn thẳng vào tin đồn. Đây là chỗ dựa cấu trúc của Phi Liêm, không phải kẻ đối địch.
Phi Liêm e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, chiếu nhẹ hơn): chuyện nói qua nói lại không dứt, việc xong mà tiếng còn.
- Quan Phù và Quan Phủ (chiếu hoặc giáp tùy tuổi): điều tiếng chuyển sang chiều giấy tờ kiện tụng. Chú ý đây là hai sao khác nhau, một của vòng Thái Tuế và một của vòng Bác Sĩ.
- Phục Binh (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): cái ngầm ẩn chiếu vào tin đồn, chuyện có người đứng sau mà không lộ mặt.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung khả dĩ ở mọi tuổi vì hai sao này đi đủ mười hai cung): lời nóng, nói xong rồi tiếc, chuyện nhỏ bùng thành chuyện lớn.
- Kình Dương và Đà La (trên bản mệnh không bao giờ đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp): chỉ gặp được qua lưu Kình lưu Đà của năm xem. Câu chép trong sách phải hiểu theo nghĩa lưu, không phải nghĩa bản mệnh.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Phi Liêm còn thêm một tầng nữa: cấu trúc an sao không cho phép nó đồng cung với Kình Dương hay Đà La trên bản mệnh, cũng không cho phép nó rời khỏi thế xung chiếu Lộc Tồn. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, rồi nhìn sang cung đối diện trước khi kết luận.
9 Phi Liêm Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Phi Liêm đứng yên, còn câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.
Đại vận đi vào cung có Phi Liêm
Suy luận Khi đại vận mười năm bước vào cung có Phi Liêm bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là đời sống có tiếng: được nhắc tới nhiều hơn trước, quan hệ rộng ra, tin tức tới nhanh, nhưng đồng thời chuyện của mình cũng đến tai người khác nhanh hơn. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh thì đây là quãng nên chủ động xuất hiện: nhận vai trò đại diện, mở rộng khách hàng, đi dạy, đi nói, làm nghề có tính lan truyền. Nếu cung ấy có sát tinh hoặc Hóa Kỵ thì đây là quãng phải cẩn thận từng lời: hợp đồng viết ra giấy, việc riêng đừng kể nơi làm, và tuyệt đối không đứng ra làm trọng tài cho mâu thuẫn của người khác.
Phi Liêm có bản lưu niên
Kinh văn Đây là điểm phải nói rõ, vì bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ đều có bản lưu niên: vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm xem. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm, và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Tả Hữu, Xương Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu cũng không có bản lưu vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì không đổi theo năm.
Suy luận Vậy Phi Liêm có lưu Phi Liêm. Cách tính rất gọn: lấy thiên can của năm đang xem, tìm lưu Lộc Tồn của can ấy, rồi đặt lưu Phi Liêm vào cung xung chiếu của lưu Lộc Tồn. Vì bước sáu là điểm đối xứng nên lưu Phi Liêm cũng không cần hỏi thuận nghịch, giống hệt bản mệnh. Bảng dưới đây tính sẵn cho các năm lưu niên gần.
| Năm lưu niên | Lưu Lộc Tồn tại | Lưu Phi Liêm tại | Lưu Kình · lưu Đà |
|---|---|---|---|
| 2026 Bính Ngọ | Tỵ | Hợi | Ngọ · Thìn |
| 2027 Đinh Mùi | Ngọ | Tý | Mùi · Tỵ |
| 2028 Mậu Thân | Tỵ | Hợi | Ngọ · Thìn |
| 2029 Kỷ Dậu | Ngọ | Tý | Mùi · Tỵ |
| 2030 Canh Tuất | Thân | Dần | Dậu · Mùi |
| 2031 Tân Hợi | Dậu | Mão | Tuất · Thân |
| 2032 Nhâm Tý | Hợi | Tỵ | Tý · Tuất |
| 2033 Quý Sửu | Tý | Ngọ | Sửu · Hợi |
| 2034 Giáp Dần | Dần | Thân | Mão · Sửu |
| 2035 Ất Mão | Mão | Dậu | Thìn · Dần |
| 2036 Bính Thìn | Tỵ | Hợi | Ngọ · Thìn |
| 2037 Đinh Tỵ | Ngọ | Tý | Mùi · Tỵ |
| 2038 Mậu Ngọ | Tỵ | Hợi | Ngọ · Thìn |
Suy luận Đọc bảng này có hai cách dùng. Cách thứ nhất là tìm năm trùng phùng: năm nào lưu Phi Liêm rơi đúng cung có Phi Liêm bản mệnh thì năm ấy sắc thái lời ra tiếng vào đậm gấp đôi. Vì lưu Lộc Tồn quay theo can năm, mà can năm quay đúng một vòng mười năm, nên năm trùng phùng của một người trở lại đều đặn mười năm một lần, là những năm có thiên can trùng với thiên can năm sinh. Cách thứ hai là xem lưu Phi Liêm rơi vào cung chức nào của mình trong năm ấy: rơi vào Quan Lộc thì chuyện tiếng tăm nổi lên ở chỗ làm, rơi vào Nô Bộc thì ở nhóm bạn, rơi vào Điền Trạch thì ở chuyện nhà cửa hàng xóm.
Suy luận Các lưu sao khác chạm vào cung Phi Liêm cũng nên xem cùng lúc. Lưu Kình Dương và lưu Đà La là hai sao đáng chú ý nhất, vì như đã nói ở mục cơ chế an sao, trên bản mệnh Phi Liêm không bao giờ gặp Kình Đà; chỉ có năm lưu mới đưa hai sao ấy vào cung Phi Liêm. Năm nào lưu Kình hoặc lưu Đà đóng đúng cung Phi Liêm bản mệnh thì đó là năm lời ra tiếng vào có gai, chuyện dễ đi tới va chạm thật chứ không dừng ở lời. Lưu Thái Tuế vào cung Phi Liêm thì chuyện được đưa ra trước đám đông. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ vào cung Phi Liêm thì tin tức mang sắc buồn hoặc sắc gấp. Kinh nghiệm Thầy thường dặn khách một câu gọn: năm nào ba lớp cùng chạm vào một cung thì năm ấy mới đáng nói, còn một lớp chạm thì chỉ là dấu nhỏ.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Phi Liêm
Phi Liêm là phụ tinh nhỏ, nhưng cái tên gợi hình nên hay bị đọc quá tay. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Một: Phi Liêm không phán được chuyện gì sẽ xảy ra
Kinh văn Tân Biên xếp Phi Liêm vào nhóm phụ tinh của vòng Bác Sĩ, chép rất ngắn về nó, và không lập cách cục riêng nào cho nó ngoài thế gặp Bạch Hổ. Suy luận Một sao được sách chép trong vài dòng thì trọng lượng luận của nó cũng chỉ nên bằng vài dòng. Phi Liêm cho biết sắc thái của một cung, không cho biết sự việc. Nói "cung này có Phi Liêm nên năm nay bị kiện" là nói quá; nói "cung này có Phi Liêm nên chuyện dễ lan ra ngoài, cần chuẩn bị giấy tờ" mới là đọc đúng tầm của sao. Muốn phán sự việc thì phải có chính tinh, Tứ Hóa, và ít nhất hai lớp vận trùng nhau.
Hai: thị phi trong Đẩu Số không có nghĩa là bị hại
Suy luận Chữ thị phi trong sách cũ mang nghĩa rộng: là chuyện phải trái, là lời bàn tán, là việc được đem ra nói. Nó không mặc định xấu và cũng không mặc định do người khác cố tình gây ra. Người làm nghề công chúng, người bán hàng, người dạy học, người đứng đầu một nhóm thì đương nhiên bị bàn tán nhiều hơn người sống lặng lẽ, và đó là cái giá kèm theo chỗ đứng chứ không phải tai họa. Kinh nghiệm Thầy gặp không ít khách hoảng lên khi nghe chữ thị phi. Câu Thầy hay hỏi lại là: quý vị có làm công việc mà nhiều người biết tới không. Nếu có thì Phi Liêm chỉ đang mô tả đúng đời sống của quý vị, không dự báo tai ương gì cả.
Ba: Phi Liêm không đồng cung Kình Đà trên bản mệnh
Suy luận Rất nhiều bài trên mạng chép câu "Phi Liêm gặp Đà La thì thị phi nặng thêm, Phi Liêm gặp Kình Dương thì tranh cãi tới nơi". Chạy đủ mười can và cả hai chiều an thì thấy Phi Liêm luôn cách Kình Dương bảy cung và cách Đà La năm cung. Bảy và năm không phải các khoảng cách tạo quan hệ trong Đẩu Số. Nghĩa là trên bản mệnh, Phi Liêm không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với Kình Dương hay Đà La ở bất kỳ tuổi nào. Câu chép ấy chỉ đúng khi nói tới lưu Kình lưu Đà của năm xem, hoặc khi nói tới cung đại vận. Đây là chỗ nên sửa lại cho đúng, vì nó ảnh hưởng tới cách người ta đọc lá số của chính mình.
Bốn: Phi Liêm và Bạch Hổ, thế Hổ mọc cánh chỉ có ở bốn hoa giáp
Kinh văn Sách chép Phi Liêm gặp Bạch Hổ thì thành thế Hổ mọc cánh, hóa ra nhanh nhẹn vui vẻ, lợi cho thi cử, may mắn tới nhanh. Suy luận Nhưng phải nói thêm cho đủ: Phi Liêm an theo can năm còn Bạch Hổ an theo chi năm, nên hai sao đồng cung được là chuyện hiếm. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì đúng bốn hoa giáp cho hai sao ngồi chung một cung: Giáp Tý cùng tại Thân, Ất Sửu cùng tại Dậu, Canh Ngọ cùng tại Dần, Tân Mùi cùng tại Mão. Ngoài bốn tuổi ấy, hai sao chỉ có thể chiếu nhau hoặc đứng gần nhau, và thế Hổ mọc cánh khi ấy nhẹ đi nhiều. Nói cách khác, đây là một thế có thật nhưng không phổ biến, không nên đem ra hứa hẹn cho mọi người có Phi Liêm.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Phi Liêm Qua Ba Bước
Lý thuyết chỉ có nghĩa khi đặt lên một lá số. Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật. Tham số sinh đã chọn: tuổi Giáp, dương nam nên vòng Bác Sĩ an thuận, Tử Vi an tại Dần, Mệnh an tại Thân. Tuổi Giáp có Lộc Tồn tại Dần, nên Bác Sĩ cũng tại Dần, và Phi Liêm ở bước thứ sáu rơi vào cung Thân, đúng ngay cung Mệnh. Trọn vòng Bác Sĩ của lá số này là: Bác Sĩ tại Dần, Lực Sĩ Mão, Thanh Long Thìn, Tiểu Hao Tỵ, Tướng Quân Ngọ, Tấu Thư Mùi, Phi Liêm Thân, Hỷ Thần Dậu, Bệnh Phù Tuất, Đại Hao Hợi, Phục Binh Tý, Quan Phủ Sửu. Lưới dưới đây chỉ vẽ chính tinh, Tứ Hóa, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn; các sao vòng Bác Sĩ không nằm trong nhóm ấy nên được ghi bằng chữ ngay trên đây.
Tử Vi tại Dần, Mệnh tại Thân
không phải người thật
dương nam nên vòng Bác Sĩ an thuận
Phi Liêm tại Thân, ngay cung Mệnh
Bước một: Phi Liêm đứng ở đâu và đứng cùng ai
Phi Liêm tại Thân, rơi đúng cung Mệnh, đồng cung với Thất Sát độc tọa. Ngay bước này đã có bốn điều chắc chắn. Một, Mệnh an tại Thân là cung tứ sinh, hợp lệ, vì Phi Liêm chỉ tới được tám cung ngoài tứ mộ. Hai, cung xung chiếu của Mệnh là Dần, và ở đó có Lộc Tồn cùng Bác Sĩ, lại có Tử Vi Thiên Phủ. Đây là hình ảnh chuẩn của Phi Liêm: sao tiếng đồn ngồi đối diện sao giữ của, và lần này bên kia trục còn có cả đế tinh lẫn khố tinh. Ba, Tấu Thư tại Mùi và Hỷ Thần tại Dậu giáp hai bên cung Mệnh, đúng như quy luật bất biến. Bốn, Thanh Long tại Thìn và Phục Binh tại Tý tam hợp chiếu về, cũng đúng quy luật.
Bước hai: hóa gì, và Kình Đà nằm ở đâu
Tuổi Giáp nên bộ Tứ Hóa là Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa, Thái Dương hóa Kỵ. Trên lá số này Phá Quân ở Tý là cung Quan Lộc, Vũ Khúc ở Tuất là cung Phúc Đức, Liêm Trinh ở Ngọ là cung Phu Thê, Thái Dương ở Hợi là cung Điền Trạch. Cung Mệnh có Thất Sát không mang hóa nào, nên Phi Liêm ở đây không chịu Tứ Hóa trực tiếp, chỉ nhận Phá Quân hóa Quyền từ tam hợp Quan Lộc chiếu về. Đọc ra: tiếng tăm của người này gắn với công việc và với quyền hành, không gắn với chuyện riêng.
Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần, nên Kình Dương tại Mão và Đà La tại Sửu, hai sao kẹp lấy cung Thiên Di. Từ cung Mệnh ở Thân nhìn sang, Kình Dương cách bảy cung và Đà La cách năm cung, đúng như quy luật đã nêu: Phi Liêm không gặp Kình Đà, dù chúng ở ngay bên cạnh cung mà nó đang nhìn thẳng vào. Đây là chi tiết rất đáng chỉ cho học trò xem tận mắt: cung Thiên Di của người này có Lộc Tồn được Tử Phủ đỡ nhưng lại bị Kình Đà giáp, tức ra ngoài có lộc mà lộc có gai; còn cung Mệnh có tiếng mà không có gai.
Bước ba: tam phương tứ chính chiếu gì
Cung Mệnh tại Thân có tam hợp là Tý và Thìn, xung chiếu là Dần. Tý là Quan Lộc có Phá Quân hóa Quyền cùng Phục Binh, Thìn là Tài Bạch có Tham Lang cùng Thanh Long, Dần là Thiên Di có Tử Vi Thiên Phủ cùng Lộc Tồn và Bác Sĩ. Vậy tam phương tứ chính của Mệnh là Sát Phá Tham đủ bộ, lại có Tử Phủ và Lộc Tồn xung chiếu. Đây là mẫu người mạnh, ưa thay đổi, dám làm lớn, ra ngoài thì gặp quý nhân và gặp lộc.
Đặt Phi Liêm vào nền ấy thì đọc ra một chân dung rất rõ: người này làm thì có kết quả, mà làm thì có người nói. Thanh Long chiếu từ Tài Bạch cho biết tiếng nói ấy phần nhiều mang lại cơ hội và tiền bạc; Phục Binh chiếu từ Quan Lộc cho biết ở chỗ làm có người không ưa mà không lộ mặt. Lời khuyên cụ thể cho lá số kiểu này: việc lớn phải có văn bản, quyết định quan trọng nên thông báo bằng giấy tờ chứ đừng chỉ nói miệng, và đừng phí sức đi thanh minh với từng người.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Đổi giới tính, giữ nguyên tuổi Giáp và vị trí Tử Vi: nếu là nữ thì tuổi Giáp là dương nữ nên vòng Bác Sĩ an nghịch. Bác Sĩ vẫn ở Dần vì luôn theo Lộc Tồn, và Phi Liêm vẫn ở Thân vì bước sáu là điểm đối xứng. Nhưng mười sao còn lại đảo hết: Tấu Thư về Dậu, Hỷ Thần về Mùi, Thanh Long về Tý, Phục Binh về Thìn. Cặp giáp vẫn là Tấu Thư và Hỷ Thần, cặp tam hợp vẫn là Thanh Long và Phục Binh, chỉ đổi chỗ cho nhau. Đây là ví dụ sống động cho thấy vì sao chỉ riêng Phi Liêm và Bác Sĩ là không cần hỏi thuận nghịch.
- Đổi sang tuổi Canh, giữ Mệnh tại Thân: Lộc Tồn tuổi Canh về Thân, nên Bác Sĩ vào ngay cung Mệnh còn Phi Liêm dời sang Dần, tức cung Thiên Di. Cả câu chuyện đảo ngược: bây giờ lộc nằm ở bản thân, còn tiếng đồn nằm ở bên ngoài. Người này giữ được của hơn, nhưng ra khỏi nhà là vào chỗ có lời bàn tán. Bộ Tứ Hóa cũng đổi thành Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Khoa theo Nam phái hoặc Thái Âm hóa Khoa theo Bắc phái, và Thiên Tướng hóa Kỵ theo Nam phái hoặc Thiên Đồng hóa Kỵ theo Bắc phái.
Ba trường hợp trên cho thấy vì sao đọc Phi Liêm mà bỏ qua thiên can năm sinh và vị trí Tử Vi là mới đọc được một phần. Muốn biết Phi Liêm của chính mình đứng ở cung chức nào, đồng cung với chính tinh nào và nhìn sang cung Lộc Tồn ra sao, hãy an lá số Tử Vi rồi bấm vào sao Phi Liêm trên lá số để đọc phần luận theo ngữ cảnh riêng của quý vị.
12 Lời Khuyên Khi Phi Liêm Nổi Bật
Kinh nghiệm Phi Liêm không phải sao cần hóa giải theo nghĩa trừ khử. Nó mô tả một điều kiện sống: lời nói của mình và lời nói về mình đi xa hơn mức trung bình. Mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: quản. Không phải quản người khác nói gì, mà quản cái phần mình kiểm soát được.
Ba việc làm được ngay
Kinh nghiệm Một, chuyển lời nói thành văn bản ở những chỗ quan trọng. Thỏa thuận công việc, vay mượn, hợp tác, phân chia trách nhiệm, tất cả nên có một dòng chữ để lại, kể cả với người thân. Người có Phi Liêm đậm mà làm việc bằng miệng thì mười lần có tới ba lần phải giải thích lại. Hai, đặt ra một khoảng lặng trước khi truyền tin. Nghe một chuyện thì đừng kể lại ngay; để qua một ngày, phần lớn tin đồn tự chết trong khoảng lặng ấy. Ba, đừng làm trọng tài cho mâu thuẫn của người khác. Đây là cái bẫy lớn nhất của Phi Liêm ở cung Nô Bộc và cung Huynh Đệ: mình đứng ra giảng hòa với ý tốt, rồi thành người bị cả hai bên nhắc tên.
Dùng Phi Liêm thay vì chịu đựng nó
Suy luận Sao này là năng lượng lan truyền. Năng lượng ấy có chỗ tiêu lành thì không đi tìm chỗ tiêu dữ. Người có Phi Liêm nổi bật ở Mệnh, Quan Lộc, Thiên Di hoặc Nô Bộc rất hợp những nghề mà việc lan truyền chính là sản phẩm: bán hàng, môi giới, đối ngoại, truyền thông, giảng dạy, hướng dẫn, tổ chức cộng đồng, chăm sóc khách hàng. Ở những nghề ấy, cái mà người khác gọi là thị phi thì với quý vị là dòng thông tin, và người nắm dòng thông tin sớm nhất thường là người ra quyết định đúng nhất.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Chỗ làm việc nên quay lưng vào tường và nhìn ra cửa, để bớt cảm giác bị nhìn sau lưng. Giữ một ngăn hồ sơ cho những giấy tờ quan trọng, để khi cần thì lấy ra được ngay thay vì phải giải thích. Bàn làm việc nên gọn, ít vật trang trí, vì Phi Liêm vốn đã nhiều tiếng động nên không gian cần bớt rối. Buổi tối nên có một quãng không xem tin tức và không trả lời tin nhắn. Về màu sắc, người có Phi Liêm đậm thường thấy dễ chịu hơn với sắc trầm và chất liệu mộc, hơn là sắc chói và mặt bóng. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Bài viết được biên soạn và đối chiếu trực tiếp với thư tịch gốc của khoa Tử Vi Đẩu Số. Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; những đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; những đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ nguyên lý và từ cấu trúc an sao, người đọc nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần Đặc Tính Các Sao, mục các sao vòng Bác Sĩ: thứ tự mười hai sao Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ; phép an theo sao Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ; tính chất của Phi Liêm chủ thị phi, lời đồn, điều tiếng và sự cô lẻ; thế Phi Liêm gặp Bạch Hổ gọi là Hổ mọc cánh, chủ nhanh nhẹn vui vẻ và lợi cho thi cử.
- Cấu trúc an sao và vị trí trong vòng đã kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cụ thể đã chạy đối chiếu: vị trí Phi Liêm theo đủ mười thiên can và cả hai chiều an, cho kết quả hai chiều trùng nhau; tám cung Phi Liêm có thể đóng và bốn cung tứ mộ không bao giờ đóng; khoảng cách cố định giữa Phi Liêm với đủ mười một sao còn lại của vòng Bác Sĩ; khoảng cách cố định giữa Phi Liêm với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, chạy đủ mười can nhân hai chiều; danh sách chính tinh có thể đồng cung tại tám cung ấy, chạy đủ mười hai thế Tử Vi; các hoa giáp cho Phi Liêm đồng cung Bạch Hổ, Thái Tuế, Tang Môn và Thiên Mã, chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới; bảng lưu Lộc Tồn và lưu Phi Liêm theo từng năm lưu niên. Lá số minh họa cũng dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Ghi chú về phú: Tân Biên không lập câu phú riêng cho Phi Liêm, và bài này không dẫn câu phú nào cho sao ấy. Những câu phú lưu truyền trên mạng gắn tên Phi Liêm phần lớn không tra được nguồn, nên bài không dùng.
Lưu ý về dị bản và về tên gọi: một số tài liệu chép thứ tự vòng Bác Sĩ hơi khác ở đoạn cuối vòng, hoặc đổi chỗ Phục Binh với Quan Phủ. Bài này dùng đúng thứ tự mà trang an lá số của thayungkhiem.vn đang chạy, và mọi khoảng cách nêu trong bài tính theo thứ tự ấy. Ngoài ra cần phân biệt ba cặp tên dễ lẫn: Phi Liêm của vòng Bác Sĩ với chính tinh Liêm Trinh; Quan Phủ của vòng Bác Sĩ với Quan Phù của vòng Thái Tuế; Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ với sao Bệnh của vòng Tràng Sinh. Ba cặp ấy khác nhau cả về cách an lẫn về ý nghĩa.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Phi Liêm
Phi Liêm là sao thứ bảy của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số. Đây là sao nhỏ thiên về điều tiếng, chủ thị phi, lời đồn, sự cô lẻ và những phiền toái từ miệng tiếng người đời.
Phi Liêm gặp Bạch Hổ tạo thế Hổ mọc cánh, lại hóa thành vui vẻ nhanh nhẹn, lợi cho thi cử và mang may mắn tới nhanh, ngược với tính thị phi vốn có của Phi Liêm.
Phi Liêm đứng thứ bảy trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Người có Phi Liêm nổi bật nên giữ lời, cẩn trọng trong giao tiếp, tránh dây vào tranh cãi và điều tiếng. Có cát tinh và phúc tinh cùng cung thì điều tiếng nhẹ đi nhiều.
Phi Liêm an theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh, và đứng ở bước thứ sáu tính từ Bác Sĩ. Vì Lộc Tồn chỉ đóng tám cung ngoài tứ mộ nên Phi Liêm cũng chỉ đóng tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, và không bao giờ vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Cụ thể tuổi Giáp tại Thân, Ất tại Dậu, Bính và Mậu tại Hợi, Đinh và Kỷ tại Tý, Canh tại Dần, Tân tại Mão, Nhâm tại Tỵ, Quý tại Ngọ.
Vì Phi Liêm cách Bác Sĩ đúng sáu bước, mà sáu bước trên một vòng mười hai cung thì đi thuận hay đi nghịch cũng tới cùng một cung. Trong mười hai sao vòng Bác Sĩ chỉ có Bác Sĩ ở bước không và Phi Liêm ở bước sáu có tính chất này; mười sao còn lại đều phải biết người ấy an thuận hay an nghịch mới xác định được vị trí.
Trên bản mệnh thì không. Kình Dương đứng liền sau Lộc Tồn nên cách Phi Liêm bảy cung, Đà La đứng liền trước Lộc Tồn nên cách Phi Liêm năm cung; bảy và năm đều không tạo quan hệ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Hai sao ấy chỉ có thể chạm vào cung Phi Liêm qua lưu Kình lưu Đà của năm đang xem, hoặc khi xét cung đại vận.
Có. Vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can của năm đang xem, giống như vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem; còn vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh thì không có bản lưu. Cách tính lưu Phi Liêm rất gọn: tìm lưu Lộc Tồn theo can năm rồi đặt lưu Phi Liêm vào cung xung chiếu của nó. Vì can năm quay một vòng mười năm nên lưu Phi Liêm trở về đúng cung Phi Liêm bản mệnh đều đặn mười năm một lần.